1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y Phần 1

210 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 210
Dung lượng 8,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại cương về bệnh ký sinh trùng thú y Nội dung chương 2 trình bày về: khái niệm bệnh ký sinh trùng thú y, quy định cách gọi tên bệnh ký sinh trùng; miễn dịch trong bệnh ký sinh trùng; tá

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

GS TS NGUYỄN THỊ KIM LAN

KÝ SINH TRÙNG

VÀ BỆNH KÝ SINH TRÙNG

THÚ Y

(Giáo trình dùng cho đào tạo bậc Đại học)

NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

GS TS NGUYỄN THỊ KIM LAN

KÝ SINH TRÙNG

VÀ BỆNH KÝ SINH TRÙNG

THÚ Y

(Giáo trình dùng cho đào tạo bậc Đại học)

NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP

Hà Nội - 2012

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Ký sinh trùng thú y là môn học cung cấp những kiến thức về ký sinh trùng học và bệnh do ký sinh trùng gây ra ở gia súc, gia cầm Những kiến thức này rất cần thiết cho sinh viên ngành Thú y và ngành Chăn nuôi thú y của các trường

Đại học Nông Nghiệp, đồng thời rất cần cho cán bộ thú y đang làm việc ở các cơ quan thú y và địa phươ ng.

Hiện nay, nhu cầu về tài liệu học tập của sinh viên ở trường Đại học nói

chung và trường Đại học Nông Lâm nói riêng ngày càng trở nên cấp thiết Phương pháp giảng dạy mới - phương pháp giảng dạy lấy người học làm trung

tâm - chỉ có thể thực hiện có hiệ u quả khi Nhà trường đáp ứng đủ nhu cầu về tài liệu học tập cho sinh viên.

Giáo trình Ký sinh trùng thú y của tác giả Nguyễn Thị Kim Lan và cs biên

soạn, được in ở Nxb Nông nghiệp, Hà Nội (1999) đã đáp ứng được nhu cầu học tập cho sinh viên từ năm 1999 đến nay Song, sau 12 năm sử dụng, chúng tôi nhận thấy cuốn giáo trình này hiện nay không còn phù hợp ở mức độ tốt đối với hoạt động dạy và học của Th ầy và Trò nữa.

Để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong giai đoạn mới - giai đoạn

chuyển từ đào tạo theo học chế niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ, chúng

tôi đã biên soạn cuốn giáo trình Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y Nội

dung của cuốn giáo trình phong phú, cập nhập được những kiến thức mới, các kết quả nghiên cứu về ký sinh trùng học th ú y, vừa là tài liệu học tập, vừa là tài liệu để sinh viên, đồng nghiệp và bạn đọc tham khảo.

Mặc dù tác giả đã rất cố gắng, đồng thời nhận được sự góp ý của các đồng nghiệp ở trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, trường Đại học Y - Dược và

trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, song cuốn giáo trình có thể

còn nhiều thiếu sót Tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp của các em sinh

viên, đồng nghiệp và bạn đọc để cuốn giáo trình được hoàn thiện hơn trong

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 ĐỊNH NGHĨA VÀ NỘI DUNG MÔN HỌC

1.1 Định nghĩa hiện tượng ký sinh

Hiện tượng ký sinh là một trong những hình thức sinh tồn của sinh vật, đặc

điểm của hình thức tồn tại đó là: một cơ thể số ng này sống trên hoặc trong một

cơ thể sống khác, sử dụng cơ thể sống ấy để có lợi cho mình

Thuật ngữ "hiện tượng ký sinh" lần đầu tiên được viết bằng tiếng Hy Lạp:

"Parasitos" (Para có nghĩa là: cùng nhau, sitos có nghĩa là dinh dưỡng), thuật

ngữ này dùn g để chỉ những sinh vật sống nhờ vào sinh vật khác Leukart là người

đầu tiên đưa ra khái niệm "vật ký sinh": "vật ký sinh là tất cả những sinh vật nào

tìm thức ăn và chỗ ở trên sinh vật khác"

Về bản chất của hiện tượng ký sinh, trong một thời kỳ khá dài, người ta chỉ

đề cập được đến tính chất phức tạp của hiện tượng này, mà không đưa ra được

một định nghĩa rõ ràng: hiện tượng ký sinh là gì?

Ngày nay, hiện tượng ký sinh được Erchov V R định nghĩa như sau : "Hiện

tượng ký sinh là mối quan hệ phức tạp giữa hai sinh vật, trong đó, một sinh vật

(ký sinh trùng) tạm thời hay thường xuyên cư trú trong cơ thể sinh vật kia (ký chủ) để lấy dịch thể, tổ chức của ký chủ làm thức ăn, đồng thời làm cho ký chủ bị tổn hại đến một mức độ nào đó về mặt sinh vật học"

Trong định nghĩa này, Erchov V R đã nêu rõ mối quan hệ qua lại, đốikháng giữa hai sinh vật (ký sinh trùng và ký chủ), mối quan hệ về không gian (cư

trú thường xuyên hay tạm thời), quan hệ về dinh dưỡng (ký sinh trùng lấy dịch

thể, tổ chức của ký chủ), về tác hại của ký sinh trùng Đây là định nghĩa cơ bản,hiểu được định nghĩa này là cơ sở để phân biệt hiện tượng ký sinh với các hiện

tượng khác như: hiện tượng cộng sinh, hiện tượng hoại sinh

1.2 Định nghĩa và nội dung của ký sinh trùng học, ký sinh trùng thú y học

* Ký sinh trùng học là gì?

Ký sinh trùng học là khoa học nghiên cứu về mối quan hệ giữa vật ký sinh

và vật chủ (ký sinh trùng và ký chủ), rút ra các quy luật cơ bản trong quá trìnhthích nghi của cơ thể vật ký sinh và vật chủ, tạo cơ sở để đề xu ất các biện pháp

đấu tranh với các bệnh ký sinh trùng, nhằm nâng cao sức khoẻ con người và phát

triển vật nuôi, cây trồng (Dẫn theo Nguyễn Thị Lê và cs, 1996; Nguyễn Thị KimLan và cs, 2008)

Nội dung của ký sinh trùng học gồm: ký sinh trùng học động vật v à ký sinhtrùng học thực vật

- Ký sinh trùng học thực vật (Phytoparasite): là khoa học nghiên cứu ký

Trang 5

* Ký sinh trùng thú y học chuyên nghiên cứu về ký sinh trùng có nguồn

gốc động vật, ký sinh ở gia súc, gia cầm và các vật nuôi khác, nghiên cứu vềbệnh do chúng gây nên và biện pháp phòng trị

Phạm vi nghiên cứu của ký sinh trùng thú y gồm: nghiên cứu về vị trí của

ký sinh trùng trong hệ thống phân loại động vật học, nghiên cứu về đặc điểm sinhhọc (hình thái, cấu tạo, chu kỳ phát triể n), nghiên cứu về sự phân bố địa lý của kýsinh trùng

Phạm vi nghiên cứu của bệnh ký sinh trùng gồm: nghiên cứu về đặc điểmdịch tễ của bệnh, cơ chế sinh bệnh, bệnh lý và lâm sàng của bệnh, về biện phápchẩn đoán và phòng trị bệnh có hiệu quả cao

2 MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔN KÝ SINH TRÙNG THÚ Y VỚI CÁC MÔN HỌC KHÁC

Ký sinh trùng thú y là môn học chuyên môn của ngành đào tạo Bác sỹ thú y

và Kỹ sư chăn nuôi thú y Xét trong mối quan hệ tiên quyết và logic, môn ký sinhtrùng thú y có quan hệ mật thiết với nhiều môn học, trong đó có những môn sau:

2.1 Môn Động vật học: là môn học cơ sở của ký sinh trùng học thú y Môn

ký sinh trùng thú y phải dựa trên những kiến thức của môn Động vật học đểnghiên cứu về hình thái, cấu tạo, về phân loại, về chu kỳ phát triển của c ác ký

sinh trùng Ngược lại, môn Ký sinh trùng thú y làm sáng rõ hơn, cụ thể và phongphú hơn những kiến thức mà sinh viên được học ở môn Động vật học

2.2 Môn Giải phẫu, Sinh lý bệnh và Giải phẫu bệnh động vật: để xác

định vị trí ký sinh của các loài ký sinh trùng, xác định bệnh tích và tìm ký sinh

trùng ký sinh, môn Ký sinh trùng thú y cần những kiến thức về giải phẫu, Sinh lýbệnh và Giải phẫu bệnh động vật Môn Ký sinh trùng thú y phải dựa vào nhữngkiến thức của các môn học này để mổ khám, để nghiên c ứu cơ chế sinh bệnh vànhững biến đổi đại thể, vi thể do ký sinh trùng gây ra ở gia súc, gia cầm

2.3 Môn Dịch tễ học: bệnh ký sinh trùng có nội dung nghiên cứu về dịch

tễ học (lưu hành bệnh học) Vì vậy, những kiến thức về dịch tễ học rất cần thiết,

là cơ sở để nghiên cứu những yếu tố liên quan đến sự phát sinh, phát triển bệnh

ký sinh trùng, từ đó có biện pháp phòng trừ có hiệu quả

2.4 Môn Miễn dịch học: ký sinh trùng ký sinh kích thích cơ thể vật chủ và

ở cơ thể vật chủ thường xuất hiện khả năng miễn dịch Những kiến thức về miễn

dịch giúp hiểu sâu sắc hơn về miễn dịch chống ký sinh trùng, đồng thời miễndịch chống ký sinh trùng lại làm rõ hơn những kiến thức chung về miễn dịch học

2.5 Môn chẩn đoán bệnh: để có biện pháp điều trị và phòng bệnh hiệu

quả, cần phải chẩn đoán đúng bệnh Các kiến thức của môn chẩn đoán bệnh giúpsinh viên biết phương pháp chẩn đoán lâm sàng, phi lâm sàng, đồng thời biết tiên

lượng bệnh trên vật nuôi

Trang 6

2.6 Môn Dược lý học thú y: bệnh ký sinh trùng cần dùng các loại hoá

dược để phòng trị, vì vậy những kiến thức của môn Dược lý là cơ sở cho việc sử

dụng thuốc đúng, an toàn và hiệu quả

3 GIỚI THIỆU NỘI DUNG GIÁO TRÌNH KÝ SINH TRÙNG THÚ Y

Giáo trình Ký sinh trùng thú y dùng cho bậc đào tạo đại học gồm hai phần:

- Phần thứ nhất Đại cương về ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y

- Phần thứ hai Giun sán ký sinh và bệnh giun sán ở gia súc, gia cầm

- Phần thứ ba Động vật chân đốt ký sinh và bệnh do động vật chân đốt

- Phần thứ tư Đơn bào ký sinh và bệnh do đơn bào gây ra

3.1 Phần thứ nhất Đại cương về ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y

Phần này gồm 2 chương:

Chương 1 Đại cương về ký sinh trùng thú y

Nội dung chương 1 trình bày về ký sinh trùng và ký chủ; đặc điểm đời sống

ký sinh của ký sinh trùng; ả nh hưởng qua lại giữa ký sinh trùng và ký chủ

Chương 2 Đại cương về bệnh ký sinh trùng thú y

Nội dung chương 2 trình bày về: khái niệm bệnh ký sinh trùng thú y, quy

định cách gọi tên bệnh ký sinh trùng; miễn dịch trong bệnh ký sinh trùng; tác hại

của bệnh ký sinh trùng đối với sức khoẻ động vật và năng suất chăn nuôi; đồngthời trình bày về biện pháp phòng trị bệnh ký sinh trùng; dịch tễ học bệnh ký sinhtrùng và học thuyết diệt trừ bệnh giun sán của Skrjabin

3.2 Phần thứ hai Giun sán ký sinh và bệnh giun sán ở gia súc, gia cầm.

Phần này gồm 4 chương:

Chương 3 Đại cương về giun sán và bệnh giun sán ở gia súc, gia cầm.

Nội dung chương 3 trình bày về: khái niệm và phân loại giun sán, khái niệm

và phân loại bệnh giun sán, các phương pháp chẩn đoán bệnh giun sán ở gia súc

và gia cầm

Chương 4 Sán lá và một số bệnh sán lá

Nội dung chương 4 trình bày: đặc điểm hình thái, cấu tạo và vòng đời củasán lá; một số bệnh sán lá thường gặp ở gia súc, gia cầm như: bệnh sán lá gan ởsúc vật nhai lại, bệnh sán lá ruột lợn, bệnh sán lá dạ cỏ, bệnh sán lá tuyến tụy,bệnh sán lá ở cơ quan sinh sản gia cầm, bệnh sán lá ruột gia cầm Đây là nhữngbệnh sán lá phổ biến và gây tác hại lớn đối với gia súc và gia cầm ở Việt Nam

Chương 5 Sán dây và một số bệnh sán dây

Nội dung chương 5 trình bày: đặc điểm hình thái, cấu tạo, vòng đời, phânloại sán dây và một số bệnh sán dây thường gặp ở gia súc, gia cầm

Các bệnh được trình bày gồm: bệnh sán dây Moniezia ở gia súc nhai lại,

bệnh sán dây ở gà, bệnh sán dây ở chó và mèo, bệnh gạo lợn, bệnh gạo bò, bệnh

Trang 7

ấu sán cổ nhỏ, bệnh ấu sán nhiều đầu, bệnh kén nước Đây là những bệnh do sándây trưởng thành hoặc do ấu trùng sán dây gây ra, thường gặp nhiều ở vật nuôi.

Chương 6 Giun tròn và một số bệnh giun tròn

Nội dung chương 6 trình bày: đại cương về giun tròn ký sinh; các bệnh giun

đũa (như: bệnh giun đũa lợn, bệnh giun đũa bê, nghé, bệnh giun đũa ngựa, bệnhgiun đũa gà, bệnh giun đũa chó); các bệnh giun kim (bệnh giun kim gà, bệnhgiun kim ngưa); bệnh giun lươn, các bệnh giun xoăn ở gia súc một móng (một số

bệnh giun xoăn như: bệnh do Strongylus equinus, bệnh do Alfortia edentatus, bệnh do Delafondia vulgaris, bệnh do Trichonema); bệnh giun xoăn ở gia súc nhai lại (bệnh giun xoăn do Haemonchus và Mecistocirrus); bệnh giun kết hạt; bệnh giun tóc; bệnh giun tròn thuộc phân bộ Trichocephalata (bệnh giun tóc,

bệnh giun xoắn); các bệnh giun phổi (bệnh giun phổi lợn, bệnh giun phổi ở giasúc nhai lại); bệnh giun thận lợn; bệnh giun dạ dày lợn, bệnh giun dạ dày gia cầm

3.3 Phần thứ ba Động vật chân đốt ký sinh.

Gồm 2 chương:

Chương 7 Đại cương về động vật chân đốt ký sinh

Nội dung chương 7 trình bày: đặc điểm hình thái, cấu tạo và phân loại độngvật chân đốt; đặc điểm sinh học, vai trò gây bệnh, biện pháp phòng t rừ động vật

chân đốt ký sinh

Chương 8 Ve, ghẻ và côn trùng ký sinh

Nội dung chương 8 trình bày: phân loại ve, ghẻ và côn trùng ký sinh; bệnh

ghẻ ngầm do loài Sarcoptes scabiei gây ra ở nhiều loài gia súc và gia cầm.

