1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Hạn chế xử lý nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh ĐắkLắk

6 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 255,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua nghiêu cứu các luận án, luận văn đó, bản thân nhận thấy các tác giả đã hệ thống hoá các nội dung về rủi ro tín dụng nói chung, nợ xấu nói riêng; các tác giả đã làm rõ vai trò và sự[r]

Trang 1

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

Sự cần thiết: Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong những năm gần đây gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới

và trong nước Đặc biệt trong công tác tín dụng, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại rất cao, đã gây khó khăn cho ngân hàng trong việc quay vòng vốn tái đầu tư để tăng lợi nhuận; đồng thời các ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro các khoản nợ xấu làm suy giảm năng lực tài chính, làm giảm khả năng cạnh tranh và đầu tư phát triển

Đến 31/12/2013, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng là 3,79%, số tuyệt đối tương ứng là 131.788 tỷ đồng Nếu cộng phần “tạm gửi” 40.000 tỷ đồng nợ xấu mà VAMC đã mua lại gần của các tổ chức tín dụng, con số tuyệt đối tổng nợ xấu của hệ thống ở khoảng 170.000 tỷ đồng, thì tỷ lệ nợ xấu tương ứng là khoảng 4,9% chứ không phải là 3,79%

Trong bối cảnh chung đó, vấn đề nợ xấu Agribank Đắk Lắk trên dưới 3%/Tổng dư

nợ, nhưng bên cạnh đó vẫn còn những khoản vay tiềm ẩn rủi ro bất thường trong tương lai Do đó, có thể nhận thấy trong thời điểm hiện nay cùng với sự tăng trưởng của tín dụng thì nợ xấu đang gia tăng cần phải được quan tâm giải quyết Góp phần đáp ứng đòi

hỏi từ thực tiễn nêu trên, đề tài: “Hạn chế và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn tỉnh Đắk Lắk” được chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn

này

- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về nợ

xấu trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại nhằm làm rõ nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu Từ đó vận dụng vào hoàn cảnh thực tế tại Agribank Đắk Lắkđể đề xuất một số giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu

- Đối tượng nghiên cứu là hạn chế và xử lý nợ xấu

- Phạm vi nghiên cứu: hạn chế và xử lý nợ xấu tại Agribank Đắk Lắk căn cứ vào các dữ liệu thực tế trong 3 năm từ năm 2011 đến năm 2013, định hướng và giải pháp cho các năm 2014 - 2017

- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh kết hợp với

Trang 2

phương pháp thống kê sử dụng trong quá trình nghiên cứu để đưa ra nhận xét, đánh giá các vấn đề

Để việc nghiên cứu đề tài được hoàn thiện hơn, tác giả đã tìm hiểu, nghiên cứu các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ trước đây có nội dung lên quan đến đề tài Qua nghiêu cứu các luận án, luận văn đó, bản thân nhận thấy các tác giả đã hệ thống hoá các nội dung

về rủi ro tín dụng nói chung, nợ xấu nói riêng; các tác giả đã làm rõ vai trò và sự cần thiết của nó trong quá trình xây dựng quản lý rủi ro tín dụng, quản lý nợ xấu; một số giải pháp

đã và đang được triển khai trong thực tiễn hoạt động tại các NHTM, góp phần xây dựng chiến lược kinh doanh bền vững, ổn định, nâng cao vị thế cạnh tranh

Tuy nhiên, có công trình nghiên cứu phân tích rủi ro vẫn mang tính chất định tính, chưa chỉ ra được mô hình để quản lý rủi ro, đo lường rủi ro, tổn thất ngân hàng phải gánh chịu khi rủi ro tín dụng xảy ra, chưa phản ánh được mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng, chưa chỉ ra được mục tiêu của chất lượng tín dụng và cách thức để xây dựng hệ thống theo dõi cơ cấu và chất lượng tổng thể danh mục đầu tư tín dụng

Để có cái nhìn tổng thể, khách quan hơn và hiểu sau hơn những vấn đề cần nghiên cứu, chúng ta cần xem xét lại các nghiên cứu có liên quan trước đây, từ đó tìm ra những điểm mới và có các giải pháp cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường nghiên cứu hiện tại Từ đó vận dụng vào thực tiễn hoạt động kinh doanh ngân hàng, hướng tới mục tiêu nhằm hạn chế và giảm mức tối đa các rủi ro trong công tác tín dụng

Trong chương 2, trên cơ sở các quan điểm chung về nợ xấu, từ định nghĩa của Phòng thống kê – Liên hiệp quốc về nợ xấu, định nghĩa nợ xấu của IMF, quan điểm của Ngân hàng Trung ương Châu Âu; tác giả đã lựa chọn định nghĩa về nợ xấu theo quy định

tại Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của NHNN Việt Nam, đó là: "Nợ xấu là các khoản nợ

thuộc các nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7 Quy định này”

