1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

So sánh năng suất và phẩm chất của 16 giống MLT (Miền Tây Lúa) triển vọng ngắn ngày chịu phèn tại Hòa An vụ Đông Xuân 2012 – 2013

92 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả cho thấy, các giống lúa thí nghiệm qua các giai đoạn đều sinh trưởng và phát triển rất tốt trên vùng đất thí nghiệm, độ pH trong đất tương đối thích hợp với các giống lúa thí n[r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

NGUYỄN THỊ DIỆU TÂM

SO SÁNH NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT CỦA 16 GIỐNG MTL (MIỀN TÂY LÚA) TRIỂN VỌNG NGẮN NGÀY CHỊU PHÈN TẠI HÒA AN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

NGUYỄN THỊ DIỆU TÂM

SO SÁNH NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT CỦA 16 GIỐNG MTL (MIỀN TÂY LÚA) TRIỂN VỌNG NGẮN NGÀY CHỊU PHÈN TẠI HÒA AN

VỤ ĐÔNG XUÂN 2012 - 2013

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phát triển Nông thôn – Khóa 36

Mã ngành: 52 62 01 01 MSSV: 4105401

Cán bộ hướng dẫn ThS Trần Hữu Phúc

Cần Thơ, 05/2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ tài liệu nào trước đây

Cần Thơ, ngày 02 tháng 05 năm 2013 Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Diệu Tâm

Trang 4

TIỂU SỬ BẢN THÂN

1 LÝ LỊCH SƠ BỘ

Họ và tên: Nguyễn Thị Diệu Tâm Giới tính: Nữ

Năm sinh: 16/02/1992 Dân tộc: Kinh

Quê quán: Long Mỹ - Hậu Giang

Nơi sinh: Long Mỹ - Cần Thơ

Ngành học: Phát triển nông thôn Khóa 36

Lớp: CA1087A1 Điện thoại: 01666412281 Email: tam105401@student.ctu.edu.vn MSSV: 410541

Cha: Nguyễn Văn Đậm Mẹ: Lê Thị Lệ

Năm sinh: 1970 Năm sinh: 1968

Nghề nghiệp: Làm ruộng Nghề nghiệp: Buôn bán

Nguyễn Thị Diệu Tâm

VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Xác nhận của cán bộ hướng dẫn về đề tài: “So sánh năng suất và phẩm chất của 16

giống MLT (Miền Tây Lúa) triển vọng ngắn ngày chịu phèn tại Hòa An vụ Đông Xuân 2012 - 2013” do sinh viên Nguyễn Thị Diệu Tâm lớp Phát triển nông thôn A1

khóa 36 (CA1087A1) VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG thực hiện từ tháng 12/2012 đến tháng 03/2013

Ý kiến của cán bộ hướng dẫn

Cần Thơ, ngày tháng năm 2013 Cán bộ hướng dẫn

Ths Trần Hữu Phúc

VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Trang 6

XÁC NHẬN CỦA BỘ MÔN TÀI NGUYÊN CÂY TRỒNG

Xác nhận của Bộ môn Tài nguyên Cây trồng, Viện Nghiên cứu Phát triển đồng bằng

sông Cửu Long về đề tài: “So sánh năng suất và phẩm chất của 16 giống MLT

(Miền Tây Lúa) triển vọng ngắn ngày chịu phèn tại Hòa An vụ Đông Xuân 2012 - 2013” do sinh viên Nguyễn Thị Diệu Tâm lớp Phát triển nông thôn A1 khóa 36

(CA1087A1) VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG thực hiện từ tháng 12/2012 đến tháng 03/2013

Ý kiến của Bộ môn Tài nguyên Cây trồng

Cần Thơ, ngày tháng năm 2013 B.M Tài nguyên Cây trồng

Trang 7

VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG

Hội đồng chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp chứng nhận báo cáo với đề tài: “So sánh

năng suất và phẩm chất của 16 giống MLT (Miền Tây Lúa) triển vọng ngắn ngày chịu phèn tại Hòa An vụ Đông Xuân 2012 - 2013” do sinh viên Nguyễn Thị Diệu

Tâm lớp Phát triển nông thôn A1 khóa 36 (CA1087A1) VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG thực hiện từ tháng 12/2012 đến tháng 03/2013 và bảo vệ trước hội đồng

Báo cáo luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá mức

Ý kiến hội đồng:

Cần Thơ, ngày tháng năm 2013 Chủ tịch hội đồng

Trang 8

LỜI CẢM TẠ

Trước tiên tôi xin kính gởi đến đấng sinh thành lòng biết ơn sâu sắc nhất, cha mẹ đã ban cho tôi hình hài, khối óc và không ngại những khó khăn, vất vả, tảo tần chăm lo, dành những điều kiện tốt nhất để tôi có thể được ăn học đến ngày hôm nay

Xin chân thành cảm tạ Thạc sĩ Ông Huỳnh Nguyệt Ánh đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, đặc biệt là những tình cảm, sự quan tâm của cô giành cho lớp, tận tình dìu dắt chúng tôi bước qua giảng đường đại học

Xin chân thành cảm tạ Thạc sĩ Trần Hữu Phúc đã nhiệt tình hỗ trợ, tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài này

Xin chân thành cảm tạ quý thầy cô Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long – Trường Đại học Cần Thơ và quý thầy cô đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập tại Trường

Xin chân thành cảm ơn các anh chị cán bộ Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long – Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giúp đỡ trong suốt khóa học Xin gửi lời cảm ơn đến các bạn Nguyễn Thành Công, bạn Kim Thành Đô, bạn Đặng Văn Bân, bạn Mai Hoàng Xuyên và bạn Phạm Văn Kết đã nhiệt tình giúp đở tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin cảm ơn tất cả các bạn của lớp Phát triển nông thôn khóa 36 đã luôn ở bên cạnh cùng tôi nỗ lực và phấn đấu trong học tập và rèn luyện suốt thời gian học Đại học

Trang 9

TÓM TẮT

Đề tài “ So sánh năng suất và phẩm chất của 16 giống MLT (Miền Tây

Lúa) triển vọng ngắn ngày chịu phèn tại Hòa An vụ Đông Xuân 2012 – 2013”

được thí nghiệm ngoài đồng được bố trí theo phương thức khối ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại có 16 nghiệm thức tương ứng với 16 giống lúa, kích thước mỗi nghiệm thức là 10m2 Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp làm mạ ướt, mật

độ cấy là 15 x 20 cm, cấy 1 tép/bụi, công thức phân bón theo công thức 80 – 60 –

30 Các chỉ tiêu theo dõi: đặc tính nông học, các thành phần năng suất và năng suất, một số đặc tính về phẩm chất hạt gạo, khả năng thích ứng với vùng đất phèn, tính kháng và nhiễm với bệnh đạo ôn, sâu cuốn lá và bù lạch

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 giống lúa được lựa chọn là MTL826, MTL749, MTL827, MTL822 ngoài việc thích nghi với vùng đất phèn còn có những đặc điểm nổi bật như sau:

 Giống MTL826 có thời gian sinh trưởng là 93 ngày, năng suất đạt 6,9 tấn/ha, có phẩm chất gạo tốt, lúa thơm nhẹ và hàm lượng amylose trung bình, tỷ lệ bạc bụng cấp

9 là 8,3%, giống lúa này hơi kháng đạo ôn ở cấp 3

 Giống MTL749 với thời gian sinh trưởng là 92 ngày, cho năng suất khá (6 tấn/ha), phẩm chất gạo tốt, lúa thơm, hàm lượng amylose thấp, tỷ lệ bạc bụng cấp 9 thấp (7%) và hơi kháng bệnh đạo ôn ở cấp 3