3.4 Phần thứ tư Đơn bào ký sinh và bệnh do đơn bào gây ra

Gồm 3 chương:

Chương 9 Đại cương về đơn bào ký sinh và bệnh do đơn bào gây ra

Nội dung chương 9 trình bày: đặc điểm hình thái, cấu tạo của đơn bào; phânloại đơn bào ký sinh; đại cương về bệnh do đơn bào gây ra ở gia súc và gia cầm

Chương 10 Một số bệnh trùng roi ở gia súc

Nội dung chương 10 trình bày: đặc điểm của trùng roi Trypanosomidae; một

số bệnh trùng roi ở gia súc (bệnh tiên mao trùng, bệnh sảy thai do Trichomonas ở

bò, bệnh dịch giao cấu ở ngựa - bệnh tiêm la ngựa)

Chương 11 Một số bệnh bào tử trùng ở gia súc

Nội dung chương 11 trình bày: các bệnh huyết bào tử trùng ( gồm: bệnh lê

dạng trùng ở bò, bệnh Theileria ở bò, bệnh biên trùng ở bò); các bệnh cầu trùng

(giới thiệu đại cương về cầu trùng ký sinh, bệnh cầu trùng gà , bệnh cầu trùng thỏ,bệnh cầu trùng lợn)

Trang 8

1.1 Khái niệm và phân loại ký sinh trùng

1.1.1 Khái niệm ký sinh trùng

Ký sinh trùng là những sinh vật sống nhờ vào sinh vật khác đang sống,chiếm đoạt các chất dinh dưỡng của sinh vật đó để sống và phát triển

Ví dụ: giun đũa lợn (Ascaris suum), sán lá gan (F hepatica), tiên mao trùng (Trypanosoma evansi) là các ký sinh trùng.

Trong hiện tượng ký sinh, con vật ký sinh (ký sinh trùng) nhỏ bé và yếu hơnrất nhiều so với con vật mà nó ký sinh Vật ký sinh cần vật chủ phải sống đểchiếm đoạt dinh dưỡng liên tục hoặc nhiều lần, đồng thời vật chủ là nơi cư trú

thường xuyên hoặc tạm thời của vật ký sinh

1.1.2 Phân loại ký sinh trùng

Ký sinh trùng có nhiều chỗ cư trú và nhiều cách sống khác nhau Vì vậy, cóthể phân loại ký sinh trùng theo một số căn cứ sau:

* Theo nguồn gốc: chia thành 2 loại:

- Ký sinh trùng động vật

- Ký sinh trùng thực vật

* Theo chỗ cư trú của ký sinh trùng: chia thành 2 loại:

- Ngoại ký sinh trùng (Epizoa): là những ký sinh trùng ký sinh ở mặt

ngoài cơ thể

Ví dụ: ve, ghẻ, rận

- Nội ký sinh trùng (Entozoa): là những ký sinh trùng ký sinh ở trong cơ thể

Ví dụ: các ký sinh trùng ở đường tiêu hoá, đường hô hấp

* Theo cách sống của ký sinh trùng: chia thành 3 loại:

- Ký sinh trùng bắt buộc (Obligatus): là những ký sinh trùng bắt buộc phải

sống ký sinh vào một cá thể khác, chúng không thể sống đư ợc nếu rời khỏi ký chủ

Ví dụ: giun, sán, ghẻ, rận

- Ký sinh trùng tuỳ nghi (Facultas): là những ký sinh trùng có thể sống tự

do ở ngoại cảnh, chỉ ký sinh ở vật chủ khi đói

Trang 9

* Theo đời sống ký sinh: chia thành 2 loại:

- Ký sinh trùng vĩnh viễn (Obligatus): là những ký sinh trùng cả đời ở ký

chủ, không lúc nào rời ký chủ

Skrjabin K I và Schutz R S (1940) đã chia các ký sinh trùng này thành hainhóm cơ bản theo đặc điểm quan hệ với môi trường bên ngo ài

+ Ký sinh trùng cố định: tất cả các giai đoạn phát triển của ký sinh trùng

đều hoàn thành trong cơ thể ký chủ ( ví dụ: giun tròn Trichinella spiralis không

bao giờ gặp nó ở ngoài cơ thể và chỉ truyền trực tiếp khi có con vật khác ăn thịtcon vật mang ký sinh trùng)

+ Ký sinh trùng định kỳ: một số giai đoạn phát triển nhất định phải hoànthành ở môi trường bên ngoài ( ví dụ: giun đũa, sán lá )

- Ký sinh trùng tạm thời: những ký sinh trùng này phát triển từ trứng đến

giai đoạn trưởng thành đều ở ngoại c ảnh, chúng xâm nhập vào ký chủ cốt là để

lấy thức ăn, sau khi ăn nó lại rời ký chủ và chỉ tìm đến ký chủ khi đói ( ví dụ:muỗi, đỉa )

* Theo bản chất của ký sinh trùng: chia thành 2 loại:

- Ký sinh trùng chuyên loại: là những ký sinh trùng chỉ có thể ký sinh ở mộtloài vật hay một vài loài gần giống nhau về phương diện động vật học

Ví dụ: giun tròn Parascaris equorum chỉ ký sinh ở ngựa, lừa, la.

- Ký sinh trùng phiếm loại: là những ký sinh trùng có thể ký sinh ở nhiềuloài vật rất khác nhau (ví dụ: ve, ghẻ, tiên mao trùng )

1.2 Khái niệm và phân loại ký chủ (vật chủ)

1.2.1 Khái niệm ký chủ

Ký chủ là những sinh vật đang sống bị ký sinh trùng sống nhờ tạm thời haylâu dài và bị chiếm đoạt chất dinh dưỡng

Ví dụ: lợn là ký chủ của giun đũa lợn (Ascaris suum);

trâu, bò là ký chủ của sán lá gan (Fasciola spp.).

Ký chủ là môi trường ngoại cảnh quan trọng nhất của ký sinh trùng Nhữngyếu tố tự nhiên chỉ tác động được vào ký sinh trùng thông qua ký chủ

1.2.2 Phân loại ký chủ

Căn cứ vào đ ặc tính phát dục và thích ứng của ký sinh trùng đối với đời

sống ký sinh mà có thể phân ký chủ thành những loại sau:

- Ký chủ cuối cùng: là những sinh vật để ký sinh trùng sống nhờ và phát

dục đến lúc thành thục về giới tính, có khả năng sinh sản được

Trang 10

Ví dụ: trâu, bò là ký chủ cuối cùng của sán lá gan ( Fasciola spp.).

- Ký chủ trung gian

Ký chủ trung gian là những sinh vật để ký sinh trùng sống nhờ và phát dục

trong giai đoạn ấu trùng

Ví dụ: lợn là ký chủ trung gian của sán dây Taenia solium;

ốc Limnaea là ký chủ trung gian của sán lá gan (Fasciola spp.).

- Ký chủ trung gian bổ sung (ký chủ trung gian 2)

Trong quá trình phát dục, ấu trùng đã qua giai đoạn ở ký chủ trung gian thứnhất nhưng vẫn cần một ký chủ trung gian thứ hai để hoàn thành sự phát dục của

ấu trùng Ký chủ trung gian thứ hai này gọi là ký chủ trung gian bổ sung

Ví dụ: sán dây Diphyllobothrium latum có các ký chủ sau:

+ Ký chủ cuối cùng: người, chó, mèo

+ Ký chủ trung gian: bọ nước

+ Ký chủ trung gian bổ sung: cá

- Ký chủ chuyên tính

Ký chủ chuyên tính là ký chủ được ký sinh trùng chọn lọc chặt chẽ để ký sinh

Ví dụ: người là ký chủ chuyên tính của sán dây Taeniarhynchus saginatus;

bê, nghé là ký chủ chuyên tính của giun đũa Neoascaris vitulorum.

- Ký chủ dự trữ

Ấu trùng của ký sinh trùng trước khi vào cơ thể ký chủ cuối cùng lại vào một

sinh vật khác và không tiếp tục phát triển được nữa Sinh vật khác này được gọi là

ký chủ dự trữ Ký chủ cuối cùng nuốt ký chủ dự trữ sẽ bị nhiễm ký sinh trùng

Ví dụ: giun Syngamus trachea ký sinh ở khí quản gà.

Nếu trứng có sức gây bệnh của giun này bị động vật chân đốt hoặc giun đấtnuốt thì ấu trùng nở ra, qua đường tiêu hoá vào tổ chức cơ của ký chủ dự trữ vàkhông tiếp tục phát triển được nữa Nếu gà nuốt ký chủ dự trữ sẽ bị bệnh

- Ký chủ đường cùng

Ấu trùng của ký sinh trùng có thể vào cơ thể sinh vật không phải là vật chủ

thích hợp của nó để phát dục thời kỳ đầu, nhưng sau một thời gian thì bị chết vì

không thích nghi được với sinh vật này Sinh vật này gọi là ký chủ đường cùng

Ví dụ: giun tròn Strongyloidea ký sinh ở đường tiêu hoá ngựa, ấu trùng giun

chui vào da người thì sau một thời gian ngắn sẽ bị chết vì không thích nghi được

2 ĐẶC ĐIỂM ĐỜI SỐNG KÝ SINH CỦA KÝ SINH TRÙNG

Ký sinh trùng là những sinh vật nên có những đặc điểm chung của sinh vật,

đồng thời cũng có những đặc điểm riêng của ký sinh trùng Để tồn tại và phát

triển, ký sinh trùng phải có những đặc điểm sống thích nghi với phương thứcsống ký sinh của chúng Các đặc điểm của đời sống ký sinh trình bày dưới đ âythể hiện rõ nét sự thích nghi của ký sinh trùng

2.1 Đặc điểm về hình thái và kích thước

2.1.1 Đặc điểm hình thái

Hình thái của ký sinh trùng rất đa dạng Tuỳ từng loài mà ký sinh trùng cóhình thái riêng Những ký sinh trùng đơn bào thì hình thể như một tế bào nhưng

Trang 11

không thuần nhất: có loài hình dạng tương đối tròn như cầu trùng, có loài hình

thoi như trùng roi đường máu, giun tròn có hình ống, sán lá có hình lá, côn trùng

có chân và cánh

Ký sinh trùng có những giai đoạn phát triển khác nhau Ở các giai đoạn pháttriển khác nhau, ký sinh trùng có hình thái khác nhau Sự khác nhau về hình thái

ở các giai đoạn phát triển có thể đến mức khó nhận định

Ví dụ: ruồi, muỗi trưởng thành có chân và cánh, nhưng khi là ấu trùng ( dòiruồi, bọ gậy muỗi) thì không có chân và cánh

2.1.2 Đặc điểm về kích thước

Ký sinh trùng có kích thước rất khác nhau, có loài có kích thước rất nhỏ ( ví

dụ: Piroplasma spp trưởng thành có kích thước 2 - 4 x 2 µm), trong khi có

những loài có kích thước rất lớn (sán dây Moniezia spp dài tới 4 - 5 m).

Có những loài ký sinh trùng trong quá trình sống có sự thay đổi rất nhiều về

kích thước (Ví dụ: sán lá, sán dây, giun tròn khi trưởng thành có kích thước lớnnhưng khi là ấu trùng thì rất nhỏ, phải dùng kính hiển vi mới quan sá t được)

Có loài ký sinh trùng trong một thời gian rất ngắn của đời sống ký sinh cũng

có thể thay đổi lớn về kích thước ( ví dụ: ve sau khi hút no máu, kích thước cơ thể

có thể gấp 50 lần so với lúc đói)

Đặc điểm kích thước của ký sinh trùng khác vi khuẩn ở chỗ: về kích thước,

vi khuẩn tương đối thuần nhất (đều phải dùng kính hiển vi mới quan sát được),còn ký sinh trùng thì tuỳ loài, tuỳ từng giai đoạn mà có thể thấy được bằng mắt

thường hoặc kính hiển vi

2.2 Đặc điểm về cấu tạo cơ thể của ký sinh trùng

2.2.1 Đặc điểm thoái hoá khí quan không cần thiết

Là những sinh vật sống ký sinh, ký sinh trùng có cấu tạo cơ thể thích hợp

cho đời sống của chúng Do đời sống ký sinh, những khí quan của cơ thể không

cần thiết đã bị thoái hoá hoặc mất đi hoàn toàn

Ví dụ: sán lá có ống tiêu hoá rất đơn giản; sán dây không có ống tiêu hoá;

giun sán không có cơ quan vận động, không có thị giác, thính giác, khứu giác,

không có hệ tuần hoàn và hô hấp

Nhìn chung, những khí quan không cần thiết cho đời sống ký sinh đều chịunhững biến đổi thoái hoá hoặc bị loại trừ hoàn toàn

Nội ký sinh trùng có những biến đổi rõ nét và sâu sắc hơn nhiều so vớingoại ký sinh trùng Ký sinh trùng tạm thời bị biến đổi ít, ký sinh trùng vĩnh viễn

bị biến đổi nhiều hơn

2.2.2 Đặc điểm tiến hoá, tạo ra những khí quan mới cần thiết

Cũng do đời sống ký sinh, do nhu cầu tồn tại mà qua nhiều thế hệ, ký sinh

trùng đã tạo ra và hoàn chỉnh những khí quan đặc biệt, giúp cho đời sống ăn bám

của chúng được thuận lợi Những khí quan này giúp ký sinh trùng dễ dàng tìm

Trang 12

đến ký chủ, bám vào ký chủ, chiếm dinh dưỡng của ký chủ, sinh sản dễ dàng trên

ký chủ hoặc ở ngoại cảnh

Trước kia người ta cho rằng, ký sinh trùng tìm được ký chủ là nhờ hướngtính đặc biệt Trên cơ sở thuyết hướng tính, người ta đã phân biệt các loại hướngtính khác nhau: hoá hướng tính, lý hướng tính, nhiệt hướng tính, điện hướng tính,quang hướng tính

Với những nghiên cứu sâu hơn, Skrjabin K I và Frosmann (1963) cho biết,

ký sinh trùng và những sinh vật hạ đẳng có những khí quan riêng gọi là phân tích

quan Chính phân tích quan đã giúp ký sinh trùng tìm được ký chủ cần thiết và

tạo cho ký sinh trùng có kiểu sống riêng thích hợp trên ký chủ

Ví dụ: có ấu trùng ký sinh trùng chui sâu vào đất (trước kia gọi là địa hướngtính) hoặc di chuyển xa những chất độc hại đối với chúng (trước kia gọi là hoá

hướng tính âm) thì cũng chỉ là do ký sinh trùng nhờ vào phân tích quan mà đã có

cảm giác đặc biệt, dẫn tới những phản xạ thích hợp Cũng nhờ có phân tích quan

mà ký sinh trùng đực và cái có thể dễ dàng tìm gặp nhau để giao phối

Hiện nay, nhờ có những nghiên cứu về phân tích quan của ký sinh trùng mà

người ta có thể xua đuổi ký sinh trùng bằng cách đánh lạc hướng và làm mất tác

dụng của phân tích quan Ví dụ: dùng các loại tinh dầu có mùi thơm đặc biệt để

xua đuổi muỗi tránh xa người

Sau khi đã tìm được ký chủ, ký sinh trùng cần bám chắc vào ký chủ để lấy

thức ăn, vì vậy các khí quan bám (các giác bám, móc bám) (còn gọi là các cơquan cố định) phát triển mạnh và

Giác bám là những chỗ lõm hình hơi tròn hoặc bầu dục, hoặc hình bánnguyệt, được cấu tạo bằng hệ thống cơ vòng và cơ t ỏa Khi những thớ cơ này colại, giác bám của ký sinh trùng mút vào hõm của một nụ thịt (mô thắt đáy), nhờ

vậy ký sinh trùng bám chắc được vào ký chủ Ví dụ: sán lá Fasciola spp có 2 giác bám, sán dây Moniezia spp có 4 giác bám.