Sau đó, tác giả trình bày phân loại nợ xấu theo các phương pháp và tiêu chí cụ thể của từng nhóm nợ xấu theo Quyết định 493 Theo đó, nợ xấu được phân loại theo hai

Trang 3

phương pháp, đó là phương pháp định lượng và phương pháp định tính; và tùy thuộc mỗi phương pháp sẽ có các tiêu chí phân loại riêng thành 3 nhóm: nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5

Ở mỗi nhóm nợ xấu có mức độ rủi ro riêng, nhóm nợ xấu càng cao thì mức độ rủi ro cao hơn và mức trích lập dự phòng rủi ro cũng cao hơn: nhóm 3 trích 25%, nhóm 4 trích 50%, nhóm 5 trích 100%

Để giám sát, quản lý nợ xấu, xác định mức độ rủi ro, khả năng mất vốn cũng như làm rõ mối tương quan giữa nợ xấu với tổng dư nợ cho vay, tác giả đã trình bày các chỉ tiêu đo lường nợ xấu như sau:

- Tổng số nợ xấu: Đây là chỉ tiêu phản ánh chung giá trị tuyệt đối của toàn bộ khoản nợ xấu của ngân hàng

- Tỷ lệ giữa giá trị các khoản nợ xấu/tổng dư nợ: Chỉ tiêu này phản ánh mức

độ rủi ro tín dụng của ngân hàng Tỷ lệ này càng cao thì khả năng rủi ro càng cao

- Tỷ lệ nợ khó đòi/tổng dư nợ và nợ khó đòi/ nợ xấu: Đây là những chỉ tiêu phản ánh khá trung thực về thực tế và nguy cơ mất vốn của ngân hàng Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng rủi ro mất vốn của ngân hàng càng cao

- Tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro/nợ xấu: Tỷ lệ này cho biết quỹ dự phòng rủi ro

có khả năng bù đắp bao nhiêu cho các khoản nợ xấu khi chúng chuyển thành các khoản

nợ mất vốn

Sau khi phân loại, tổng hợp các nhóm nhân tố liên quan đến nợ xấu, tác giả đã trình bày hai nhóm nhân tố ảnh hưởng chính Nhóm nhân tố khách quan ảnh hưởng đến

nợ xấu gồm: môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế xã hội, môi trường pháp lý và xu

thế toàn cầu hoá; đây là nhóm nhân tố bên ngoài không giam gia quá trình tín dụng của

các chủ thể liên quan, nhưng sự thay đổi của nó có các động tích cực hoặc tiêu cực đến

nợ xấu Nhóm nhân tố chủ quan, được tác giả xác định rõ đó là: nhóm nhân tố chủ quan

từ phía ngân hàng (như chính sách tín dụng, trình độ quản lý của ngân hàng, trình độ cán bộ, đạo đức cán bộ …) và nhóm nhân tố chủ quan từ chính nội tại khách hàng gây

ra

Để làm rõ tại sao cần phải hạn chế và xử lý nợ xấu, tác giả phân tích, trình bày

Trang 4

những tác động của nợ xấu và những hậu quả của nó Nợ xấu không những gây hậu quả cho chính bản thân các ngân hàng thương mại như: giảm uy tín, mất vốn, thua lỗ thậm chí phá sản mà còn tác động tiêu cực đến nền kinh tế vĩ mô, làm giảm quá trình luân chuyển vốn, kiềm hãm sự phát triển kinh tế, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội

Trên cơ sở các nhận định trên, tác giả trình bày nội dung về hạn chế và xử lý nợ xấu, cụ thể:

- Hạn chế nợ xấu: là quá trình sử dụng các công cụ, biện pháp trước, trong và sau quá trình cấp tín dụng nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất việc phát sinh nợ xấu

- Xử lý nợ xấu: là những hoạt động của ngân hàng được triển khai khi nợ xấu đã phát sinh nhằm giảm thiểu những tổn thất do nợ xấu gây ra

Cuối cùng, tác giả đã trình bày các chỉ tiêu đánh giá hạn chế và xử lý nợ xấu để làm cơ sở xem xét mức độ hiệu quả của việc hạn chế và xử lý nợ xấu

Sang chương 3, tác giả đã khái quát sơ bộ về Agribank Đắk Lắk, từ nguồn nhân lực, tình hình huy động vốn, công tác tín dụng và kết quả hoạt động kinh doanh Trước khi đi vào phân tích, tìm hiểu sâu hơn về thực trạng công tác hạn chế và xử lý nợ xấu của Agribank Đắk Lắk, tác giả đã đưa ra bức tranh tổng qua về nợ xấu của Agribank Đắk Lắk

từ 2011-2013

Từ tổng thể đó, tác giả đưa ra hai cách tiếp cận xử lý vấn đề, đó là tiếp cận theo cách hạn chế nợ xấu (phòng ngừa) và tiếp cận theo cách xử lý nợ xấu đã phát sinh Ở hai cách tiếp cận đó, tác giả đã xác định được các biện pháp mà Agribank Đắk Lắk đã áp dụng trong thời gian qua để hạn chế và xử lý nợ xấu Từ đó, tác giả đã đưa ra được kết quả hạn chế và xử lý nợ xấu của Agribank Đắk Lắk, cụ thể:

- Trong những năm qua từ 2011 đến 2013, tổng nợ xấu của Agribank Đắk Lắk luôn hạn chế từ mức 2,25% - 2,46%/tổng dư nợ, so với Agribank từ 5% đến 7% Tuy nhiên, khi phân tích cụ thể sâu hơn, thì nợ xấu ở nhóm nợ xấu càng cao có xu hướng chiếm tỷ lệ càng cao hơn, tức là giữa chúng có mối quan hệ đồng biến với nhau, đây là điểm cần quan tâm xem xét

- Số trích lập quỹ dự phòng xử lý rủi ro tăng, năm 2011 số trích lập DPRR là 47,6

Trang 5

tỷ đồng, năm 2012 là 61 tỷ đồng, năm 2013 là 60,5 tỷ đồng Thông qua việc tăng trích lập quỹ DPRR, ngân hàng cũng tăng việc xử lý nợ xấu, năm 2011 xử lý được 37,6 tỷ đồng nợ xấu, đến năm 2013 xử lý được 48,2 tỷ đồng nợ xấu từ nguồn quỹ DPRR

- Tỷ lệ thu hồi nợ XLRR tăng về cả số tương đối lẫn tuyệt đối, năm 2011 tỷ lệ thu hồi là 37,8%, năm 2012 là 39,3%, năm 2013 là 40,9%; tương ứng năm 2011 là 42,6 tỷ đồng, năm 2012 là 46,8 tỷ đồng, năm 2013 là 49,3 đồng

- Qua 3 năm, tổng số nợ xấu mà Agribank Đắk Lắk đã xử lý được là 1.129,8 tỷ đồng, bình quân mỗi năm là 376,6 tỷ đồng Trong đó, nợ xấu được xử lý nợ bằng biện pháp cơ cấu lại nợ chiếm nhiều nhất với 468 tỷ đồng, tỷ trọng 41,4%; thu hồi nợ xấu bằng biện pháp pháp lý là 219 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 19,4%; biện pháp thu hồi nợ trực tiếp, phát mãi tài sản là 203 tỷ đồng, tỷ trọng 18%; biện pháp xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro là 134,8 tỷ đồng, tỷ trọng11,9%; ở vị trí sau cùng là xử lý nợ xấu bằng biện pháp miễn, giảm lãi 105 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 9,3%

Tuy nhiên, qua phân tích, đánh giá tác giả cũng xác định được những hạn chế trong công tác hạn chế và xử lý nợ xấu của Agribank Đắk Lắk, đó là:

Hạn chế: về cơ chế chính sách, về hành lang pháp lý, về chấp hành quy trình nghiệp vụ, về quản lý các khoản nợ xấu và về xử lý thu hồi nợ xấu và nợ đã XLRR

Đồng thời, tác giả cũng tìm ra các nguyên nhân của vấn đề, đó là:

Nguyên nhân: quyền chủ động của ngân hàng còn bị hạn chế, năng lực quản trị rủi

ro chưa cao, trình độ cán bộ ngân hàng còn yếu, sự phối hợp chưa đồng bộ của các cơ quan chức năng, thị trường bất động sản ở Việt Nam chưa phát triển mạnh

Tại chương 4, trên cơ sở phân tích thực trạng công tác hạn chế và xử lý nợ xấu tại

Agribank Đắk Lắk, cũng như những hạn chế và nguyên nhân của nó, tác giả đã đưa ra các nhóm giải pháp về hạn chế và xử lý nợ xấu, và các kiến nghị như sau:

Nhóm giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu

- Chấp hành đúng quy trình cho vay

Trang 6

- Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tiêu chuẩn hóa cán bộ

- Giáo dục phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ

- Tăng cường, duy trì công tác kiểm tra, giám sát và kiểm tra chuyên đề đối với hoạt động tín dụng

- Chú trọng việc phân tích, dự báo thị trường và các nguyên nhân

Nhóm giải pháp nhằm xử lý nợ xấu tại Agribank Đắk Lắk

- Giám sát nợ xấu một cách có hiệu quả thông qua hoạt động phân tích, phân loại

nợ xấu theo định kỳ

- Giải pháp về xử lý, thu hồi nợ xấu, nợ xử lý rủi ro

- Thực hiện phương án xử lý dứt điểm các khoản nợ xấu

- Trích lập và sử dụng quỹ dự phòng rủi ro hợp lý và có hiệu quả

Kiến nghị

- Kiến nghị với Chính phủ

- Kiến nghị với NHNN VN

- Kiến nghị với HHNH VN

Ngày đăng: 11/01/2021, 20:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w