 Giống MTL827 có thời gian sinh trưởng là 92 ngày, năng suất đạt 6,5 tấn/ha, phẩm chất gạo tốt, hàm lượng amylose trung bình, tỷ lệ bạc bụng cấp 9 là 11,3%, kháng bệnh đạo ôn ở cấp 2

 Thời gian sinh trưởng của giống MTL822 là 92 ngày cho năng suất khá cao (7,3 tấn/ha), phẩm chất gạo tốt, lúa thơm, tỷ lệ bạc bụng cấp 9 là 18,7%, hàm lượng amylose trung bình và chống chịu được đạo ôn ở cấp 4

Trang 10

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

TIỂU SỬ BẢN THÂN ii

XÁC NHẬN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN iii

XÁC NHẬN CỦA BỘ MÔN iv

XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG v

LỜI CẢM TẠ vi

TÓM TẮT vii

MỤC LỤC viii

DANH SÁCH BẢNG xiv

DANH SÁCH HÌNH xvi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xvii

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

2.1 TÌNH HÌNH CANH TÁC LÚA HIỆN NAY 3

2.1.1 Tình hình canh tác lúa trong nước 3

2.1.2 Tình hình canh tác lúa ở đồng bằng sông Cửu Long 3

Trang 11

2.2 ĐẤT PHÈN 4

2.2.1 Sự hình thành đất phèn 4

2.2.2 Sự phân bố đất phèn 7

2.2.2.1 Sự phân bố đất phèn trong nước 7

2.2.2.2 Phân bố đất phèn ở đồng bằng sông Cửu Long 7

2.2.2.3 Những trở ngại khi canh tác lúa trên đất phèn 7

2.3 GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA CÂY LÚA 8

2.4 SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA 9

2.4.1 Giai đoạn tăng trưởng 9

2.4.2 Giai đoạn sinh sản 9

2.4.3 Giai đoạn chín 9

2.5 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ HÌNH DẠNG CÂY LÚA CÓ NĂNG SUẤT CAO 10

2.6 ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT LÚA 11

2.6.1 Thời gian sinh trưởng 11

2.6.2 Số chồi 11

2.6.3 Chiều cao cây 12

2.6.4 Chiều dài bông 12

2.7 NĂNG SUẤT VÀ THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT 12

2.7.1 Số bông /m2 12

2.7.2 Số hạt chắc/bông 13

2.7.3 Trọng lượng 1000 hạt 13

Trang 12

2.7.4 Năng suất thực tế 13

2.8 MỘT SỐ SÂU BỆNH CHÍNH TRÊN RUỘNG LÚA 14

2.8.1 Bù lạch 14

2.8.2 Sâu cuốn lá 15

2.8.3 Bệnh cháy lá 16

2.9 PHẨM CHẤT HẠT GẠO 16

2.9.1 Tỷ lệ xay chà 16

2.9.2 Kích thước và hình dạng hạt 17

2.9.3 Độ bạc bụng 17

2.9.4 Độ trở hồ 18

2.9.5 Hàm lượng amylose 18

2.9.6 Mùi thơm 19

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 20

3.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

3.1.2 Giống lúa 20

3.1.3 Các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm 21

3.1.4 Phương pháp canh tác 22

3.2 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 23

3.2.1 Điểu tra khảo sát tình hình Đông Xuân (2011 – 2012) 23

3.2.2 Thời gian sinh trưởng 23

3.2.3 Đếm số chồi 23

Trang 13

3.2.4 Chiều cao cây 23

3.2.5 Chiều dài bông 24

3.2.6 Số lá 24

3.2.7 Độ pH 24

3.3 KHẢO SÁT THIỆT HẠI TRÊN ĐỒNG RUỘNG 24

3.3.1 Sâu cuốn lá 24

3.3.2 Bù lạch 24

3.3.3 Bệnh đạo ôn 24

3.4 PHƯƠNG PHÁP TÍNH CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT 25

3.4.1 Thành phần năng suất 25

3.4.2 Năng suất 26

3.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH PHẨM CHẤT HẠT GẠO 26

3.5.1 Tỷ lệ xay chà 26

3.5.2 Kích thước và hình dạng hạt gạo 28

3.5.3 Độ bạc bụng 28

3.5.4 Độ trở hồ 28

3.5.5 Hàm lượng amylose 29

3.5.6 Mùi thơm 30

3.6 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 30

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VỤ ĐÔNG XUÂN (2011 – 2012) 31

4.1.1 Thông tin về diện tích đất của nông hộ 31

Trang 14

4.1.2 Tình hình sử dụng giống lúa của nông hộ 31

4.1.3 Cơ cấu giống lúa trong vùng điều tra 33

4.1.4 Những khó khăn trong sản xuất 34

4.2 ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC 34

4.2.1 Thời gian sinh trưởng 34

4.2.2 Độ pH 36

4.2.3 Ghi nhận sâu bệnh ngoài đồng 37

4.2.4 Diễn biến số chồi 38

4.2.5 Chiều cao cây 40

4.2.6 Số lá 43

4.2.7 Chiều dài bông 45

4.3 NĂNG SUẤT VÀ THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT 45

4.3.1 Số bông/m2 45

4.3.2 Hạt chắc/bông 47

4.3.3 Trọng lượng 1000 hạt 47

4.3.4 Năng suất thực tế 48

4.4 ĐÁNG GIÁ PHẨM CHẤT GẠO 48

4.4.1 Tỷ lệ xay chà 48

4.4.2 Kích thước và hình dạng hạt gạo 50

4.4.3 Độ bạc bụng 51

4.4.4 Độ trỏ hồ 53

4.4.5 Hàm lượng amylose 54

Trang 15

4.4.6 Mùi thơm 55

4.6 THẢO LUẬN CHUNG 56

4.6.1 Kết quả khảo sát tình hình vụ Đông Xuân (2012 – 2013) 56

4.6.2 Các giống lúa thí nghiệm 57

4.6.3 Các giống lúa triển vọng 57

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

5.1 KẾT LUẬN 59

5.2 KIẾN NGHỊ 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ CHƯƠNG

Trang 16

DANH SÁCH BẢNG

3.1 Danh sách 16 giống lúa MTL cao sản ngắn ngày chịu phèn tại Hòa

An vụ Đông Xuân 2012 – 2013 20 3.2 Các thời điểm bón phân và lượng phân bón sử dụng 23 3.3 Phân cấp thiệt hại do bệnh đạo ôn theo IRRI (1996) 25 3.4 Phân loại tỷ lệ gạo lức theo IRRI (1996) 27 3.5 Phân loại tỷ lệ gạo trắng theo IRRI (1996) 27 3.6 Phân loại tỷ lệ gạo nguyên IRRI (1996) 28 3.7 Phân loại kích thước, hình dạng hạt gạo theo tiêu chuẩn IRRI (1996) 28

3.8 Phân loại cấp bạc bụng theo theo phần trăm vết đục của hạt IRRI

3.9 Thang điểm đánh giá độ trở hồ theo IRRI 1980 29 3.10 Thang đánh giá hàm lượng amylose theo IRRI (1980) 30 3.11 Thang đánh giá mùi thơm theo IRRI (1996) 30 4.1 Tiêu chuẩn chọn giống lúa của nông hộ 33

4.2 Thời gian sinh trưởng của 16 giống lúa sản xuất trên vùng đất phèn

Hòa An vụ Đông Xuân 2012 – 2013 35 4.3 Diễn biến độ pH qua các giai đoạn sinh trưởng 37