Móc bám phát triển ở nhiều loài ký sinh trùng (ví dụ: sán dây Taenia solium

có 2 hàng móc gồm 22 - 44 móc) Móc được cấu tạo bằng chất kitin hoặc sừng,phân bố ở trên mõm hoặc đỉnh đầu Móc l à khí quan đặc biệt của ký sinh trùng

để có thể đâm và cắm sâu vào tổ chức của ký chủ như một lưỡi câu vì mócthường cong về phía sau

Ví dụ: chân muỗi nhờ có những móng bám nên có thể bám chắc vào ký chủ

để hút máu, mặc dù ký chủ cố gắng di động và co rút cơ để xua đuổi chúng Giun

sán ở trong ruột ký chủ tuy thường xuyên bị nhu động ruột đe dọa tống ra ngoài,

nhưng nhờ có những khí quan đặc biệt nên vẫn có thể bám chắc vào vị trí ký sinh.Khi đã bám được vào ký chủ, do ký sinh trùng cần chiếm đoạt dinh dư ỡng

của ký chủ nên các khí quan đặc biệt được hoàn thiện Ví dụ: vòi muỗi có cấu tạorất tinh vi để có thể thọc vào da ký chủ (mặc dù da nhiều loài ký chủ rất dày vàcứng) Muỗi còn tiết ra chất chống đông máu để tránh máu đông lại làm tắc vòi

Trang 13

hút Giun móc cũng có tuyến tiết chất chống đông máu (thuộc nhóm heparin) làm

cho máu không đông và hút được dễ dàng

Để duy trì nòi giống trong điều kiện con người luôn tìm cách chống lại

chúng, ký sinh trùng đã tạo ra và hoàn thiện các khí quan giúp cho việc sinh sả n

được dễ dàng trong những hoàn cảnh khó khăn Ví dụ: muỗi phải giao phối trong

khi bay, nên muỗi đực ngoài bộ phận dương vật còn có càng bám để giữ chắcmuỗi cái Muỗi cái vì số lần gặp muỗi đực rất ít nên nó có túi chứa và dưỡng tinh

để thụ tinh cho những lứa trứng tiếp theo

2.3 Đặc điểm sinh sản của ký sinh trùng

Ký sinh trùng có những đặc điểm sinh sản sau:

- Sinh sản vô tính:

Là hình thức sinh sản đơn giản nhất Ví dụ: các ký sinh trùng đường máusinh sản theo hình thức này (tiên mao trùng, lê dạng trùng )

- Sinh sản hữu tính:

Đối với những ký sinh trùng lưỡng tính (sán lá, sán dây): có thể tự giao phối

giữa bộ phận sinh dục đực và bộ phận sinh dục cái trên cùng một cá thể, hoặc cóthể giao phối chéo giữa hai cá thể Tuy nhiên, khi có từ 2 cá thể trở lên, ký sinh

trùng lưỡng tính thường giao phối chéo giữa cá thể này với cá thể khác

Đối với những ký sinh trùng đơn tính (nhiều loài giun tròn, động vật chânđốt): sinh sản theo hình thức con đực và con cái giao phối với nhau

Tuỳ loài ký sinh trùng mà bằng hình thức sinh sản hữu tính sẽ đẻ ra trứng(ví dụ: giun đũa), hoặc đẻ ra ấu trùng (ví dụ: giun bao), có khi rất khó nhận định

là trứng hay ấu trùng (ví dụ: giun chỉ đẻ ra trứng, trong có ấu trùng , khi ấu trùng

cử động, do vỏ trứng rất mỏng nên vỏ trứng giãn ra theo hình thể ấu trùng)

- Phôi tự sinh:

Đây là hình thức sinh sản đặc biệt của ký sinh trùng Có những loài ký sinh

trùng chỉ sinh sản ở giai đoạn trưởng thành, nhưng có những loài ký sinh trùngcòn có khả năng sinh sản ở giai đoạn ấu trùng Đó là hình thức phôi tự sinh Vídụ: ấu trùng sán lá có dạng bọc, bên trong bọc sinh ra nhiều tế bào phôi Từ một

ấu trùng sán lá ở giai đoạn tiền ấu trùng có thể sinh sản ra nhiều ấu trùng (khi

sống trong ký chủ trung gian)

Do hình thức sinh sản phong phú mà ký sinh trùng sinh sản nhanh, nhiều và

dễ dàng Ví dụ: một con sán dây Taenia saginata có thể đẻ 150 triệu trứng một

năm, giun đũa lợn đẻ 200.000 trứng mỗi ngày (Cram, 1925)

2.4 Đặc điểm sống của ký sinh trùng

2.4.1 Đặc điểm môi trường sống

Môi trường sống của ký sinh trùng là cơ thể vật chủ mà nó ký sinh và ngoại

cảnh mà nó chịu tác động gián tiếp thông qua vật chủ Ngoại cảnh cũng là môi

trường tác động trực tiếp đến ký sinh trùng khi nó ở giai đoạn là trứng hoặc ấu trùng

Trang 14

Để sống và phát triển, ký sinh trùng cần có môi trường sống thích hợp về

nhiệt độ, độ ẩm, đất đai, độ cao cách mặt biển Mức độ thích hợp có thể cogiãn, có những biên độ nhất định

* Các loại môi trường sống của ký sinh trùng

Có thể phân ra 2 loại môi trường sống của ký sinh trùng:

- Môi trường sống tối thuận: là môi trường mà ở đó ký sinh trùng có những

điều kiện thuận lợi nhất, tốt nhất để sống và phát triển

- Môi trường sống tối thiểu: là môi trường mà ở đó ký sinh trùng có những

điều kiện thấp nhất để duy trì sự s ống, nếu điều kiện sống thấp hơn thì ký sinh

trùng không thể sống nổi

Ví dụ: ấu trùng Miracidium của sán lá Fasciola spp sống ở môi trường tự

nhiên có nhiệt độ thích hợp nhất là 22 - 230C, nhiệt độ để nó tồn tại biến động từ

150C đến 300C Nếu nhiệt độ thấp hơn 150C hoặc cao hơn 300C thì ấu trùng nàykhông thể sống được Ấu trùng này đòi hỏi pH của nước mà nó đang sống là 5 -7,7; pH thích hợp nhất cho ấu trùng phát triển là 6 - 7 Nếu pH thấp hơn 5 và cao

hơn 7,7 thì ấu trùng bị chết

* Ảnh hưởng của mô i trường ngoại cảnh đến ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng

Môi trường tự nhiên bao gồm nhiều yếu tố: khí hậu, thời tiết (nhiệt độ, độ

ẩm, ánh sáng), đất đai, sông hồ, độ cao cách mặt biển Môi trường tự nhiên

không thể không có những biến động: thời tiết luôn thay đổi, các chất luônchuyển hoá Ngoài những thay đổi tự nhiên còn có những thay đổi do con người

tác động (ví dụ: con người phát quang cây cỏ, khơi thông cống rãnh ) Nhữngthay đổi này tác động rõ rệt đến ký sinh trùng và tạo nên sự biến động c ủa kýsinh trùng theo môi trường Cũng vì vậy mà có sự biến động của ký sinh trùng

theo mùa

Ví dụ: ở Việt Nam ruồi, muỗi phát triển chủ yếu từ tháng 4 đến tháng 9 lànhững tháng nóng ẩm thích hợp với ruồi muỗi; bọ chét lại phát triển chủ yếu từtháng 10 đến tháng 4 là những tháng mát, lạnh và khô ráo , thích hợp với bọ chét

Điều kiện khí hậu, nhất là nhiệt độ và độ ẩm có ảnh hưởng đến khu hệ ký

sinh trùng Sự thay đổi nhiệt độ và độ ẩm của môi trường làm cho khu hệ ký sinh

trùng thay đổi Điều này dễ hiểu bởi ký sinh trùng và ký chủ trung gian của

chúng yêu cầu điều kiện nhiệt độ và độ ẩm nhất định để sống và phát triển

Nếu môi trường không có những thay đổi đáng kể thì sự biến động của kýsinh trùng không rõ rệt

Nói chung, yếu tố môi trường ngoại cảnh k hông những có thể quyết định sự

có mặt của một ký sinh trùng nào đó mà còn quyết định mức độ, khả năng hoạt

động và phát tán của ký sinh trùng

Trang 15

Ví dụ: sán lá trong nhiều giai đoạn sống (khi là trứng, ấu trùng) cần phải có

môi trường nước để sống Vì vậy, n hững vùng hoàn toàn khô cạn thì không có

sán lá và bệnh sán lá Những vùng ít nước có ít bệnh, những vùng nước nhiều thìbệnh sán lá phát triển

* Ảnh hưởng của môi trường trực tiếp (ký chủ) đến ký sinh trùng

Mọi cơ quan, mọi nơi trong cơ thể động vật đều có ký sinh trùng ký sinh

Giun sán thường tập trung sống ký sinh ở đường tiêu hoá, ký sinh trùng đơn bàothường sống trong máu hoặc trong đường tiêu hoá của động vật Mỗi loài ký sinh

trùng có một nơi ký sinh thích hợp, nhưng cũng có những loài ký sinh ở n hiều

nơi khác nhau (ví dụ: ấu trùng sán dây Echinococcus).

Về môi trường ký chủ, trong cùng loài ký chủ thì con non nhiễm ký sinh

trùng thường nhiều hơn con trưởng thành Những con vật ốm yếu, suy dinhdưỡng nhiễm nặng hơn những con đủ dinh dưỡng và khoẻ m ạnh Trong các cơ

quan của vật chủ, cơ quan tiêu hoá (ruột, dạ dày, gan), máu, da là những nơi ký

sinh trùng thường ký sinh nhiều hơn Cơ quan sinh dục thường ít có ký sinh trùng

ký sinh hơn

* Tính thích nghi của ký sinh trùng với môi trường sống

Yếu tố môi trường tuy có tác động lớn đến toàn bộ sự sống, sự hoạt độngcủa ký sinh trùng, nhưng cũng cần phải xét đến sự thích nghi của ký sinh trùng

đối với môi trường

Là những sinh vật, qua nhiều thế hệ nối tiếp nhau, ký sinh trùng dần dầnhình thành sự thích nghi với môi trường sống không hoàn toàn thích hợp Sựthích nghi này dựa vào đặc tính biến dị và di truyền của sinh vật, có thể tạo thànhnhững kiểu sống mới cho ký sinh trùng

Ví dụ: muỗi sống hoang dại trở thành bán thuần dưỡng rồi vào hẳn nhà ởvới con người và trở thành thuần dưỡng Nếu bị con người xua đuổi thì muỗi lại

ra ngoài sống bán thuần dưỡng hoặc hoang dại tạo thành một vòng thích nghiluẩn quẩn (thấy rất rõ ở các vùng diệt muỗi chống bệnh sốt rét)

Nhìn chung, ký sinh trùng có thể thích nghi với hoàn cảnh môi trường Nếu

sự thích nghi đó được tiến hành qua nhiều thế hệ thì có thể trở thành bản chấtsinh thái của ký sinh trùng

Những yếu tố phụ thuộc của ký sinh trùng đối với môi trường cần quanniệm là những yếu tố tác động đến hiện tượng s ống Yếu tố này luôn thay đổi chứkhông phải là bất di bất dịch Do đó, việc cải tạo môi trường là hết sức cần thiết

để khống chế ký sinh trùng Nhưng mặt khác, vì quá trình khống chế là một quá

trình kéo dài song song với quá trình cải tạo môi trường, nên cũng phải tính đến

ký sinh trùng có thể thích nghi và từ đó cần có những đối phó kịp thời với sựthích nghi mới của ký sinh trùng Nói cách khác, sự đối phó với ký sinh trùngbằng biện pháp cải tạo môi trường phải thường xuyên, kịp thời và lâu dài để phá

vỡ tính thích nghi của ký sinh trùng với môi trường sống

Yếu tố môi trường tuy là yếu tố quyết định, nhưng không phải là duy nhất,

vì đặc điểm sống của ký sinh trùng còn phụ thuộc vào chu kỳ của bản thân nó,phụ thuộc vào yếu tố ký chủ

Trang 16

2.4.2 Yếu tố chu kỳ phát triển (vòng đời) của ký sinh trùng

* Chu kỳ phát triển của ký sinh trùng là gì?

Toàn bộ quá trình phát triển, thay đổi qua những giai đoạn khác nhau của

đời sống ký sinh trùng, kể từ khi là mầm sinh vật đầu tiên, cho đến khi lại sản

sinh ra mầm sinh vật mới, tạo ra một thế hệ mới được gọi là chu kỳ

Ví dụ: Chu kỳ phát triển của ruồi:

NhộngQuan niệm về chu kỳ phải là không gián đoạn, hình dung như là một đườngtròn không có điểm mở đầu và không có điểm kết thúc D o quan niệm này nên

mới có danh từ chu kỳ (chu nghĩa là vòng tròn) hoặc vòng đời Khi nói đến chu

kỳ của một ký sinh trùng nào đó, ta có thể mô tả từ giai đoạn nào cũng được

Nhưng do thói quen theo một trình tự nhất định mà người ta thường mô tả chu kỳ

bắt đầu từ mầm sinh vật đầu tiên (ký sinh trùng trưởng thành)

* Các kiểu chu kỳ

Chu kỳ của ký sinh trùng hoặc thực hiện trên cơ thể ký chủ, hoặc thực hiện

ở môi trường tự nhiên Nếu lấy môi trường ký chủ làm trung tâm thì môi trường

tự nhiên thường được gọi là ngoại cảnh hoặc ngoại giới

Chu kỳ phát triển của ký sinh trùng gồm những kiểu sau:

- Có những ký sinh trùng mà chu kỳ của chúng hoàn toàn thực hiện ở ngoạicảnh, không cần tới ký chủ Đó là chu kỳ của những ngoại ký sinh trùng nhưruồi, muỗi (tuy có lúc sống ký sinh vào ký chủ, nhưng không cần sống bám vào

ký chủ mới thực hiện được chu kỳ toàn vẹn)

- Một số ký sinh trùng khác có chu kỳ thực hiện lúc ở ngoại cảnh, lúc ở kýchủ Ví dụ: chu kỳ của các sán lá

- Một số ký sinh trùng có chu kỳ thực hiện ho àn toàn trên ký chủ mà khôngcần đến ngoại cảnh mới thực hiện được chu kỳ

Ví dụ: chu kỳ của giun bao, của các huyết bào tử trùng

Như vậy, có ký sinh trùng có kiểu chu kỳ đơn giản, có ký sinh trùng có kiểu

chu kỳ phức tạp Tính đơn giản hoặc phức tạp của chu kỳ ảnh hưởng tới mức độphát triển ký sinh trùng và liên quan đến mức độ phổ biến của bệnh do ký sinh

trùng đó gây ra Những ký sinh trùng có chu kỳ phức tạp thường khó tồn tại và

phát triển, vì chu kỳ có nhiều khâu, và chỉ cần một khâu không thực hiện đượchoặc bị phá vỡ là chu kỳ không thực hiện được Những ký sinh trùng có chu kỳ