4.4 Đánh giá mức độ bệnh đạo ôn của 16 giống lúa sản xuất trên vùng

đất phèn Hòa An vụ Đông Xuân 2012 – 2013 37

4.5 Diễn biến số chồi của 16 giống lúa sản xuất trên vùng đất phèn Hòa

An vụ Đông Xuân 2012 – 2013 40

4.6 Diễn biến chiều cao cây của 16 giống lúa sản xuất trên vùng đất phèn

Hòa An vụ Đông Xuân 2012 – 2013 42 4.7 Diễn biến số lá của 16 giống lúa sản xuất trên vùng đất phèn Hòa An

vụ Đông Xuân 2012 – 2013 44

Trang 17

4.8 Diễn biến chiều dài bông của 16 giống lúa sản xuất trên vùng đất

phèn Hòa An vụ Đông Xuân 2012 – 2013 45

4.9 Thành phần năng suất và năng suất thực tế của 16 giống lúa sản xuất

trên vùng đất phèn Hòa An vụ Đông Xuân 2012 – 2013 46

50

4.12 Tỷ lệ bạc bụng (%) các cấp của 16 giống lúa sản xuất trên vùng đất

phèn Hòa An vụ Đông Xuân 2012 – 2013 52

4.13 Độ trở hồ của 16 giống lúa sản xuất trên vùng đất phèn Hòa An vụ

Đông Xuân 2012 – 2013 54

4.14 Hàm lượng amylose của 16 giống lúa sản xuất trên vùng đất phèn

Hòa An vụ Đông Xuân 2012 – 2013 55 4.15 Mùi thơm của 16 giống lúa sản xuất trên vùng đất phèn Hòa An vụ

Đông Xuân 2012 – 2013 56

Trang 19

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

IRRI Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (International Rice

Research Institute) NSKC Ngày sau khi cấy

đ/c Đối chứng

Trang 20

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa lớn nhất cả nước, với tiềm năng

đa dạng, phong phú và là vùng trọng điểm sản xuất lương thực Sản lượng lúa chiếm khoảng 52% tổng sản lượng lúa của cả nước, hàng năm đóng góp trên 90% sản lượng gạo xuất khẩu, sản xuất lúa ở ĐBSCL có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và góp phần tích cực trong xuất khẩu

Tuy nhiên, việc sản xuất lúa hiện nay còn nhiều trở ngại do thời tiết diễn biến thất thường tạo điều kiện cho nhiều sâu bệnh hại phát triển, đặc biệt là ảnh hưởng của đất phèn, diện tích đất phèn ở đồng bằng sông Cửu Long khá lớn, chiếm tới hơn 88 % diện tích đất phèn trong cả nước (2,1 triệu ha) và 40% tổng diện tích tự nhiên của toàn đồng bằng (1,6 triệu ha) Hậu Giang là một tỉnh nghèo thuộc vùng ĐBSCL, đời sống người dân của tỉnh chủ yếu là nghề nông, nhưng phần lớn diện tích đất ở đây là đất phèn nặng chiếm 34% (tương đương với 5.073 ha) tổng diện tích đất của tỉnh nên việc canh tác lúa còn gặp nhiều khó khăn, chi phí đầu tư lớn, tốn nhiều công lao động dẫn đến thu nhập của người dân còn thấp, chất lượng cuộc sống chưa được cải thiện Do đó, việc tìm ra những giống lúa thích hợp với vùng đất phèn và có năng suất cao ở ĐBSCL nói chung và ở Hậu Giang nói riêng là rất quan trọng Vì thế, việc chọn tạo ra các giống lúa mới ngắn ngày có năng suất cao, phẩm chất tốt, thích nghi với vùng đất phèn và chống chịu được sâu bệnh hại để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất, góp phần an ninh lương thực và xuất khẩu là vấn đề đặc biệt cần quan tâm trong thời điểm hiện

nay Nên đề tài “So sánh năng suất và phẩm chất của 16 giống MTL (Miền Tây

Lúa) triển vọng ngắn ngày chịu phèn tại Hòa An vụ Đông Xuân 2012 - 2013”

được thực hiện nhằm tìm ra những giống lúa cao sản có năng suất cao và phẩm chất tốt trong bộ giống lúa, qua đó giúp người nông dân dễ dàng hơn trong việc lựa chọn giống thích hợp cho từng mùa vụ và gia tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trang 21

2.2 Mục tiêu cụ thể

Đánh giá thực trạng tình hình canh tác ở địa phương để:

 Chọn ra được các giống có thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu được sâu bệnh, thích ứng với vùng đất phèn và cho năng suất cao

 Tìm ra những giống có phẩm chất tốt thông qua những giống có tỷ lệ gạo nguyên cao, độ bạc bụng thấp, hàm lượng amylose trung bình đến thấp và

có đặc tính gạo thơm

Trang 22

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 TÌNH HÌNH CANH TÁC LÚA HIỆN NAY

2.1.1 Tình hình canh tác lúa trong nước

Việt Nam được coi là một trong những trung tâm trồng lúa lâu đời nhất ở Châu

Á Lúa gạo là thức ăn chính của người Việt Nam Năm 2004 diện tích trồng lúa cả nước trên 7,4 triệu ha, năng suất bình quân 4,8 tấn/ha, sản lượng đạt 36 triệu tấn Lúa được trồng khắp nước, từ đồng bằng đến trung du và miền núi, trong đó tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long 3,8 triệu ha và đồng bằng sông Hồng 1,2 triệu ha Cả nước

có 5 hệ thống sinh thái trồng lúa chính là lúa tưới tiêu (65%), lúa ngập nước trời (25%), lúa nước mặn và lúa nổi (5%), lúa cạn (5%) Lúa nổi hiện đang giảm sút nhiều

do tăng cường hệ thống tưới tiêu Sản xuất lúa lai đang phát triển với gần 0,5 triệu ha, đứng thứ 2 sau Trung Quốc Lúa gạo còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của cả nước Năm 2005 cả nước xuất khẩu trên 4 triệu tấn gạo (đứng thứ 2 sau Thái Lan), nhà nước ta đang có nhiều chính sách tích cực để tiếp phát triển sản xuất lúa gạo, đảm bảo

an ninh lương thực và tăng nguồn xuất khẩu (Nguyễn Đăng Minh và ctv., 2009)

2.1.2 Tình hình canh tác lúa ở đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long từ sau 1975 đến nay, việc sản xuất lúa đã vươn lên mạnh mẽ, cùng với sự phát triển của hệ thống thủy lợi và thủy nông nội đồng, cùng những tiến bộ kỹ thuật được áp dụng rộng rãi trên đồng ruộng, trở thành vùng trọng điểm sản xuất lúa xứng đáng của cả nước Từ vùng lúa nổi mênh mông An Giang, Đồng Tháp, vùng trũng phèn Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên với chỉ một vụ lúa mùa, năng suất thấp và bấp bênh… nay đã chuyển dần thành vùng lúa 2-3 vụ ngắn ngày năng suất cao, ổn định, cộng với những hệ thống canh tác đa dạng, đã góp phần đáng kể vào sản lượng lương thực và lương nông sản hàng hóa xuất khẩu hàng năm của cả nước Năng suất bình quân cả năm của toàn vùng đồng bằng đã gia tăng từ 2,28 tấn/ha (1980) đến 3,64 tấn/ha (2004), cá biệt có một số huyện có thể đạt năng suất bình quân trên 6,5 tấn/ha/vụ và 12-17 tấn/ha/năm với 2-3 vụ lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009) Theo Tổng Cục Thống Kê (2009), đồng bằng sông Cửu Long hiện có 1,9 triệu ha diện tích canh tác lúa; 3,85 triệu ha diện tích gieo trồng; sản lượng hàng năm khoảng