đơn giản sẽ dễ thực hiện được chu kỳ toàn vẹn, chúng không những dễ tồn tại mà

cũng dễ phát triển và nhiễm vào ký chủ để gây bệnh

Vì ký sinh trùng có nhiều kiểu chu kỳ nên biện pháp phá vỡ chu kỳ của kýsinh trùng cũng có nhiều hình thức khác nhau: hoặc cắt đứt khâu ký sinh trùng từ

Trang 17

ký chủ ra ngoại cảnh, hoặc từ ngoại cảnh vào ký chủ, hoặc diệt ký sinh trùng ở

ký chủ bằng cách dùng hoá dược điều trị

Chu kỳ có những quy luật nhất định, các giai đoạn phải tuần tự kế tiếp nhau,

nhưng vì còn phụ thuộc vào yếu tố môi trường nên thời gian hoàn thành một chu

kỳ không thể cố định được Ở điều kiện thuận lợi, tốc độ hoàn thành chu kỳ sẽ

nhanh hơn so với ở môi trường không thuận lợi

Ví dụ: ve Boophilus cần 1 - 1,5 tháng vào mùa nóng, ẩm để hoàn thành chu

kỳ, còn vào mùa lạnh thì phải trên 3 tháng

2.4.3 Yếu tố ký chủ

Ký chủ là yếu tố không thể tách rời ký sinh trùng Có 3 kiểu quan hệ giữa

ký sinh trùng và ký chủ:

- Ký sinh trùng chỉ ở ký chủ và do tiếp xúc mà sang một ký chủ khác

Ví dụ: ghẻ, rận chỉ sống ký sinh trên ký chủ, ký chủ khác nhiễm ghẻ, rận dotiếp xúc với con vật bị bệnh

- Ký sinh trùng sống ở ký chủ cuối cùng, thải mầm bệnh ra ngoại cảnh,

nhưng sau đó phải qua giai đoạn ở một hoặc hai ký chủ trung gian rồi mới trở lại

ký chủ cuối cùng

Ví dụ: sán lá gan, giun phổi lợn

- Ký sinh trùng ở ký chủ và từ ký chủ được đưa vào vật môi giới truyềnbệnh, sau đó vật môi giới này lại truyền ký sinh trùng vào một ký chủ khác

Ví dụ: ký sinh trùng đường máu, giun chỉ

Như vậy, ký sinh trùng gây bệnh không thể thiếu được yếu tố ký chủ (gồm

có ký chủ cuối cùng, ký chủ trung gian) Từ sự quan hệ khăng khít của ký sinhtrùng với ký chủ, có thể rút ra những nhận xét sau:

+ Nếu thiếu ký chủ thì ký sinh trùng không hoàn thành được chu kỳ phát triển.+ Nếu không có ký chủ thích hợp thì ký sinh trùng chết hoặc có trường hợp

có thể sống được một thời gian ngắn và gây một số tác hại, sau đó chết

Ví dụ: ấu trùng của sán dây Diphyllobothrium mansoni ký sinh ở nhái Nếu

rắn ăn nhái sẽ bị bệnh sán dây trưởng thành Nhưng khi người là ký chủ khôngthích hợp ăn thịt ếch nhái có ấu trùng chưa được nấu chín hoặc đắp thịt ếch nháivào mắt (chữa đau mắt theo tập quán sai lầm cũ) thì ấu trùng sẽ không thành sán

dây trưởng thành mà vẫn tiếp tục sống dưới dạng ấu trùng, tạo nên những u sán ở

dạ dày hoặc ở mắt của người (trong u sán có ấu trùng sán dây)

Khi ký sinh trùng sống trong ký chủ không thích hợp có thể gây nên những

trường hợp bệnh đặc biệt, thường gọi là những bệnh do ký sinh trùng lạc chủ

+ Ký sinh trùng sau khi vào ký chủ phải tìm đến vị trí ký sinh thích hợp để

ký sinh Mỗi ký sinh trùng có vị trí ký sinh nhất định trong cơ thể Những trườnghợp ký sinh trùng ký sinh ở các vị trí khác đ ược gọi là ký sinh trùng lạc chỗ(hoặc ký sinh trùng di cư) Hiện tượng di cư xảy ra do nhiều yếu tố khác nhau.Những yếu tố chủ yếu là do ký sinh trùng thay đổi sinh thái, hoặc do cơ thể ký

Trang 18

chủ có những thay đổi lý hoá tại chỗ ký sinh trùng ký sinh Sự di cư của ký sinhtrùng có thể gây ra những triệu chứng rất bất thường Ví dụ: trường hợp giunchui ống mật gây nên triệu chứng đau bụng dữ dội ở người và gia súc

+ Trước khi ký sinh trùng ký sinh cố định tại một vị trí, có nhiều loài ký

sinh trùng có hiện tượng đi qua một số nơi trong cơ thể Ví dụ: giun đũa lợn, giun

lươn, giun phổi

Sự chủ động đi quan các cơ quan, các mô để đến được nơi cư trú lâu dài,

được Skrjabin K I và Petrov A M (1963) gọi là sự di chuyển (migration) Đường di chuyển mà trong đó giun sán đi qua hệ thống nội tạng vào gan,

qua tĩnh mạch chủ và tim vào vòng tiểu tuần hoàn, phổi rồi về ruột, Skrjabin K I

và Petrov A M (1963) gọi là vòng di chuyển gan - phổi - ruột.

Đường di chuyển mà trong đó giun sán đi từ ruột qua hệ bạc h huyết, tuyến

bạch huyết, rồi qua tĩnh mạch chủ, qua tim vào vòng tiểu tuần hoàn phổi và lại

vào đường tiêu hoá, Skrjabin K I và Petrov A M (1963) gọi là vòng di chuyển

limphô - phổi - ruột.

Một trong số những kiểu di chuyển thường gặp là giun sán d ừng lại ở phổi,sống trong nhu mô hay trong đường hô hấp (khí quản, phế quản) , được gọi là

vòng di chuyển limphô - phổi.

Sự di chuyển theo đường limphô - phổi nhưng dừng lại ở tim hay động

mạch chủ gọi là vòng di chuyển limphô - tim.

Đôi khi giun sán không những di chuyển qua vòng tiểu tuần hoàn, mà còn qua

cả vòng đại tuần hoàn Sự di chuyển qua tiểu và đại tuần hoàn được gọi là di chuyển

đại tuần hoàn, căn cứ vào giai đoạn đầu chúng qua đường limphô hay qua gan mà

được gọi là vòng di chuyển gan - đại tuần hoàn, hay limphô - đại tuần hoàn

Sự di chuyển tự do trong cơ thể ký chủ được gọi là vòng di chuyển nội

tạng - toàn thân.

+ Đường xâm nhập của ký sinh trùng vào cơ thể ký chủ thay đổi tuỳ loài kýsinh trùng Đa số giun sán xâm nhập qua đường tiêu ho á Một số xâm nhập qua

da (giun chỉ, sán máng, giun lươn )

Một số ký sinh trùng có thể có nhiều đường xâm nhập Ví dụ: ấu trùng giun

lươn, giun móc có thể xâm nhập qua da hoặc qua đường tiêu hoá của ký chủ

+ Ký sinh trùng có một hoặc nhiều ký chủ thích hợp

Ví dụ: muỗi, ghẻ, tiên mao trùng có thể ký sinh ở nhiều loài ký chủ khác nhau.Những ký sinh trùng có thể lấy dinh dưỡng ở nhiều loài ký chủ khác nhau

được gọi là những ký sinh trùng tạp thực Tính "tạp thực" của một số ký sinh

trùng làm cho bệnh ký sinh trùng có thể truyền từ súc vật sang người hoặc ngượclại từ người sang súc vật

Ví dụ: giun bao (Trichinella spiralis) ký sinh ở lợn có thể truyền sang người

do người ăn thịt lợn sống có ấu trùng giun này

Trang 19

3 ẢNH HƯỞNG QUA LẠI GIỮA KÝ SINH TRÙNG VÀ KÝ CHỦ

Từ khái niệm "hiện tượng ký sinh" , chúng ta thấy rằng, rõ ràng quan hệ giữa

ký sinh trùng và ký chủ là mối quan hệ rất phức tạp giữa hai sinh vật sống Tínhphức tạp thể hiện ở những tác động có hại của ký sinh trùng gây ra cho ký chủ,

đồng thời ký chủ cũng có những phản ứng trở lại, nhằm ngăn chặn tác động của

ký sinh trùng

3.1 Tác động của ký sinh trùng đến ký chủ

Tác động này phụ thuộc vào số lượng và độc lực của ký sinh trùng, sức

chống đỡ của cơ thể ký chủ, giai đoạn phát dục của ký sinh tr ùng

Tác động của ký sinh trùng đối với ký chủ gồm nhiều mặt:

tác động này là gây viêm cấp tính, thứ cấp tính, mạn tính Viêm dẫn tới sản sinh

một cái vỏ bằng tổ chức liên kết bọc lấy ký sinh trùng, cái vỏ và ký sinh trùngbọc bên trong khi chết đi biến thành một cái hạt, trong hạt có hiện tượng vôi hoá

- Tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng:

Ký sinh trùng tự nuôi dưỡng bằng ăn tổ chức của ký chủ, chiếm đoạt mộtphần thức ăn của ký chủ đã tiêu hoá, hoặc hút máu ký chủ Tác động này tiếpdiễn liên tục bởi rất nhiều ký sinh trùng, gây nên tổn hại rất to lớn cho ký chủ(thiếu máu, gầy rạc )

- Tác động đầu độc

Độc tố của ký sinh trùng gồm tất cả những sản phẩm cuối cùng của quá

trình trao đổi chất của ký sinh trùng, nội và ngoại độc tố do ký sinh trùng tiết ra

Ký sinh trùng bài tiết các chất độc hàng ngày, ký chủ hấp thụ chất độc, sinh

ra những biến loạn khác nhau, nhưng thường thấy nhất là biến loạn thần kinh (cogiật, bại liệt ), và tuần hoàn (gây dung huyết, bần huyết) Độc tố còn làm tê liệtcác tế bào thực bào của ký chủ Nói chung, chất độc do ấu trùng sinh ra mạnh

hơn chất độc do ký sinh trùng trưởng thành sinh ra

- Tác động truyền bệnh

Một số loài chân đốt đốt súc vật , làm con vật khó chịu, có thể bị viêm da,

nhưng điều này không nguy hiểm Điều nguy hiểm là khi hút máu ký chủ, chúng

truyền những bệnh có thể thành dịch lưu hành giết hại nhiều súc vật

Ví dụ: muỗi truyền bệnh sốt rét và bệnh sốt vàng ở người, ve truyền bệnh lê

dạng trùng, bọ chét truyền bệnh dịch hạch, ruồi Glossina truyền bệnh trùng roi,

côn trùng hút máu truyền bệnh nhiệt thán Ngoài ra, giun sán bám vào niêm mạc

gây thương tích cũng phá vỡ phòng tuyến thượng bì, mở đường cho các vi khuẩntrong môi trường chúng sống (ruột) xâm nhập vào cơ thể, vi khuẩn sẽ gây nên

một bệnh ghép với bệnh ký sinh trùng Ký sinh trùng và vi trùng thường kết hợp

Trang 20

làm tổn hại thêm cho ký chủ, tạo thành vòng xoắn bệnh lý với diễn biến phức tạp,làm cho biểu hiện lâm sàng thêm trầm trọn g.

3.2 Phản ứng của ký chủ đối với ký sinh trùng

Loài ký chủ có thể gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát dục của ký

sinh trùng Ví dụ: sán dây Bothriocephalus latus có thể dài hàng mấy mét ở

người, trong khi chỉ dài 20 - 40 cm ở ruột mèo, tuy hìn h thái không thay đổi

Khi bị ký sinh trùng ký sinh, ký chủ luôn có phản ứng để làm giảm bớt táchại do ký sinh trùng gây ra cho bản thân mình Nói chung, cơ thể ký chủ phản

ứng lại ký sinh trùng bằng ba loại phản ứng: phản ứng thực bào, phản ứng tế bào

và phản ứng thể dịch

- Phản ứng thực bào: những tế bào di động của ký chủ tấn công ký sinh

trùng và có thể tiêu diệt chúng bằng cơ năng thực bào Nếu hiệu quả thực bào

không đầy đủ thì sinh ra những phản ứng tế bào

- Phản ứng tế bào: phản ứng thường thấy n hất là viêm và tăng sinh bạch

cầu Eosin Những phản ứng khác là: tổ chức biến đổi, các tế bào nhiễm ký sinh

trùng to lên hoặc phát triển quá mức, gây thành những ung; hoặc tế bào biếnthành tế bào tổ chức liên kết, bao lấy ký sinh trùng, tạo thành nang (ké n)

- Phản ứng thể dịch: xuất hiện kháng thể trong máu ký chủ, có thể gây cho

ký chủ tính miễn dịch, hoặc trạng thái quá mẫn

Trạng thái quá mẫn do cơ thể, một khi đã chứa những độc tố quá mẫn

(anaphylatoxin) do ký sinh trùng sinh ra thì trở nên nhạy cảm hơn với cùng ký

sinh trùng ấy, do đó cơ thể có phản ứng rất mạnh với lần cảm nhiễm thứ hai

Ví dụ: trạng thái quá mẫn ở những con vật đã bị nhiễm giun đũa

3.3 Tính cảm thụ của súc vật đối với bệnh ký sinh trùng

Những yếu tố sau đây ảnh hưởng đến tín h cảm thụ đối với bệnh ký sinh trùng

- Giống (dòng, nòi): có những giống cảm thụ ít hay nhiều với những ký

sinh trùng nhất định Trong một vùng thường có ký sinh trùng tồn tại và ký sinhthì ký sinh trùng gây tác hại ít hơn so với những vùng từ trước chưa có, nhữnggiống súc vật nhập nội cảm thụ hơn với bệnh đã có ở địa phương so với cácgiống súc vật địa phương ( ví dụ: bệnh lê dạng trùng thể hiện rất nặng ở đàn bònhập nội, trong khi thể hiện nhẹ hơn nhiều ở đàn bò địa phương)

- Tuổi và tính biệt: súc vật non bị ký sinh trùng đường ruột nhiều hơn súc

vật trưởng thành (giun đũa, cầu trùng) Nói chung, sức đề kháng của súc vật non

kém hơn súc vật trưởng thành Tính biệt hình như không ảnh hưởng trực tiếp đến

tỷ lệ và cường độ nhiễm ký sinh trùng

- Chế độ dinh dưỡng và chăm sóc nuôi dưỡng: dinh dưỡng thiếu, nhất là

thiếu vitamin (A, C) và protein, chuồng chật chội, kém vệ sinh là điều kiệnthuận lợi cho sự phát sinh bệnh ký sinh trùng Thói quen ăn uốn g của súc vật (ăn

phân, ăn sống) đã giúp cho sự xâm nh ập của một số ký sinh trùng vào vật chủ.Mùa chăn thả ngoài đồng cỏ dài hay ngắn cũng ảnh hưởng đến cường độ nhiễm

ký sinh trùng Trái lại, dinh dưỡng đầy đủ có thể làm cho bệnh ký sinh trùng phátnhẹ hay không phát ra, có thể làm cho tuổi thọ của ký sinh trùng giảm, thậm chí

Trang 21

bản thân ký chủ có thể tống ký sinh trùng ra ngoài Quản lý chăm sóc vật nuôi tốt

là biện pháp làm giảm tỷ lệ và cường độ nhiễm ký sinh trùng

- Tình trạng sức khoẻ

Khi súc vật đang mắc một bệnh nào đó hoặc mắc bệnh đã khỏi nhưng sứckhoẻ chưa hồi phục, khí hậu thay đổi thất thường, làm việc quá sức có thể thuậnlợi cho sự phát sinh một số bệnh ký sinh trùng Ngược lại, khi con vật khoẻmạnh, khả năng sinh trưởng phát dục của ký sinh trùng bị hạn chế, số lượng ký

sinh trùng trưởng thành ít, thậm chí tuổi thọ của ký sinh trùng bị rút ngắn đi

Trang 22

Chương 2

ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH KÝ SINH TRÙNG THÚ Y

1 KHÁI NIỆM VỀ BỆNH KÝ SINH TRÙNG THÚ Y, QUY ĐỊNH CÁCH GỌI TÊN BỆNH KÝ SINH TRÙNG

1.1 Khái niệm

Bệnh ký sinh trùng thú y là bệnh do những ký s inh trùng động vật gây ra

(giun sán, động vật chân đốt, động vật đơn bào)

Có 3 yếu tố chủ yếu làm phát sinh bệnh ký sinh trùng:

- Phải có động vật có tính cảm thụ đối với ký sinh trùng Nếu động vậtkhông có tính cảm thụ với ký sinh trùng thì hoặc ký sinh trùng không xâm nhiễm

vào được, hoặc có xâm nhiễm vào nhưng cũng không sinh trưởng phát dục được

và không có khả năng gây bệnh

- Phải có ký sinh trùng có sức gây bệnh Mầm bệnh ký sinh trùng cần phátdục đến giai đoạn có sức gây bệnh thì khi xâm nhập vào cơ thể vật chủ, nó mới

có thể tiếp tục sinh trưởng, phát dục thành ký sinh trùng trưởng thành và gâybệnh cho vật chủ được

- Phải có điều kiện ngoại cảnh thích hợp để ký sinh trùng phát dục khi còn ởngoại cảnh Những yếu tố này tác động trực tiếp đến ký sinh trùng Những tác

động này là gián tiếp khi ký sinh trùng đã xâm nhập vào vật chủ Trong đó, điều

kiện nhiệt độ, ẩm độ, khu hệ động - thực vật rất quan trọng đối với sự phát sinhbệnh ký sinh trùng

Bệnh ký sinh trùng thường thể hiện dưới hai thể: cấp tính và mạn tính, phụthuộc vào số lượng ký sinh trùng, độc lực của chúng và sức khoẻ của vật chủ

- Thể cấp tính: thường thể hiện ở những động vật non, những động vật ốmyếu Trường hợp này triệu chứng lâm sàng thể hiện rõ ở vật chủ Nếu không

được điều trị kịp thời thì tỷ lệ tử vong cao

- Thể mạn tính: thường thấy ở những động vật béo khoẻ, trường hợp nàytriệu chứng lâm sàng biểu hiện không rõ, bệnh diễn ra âm ỉ, kéo dài, ít khi chết

1.2 Quy định cách gọi tên bệnh ký sinh trùng

Theo hệ thống phân loại, ký sinh trùng động vật được phân loại như sau:

Ngoài ra, có thể có những sự phân loại: bộ phụ, họ phụ, giống phụ, siêuhọ Cách gọi tên theo hệ thống phân loại như sau:

Trang 23

- Tên họ: lấy tên giống làm cơ sở + đuôi idea

- Tên họ phụ: lấy tên giống làm cơ sở + đuôi idae

- Tên loài ký sinh trùng được gọi bằng 2 từ la tinh, từ đầu viết hoa chỉ têngiống, từ sau viết thường chỉ tên loài

Ví dụ: Ascaris suum, Moniezia expansa

- Tên chủng: lấy tên giống, loài làm cơ sở + tên chủng, có thể thêm hoặc

không thêm chữ var ở giữa.

Ví dụ: Sarcoptes scabiei var equi, hoặc Sarcoptes scabiei equi.

Người ta thường thêm tên tác giả đã tìm ra giống hay loài đó và niê n hiệu đã

mô tả giống hay loài đó

Ví dụ: Fasciola hepatica, Linnaeus 1758.

Fasciola gigantica, Cobbold 1885.

- Tên bệnh ký sinh trùng: lấy tên giống của ký sinh trùng làm cơ sở, thay

tiếp vĩ ngữ bằng osis.

Ví dụ: Fasciolosis (bệnh do Fasciola gây ra).

Ascariosis (bệnh do Ascaris gây ra).

Nếu bệnh do nhiều loài ký sinh trùng trong cùng một họ gây ra, tên bệnh ký

sinh trùng được gọi như sau: lấy tên họ làm cơ sở, thay đuôi ae bằng osis.

Ví dụ: Trichostrongylidosis (bệnh do nhiều loài giun xoăn thuộc hộ

Trichostrongylidae gây ra).

2 MIỄN DỊCH TRONG BỆNH KÝ SINH TRÙNG

2.1 Đặc điểm chung về miễn dịch trong bệnh ký sinh trùng

Có thể có mấy trường hợp miễn dịch sau:

- Miễn dịch tự nhiên: tính miễn dịch này có thể hoàn toàn hay tương đối.

Ví dụ: người không bao giờ nhiễm giun đũa Ascaridia galli của gà.

- Miễn dịch thu được: trong các bệnh ký sinh trùng, miễn dịch thu được

không bao giờ tiến tới tiêu diệt hoàn toàn ký sinh trùng (khác với nhiều bệnh do

vi trùng) Trong trạng thái miễn dịch ấy, những hoạt động phòng ngự của cơ thể

ký chủ không cho ký sinh trùng phát triển, hình thành một thế thăng bằng giữa kýsinh trùng và ký chủ

Miễn dịch thu được có hai loại:

+ Miễn dịch thu được chủ động: đây là miễn dịch có được sau khi tiêm

vaccine hay một kháng nguyên chết Tuy nhiên, đối với nhiều bệnh ký sinh trùng,

điều này khó thực hiện, trừ một số bệnh giun tròn và đơn bào Tuy nhiên, có thể

gây một trạng thái phòng nhiễm đối với một số bệnh (như bệnh lê dạng trùng, biêntrùng) bằng cách cho ve chứa số lượng ít lê dạng trùng đốt bê, hoặc tiêm máu củanhững con đã khỏi bệnh (chỉ còn chứa một ít lê dạng trùng, độc lực kém) và tiêmvào những chỗ ít mạch máu (đuôi), hoặc gây bệnh thực nghiệm rồi chữa ngay chocon vật khỏi về phương diện lâm sàng để tạo mi ễn dịch thu được chủ động

Trang 24

+ Miễn dịch thu được bị động: miễn dịch này có được do tiêm huyết thanh

của con vật đã được miễn dịch Tuy nhiên, điều này không có ý nghĩa thực tếtrong các bệnh ký sinh trùng

Trong một số trường hợp, sau khi dùng thuốc trị ký sinh trùng, sức miễn

dịch còn được duy trì một thời gian nhất định Ví dụ: đối với sán lá Fasciola, sức miễn dịch còn duy trì được 1,5 - 2 tháng, đối với sán dây Moniezia được 1 - 1,5

tháng Nói chung, sức miễn dịch duy trì không quá 2 tháng sau khi khỏi bệnh

2.2 Kháng nguyên và kháng thể

Cũng như kháng nguyên của vi trùng, kháng nguyên của ký sinh trùng làbản thân nó hay những sản phẩm mà nó bài tiết Ký chủ phản ứng lại tác độngkích thích của ký sinh trùng (kháng nguyên) bằng cách sản sinh kháng thể, đó làthành phần Globulin trong huyết thanh của ký chủ

Do sự phát triển và tác động của ký sinh trùng thường là thứ cấp tính haymạn tính nên tính miễn dịch đối với bệnh ký sinh trùng thường chỉ là tương đối.Kháng nguyên và kháng thể có tính đặc hiệu: ký sinh trùng loại nào kích thích cơthể ký chủ sinh ra kháng thể loại ấy; ký chủ sinh kháng thể chỉ nhằm một loại kýsinh trùng nhất định Tuy nhiên, trong bệnh ký sinh trùng lại có hiện tượng phản

ứng miễn dịch nhóm, tức là kháng thể chống được kháng nguyên của những loại

ký sinh trùng gần nhau Ví dụ, tính phòng nhiễm của bò chống Piroplasma bovis cũng cho con vật tính phòng nhiễm chống Anaplasma marginale.

Sự sản sinh kháng thể là do hoạt động của toàn thân ký chủ, dưới sự chiphối và chỉ đạo của hệ thống thần kinh, nhưng cũng tập trung vào mấy khí quanchính của hệ thống võng mạc nội bì (hệ lâm ba, lá lách, một phần phổi, gan) Lálách là khí quan sản sinh kháng thể rất mạnh, do đó cắt bỏ lá lách hay làm ngăntrở chức năng của lá lách có thể làm giảm sức đề kháng của cơ thể ký chủ đối với

ký sinh trùng, làm cho ký sinh trùng sản sinh rất mạnh, bệnh đang ở thể tiềm ẩn

có thể phát thành thể lâm sàng

Huyết thanh miễn dịch có những đặc tính: ngưng kết, dung giải, trầm

điện (kết tủa), điều lý, cố định bổ thể, quá mẫn và dị cảm hoá Ví dụ , sau khi

giun đũa x âm nhiễm vào ký chủ 20 ngày, ký chủ tăng sinh bạch cầu Eosin và

sinh kháng thể Nếu lúc đó ký chủ tái nhiễm giun đũa thì do sức đề kháng của

ký chủ, ở lỗ miệng và hậu môn của ấu trùng giun đũa xuất hiện một chất gọi làprecipitin (trầm điện tố) , ảnh hưởng đến khả năng chui vào tổ chức ký chủ vàkhả năng lấy thức ăn của ấu trùng giun Cho huyết thanh của con vật đã mắcbệnh giun đũa tiếp xúc với ấu trùng giun đũa thì phát hiện được trong thựcquản và hậu m ôn của ấu trùng giun đũa có những chất kết tủa (điều này chứng

tỏ trong huyết thanh của ký chủ có kháng thể kháng giun đũa)

Do trong huyết thanh có kháng thể đặc hiệu hay kháng thể có tính chất nhóm,

tương ứng với những kháng nguyên nhất định, mà có thể d ùng phương pháp chẩnđoán huyết thanh học đối với một số bệnh ký sinh trùng Phương pháp này rất có ý

Trang 25

nghĩa với những bệnh mà ký sinh trùng ở một phủ tạng khó quan sát hay không

quan sát được (ví dụ: Cysticercosis, Echinococosis, Trichinellosis).

2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sức miễn dịch

- Loài, giống vật chủ: vật chủ thuộc các loài, các giống khác nhau thì sức

miễn dịch với ký sinh trùng khác nhau Sức miễn dịch của người, chồn, chuột

lang đối với sán dây Diphyllobothrium khác nhau.

- Tuổi vật chủ: nói chung, súc vật trưởng thành có sức miễn dịch cao hơn

súc vật non Người ta giải thích , sức miễn dịch của súc vật trưởng thành cao hơn

là do sinh lý của nó không thích hợp cho đời sống ký sinh của ký sinh trùng bằngsúc vật non, có thể là do sự phát dục của súc vật non chưa đầy đủ, các chức năngsinh lý chưa hoàn chỉnh, sức chống đỡ với bệnh kém Ví dụ: tình trạng bê, nghé

và lợn con ở nước ta nhiễm giun đũa nặng hơn trâu, bò và lợn trưởng thành cóthể giải thích theo cách đó

Song, cá biệt đối với một số bệnh thì súc vật non lại có sức miễn dịch cao

hơn súc vật trưởng thành Ví dụ: bê mắc bệnh lê dạng trùng nhẹ hơn bò vì huyết

cầu của bê tái sinh sản nhanh chóng, thay thế được những huyết cầu đã bị lê dạngtrùng phá hoại

- Giới tính của vật chủ: sức miễn dịch của súc vật đực và cái là tương tự

nhau, trừ một số trường hợp đặc biệt

- Thời kỳ sinh dục: bò cái có chửa và bò cái đang cho con bú thường có sức

miễn dịch yếu hơn bò cái không chửa đẻ Gia súc đực trong thời kỳ lấy giốngcũng có sức chống đỡ kém hơn thời kỳ khác

- Hai bệnh cùng cảm nhiễm một lúc : nói chung, con vật đã mắc một bệnh

(do vi trùng, ký sinh trùng) mà nhiễm thêm một b ệnh khác thì bệnh nặng thêm

- Dinh dưỡng của vật chủ: chế độ dinh dưỡng của vật chủ ảnh hưởng đến

mức độ cảm nhiễm giun sán Ví dụ: trường hợp thiếu vitamin A trong bệnh giun

đũa gà (tỷ lệ nhiễm cao hơn, bệnh nặng hơn); hoặc trường hợp thiếu protit,vitamin C, D đối với các bệnh sán lá

- Những khí quan ảnh hưởng đến tính miễn dịch : cắt bỏ lách thì sức

chống đỡ đối với bệnh ký sinh trùng kém đi Gà mắc bệnh giun đũa nếu cứ 2ngày một lần lấy bớt một ít máu ngoại vi thì giun đũa ký sinh trong ruột gà sẽ có

kích thước lớn hơn bình thường

Như vậy, sức miễn dịch tự nhiên cũng như sức miễn dịch thu được đối với

các bệnh ký sinh trùng thay đổi theo hoàn cảnh bên ngoài Điều kiện chăn nuôi

và phòng bệnh tốt, nhất là cải thiện chế độ dinh dưỡng có thể làm tăng cường sứcmiễn dịch của gia súc đối với bệnh ký sinh trùng

Trang 26

chẩn đoán các bệnh ký sinh trùng khác (dùng dạng trưởng thành hoặc ấu trùng cósức gây bệnh của giun đũa, giun phổi, sán dây bò để chế kháng nguyên).

Dùng kháng nguyên để chẩn đoán có lợi là làm được trong điều kiện thiếu

dụng cụ và vật liệu; phản ứng có thể đọc được bằng mắt nhanh chón g trên những

đàn súc vật lớn; thao tác đơn giản, mất ít thời gian và nhân công Tuy nhiên, phươngpháp này cho độ chính xác chưa cao, vì có những phản ứng chéo đối với những ký

sinh trùng gần với ký sinh trùng đã cho kháng nguyên, lại không cho biết đượccường độ cảm nhiễm ký sinh trùng

- Ứng dụng miễn dịch trong phân loại và nghiên cứu lịch sử phát dục của kýsinh trùng

Có những loài ký sinh trùng khó phân biệt về hình thái, ví dụ: giun đũa lợn

(Ascaris suum) và giun đũa người (Ascaris lumbricoides), trường hợp này phải áp

dụng miễn dịch mới phân loại được

Ở các giai đoạn phát dục khác nhau của một loài ký sinh trùng vẫn có tính

kháng nguyên giống nhau

Ví dụ: ấu trùng Cercaria của sán lá Fasciola hepatica có cùng tính kháng

nguyên với sán trưởng thành Vì vậy, người ta dùng ấu trùng này làm kháng nguyên,

dùng huyết thanh của dê có sán F hepatica ký sinh làm kháng thể cho tác động với nhau Nếu phản ứng dương tính thì Cercaria ấy là của F hepatica.