21 triệu tấn lúa; năng lực xuất khẩu trên dưới 5 triệu tấn gạo/năm, tương đương 9-10 triệu tấn lúa

Theo Cục Trồng Trọt (2010), sản lượng lúa cả năm 2010 của cả nước đạt 39,8 triệu tấn (cao nhất từ trước đến nay và cao hơn 900 ngàn tấn so với năm 2009) Trong

đó các tỉnh phía Bắc đạt 13,2 triệu tấn và các tỉnh phía Nam đạt 26,6 triệu tấn Riêng diện tích sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long là 3.939.799 ha, tăng 104.808 ha so

Trang 23

với năm 2009 (do tăng diện tích sản xuất lúa Thu Đông), năng suất bình quân 5,47 tấn/ha, tăng 0,128 tấn/ha so với năm 2009, sản lượng 21.557.936 tấn, tăng 1.064.957 tấn so với năm 2009 (Oanh Lê, 2010)

2.2 ĐẤT PHÈN

2.2.1 Sự hình thành đất phèn

Đất phèn là tên gọi loại đất sau khi cày trục, nước trong như được đánh phèn Nước có vị chua chát như phèn chua, độ pH dưới 4, đất phèn chứa nhiều muối tan mà thành phần chủ yếu là các sulfat sắt (phèn nóng) hoặc sulfat nhôm (phèn lạnh) Đất phèn có độ pH thấp nên sắt, nhôm, mangan hòa tan hoạt động rất mạnh gây ngộ độc cho cây lúa, làm ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng, thậm chí có thể làm cây lúa bị chết Sắt, nhôm di động còn cố định chất lân hòa tan trong đất làm lân bị giữ chặt trong đất (trở nên khó tiêu), cây lúa không hấp thu được nên thường bị thiếu lân Đất phèn cũng thường thiếu các nguyên tố vi lượng Các loại khí như sulfur hydro, cacbonic tích lũy trong đất phèn cũng có thể gây độc cho cây lúa Tùy theo điều kiện hình thành mà

có nơi Fe chiếm ưu thế có nơi Al chiếm ưu thế, có nơi 2 thành phần này cùng chung sống với nhau Khi quan sát màu nước trong ruộng, biểu hiện rõ là ở các gốc ruộng hoặc quanh bờ, mặt nước có váng màu đỏ thì có thể hiểu ngay ruộng đó do phèn sắt gây ra là chủ yếu, có nơi gọi là phèn nóng Còn ở những ruộng mặt nước trong xanh, đất quanh bờ có màu xám ít thấy cỏ mọc hoặc chỉ thấy có cỏ năn mọc lác đác từng chòm thì ruộng đó nghiêng về phèn nhôm, có nơi gọi là phèn lạnh Mức độ phèn nhiều hay ít tùy thuộc vào độ nông, sâu của tầng sinh phèn Nếu tầng sinh phèn ở sâu, ví dụ, nằm dưới mắt đất 1-2 m hoặc sâu hơn thì tỷ lệ Fe, Al ở trên bề mặt ruộng ít hơn Còn những ruộng có tầng sinh phèn ở nông, ví dụ chỉ cách lớp đất mặt dưới 1m (50-60 cm chẳng hạn) thì người ta thường nói đó là đất phèn hoạt động, lượng Fe, Al trong ruộng

sẽ nhiều hơn và biện pháp cải tạo sẽ khó khăn hơn

Thời kỳ đất phèn tác động rõ rệt nhất đối với sản xuất nông nghiệp là vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa-trùng với vụ Hè Thu Vì vào vụ này, ruộng đồng được cày ải, phơi khô dài ngày, đây là điều kiện thuận lợi giúp tầng sinh phèn được đưa lên tiếp xúc với không khí, các vật liệu sinh phèn trong đất phèn tiềm tàng dễ bị oxy hóa hơn tạo thành những chất độc và môi trường đất và nước bị chua do axit khi gặp nước mưa hoặc nước xả đồng Các độc chất hòa tan trong đất sẽ tác dụng với dung dịch đất và một phần phóng thích ra nguồn nước trong đất, nước trong kinh, rạch làm ô nhiễm nguồn nước Tuy nhiên, thông thường, sau khi cày ải xong, bà con nông dân thường đóng cống dí khô ruộng trong nhiều ngày (khoảng 1 tháng), nước trong kinh, rạch nội đồng cũng khô luôn Cách làm này làm cho mực thủy cấp ở mặt ruộng bị sụt giảm đáng kể, ở những nơi có đất phèn tiềm tàng và tầng sinh phèn nằm gần mặt đất dễ chuyển thành phèn hoạt động, bị oxy hóa tạo ra những chất độc Hoặc trước khi sạ, bà

Trang 24

con nông dân thả nước tràn đồng, rồi ngâm đồng từ 7-10 ngày và tiến hành xới, trục đất, tháo nước ra một lần, làm cho mặt ruộng phẳng là sạ ngay Làm như vậy là chưa tháo hết chua phèn và các độc chất ra khỏi ruộng Có thể thấy, mặt ruộng còn một lớp mỏng màu nâu, màu vàng rơm hoặc màu trắng trên mặt ruộng sau khi tháo nước ngâm đồng chờ sạ

Trong xây dựng công trình thủy lợi, giao thông: việc đào đất đắp nền đường giao thông, đê bao xuyên qua vùng đất phèn thì những vật liệu phèn đã có trong đất và những vật liệu sinh phèn sẽ bị oxy hóa khi được đào đưa lên trên trở thành các độc chất gây ô nhiễm môi trường và chúng bị rữa trôi bởi nước mưa, nước lũ chảy ra đồng, xuống dòng kinh, rạch Việc nạo vét các kinh, rạch sẽ sinh ra nhiều axit hữu cơ làm cho môi trường đất bị chua và các chất độc khác như sắt Fe2+, nhôm Al3+, magiê

Al3+ có trong đất phèn với nồng độ 150 – 3000ppm Đó là các cation độc nhất trong số các chất độc Al3+ làm kết tủa các keo sét và các chất lơ lửng trong nước nên nước phèn càng trong, càng nhiều Al3+ thì càng độc Nông dân gọi là “phèn lạnh”; tức là, trong đó có rất nhiều nhôm sunfat (Al2(SO4)3) Trong dung dịch đất, ở thực địa Al3+ = 500ppm đã độc cho cây lúa, nhất là thời kì ba lá thực, đến 800ppm gây chết và 1000ppm gây chết nhanh chống và cây lúa chết như bị luộc nước sôi Tuy nhiên, trong dung dịch dinh dưỡng ngưỡng giới hạn độc này chỉ có 135ppm Cây lúa ngộ độc Al3+thì rễ không bị đên nhưng mất hết lông hút, rễ ngắn nhất là trọng lượng rễ bị ảnh hưởng lớn Trong đất Al3+ có thể ở dạng Al2(SO4)3 là những tinh thể khi khô dòn, xốp

dễ vỡ, khi ẩm lờm nhờm, tê lưỡi hoặc có trong thành phần của jarosite.Trong dung dịch đất, Al3+ được giải phóng từ các alumin silicat khi pH thấp Trong đất phèn hoạt tính Al3+ mới xuất hiện nhiều; còn trong đất phèn tiềm tàng, Al3+ vẫn chưa được xuất