3 TÁC HẠI CỦA BỆNH KÝ SINH TRÙNG ĐỐI VỚI SỨC KHOẺ

ĐỘNG VẬT VÀ NĂNG SUẤT CHĂN NUÔI

Bệnh ký sinh trùng thường diễn biến âm ỉ, kéo dài, làm chết số lượng vật nuôikhông nhiều nhưng làm sức khoẻ của chúng giảm sút, làm giảm rõ rệt năng suất

chăn nuôi và mở đường cho nhiều bệnh truyền nhiễm phát triển

Một số bệnh ký sinh trùng có khả năng lây lan mạnh, bệnh lưu hành ở từngvùng, làm gia súc, gia cầm nhiễm với tỷ lệ cao, gây chết nhiều, nhất là gia súc non(ví dụ: bệnh cầu trùng gà, bệnh cầu trùng thỏ, bệnh ký sinh trùng đường máu ở bònhập nội)

Bệnh ký sinh trùng thường gây những tác hại sau:

3.1 Làm giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của vật nuôi

Trâu, bò, lợn, ngựa và gia cầm khi bị bệnh giun sán đều có tốc độ sinh trưởnggiảm rõ rệt so với những con vật bình thường cùng tuổi Bê, nghé nhiễm giun đ ũa

Neoascaris vitulorum nặng thường còi cọc, lông xù, chậm lớn Lợn nhiễm nhiều

giun đũa Ascaris suum giảm khả năng sản xuất thịt tới 30% Lợn nhiễm sán lá ruột

(Fasciolopsis buski) cho lượng thịt giảm rõ rệt so với lợn không nhiễm (nuôi 5 - 6

tháng chỉ đạt khối lượng 13 - 15 kg/con

Hứa Bằng Như (1964), Trịnh Văn Thịnh (1967), (1985); Phan Trọng Cung,

(1991) cho biết: chỉ trong 35 ngày bị bệnh, trung bình một sán F buski làm lợn giảm

65 gam khối lượng Giun lươn ( Strongyloides ransomi) làm tốc độ sinh trưởng của

lợn con giảm 30 - 35% so với bình thường (Phạm Văn Khuê và cs, 1996)

Trang 27

3.2 Làm giảm chất lượng thịt và phủ tạng gia súc, gia cầm

Bệnh ký sinh trùng mạn tính thường làm giảm rõ rệt chất lượng thịt gia súc,

gia cầm Thịt trâu, bò nhiễm nhiều bà o tử trùng ( Sarcocystis) thường phải bỏ Thịt lợn, thịt trâu, bò nhiễm gạo (ấu trùng Cysticercus), hoặc nhiễm ấu trùng giun bao (Trichinella), phủ tạng nhiễm sán Fasciola đều phải huỷ bỏ Theo Phạm

Văn Khuê và cs (1996), hàng năm, ở nhiều quốc gia, lượng thịt phải bỏ do bệnh

ký sinh trùng chiếm đến 67% số lượng thịt phải bỏ Ngoài ra, phẩm chất thịt bị

kém đi do súc vật mắc bệnh ký sinh trùng lâu ngày thường gầy yếu, hàm lượngdinh dưỡng trong thịt ít Thịt trâu, thịt bò chứa nhiều nước, dai, kém ngọt khi

trâu, bò bị bệnh tiên mao trùng (Trypanosoma evansi).

3.3 Làm giảm sản lượng sữa

Bệnh ký sinh trùng là m sản lượng của súc vật nuôi giảm đi rõ rệt Trườnghợp bò sữa bị bệnh sán lá gan, sản lượng sữa có thể giảm tới 30 - 40% Sản lượngsữa còn giảm n hiều hơn ở những bò mắc bệnh huyết bào tử trùng (có thể giảm

đến 50% sản lượng sữa)

3.4 Làm giảm phẩm chất da và lông

Bệnh ngoại ký sinh trùng làm hỏng da và lông của vật nuôi Khi cừu bị bệnh

ghẻ Sarcoptes, lông cừu rụng từng đám, mất bóng mượt, là m cho phẩm chất len

kém Ở thỏ bị bệnh cũng vậy Bò bị bệnh dòi da làm cho da bị thủng, không thể

sử dụng trong công nghiệp chế biến

3.5 Làm giảm khả năng lao tác của vật nuôi

Bệnh ký sinh trùng làm súc vật trúng độc ở thể mạn tính Trâu, bò, ngựa b ịbệnh thì gầy, yếu, còi cọc, chậm sinh trưởng, khả năng cày kéo giảm sút và dễchết trong những giai đoạn thời tiết khí hậu khắc nghiệt, thức ăn khan hiếm Theo

Phan Địch Lân (1994, 2004), trâu, bò ở nước ta thường gầy yếu, đổ ngã nhiều

vào vụ Đông - Xuân do bị bệnh sán lá gan Fasciola.

3.6 Làm phát sinh bệnh khác

Trong khi di chuyển đến vị trí ký sinh thích hợp, ấu trùng ký sinh trùng gâytổn thương nhiều khí quan trong cơ thể vật chủ; ký sinh trùng trưởng thành kýsinh ở những vị trí nhất định cũng gây tổn thương, mở đường cho các bệnh khác

kế phát

Ký sinh trùng chiếm đoạt dinh dưỡng của vật chủ, tiết độc tố gây trúng độccho vật chủ, làm vật chủ gầy yếu, giảm sức đề kháng, tạo điều kiện cho các bệnhtruyền nhiễm phát sinh

3.7 Bệnh ký sinh trùng có thể nhiễm từ súc vật sang người

Ngoài những thiệt hại về kinh tế, một số bệnh ký sinh trùng còn có thểtruyền từ súc vật sang người Những ký sinh trùng vừa gây bệnh cho súc vật, vừagây bệnh cho người gồm:

- Sán lá gan nhỏ (Clonorchis sinensis).

- Sán lá gan lớn (F hepatica, F gigantica).

Trang 28

- Sán lá ruột (Fasciolopsis buski).

- Gạo lợn (Cysticercus cellulosae).

- Gạo bò ( Cysticercus bovis).

- Giun bao (Trichinella spiralis).

- Kén nước (Echinococcus granulosus)

Đây là phương pháp chẩn đoán dựa vào việc quan sát triệu chứng lâm sàng

của súc vật, nhưng trong các bệnh ký sinh trùng, cách chẩn đoán này chỉ cho một

sự dự đoán, vì các triệu chứng không đặc biệt cho bệnh nhất định Ví dụ: triệuchứng viêm ruột có thể là do bệnh ký sinh trùng hoặc bệnh khác và nếu là bệnh kýsinh trùng thì cũng không thể nói là do loại ký sinh trùng nào Hơn nữa, phải quansát trong nhiều ngày Cho nên chẩn đoán bệnh ký sinh trùng phải chẩn đoánnguyên nhân, nghĩa là tìm ra trứng, ấu trùng hoặc ký sinh trùng trưởng thành Trong hầu hết các trường hợp, triệu chứng lâm sàng chỉ là căn cứ để nghi ngờ và

áp dụng các biện pháp khác tìm căn bệnh

4.1.2 Chẩn đoán bằng soi kính hiển vi

Phương pháp này nhằm tìm chính ký sinh trùng, khi đó chúng thường ở giaiđoạn là trứng, ấu trùng do ký sinh trùng trưởng thành bài xuất trong phân, nước

mũi, nước tiểu của con vật ốm Tìm thấy trong phân có trứng của ký sinh trùngtức là có ký sinh trùng trong đường tiêu hoá đã đẻ trứng, hơn nữa có thể căn cứvào hình thái trứng mà xác định loài ký sinh trùng

Có ba cách chẩn đoán bằng soi kính:

- Soi phân: dùng chẩn đoán các bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá như bệnhgiun sán, cầu trùng

- Soi chất ngoài da: dùng cho các bệnh ký sinh trùng ngoài da (ghẻ)

- Soi máu: dùng cho các bệnh ký sinh trùng đường máu Hoặc soi trực t iếpmột giọt máu tươi, nếu ký sinh trùng còn sống và di động thì thấy nó ngay, nhất

là nó làm cho các huyết cầu chuyển động (ví dụ: roi trùng Trypanosoma evansi).

Hoặc soi tiêu bản máu sau khi nhuộm màu

4.1.3 Chẩn đoán thí nghiệm

Chỉ dùng khi hai ph ương pháp trên không dùng được (ví dụ: ký sinh trùng ởsâu trong nội tạng, bệnh mới ở thời kỳ đầu) Để chẩn đoán thí nghiệm, có thểphải nuôi cấy trong môi trường nhân tạo; truyền bệnh cho động vật thí nghiệm;chẩn đoán miễn dịch học, huyết thanh học; chẩn đoán tế bào học bằng cách xác

định tỷ lệ bạch cầu Eosin; chẩn đoán ký chủ (nuôi cấy ký sinh trùng gây bệnh

trên ký chủ trung gian đã biết); phản ứng nội bì, giải phẫu trên con vật sống

Trang 29

4.2 Tiên lượng bệnh ký sinh trùng

Bệnh ký sinh trùng thú y có tiên lượng tốt hay xấu phụ thuộc vào ba yếu tố:

- Tỷ lệ vật nuôi chết nhiều hay ít

- Khả năng lây lan và truyền các bệnh khác Những bệnh có thể truyền trựctiếp từ cá thể ốm sang cá thể khoẻ là đáng sợ nhất , vì có thể gây thành dịch lưu hành

Trường hợp ký sinh trùng có thể truyền cho ký chủ một bệnh ghép thêm vào

bệnh do nó gây ra cũng nghiêm trọng (ví dụ: ve truyền bệnh lê dạng trùng)

- Số lượng ký sinh trùng Phần lớn ký sinh trùng chỉ nguy hiểm khi nó xâmnhập vật chủ đến một số lượng nào đó Hơn n ữa, số lượng càng nhiều thì cácbiến loạn bệnh lý càng nặng, hầu như chỉ những trường hợp cảm nhiễm thêmnhiều mới gây chết súc vật

Hiện tượng ký sinh trùng phải đạt đến một số lượng nào đó mới có khả nănggây thành bệnh đưa đến ba nhận định:

- Tuy ký sinh trùng thường có nhiều hơn ở súc vật non, nhưng một số ít kýsinh trùng ở súc vật trưởng thành cũng nguy hiểm, vì lúc đó sức chống đỡ của cơthể giảm thấp Hơn nữa, súc vật mang ký sinh trùng trở thành một ổ tàng trữ vàgieo rắc căn bệnh ra ngoại cảnh, làm cho những súc vật khác nhiễm mầm bệnh.Những con vật mang ký sinh trùng rất nguy hiển vì chúng vẫn khoẻ mạnh nên takhông chú ý khi kiểm soát để chữa cho chúng Cho nên, cần tẩy ký sinh trùngcho tất cả súc vật trưởng thành trong một đàn có bệnh: phải tẩ y cho toàn đàn, ốmcũng như khoẻ, già cũng như non và không quên những con cái có chửa

- Về phương diện chữa bệnh, hiếm có thuốc có hiệu lực 100% nên thế nàocũng để lại một số ít ký sinh trùng Tuy vậy, con vật cũng có thể được coi là khỏibệnh về phương diện lâm sàng

- Về phương diện phòng bệnh, cần tránh không để cho súc vật nhiễm kýsinh trùng với số lượng nhiều Muốn biết rõ cường độ nhiễm, có thể đếm trứngbằng soi kính hiển vi

4.3 Chữa bệnh và phòng bệnh ký sinh trùng

* Chữa bệnh ký sinh trùng phải nhằm đạt ba yêu cầu:

- Trước hết phải tiêu diệt ký sinh trùng, dùng thuốc tẩy trùng cho con vật(diệt ký sinh trùng hay tẩy ký sinh trùng còn sống ra ngoài) Phải dùng thuốc

hướng ký sinh trùng, tức là độc đối với nó nhưng không độc hoặc ít độc đối với

ký chủ Hệ số giữa liều lượng độc với con vật và liều lượng chữa bệnh của nóphải trên 3 Nên chọn thuốc nào có hiệu lực nhất đối với ký sinh trùng, đồng thời

ít nguy hiểm nhất đối với ký chủ, rẻ tiền nhất và dễ dùng nhất (dễ dàng dùng cho

toàn đàn) Hướng mới trong việc chữa các bệnh ký sinh trùng là tìm những thuốc

có hiệu lực chống nhiều loại ký sinh trùng (ví dụ: Mebendazole có tác dụng tẩynhiều loài giun tròn)

- Phải ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm : đưa ngay con vật ra khỏi

nơi có bệnh, tiêu độc nơi đó trước khi cho súc vật vào lại

Trang 30

- Phải làm cho súc vật ốm hồi sức: cho ăn nhiều, đủ dinh dưỡng, vitamin vàmuối Có thể dùng thuốc bổ, thuốc kích thích, tiếp máu Giữ vệ sinh tốt, chữa cáctriệu chứng.