Trang 25

hiện mà còn ở trong keo đất Nhôm biến động rất phức tạp, tuy nhiên các nghiên cứu lại cho thấy nó có quan hệ khá chặt chẽ với pH ở trong đất Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa

pH môi trường và Al3+ là một đường hyberbol, mà đường tiệm cận dưới pH = 2,95, nghĩa là pH giảm từ 6 xuống 2,95 thì Al3+ tăng rất cao Nhưng khi pH 4,1; Al3+ có khả năng trầm lắng và pH ≥ 6; Al3+ → 0 Khi cây bị ngộ độc, trong cây tích lũy cao Al trong các bộ phận cơ thể, nhất là ở rễ

 Sắt (Fe2+ và Fe3+)

Đây cũng là nguyên tố độc trong môi trường đất phèn Fe2+ xuất hiện trong đất phèn trước Al3+ Trong đất yếm khí chúng có thể ở dạng FeSO4 không màu hay Fe(OH)2 Trong dung dịch Fe2+ là cation linh động có thể kết hợp H2S → FeS bám dính vào rễ cây làm ngộ độc cây Khi nồng độ Fe2+ ≥ 600ppm bắt đầu có ảnh hưởng, trên 1000ppm gây chết cây lúa Tuy nhiên, Fe2+ dễ bị oxy hóa thành Fe3+ có màu vàng nâu đỏ, mà Fe3+ có độ hòa tan thấp nên ít độc Đất phèn nhiều Fe nông dân gọi là “đất phèn nóng” Tuy không độc bằng Al3+ nhưng Fe2+ gây độc cho cây con, bộ phận rễ bị đen, chóp rễ bị vẹt, trong cây tích lũy cao Fe do Fe đã xâm nhập vào cây

 Sunfat (SO42-) và Lưu huỳnh (S)

Cùng với Fe thì SO42- là một trong hai nguyên tố đầu tiên tạo nên phèn Dạng gây độc chủ yếu là : H2S, SO42-, SO2 và SO32- Lưu huỳnh là dinh dưỡng của cây trồng nếu không vượt quá 2 – 5% và lượng SO42- cao trong đất phèn biến động với đặc tính rửa trôi chậm nên gây độc cho cây trồng và cho sản xuất

 Clo (Cl-)

Trong đất phèn nhiều ( phèn hoạt tình) thì Clo ít ( <0,1%) nhưng đối với phèn mặn và phèn tiềm tàng thì tỷ lệ rất cao Tuy nhiên độ di động của nó rất lớn và rất dễ

bị rửa trôi

 Độc chất axit hữu cơ

Ngộ độc axit hữu cơ có thể xảy ra trong đất có hàm lượng chất hữu cơ cao Các axit hữu cơ được tạo ra từ quá trình phân giải chất hữu cơ , xác sinh vật trong điều kiện ngập nước Chúng có thể ngăn cản quá trình vươn dài của rễ, hô hấp và hút chất dinh dưỡng

 Pyrit

Pyrit là hợp chất của lưu huỳnh và sắt, là sản phẩm của quá trình yếm khí dưới

sự tác động của các vi sinh vật yếm khí Quá trình Oxy hoá Pyrit sẽ tạo ra axit, gây chua cho đất và gây hại cho cây trồng, súc vật và con người Sự tích tụ của pyrit trong đất được thực hiện trong điều kiện ngập nước, đất trầm tích trong nước mặn và có

Trang 26

nhiều chất hữu cơ, nhiều vi sinh vật yếm khí có khả năng phân huỷ các chất hữu cơ làm cho các ion sunfat hoà tan trở thành sunfit, ion sắt III trở thành ion sắt II

 Jarosit

Là một hợp chất, là kết quả của quá trình oxyhoá sunfit và Pyrit (đã được trình bày phần cấu tạo đất phèn) Trong đất khi đã xuất hiện Jarosit tức là pH trong đất thấp, kéo theo việc tăng hàm lượng các độc tố gây hại cho cây Trong thực tế không chỉ các độc tố Al3+, Fe3+, Fe2+, SO4

2-, Cl-, H+ gây hại cho cây mà chính hợp chất Jarosit được hình thành cũng tham gia phá huỷ các bộ rễ của cây

2.2.2 Sự phân bố đất phèn

2.2.2.1 Sự phân bố đất phèn ở trong nước

Đất phèn ở Việt Nam có khoảng 2 triệu ha, chiếm hôn 6,5% dất tự nhiên toàn quốc, phân bố chủ yếu ở đồng bằng Nam Bộ, trong các tỉnh Long An, Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, …, ở đồng bằng Bắc Bộ có một số ít diện tích ở Hải Phòng, Thái Bình, …, ngoài ra còn gặp rải rác ở một số tỉnh miền Trung (Trần Văn Chính, 2006)

2.2.2.1 Phân bố đất phèn ở đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long có 1,68 triệu ha đất phèn (chiếm 44% diện tích chung), tập trung ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên

Ở vùng Đồng Tháp Mười, phần lớn đất phèn hình thành từ trầm tích sét nặng có thấm cao, khi bị ôxy hóa dể dàng xuất hiện khoáng Jarosite Ở Tứ giác Long Xuyên đất phèn tương đối đồng đều về nguồn gốc và độc tố, ít có biến động lớn trong cùng một khu vực Đất phèn vùng bán đảo Cà Mau hình thành trên trầm tích sông mỏng bên trên, do đó lượng chất độc không cao, đất thường bị nhiễm mặn vào mùa khô bởi nước biển tràn vào sông rạch

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) đất phèn trồng lúa ở ĐBSCL thường có 3 tầng chính là tầng A, tầng B và tầng C

Tầng A: hay tầng canh tác, có màu nâu đen, nhiều chất hữu cơ và các ống rễ chưa phân hủy hết, đất tơi xốp

Tầng B: gọi là tầng phèn, đất sét nặng, màu xám, rất dẽ chặt, có nhiều đốm rỉ (Fe2O3) lẫn những ống phèn vàng tươi (Jarosite) dọc theo ống rễ hoặc đường nứt trong đất Tầng này tích tụ được nhiều chất rửa trôi từ tầng A nên gọi là tầng tích tụ

2.2.3 Những trở ngại khi canh tác lúa trên đất phèn

Trang 27

Ảnh hưởng của các độc chất với cây lúa là lảm hạn chế sự sinh trưởng của cây lúa như: làm giảm số lá, chiều cao cây, độ dài rễ, tỷ lệ chết cao ở giai đoạn mạ và ảnh hưởng đến năng suất (Nguyễn Thị Ngọc Tuyết và Trần Thị Ngọc Huân, 1984)

Ảnh hưởng của H+: Theo Lê Huy Bá (2000), H+ là một cation gây độc thông qua môi trường pH thấp và làm cho độ hòa tan chuyển hóa dinh dưỡng kém Nồng độ H+trong đất phèn thấp, gây hại cho lúa một cách trực tiếp và gián tiếp Khi pH từ 3,5 – 4 trong dung dịch đất thì lúa bị ngộ độc trực tiếp bởi H+, nhưng ở khoảng pH này ngộ độc Al3+ thì quan trọng hơn Trên đất phèn pH thấp làm cản trở quá trình hydrat hóa, sunfat hóa, amon hóa Ành hưởng đến các yếu tố dinh dưỡng như lân, gây hại cho lân khó tiêu hơn

Ảnh hưởng của sắt: hàm lượng chất bình thường trong dung dịch đất là 2 – 5 ppm Khi hàm lượng sắt cao sẽ làm giảm sự hấp phụ Lân và Kali do đó ảnh hưởng đến cây lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Theo Lê Huy Bá (2000), thì cây lúa chứa 300ppm sắt sẽ biểu hiện độc khi pH là 3,7 nhưng chịu chứng gây độc rỏ nhất ở hàm lượng 500ppm Còn theo Yoshida (1981), thì sự ngộ độc sắt xảy ra khi cây lúa tích lũy sắt trong lá, sự nhiễm độc do nồng độ cao của sắt nhị trong đất Nồng độ sắt tới hạn trong dung dịch thay đổi theo pH, khoảng 100ppm ở pH = 3,7 và 300ppm hoặc 500pmm ở

pH = 5,0

2.3 GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA CÂY LÚA

Trong lúa gạo có mặt đầy đủ các chất dinh dưỡng như các cây lương thực khác, ngoài ra còn có các vitamin đặc biệt là các loại vitamin B