* Phòng bệnh ký sinh trùng: có nhiều biện pháp, nhưng đều nhằm mục đích:

không cho mầm bệnh ký sinh trùng (trứng, ấu trùng) phát triển, thực hiện hết các giai

đoạn phát dục của nó, để nó không thể trở thành ký sinh trùng trưởng thành được.Các phương pháp tấn công ký sinh trùng ở từng giai đoạ n:

4.3.1 Chống giai đoạn thứ nhất (giai đoạn ký sinh trùng trưởng thành ở

ký chủ cuối cùng)

Có thể tiêu diệt ký sinh trùng bằng hai phương pháp: dùng thuốc đặc hiệudiệt ký sinh trùng (việc diệt ký sinh trùng này có tính chất dự phòng, tức là phảithực hiện trước khi súc vật phát triệu chứng bệnh và trước khi súc vật gieo rắcmầm bệnh ra ngoại cảnh) Người ta cho rằng , có thể tiêu diệt ký sinh trùng bằngcách giết tất cả những con vật mắc bệnh (phương pháp này triệt để nhưng tốnkém, mặc dù thịt súc vật vẫn sử dụng được)

4.3.2 Chống giai đoạn thứ hai (giai đoạn ký sinh trùng là trứng)

Có thể dùng hai phương pháp: tiêu diệt hầu hết trứng bằng cách thu nhặt hếtphân của súc vật ốm trong chuồng và đem chôn (biện pháp này phải làm đi làmlại nhiều lần để trứng không có thời gian phát triển thành phôi thai), hoặc có thể

ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học Đối với súc vật chăn thả , phải có biện

pháp hạn chế trứng trên đồng cỏ phát triển thành trứng hoặc ấu trùng có sức gâybệnh Ví dụ, cải tạo đồng cỏ, làm cho đồng cỏ khô ráo

4.3.3 Chống giai đoạn thứ ba (giai đoạn ký sinh trùng là trứng và ấu trùng gây bệnh ở ngoại cảnh) Có hai cách:

- Diệt toàn bộ trứng và ấu trùng gây bệnh ngoài đồng cỏ và ao tù bằng vôibột, sunfat sắt, sunfat đồng với lượng dùng 400 kg cho 1 hecta đồng cỏ, 5 kg cho

100 m3nước ao

- Không cho trứng hay ấu trùng có sức gây bệnh xâm nhập vào cơ thể kýchủ (cách ly súc vật ốm, tiêu độc dụng cụ và chuồng nuôi, vệ sinh thức ăn nướcuống, diệt ký chủ trung gian)

5 DỊCH TỄ HỌC BỆNH KÝ SINH TRÙNG VÀ HỌC THUYẾT DIỆT TRỪ BỆNH GIUN SÁN

5.1 Dịch tễ học bệnh ký sinh trùng

Dịch tễ học bệnh ký sinh trùng là khoa học nghiên cứu những yếu tố liên

quan đến sự phát sinh, phát triển của bệnh ký sinh trùng, đường truyền bá, phân

bố bệnh ký sinh trùng Những yếu tố liên quan đến dịch tễ học của bệnh ký sinh

trùng là: điều kiện tự nhiên, những điều kiện cần thiết cho sự phát dục của ký

sinh trùng, hoạt động của con người, động thái của ký sinh trùng

Trang 31

5.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Mùa vụ: ở những vùng có mùa vụ rõ rệt, ký sinh trùng có sự phát triểntheo mùa Mỗi mùa có nhiệt độ và ẩm độ khác nhau, nhiệt độ và ẩm độ ảnh

hưởng lớn đến sự phát dục của ký sinh trùng

- Đất đai: tính chất đất khác nhau cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của k ý

sinh trùng, đặc biệt đối với những ký sinh trùng mà giai đoạn là trứng, ấu trùng

phải sống tự do ở ngoại cảnh

- Độ cao so với mặt biển: các vùng có độ cao so với mặt biển khác nhau thì

sự phân bố ký sinh trùng khác nhau Ở độ cao 2000 mét so với mặt biể n, người ta

ít thấy bệnh sán lá gan và một số loại côn trùng truyền bệnh

- Khu hệ động vật: sự phát triển của nhiều loài ký sinh trùng cần có ký chủtrung gian, vì vậy, sự có mặt các loài động vật - ký chủ trung gian của chúngquyết định sự tồn tại và phá t triển của chúng Ví dụ, sự tồn tại và phát triển củasán lá cần có ốc nước ngọt - ký chủ trung gian, sự phân bố của giun bao

(Trichinella spiralis) liên quan đến người, lợn, loài gặm nhấm và loài ăn thịt.

- Khu hệ thực vật: khu hệ thực vật liên quan đến nguồn thức ăn cho vật chủ của

ký sinh trùng, đồng thời tạo độ che phủ và bảo vệ cho ký sinh trùng ở ngoại cảnh

5.1.2 Hoạt động của con người

Hoạt động của con người ảnh hưởng lớn đến sự phân bố của ký sinh trùng.Tập quán chăn nuôi do con người tạo ra (xây dựng chuồng trại, thức ăn, vệsinh thú y ) có ảnh hưởng rõ rệt đến bệnh ký sinh trùng, có thể làm bệnh ký sinhtrùng phát ra hoặc không phát ra, phát ra nặng hay nhẹ

Các hoạt động sống của con người (đi lại, chuyên chở gia súc, gia cầm ) đều

có thể mang theo ký sinh trùng, làm cho ký sinh trùng có điều kiện phát tán và gâybệnh Tuy nhiên, để có bệnh ký sinh trùng còn cần có khí hậu thích hợp, có ký chủtrung gian cần thiết thì ký sinh trùng mới tiếp tục phát dục được ở nơi mới đến.Tập quán sinh hoạt của con người có thể làm phát sinh và phát triển một sốbệnh ký sinh trùng Ví dụ, ở vùng con người có thói quen ăn thịt sống, thịt tái thìlợn, trâu, bò và người có nguy cơ bị bệnh gạo, bệnh giun bao nhiều hơn những

vùng không có thói quen đó; hoặc do người không có nơi đại tiện hợp vệ sinh thì

lợn ở vùng đó hay bị mắc bệnh gạo

5.1.3 Điều kiện cần thiết cho sự phát dục của ký sinh trùng

Phải có ký chủ trung gian thích hợp thì ký sinh trùng mới phát dục được Kýchủ trung gian ảnh hưởng nh iều đến tốc độ phát dục của ký sinh trùng và độc lựccủa chúng: ký chủ trung gian thích hợp thì ký sinh trùng phát dục nhanh hơn, kýchủ trung gian không thích hợp thì phát dục chậm lại

Trong thiên nhiên thường tồn tại song song ký sinh trùng và kẻ thù củ a

chúng Nếu gặp kẻ thù, ký sinh trùng thường bị tiêu diệt ( ví dụ: các loài chim ăn

ve, kiến ăn trứng ve; nấm ký sinh vào ấu trùng giun móc làm chết ấu trùng )

Ký sinh trùng cần có cơ hội thích hợp để xâm nhập vào vật chủ Ví dụ: ấu

trùng F buski phải theo rau lấp, bèo, rong vào đường tiêu hoá lợn; ấu trùng sán

Trang 32

dây Cys tenuicollis phải được chó nuốt vào đường tiêu hoá mới phát triển thành

sán dây trưởng thành T hydatigena

5.1.4 Động thái của ký sinh trùng

Có nhiều ký sinh trùng phát triển theo mùa trong năm, vì vậy tỷ lệ và cường

độ nhiễm cũng biến động theo mùa

Biến động nhiễm ký sinh trùng còn thay đổi theo phương thức chăn nuôi,tập quán chăm sóc nuôi dưỡng, tuổi vật chủ và điều kiện vệ sinh thú y Bầu tiểukhí hậu đặc biệt của một vùng cũng ảnh hưởng đến sự phân bố của ký sinh trùng

Từ những vấn đề trên, có thể thấy rằng, dịch tễ học của bệnh ký sinh trùngkhác với bệnh truyền nhiễm Bệnh truyền nhiễm do vi trùng gây ra, do vi trùngsinh sản nhanh, lây lan mạnh nên bệnh thường ở thể cấp tính Ngược lại, thờigian phát dục của ký sinh trùng dài, khả năng lây nhiễm chậm, bệnh thường ở thểmạn tính

Bệnh ký sinh trùng muốn phát sinh và lưu hành, theo Pavlovsky E N., cần

có 8 điều kiện sau:

6 Có cơ hội cho ký chủ cuối cùng tiếp xúc với ký chủ trung gian

7 Có động vật tích trữ ký sinh trùng (ví dụ: chuột tích trữ giun bao Trichinella).

8 Có điều kiện xã hội phù hợp

Như vậy, yêu cầu để có bệnh ký sinh trùng phức tạp hơn so với bệnh truyền

nhiễm và các bệnh không truyền nhiễm khác Chính vì vậy mà bệnh ký sinhtrùng có thể ngăn ngừa được bằng cách, chỉ cần loại bỏ một vài yếu tố trongnhững yếu tố trên là bệnh ký sinh trùng không phát ra được

5.2 Học thuyết diệt trừ bệnh giun sán

5.2.1 Cơ sở lý luận và nội dung của học thuyết

Skrjabin K I (1944) đã đề ra học t huyết tiêu diệt tận gốc bệnh giun sán

Học thuyết này cũng có thể áp dụng cho các bệnh ký sinh trùng khác

Nội dung chủ yếu của học thuyết là dự phòng có tính chất chủ động: dùngtất cả các biện pháp cơ giới, vật lý (ánh sáng, nhiệt độ), hoá học (thuốc), sinh vật

Trang 33

học (sinh vật nọ diệt sinh vật kia) nhằm tiêu diệt ký sinh trùng trên cơ thể ký chủ(dùng thuốc), tiêu diệt ký sinh trùng ở ngoại giới, tiêu diệt ký sinh trùng ở tất cả

các giai đoạn phát dục (trứng, ấu trùng, ký sinh trùng trưởng thành), tiêu diệt ký

sinh trùng ở cả người và gia súc

Nói riêng về mặt điều trị gia súc bệnh, nội dung của nó cũng là dự phòng ,bởi lẽ: chữa cho một súc vật khỏi bệnh, diệt được ký sinh trùng trong cơ thể nó làtrừ được một con vật mang ký sinh trùng, trừ được một nguồn g ieo rắc bệnh

Như vậy, đối với con vật mắc bệnh, là điều trị, nhưng đối với những con vật khác

là tích cực đề phòng Vì vậy, việc dùng thuốc tẩy giun sán phải đạt được hai yêucầu: chữa cho con vật ốm khỏi bệnh và đảm bảo cho ngoại cảnh không bị nhiễmmầm bệnh giun sán, tránh mầm bệnh nhiễm vào những con vật khác Nếu khôngthì dùng thuốc tẩy giun sán và trứng ra ngoài chẳng khác gì giúp cho giun sánphân tán rộng rãi ở ngoại cảnh Phải cho thuốc tẩy giun sán từ lúc nó chưa trưởng

thành, chưa đẻ trứng và phải tiêu độc thật tốt phân có trứng giun sán và thân giun

sán thải ra

Trong một nông trường, một trại chăn nuôi cần áp dụng các biện pháp cụthể sau đây:

- Dùng thuốc đặc hiệu để tẩy giun sán

- Định kỳ cho thuốc tẩy giun sán

- Điều trị trên quy mô lớn T rong trại, dù chỉ có 10 - 20% số súc vật phátbệnh thì cũng phải dùng thuốc tẩy cho cả đàn Nếu không, những con tuy bềngoài không phát bệnh nhưng cũng có thể mang ký sinh trùng và gieo rắc bệnh

- Tiêu diệt bệnh đúng kế hoạch Căn cứ vào lịch sử phát dục của ký sinhtrùng, tính nghiêm trọng của bệnh ký sinh trùng mà có kế hoạch một năm tiếnhành mấy lần cho phù hợp

- Xử lý phân để diệt mầm bệnh giun sán

- Thực hiện đầy đủ các phương pháp trên

Muốn thực hiện tốt kế hoạch tiêu diệt nguyên nhân bệnh , phải nghiên cứutoàn diện về các vấn đề: hình thái, sinh thái, phân bố địa lý, điều tra khu hệ, tìmhiểu lịch sử phát dục của ký sinh trùng, dịch tễ học của bệnh ký sinh trùng, các

phương pháp điều trị và phòng bệnh

5.2.2 Nguyên tắc chung trong phòng trị nguyên nhân bệnh giun sán

Phương pháp thực tế phòng trị nguyên nhân bệnh giun sán là ứng dụng học

thuyết Skrjabin, về cơ bản gồm:

- Diệt giun sán ở động vật, mục đích làm cho súc vật khoẻ mạnh và ngănngừa ngoại cảnh không bị ô nhiễm mầm bệnh giun sán

- Diệt giun sán ở ngoại cảnh, mục đích là đề phòng để động vật không bịnhiễm bệnh, tức là diệt trứng, ấu trùng giun sán ở phân, diệt trứng và ấu trùnggiun sán tự động sinh học ở trại chăn nuôi, bãi chăn thả, vệ sinh nơi uống nước

* Diệt giun sán ở động vật Bao gồm những việc chính sau:

- Chẩn đoán chính xác bệnh để dùng thuốc đặc hiệu điều trị bệnh, có hiệuquả cao, tránh nguy hiểm cho vật nuôi

Trang 34

- Quy mô diệt giun sán: xác định nơi nào cần diệt giun sán ở động vật, nơi

nào chưa cần Phải căn cứ vào tình hình thực tế Nguyên tắc chung là ở nơi nào

phải thi hành các phương pháp phòng ngừa chung thì dù số gia súc cảm nhiễmgiun sán ít cũng phải diệt giun sán trên quy mô rộng

- Kỳ hạn diệt giun sán: phải căn cứ vào chu kỳ phát dục của giun sán và

điều kiện, mùa vụ chăn thả hay nuôi nhốt Nên diệt giun sán trước khi chúngtrưởng thành, vừa tránh tác hại lớn cho ký chủ, vừa tránh cho ngoại cảnh không

bị ô nhiễm Ngày giờ cho thuốc cũng phải chú ý Ví dụ: khi tẩy giun đũa gà,

thường giun được bài xuất ra trong 8 giờ đầu sau khi cho thuốc, do đó cho thuốc

vào buổi chiều là thích hợp, vì sáng hôm sau có thể thu nhặt phân và giun mà tiêudiệt, tránh cho gà không ăn lại giun

- Tôn trọng quy tắc phòng bệnh chung Những con vật được diệt giun sánphải được nuôi trong chuồng không nhiễm trùng Phải tiêu độc phân bài xuất rabằng phương pháp ủ nóng sinh học

- Dự đoán hiệu suất diệt giun sán Xác định số gia súc, gia cầm đã được tẩyhoàn toàn hoặc số giun sán được bài ra so với số lượng có trước khi điều trị (ước

lượng) để có kế hoạch cho các bước diệt giun sán tiếp theo

* Diệt trứng và ấu trùng giun sán ở phân bằng phương pháp ủ nóng sinh học

Hàng năm, số lượng phân chuồng sản xuất rất lớn và là loại phân bón tốt

cho cây trồng Phần lớn các mầm bệnh giun sán đều theo phân ra ngoài (trứng, ấu

trùng, đốt sán dây) Khi xử lý phân phải làm thế nào để tiêu diệt được mầm bệnh,

phòng bệnh cho người và vật nuôi, đồng thời không làm giảm chất lượng phân

đối với sản xuất nông nghiệp

Muốn giải quyết yêu cầu đó, người ta thường dùng các chất hoá học, cácnhân tố vật lý, các tác nhân sinh vật học

Mầm bệnh giun sán có sức chống đỡ rất mạnh với các chất hoá học Ví dụ:trứng giun đũa ngựa có thể phát dục bình thường trong dung dịch Mercurocrom,

sunfat đồng, cồn iot, các axit loãng Vì vậy, khó diệt trứng và ấu trùng giun sán

bằng thuốc hoá học

Tuy ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp có thể diệt được trứng giun sán, nhưng

ánh sáng khó tác động vì trứng thường được bọc một lớp phân bên ngoài hoặcđược cỏ xanh che phủ Làm khô chỉ khiến trứng ngừng phát dục chứ không bị

diệt (nhất là trứng có phôi thai hoặc ấu trùng đã đến thời kỳ cảm nhiễm) Nhiệt

độ thấp cũng không có tác dụng Nhân tố vật lý có tác dụng mạnh nhất đối với

mầm bệnh giun sán là nhiệt độ cao trên 450C, ảnh hưởng lớn đến trứn g và ấu

trùng, đến 650C chỉ cần 1 phút là diệt được trứng và ấu trùng

Từ đó, người ta lợi dụng hoạt động của vi sinh vật để tiêu độc phân tựnhiên, gọi là phương pháp ủ nóng sinh học Cơ sở khoa học của phương pháp nàylà: dựa vào hoạt động của hệ vi sinh vật yếm khí và hiếu khí, phân giải và lênmen các chất hữu cơ, làm tăng nhiệt độ của đống phân ủ lên rất nhiều Ở nhiệt độ

ấy, toàn bộ mầm bệnh giun sán đều bị tiêu diệt

Trang 35

Có thể ủ theo các công thức sau:

Trộn tro bếp và lá xanh Cứ một lớp phân rải một lớp tro bếp trộn lá xanh

Đánh đống Mặt ngoài dùng bùn, đất ướt trát kín Sau 14 ngày nhiệt độ đốngphân tăng đến 45 - 510C