- Tinh bột: Là nguồn chủ yếu cung cấp calo Giá trị nhiệt lượng của lúa là 3594 calo, so với lúa mì là 3610calo, độ đồng hóa đạt đến 95,9% Hàm lượng amylose trong hạt quyết định độ dẻo của hạt

- Protein: Tỷ lệ chiếm khoảng 6 – 8%, thấp hơn so với lúa mì và các loại khác Các giống lúa Việt Nam có lượng protein thấp nhất là 5,25%, cao nhất là 12,84%, phần lớn trong khoảng 7 – 8%, lúa nếp có lượng protein cao hơn lúa tẻ, lúa chiêm cũng có lượng protein cao

- Lipit: Vào loại trung bình phân bố chủ yếu ở lớp vỏ gạo Nếu ở gạo xay là 2,02% thì ở gạo giả chỉ còn 0,52%

- Vitamin: Trong lúa gạo còn có một số vitamin đặc biệt là vitamin nhóm B như B1, B2, B6,…lượng vitamin B1 là 0,45mg/100 hạt (trong đó phân bố ở phôi 47%, vỏ cám 34,5% trong hạt chỉ có 3,8%)

Từ đặc điểm dinh dưỡng của hạt, từ lâu lúa gạo được coi là nguồn thực phẩm có giá trị Tổ chức dinh dưỡng Quốc Tế đã gọi “Hạt gạo là hạt của sự sống” (Grain de riz, Grain de vie) Để đảm bảo giá trị dinh dưỡng của hạt cần phải lưu ý đến công nghệ sau

Trang 28

thu hoạch kết hợp với việc chọn tạo giống có phẩm chất tốt, đầu tư các biện pháp kỹ thuật trồng trọt

2.4 SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA

Đời sống cây lúa bắt đầu từ lúc hạt nẩy mầm cho đến khi lúa chín Có thể chia làm 3 giai đoạn chính: giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng), giai đoạn sinh sản (sinh dục) và giai đoạn chín (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

2.4.1 Giai đoạn tăng trưởng

Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi hạt nẩy mầm đến khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng Giai đoạn này, cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi mới (nở bụi) Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước lá ngày càng lớn giúp cây lúa nhận nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia tăng chiều cao, nở bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi, cây lúa có thể bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5-6 Chồi ra sớm trong nương mạ gọi là chồi ngạnh trê Sau khi cấy, cây mạ mất một thời gian để hồi phục, bén rễ rồi nở bụi rất nhanh, cùng với sự gia tăng chiều cao, kích thước lá đến khi đạt số chồi tối đa thì không tăng nữa mà các chồi yếu bắt đầu rụi dần (chồi vô hiệu hay còn gọi là chồi vô ích), số chồi giảm xuống Thời điểm có chồi tối đa có thể đạt được trước, cùng lúc hay sau thời kỳ bắt đầu phân hóa đòng tùy theo giống lúa

2.4.2 Giai đoạn sinh sản

Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến khi lúa trổ bông Giai đoạn này kéo dài khoảng 27 – 35 ngày, trung bình 30 ngày và giống lúa dài ngày hay ngắn ngày thường không khác nhau nhiều Lúc này, số chồi vô hiệu giảm nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng Đòng lúa hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của lá cờ, lúa trổ bông Trong suốt thời gian này, nếu đầy đủ dinh dưỡng, mực nước thích hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình thành nhiều hơn và vỏ trấu sẽ đạt được kích thước lớn nhất của giống, tạo điều kiện gia tăng trọng lượng hạt sau này

2.4.3 Giai đoạn chín

Giai đoạn chín bắt đầu từ lúc trổ bông đến lúc thu hoạch Giai đoạn này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới.Tuy nhiên, nếu đất ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong thời gian nầy thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược lại Giai đoạn nầy cây lúa trải qua các thời kỳ sau:

 Thời kỳ chín sữa (ngậm sữa): các chất dự trữ trong thân lá và sản phẩm quang hợp được chuyển vào trong hạt Hơn 80% chất khô tích lũy trong hạt

là do quang hợp ở giai đoạn sau khi trổ Do đó, các điều kiện dinh dưỡng,

Trang 29

tình trạng sinh trưởng, phát triển của cây lúa và thời tiết từ giai đoạn lúa trổ trở đi hết sức quan trọng đối với quá trình hình thành năng suất lúa Kích thước và trọng lượng hạt gạo tăng dần làm đầy vỏ trấu Bông lúa nặng cong xuống nên gọi là lúa “cong trái me”.Hạt gạo chứa một dịch lỏng màu trắng đục như sữa, nên gọi là thời kỳ lúa ngậm sữa

 Thời kỳ chín sáp: hạt mất nước, từ từ cô đặc lại, lúc bấy giờ vỏ trấu vẫn còn xanh

 Thời kỳ chín vàng: hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, trấu chuyển sang màu vàng đặc thù của giống lúa, bắt đầu từ những hạt cuối cùng ở chót bông lan dần xuống các hạt ở phần cổ bông nên gọi là “lúa đỏ đuôi”, lá già rụi dần

 Thời kỳ chín hoàn toàn: Hạt gạo khô cứng lại, ẩm độ hạt khoảng 20% hoặc thấp hơn, tùy ẩm độ môi trường, lá xanh chuyển vàng và rụi dần Thời điểm thu hoạch tốt nhất là khi 80% hạt lúa ngã sang màu trấu đặc trưng của giống

2.5 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ HÌNH DẠNG CÂY LÚA NĂNG SUẤT CAO

Theo Tsunoda (1964) các giống lúa đáp ứng với đạm thấp, có lá dài, rộng, mỏng, cong rủ, màu xanh nhạt và cao cây, yếu rạ, khó có thể tăng năng suất do chúng rất dễ

bị ngã đổ Các giống lúa đáp ứng với đạm cao có lá ngắn, hẹp, dày, thẳng đứng, màu xanh đậm và thấp cây, cứng rạ, có thể trồng dầy và đầu tư phân bón cao để tăng năng suất

Theo Matsushima (1970) đề nghị kiểu hình cây lúa lý tưởng bao gồm 6 đặc điểm sau đây:

 Thân thấp, bông ngắn và có nhiều bông để tránh đổ ngã và gia tăng phần trăm hạt chắc cây phải có đủ số hạt cần thiết trên đơn vị diện tích để đạt được năng suất mong muốn

 Ba lá trên cùng phải ngắn dầy và thẳng đứng để gia tăng hiệu quả sử dụng ánh sáng và do đó gia tăng phần trăm hạt chắc Có càng nhiều lá xanh trên thân càng tốt (số lá xanh có thể xem như là chỉ số biểu hiện sức khỏe của cây)

 Duy trì khả năng hấp thụ đạm, ngay cả thời kỳ sau khi trổ để gia tăng phần trăm hạt chắc

 Trổ lúc thời tiết thuận lợi để có thể nhận được nhiều nắng sau khi trổ, nhằm gia tăng sản phẩm quang hợp ở thời kỳ chín

Trong đó, đặc tính hình thái quan trọng nhất của cây lúa lý tưởng là 3 lá trên cùng ngắn, dày và thẳng đứng kết hợp với thân thấp

Trang 30

Còn theo Yoshida (1981) cho rằng các đặc điểm hình thái cần được chú ý đặc biệt là:

 Thân thấp, cứng chắc

 Lá thẳng đứng: cách sắp xếp lá lý tưởng là trong tán lá các lá trên đứng và

rũ dần khi xuống đến các lá dưới

 Nở bụi nhanh

 Thời gian sinh trưởng trung bình khoảng 120 ngày, vì ông cho rằng 120 ngày dường như tối hảo để lúa cho năng suất tối đa ở các mức đạm bón cao trong vùng nhiệt đới

2.6 ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT LÚA

2.6.1 Thời gian sinh trưởng

Thời gian sinh trưởng của cây lúa được tính từ khi hạt lúa nảy mầm đến khi chín hoàn toàn, thay đổi tuỳ theo giống và điều kiện ngoại cảnh Thời gian sinh trưởng của một giống chuyên biệt cao theo vùng và theo mùa vụ vì những tương tác giữa sự mẫn cảm của quang kỳ và nhiệt độ của giống với điều kiện thời tiết Các giống có thời gian sinh trưởng quá ngắn có thể không cho năng suất cao vì sự sinh trưởng dinh dưỡng hạn chế, và những giống có thời gian sinh trưởng quá dài có thể không cho năng suất cao

vì sự sinh trưởng dinh dưỡng dư có thể gây đổ ngã (Yoshida, 1981) Theo Võ Tòng Xuân (1986) cho rằng các giống lúa có thời gian sinh trưởng từ 110 – 135 ngày luôn cho năng suất cao hơn các giống lúa chín sớm hơn và muộn hơn ở phần lớn điều kiện canh tác

Ở miền Bắc các giống lúa ngắn ngày có thời gian sinh trưởng 90 - 120 ngày, giống lúa trung ngày là 140 - 160 ngày Các giống lúa chiêm cũ, do thời vụ gieo cấy có điều kiện nhiệt độ thấp nên thời gian sinh trưởng kéo dài 180 - 200 ngày Ở ĐBSCL các giống lúa địa phương có thời gian sinh trưởng 200 -240 ngày ở vụ mùa, cá biệt những giống lúa nổi có thời gian sinh trưởng đến 270 ngày (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

2.6.2 Số chồi

Theo Yoshida (1981) về mặt lý thuyết ở điều kiện đặc biệt, một cây lúa có thể mọc ra 40 chồi Tuy nhiên, trong thực tế tất cả những mầm chồi không nhất thiết phát triển thành chồi Khoảng cách trồng, ánh sáng, nguồn dinh dưỡng và điều kiện môi trường, kỹ thuật canh tác ảnh hưởng đến sự nảy chồi Số chồi hình thành bông (chồi hữu hiệu hay còn gọi là chồi hữu ích) ít hơn so với chồi tối đa và ổn định khoảng 10 ngày trước khi đạt được chồi tối đa Các chồi ra sau đó thường sẽ tự rụi đi không cho bông được do chồi nhỏ yếu không đủ khả năng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với các chồi khác gọi là chồi vô hiệu (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Trang 31

2.6.3 Chiều cao cây

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) cây lúa nào có lóng ngắn, thành lóng dầy, bẹ lúa

ôm sát thân thì thân lúa sẽ cứng chắc, khó đỗ ngã và ngược lại Nếu đồng ruộng có nhiều nước, sạ cấy dầy, thiếu ánh sáng, bón nhiều đạm thì lóng có khuynh hướng thon dài và mềm yếu làm cây lúa dễ đổ ngã Lúa bị đổ ngã thì sự hút dinh dưỡng và quang hợp bị trở ngại, sự vận chuyển các chất bị cản trở, hô hấp mạnh làm tiêu hao chất dự trữ, đưa đến hạt lép nhiều làm giảm năng suất Sự đổ ngã càng sớm, lúa bị thiệt hại càng nhiều và năng suất càng giảm

Chiều cao cây lúa thích hợp nhất dao động từ 80 – 100 cm vì nếu chiều cao quá cao sẽ làm tăng sự đổ ngã và giảm tỷ lệ vào chắc (Khush, 2001; Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

2.6.4 Chiều dài bông

Cây lúa có chiều dài bông thay đổi tùy theo giống, vùng đất và kỹ thuật canh tác Chiều dài bông góp phần tăng năng suất Chiều dài bông là một đặc điểm di truyền của giống, nó được tính từ đốt cổ bông đến đầu mút bông Giống có bông dài, hạt xếp khít,

tỷ lệ hạt lép thấp, khối lượng 1000 hạt cao sẽ cho năng suất cao (Vũ Văn Liết và ctv.,

2004) Cây lúa có chiều dài bông thay đổi tùy theo giống, vùng đất và kỹ thuật canh tác, chiều dài bông góp phần tăng năng suất Các giống lùa mùa có chiều dài bông lúa biến thiên từ 17 – 32 cm, tập trung nhiều ở khoảng 23 – 25 cm Phần đông các giống lúa có cổ bông hở độ thụ phấn tương đối cao (76 – 100%) đến trung bình (51 – 75%), các giống bông dài nhiều hạt thường ít bông (Nguyễn Văn Sánh, 1981) Số hạt chắc/bông, chiều dài bông là tính trạng chính trong việc đóng góp vào năng suất trên những vùng đất nhiễm mặn Tuy nhiên chiều dài bông chịu tác động rất ít bởi môi trường (Đặng Nguyệt Quế, 2011)

2.7 NĂNG SUẤT VÀ THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT

số bông trên đơn vị diện tích Ngược lại, trên đất giàu hữu cơ, thời tiết tốt, lượng phân bón nhiều (nhất là đạm) và giữ nước thích hợp thì lúa nở bụi khỏe có thể sạ cấy thưa hơn Các giống lúa cải thiện thấp cây có số bông/m2 trung bình phải đạt 500 - 600

Trang 32

bông/m2 đối với lúa sạ hoặc 350 - 450 bông/m2 đối với lúa cấy, mới có thể có năng suất cao (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Bên cạnh đó, số bông/đơn vị diện tích cũng bị ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, trong đó vụ Đông Xuân có số bông/m2 cao hơn vụ Hè Thu mưa nhiều làm ảnh hưởng đến khả năng quang hợp, do đó làm giảm khả năng nảy chồi (Nguyễn Bích Hà Vũ, 2006)

2.7.2 Số hạt chắc/bông

Đặc tính số hạt chắc/bông chịu tác động rất lớn của điều kiện môi trường Số hạt chắc/bông nhiều hay ít tùy thuộc vào số gié hoa phân hóa và số gié hoa không phân hóa Số hoa/bông quá nhiều để dẫn đến tỉ lệ hạt chắc thấp (Trần Hữu Phúc, 2008) Muốn năng suất cao, thì tỉ lệ hạt chắc phải trên 80% (Nguyễn Thị Lam Viên, 2010) Nguyễn Ngọc Đệ (1998) cho rằng lúa sạ có trung bình từ 80 – 100 hạt/bông và

100 – 120 hạt/bông đối với lúa cấy là tốt nhất trong điều kiện ở đồng bằng sông Cửu Long Trên cùng một cây lúa, những bông chính thường có nhiều hạt, những bông phụ phát triển sau thường có ít hạt hơn

Số hạt chắc/bông liên hệ mật thiết với số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc Để có sự vận chuyển tổng hợp carbohydrate ở thân lá cũng như việc vận chuyển tổng hợp những chất khô vào hạt tốt hơn thì bộ lá có cấu tạo dày, xanh đậm hơn, tuổi thọ lá kéo dài là một đặc tính rất quan trọng và cần thiết Bộ lá thẳng đứng thì cây lúa sử dụng ánh sáng hiệu quả hơn (Yoshida, 1976)