- Làm hố ủ phân: hố sâu 1,5 m, dài và rộng 1,5 - 2 m Dưới hố để 3 - 5 cm

cỏ khô hoặc cát Đổ phân chuồng cao 1,25 m Trên bề mặt phủ một lớp rá c dày

10 cm Trên cùng phủ một lớp đất bù n dày 20 cm Thời gian ủ là 1 - 2 tháng

* Diệt trứng và ấu trùng tự động sinh học ở b ãi chăn

Có thể tiêu diệt được trứng và ấu trùng ở bãi chăn thả gia súc nếu áp dụng

cách chăn dắt luân phiên Ví dụ: giun phổi Dictyocaulus filaria ở dê cừu Sau khi

ấu trùng bài ra ngoại cảnh phải phát dục 6 ngày mới đến thời kỳ cảm nhiễm Vì

vậy, phải chia khoảng chăn dắt luân phiên 6 ngày một đợt Đồng thời, ấu trùngcủa giun này sống ngoài bãi chăn dài nhất là một năm; cho nên sau 1 năm có thể

cho chăn trở lại khoảnh thứ nhất Những lúc không chăn dê cừu có thể chăn lợn,

ngựa vì chúng không cảm nhiễm loài giun tròn này

Một ví dụ nữa là sán lá gan Fasciola hepatica Ấu trùng phát dục trong cơ

thể ký chủ trung gian (ốc) 30 - 80 ngày tuỳ điều kiện nhiệt độ Giả thiết là ngayngày thứ nhất chăn thả, phân trâu, bò đã có trứng sán lá gan Ở ngoài thiên nhiên,

15 ngày sau trứng mới thành ấu trùng, ấu trùng phải phát dục trong cơ thể ốcngắn nhất là 30 ngày mới trở thành ấu trùng cảm nhiễm vào trâu, bò được Nhưvậy, từ trứng đến khi thành ấu trùng cảm nhiễm và phải mất 45 ngày Do đó, cóthể chăn luân phiên đồn g cỏ mỗi đợt không quá 44 ngày

* Giữ vệ sinh nơi uống nước

Không cho vật nuôi uống nước ao, hồ tù hãm Những cống rãnh gần nơiuống nước phải được bao vây, giữ khô ráo và sạch sẽ Có thể cho súc vật uống

nước sông, suối, hồ lưu thông, dưới đáy có cát sỏi ; hoặc nước mưa sạch Khôngđược để có phân, bùn, xác chết trên bờ sông Không làm hố phân, chôn xác chết

ở bờ sông Đường vào nơi uống nước không được lầy lội, phải rào kín Nếu dùngnước giếng thì địa điểm đào giếng phải xa mả súc vật, nghĩa địa, nhà chứa phân,

hố phân, chuồng súc vật Gần giếng nên có sân cho súc vật đến uống nước dễ

dàng, sân không được lầy lội Máng nước phải giữ sạch, sau mỗi lần súc vật uống

phải rửa sạch và để khô Những chỗ nước ứ đọng gần nơi uống nước nên lấpbằng, những bãi chăn ẩm ướt cần tiêu nước, làm khô

Trang 36

TÀI LIỆU THAM KHẢO (Phần thứ nhất)

(CHƯƠNG 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ KÝ SINH TRÙNG THÚ Y,

CHƯƠNG 2: ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH KÝ SINH TRÙNG THÚ Y)

* Tài liệu tiếng Việt

1 Nguyễn Thị Lê (1998), Ký sinh trùng học đại cương, Nxb Khoa học và Kỹ

thuật, Hà Nội, tr 8 - 74

2 Skrjabin K I và Petrov A M (1977), Nguyên lý môn giun tròn thú y (Bùi Lập,

Đoàn Thị Băng Tâm và Tạ Thị Vịnh dịch từ nguyên bản tiếng Nga), Tập I,

Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr 19 - 38

3 Trịnh Văn Thịnh (1963), Ký sinh trùng thú y, Nxb Nông thôn, Hà Nội, tr 60 - 64.

4 Trịnh Văn Thịnh, Phạm Xuân Dụ, Phạm Văn Khuê, Phan Địch Lân, Bùi Lập,

Dương Công Thuận (1978), Công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam,

Tập II, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr 39 - 40, 65 - 70, 73 - 74

5 Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Thị Lê (1977), Giun sán ký sinh ở động

vật Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, tr 357 - 358.

6 Nguyễn Thị Kim Lan (2000), “Bệnh giun sán đường tiêu hoá của dê địa

phương ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam và biện pháp phòng

trị”, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội.

* Tài liệu tiếng nước ngoài

7 Bowman D D (1999), Parasitoloy for veterinarians, W B Saunder

company, pp 260 - 285

8 Johannes Kaufmann (1996), Parasitic infections of dosmetic animal,

Birkhauser Verlag, Berlin, pp 303 - 304

9 Jogen Hansen and Brian Perry (1994), The Epidemilogy, Diagnosis and

Control of Helminth Parasites of Ruminants A Handbook, pp 73 - 79.

10 Sousby E J L (1982), Helminths, Arthropods and protozoa of Domesticated

Animal, Lea and Febiger Philadelphia, pp 158 - 162.

11 Urquhart G M., Armour J., Duncan J L., Dunn A M., Jennings F W (1996),

Veterinary Parasitology, Blackwell Scienc, pp 5 - 20.

Trang 37

1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI GIUN SÁN

Giun sán học là khoa học nghiên cứu về giun sán ký sinh và những bệnh dogiun sán gây ra

Giun sán là sinh vật đa bào, có nhiều loài Hiện nay đã biết hơn 8000 loàisống ký sinh ở động vật Có nhiều loài có hại cho động vật nuôi, có những loàikhông gây hại, sinh sống tự do Giun sán chia thành 5 ngành sau:

1.1 Ngành sán dẹp (Plathelminthes)

Hai bên phải và trái đối xứng nhau, hình thái hoặc hình dải băng, lưỡngtính, có hoặc không có đường tiêu hoá, không có hậu môn

Ngành sán dẹp có hai lớp gồm nhiều giống, loài gây bệnh cho vật nuôi

* Lớp sán lá (Trematoda): cơ thể dẹp, hình lá, không phân đốt, có đường

tiêu hoá, thường có 2 giác bám

* Lớp sán dây (Cestoda): phân đốt hoặc không, không có hệ tiêu hoá, trên

đầu có 4 giác bám hoặc 2 rãnh bám

1.2 Ngành giun tròn (Nemathelminthes)

Giun tròn có đường tiêu hoá, có hậu môn, có giun c ái và giun đực riêng, cơthể không phân đốt

Ngành này có lớp giun tròn (Nematoda), có nhiều loài ký sinh ở động vật nuôi.

1.3 Ngành giun đầu gai (Acanthocephales)

Đầu có móc, không có đường tiêu hoá

Chỉ có lớp giun đầu gai (Acanthocephala) có một số loài ký sinh ở gia súc

Ít liên quan tới chăn nuôi thú y

Trong phần thứ hai, chúng tôi chỉ tập trung vào 4 lớp giun sán gây tác hại

cho gia súc, gia cầm: lớp Trematoda, Cestoda, Nematoda và Acanthocephala.

2 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI BỆNH GIUN SÁN

2.1 Khái niệm

Bệnh do các loài giun sán ký sinh gây ra ở động vật được gọi chung là bệnhgiun sán

Trang 38

Nghiên cứu về giun sán ở các mặt: hình thái học, phân loại học, sinh thái học.Nghiên cứu về bệnh giun sán ở các mặt: cơ chế sinh bệnh, triệu chứng lâmsàng, bệnh tích, dịch tễ học, phương pháp chẩn đoán và điều trị Trên cơ sở đó đề

ra biện pháp phòng trừ tổng hợp

2.2 Phân loại bệnh giun sán

Có thể phân loại bệnh giun sán căn cứ vào vòng đời phát triển của giun sánhoặc vào biểu hiện lâm sàng của con vật

2.2.1 Căn cứ vào vòng đời giun sán

Skrjabin đã dựa vào quá trình phát triển của giun sán cần ha y không cần ký

chủ trung gian và bệnh do chúng gây ra, chia thành hai loại:

- Bệnh giun sán truyền qua đất (bệnh giun sán truyền trực tiếp)

Những bệnh giun sán trong quá trình hoàn thành vòng đời của giun sánkhông cần ký chủ trung gian được gọi là bệnh gi un sán truyền qua đất Trứng, ấutrùng của chúng phát triển bên ngoài, không cần ký chủ trung gian đã thành trứnghoặc ấu trùng gây bệnh, lẫn vào thức ăn, nước uống vào đường tiêu hoá ký chủ

mà thành giun sán trưởng thành

Ví dụ: bệnh giun đũa, bệnh giun t óc, bệnh giun xoăn dạ múi khế

- Bệnh giun sán truyền qua sinh vật (bệnh giun sán truyền gián tiếp)

Những bệnh giun sán trong quá trình hoàn thành vòng đời của giun sán cầnphải có ký chủ trung gian được gọi là bệnh giun sán truyền qua sinh vật

Ví dụ: bệnh sán lá gan, bệnh sán dây gà , bệnh giun phổi lợn

Trong thực tế, phòng trừ bệnh do giun sán truyền qua đất khó khăn hơnbệnh giun sán truyền qua sinh vật bởi sự dễ hoàn thành vòng đời của chúng

2.2.2 Căn cứ vào triệu chứng lâm sàng

Erchov đã căn cứ vào triệu chứng lâm sàng để chia thành hai loại:

- Khi con vật nhiễm giun sán nặng, có triệu chứng lâm sàng của bệnh giunsán (gầy yếu, thiếu máu, tiêu chảy, thậm chí con vật chết) mới gọi là con vật bịbệnh giun sán này hay bệnh giun sán khác

- Khi con vật nhiễm giun sán nhẹ, không có triệu chứng lâm sàng thì chỉ gọi

là con vật mang giun sán

Ví dụ: bê, nghé nhiễm giun đũa (Neoascaris vitulorum) Nếu số lượng giun

nhiều, bê, nghé có triệu chứng điển hình là ỉa chảy, phân thối khắm, màu trắng,gầy còm thì bê, nghé đó được gọi là bị bệnh giun đũa bê , nghé Ngược lại, nếukhông có triệu chứng lâm sàng rõ rệt thì gọi là con vật mang giun đũa

Cách phân loại bệnh giun sán trên đây giúp các cán bộ thú y nhận thức đúngcon vật nào bị bệnh giun sán, từ đó đề ra biện pháp phòng trừ thích hợp

Trang 39

3 PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN BỆNH GIUN SÁN

Vì triệu chứng lâm sàng của bệnh giun sán không điển hình nên việc chẩn

đoán bệnh giun sán khác các bệnh khác, đó là: phải tìm thấy căn bệnh (trứng, ấu

trùng hoặc giun sán trưởng thành) mới có kết luận chính xác về bệnh Thườngdựa vào hai phương pháp:

3.1 Chẩn đoán đối với gia súc, gia cầm sống

3.1.1 Kiểm tra giun sán trưởng thành

Có nhiều loại giun sán ký sinh ở đường tiêu hoá, giun sán trưởng thành hoặc

đốt sán theo phân ra ngoài Kiểm tra như sau: lấy phân cho vào chậu, thêm 5 - 10

lần nước lã sạch, khuấy kỹ cho tan phân, để yên cho phân lắng xuống dưới, gạn

nước trên đi, lại cho nước vào, rửa đi rửa lại nhiều lần đến khi nước trong suốt thìđược Sau cùng gạn nước đi, c ho cặn vào đĩa thuỷ tinh lớn một nửa sơn đen, một

nửa trắng, rồi tìm giun sán Nếu có giun sán thì dùng bút lông hoặc lông gà khời

ra Nếu giun sán quá nhỏ thì soi qua kính lúp để tìm

3.1.2 Kiểm tra trứng giun sán

Hình 1 Xét nghiệm trứng giun sán trong phân Hình 2 Kính hiển vi

Có những phương pháp phát hiện trứng giun sán trong phân Các phươngpháp thường sử dụng gồm:

* Phương pháp trực tiếp: nhỏ trên phiến kính một giọt dung dịch glyxerin

50% (nếu không có dung dịch glyxerin thì dùng nước lã sạch cũng được,glyxerin giữ cho tiêu bản không bị khô, trong suốt dễ tìm) Dùng đũa thủy tinhlấy một lượng phân bằng hạt đậu, hòa tan đều với dung dịch glyxerin, gạt cặn bã

đi, đậy lá kính lên, soi kính hiển vi tìm trứng và ấu trùng (đ ộ phóng đại 10 x 10).Phương pháp này đơn giản, dễ làm nhưng độ chính xác kém Khi con vật

nhiễm nhẹ, mỗi lần kiểm tra phải làm 5 - 7 phiến kính mới tìm thấy trứng, ấu trùng

Trang 40

Hình 3 Làm tiêu bản mẫu phân bằng phương pháp trực tiếp

* Phương pháp phù nổi: người ta lợi dụng tỷ trọng của một số dung dịch

lớn hơn tỷ trọng của trứng giun sán, làm cho trứng giun sán nổi lên trên, khi kiểm

tra dễ tìm thấy trứng Thường dùng các phương pháp sau:

- Phương pháp Fulleborn (Fiileborn): hiệu quả tốt, dễ áp dụng rộng rãi

trong sản xuất, kiểm tra được trứng của nhiều giun tròn và sán dây

Cách pha nước muối bão hoà: vừa đun sôi 1 lít nước vừa cho 400 gam muối

NaCl vào (hoặc đun sôi một lượng nước bất kỳ và cho từ từ muối vào), khuấy

đều đến khi muối không tan được nữa, khi để nguội trên mặt có lớp muối kết tinh

là được Lọc qua vải màn hoặc bông, bỏ cặn

Cách làm: lấy 5 - 10 gam phân cho vào một cốc nhỏ, dùng đũa thuỷ tinhnghiền nát, vừa nghiền vừa đổ nước muối bão hoà vào, khoảng 40 - 50 ml, sau đólọc qua lưới thép bỏ cặn, cho nước lọc vào cốc nhỏ, để yên 20 phút - 30 phút,trứng giun sán sẽ nổi lên trên Dùng vòng thép có đường kí nh 3 - 5 mm vớt lớpmàng mỏng nổi trên bề mặt, cho lên phiến kính, đậy lá kính, soi kính hiển vi.Cũng có thể cho nước lọc vào các lọ nhỏ cho đầy lên đến miệng, đậy phiến kínhlên mặt lọ cho tiếp xúc với mặt nước, để yên 20 - 30 phút rồi lấy phiến kính rasoi kính hiển vi

Muốn nâng cao hiệu quả của phương pháp này, có thể thay dung dịch nướcmuối bão hoà bằng các dung dịch bão hoà khác có tỷ trọng cao hơn (Ví dụ: dungdịch natri hyposunfit: 1 lít nước + 1.750 gam, hoặc dung dịch natri nitrat: 1 lít

nước + 1.000 gam, hoặc dung dịch magie sunfat: 1 lít + 920 g am)

1.Cho vào cốc dung dịch

NaCl bão hoà 5-10 gam phân 2 Khuấy tan phân 3 Lọc bỏ bớt cặn

Ngày đăng: 11/01/2021, 20:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w