2.7.3 Trọng lượng 1000 hạt

Trọng lượng từng hạt thay đổi ở vài trường hợp nhưng giá trị trung bình không đổi Đặc tính khối lượng 1000 hạt rất ít chịu tác động của điều kiện môi trường và có

hệ số di truyền cao (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997) Theo Huỳnh Như Điền (2009),

trọng lượng 1000 hạt tập trung nhiều nhất ở cỡ hạt 25 – 27g, và đối với các giống lúa địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long thì trọng lượng 1000 hạt có sự tương quan nghịch với yếu tố số hạt/bông Theo Lê Xuân Thái (2003) chọn giống có trọng lượng

1000 cao thì rất cần thiết trong việc gia tăng năng suất, nhưng không nên chọn các giống có trọng lượng 1000 hạt quá cao vì như thế sẽ kèm theo bạc bụng nhiều

2.7.4 Năng suất thực tế

Trong thực tế, khi môi trường canh tác càng ít được kiểm soát, năng suất lúa thường đạt thấp hơn rất nhiều so với tiềm năng của nó Năng suất thực tế do đặc tính giống quy định và phụ thuộc vào bốn thành phần năng suất, tuy nhiên nó bị ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố môi trường và kĩ thuật canh tác Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008),

sự sụt giảm năng suất so với tiềm năng là do hạn chế về mặt sinh học, như sự thích nghi của giống đối với điều kiện đất, nước dinh dưỡng, sâu bệnh, cỏ dại Ngoài ra điều kiện kinh tế xã hội của nông dân cũng góp phần quan trọng làm sụt giảm năng suất so

Trang 33

với tiềm năng của nó Trong đó, kiến thức và tập quán canh tác của nông dân là hết sức quan trọng, chi phí và lợi nhuận cũng là yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của người dân và do đó ảnh hưởng đến năng suất lúa

2.8 MỘT SỐ SÂU BỆNH CHÍNH TRÊN RUỘNG LÚA

Khí hậu nước ta thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng, phát triển và phát dục nhưng cũng tạo điều kiện cho sâu bệnh phát sinh và phát triển Khi cây trồng bị mầm bệnh tấn công, sẽ tạo ra cơ chế tự vệ chống đối lại với mầm bệnh, hạn chế sự tăng trưởng và phát triển của mầm bệnh giúp cây không bị hại hoặc thiệt hại không đáng kể việc chọn tại giống lúa chống chịu ổn định với sâu bệnh của địa phương là một vấn đề quan trọng Ứng dụng tính kháng sâu bệnh ra đồng ruộng bằng cách sử dụng các nguồn gen chống chịu bền vững đối với các sâu bệnh một cách hiệu quả (Phạm Văn Kim, 2000) Các loại dịch hại thuộc kiểm soát của những yếu tố bên trong (di truyền) là bệnh cháy

lá, rầy nâu và bệnh cháy bìa lá (Ông Huỳnh Nguyệt Ánh và ctv., 2005) Tính kháng

hoặc nhiễm với mầm bệnh của cây trồng tùy thuộc vào đặc điểm di truyền Những sâu bệnh gây hại phổ biến trên ruộng lúa là bù lạch, sâu cuốn lá, bệnh cháy lá (đạo ôn)

2.8.1 Bù lạch

Bù lạch là một loại côn trùng rất nhỏ, màu đen chỉ to bằng sợi chỉ, dài khoảng 1,5mm Chúng sống thành đàn, thường xuyên xuất hiện trên mạ hoặc lúa mới sạ hoặc cấy từ một tháng tuối trở lại Bù lạch có thể phát triển thành dịch khi ruộng khô do hạn

hán kéo dài nên thường lầm với lúa bị phèn Triệu chứng ban đầu là chóp xanh bị cuốn lại như héo, ngay cả lúa sáng sớm, có nhiều con bù lạch tập trung trong những chót lá

bị cuốn này để cắn phá làm chót lá vàng và khô héo đi

Hình 2.1: Bù lạch và vòng đời của chúng

Trang 34

Các loại thuốc trừ sâu thông thường đều có thể trị được bù lạch Thiệt hại do bù lạch gây ra ít nghiêm trọng nhưng cũng làm cho lúa mất sức rất nhiều Sau khi xịt thuốc cần bón thêm phân đạm và kali

 Sâu cuốn lá lớn

Thành trùng là loại bướm có râu hình chùy cánh xếp thẳng đứng khi đậu, rất nhanh nhẹn và bay theo đường gãy khúc Ấu trùng (sâu) ăn đứt từ bìa phiến lá vào trong rồi ăn dọc theo gân lá, nhộng có tơ bám vào lá lúa cuốn lại

Hình 2.2: Sâu cuốn lá nhỏ Hình 2.3: Sâu cuốn lá lớn

(Nguồn: Ngân hàng kiến thức trồng lúa, www.vaas.org.vn)

Trang 35

2.8.3 Bệnh cháy lá (Đạo ôn: Rice blast)

Bệnh cháy lá do nấm Pyricularia oryzae gây ra, bệnh có thể gây hại rất sớm từ

nương mạ nhưng thường bị nặng nhất là giai đoạn làm đòng đến sau trổ một thời gian Nấm có thể tấn công ở mọi bộ phận của cây lúa nhưng nhiều nhất là ở phiến lá Trên

lá, vết bệnh lúc đầu nhỏ màu nâu, sau phát triển thành vết bệnh điển hình có dạng hình mắt én, hai đầu hẹp, giữa phình ra có màu xám tro Chung quanh vết bệnh có viền nâu

rõ rệt, ngoài viền nâu thường có một quầng vàng Nhiều vết bệnh liên kết lại làm cả lá lúa bị cháy khô Bệnh cũng xuất hiện trên các đốt thân làm gãy ngang thân lúa hoặc trên cổ bông (bệnh khô cổ bông) làm tắt nghẽn mạch dẫn nhựa nuôi hạt, bông lúa bị gãy, hạt bị lép và lững

2.9 PHẨM CHẤT HẠT GẠO

Phẩm chất hạt gạo có tính chất quan trọng quyết định đến tính hiệu quả kinh tế Trong xu hướng cạnh tranh của kinh tế thị trường, chất lượng gạo là một trong những yếu tố quan trọng nâng cao sản lượng và giá trị xuất khẩu Phẩm chất hạt gạo được quyết định bởi nhiều yếu tố như: giống, môi trường sản xuất, hệ thống thu hoạch, sau thu hoạch và chế biến Phẩm chất gạo trên thị trường còn phụ thuộc nhiều vào thị hiếu của từng vùng, từng quốc gia Nhìn chung, hạt gạo thon dài, trong suốt có hàm lượng amylose trung bình là thị hiếu chung của người tiêu dùng (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2000)

2.9.1 Tỷ lệ xay chà

Độ xay xát đo lường phần trăm cám lấy đi từ gạo lức Độ xay xát có ảnh hưởng đến tỷ lệ xay xát và ảnh hưởng đến sự chấp nhận của người tiêu dùng Bên cạnh số lượng gạo trắng thu được, độ xay xát ảnh hưởng đến màu sắc và thói quen nấu nướng Gạo lức hấp thu nước rất chậm và thời gian nấu lâu hơn gạo trắng (Nguyễn Ngọc Đệ,

Hình 2.4: Bệnh đạo ôn

(Nguồn: Ngân hàng kiến thức trồng lúa, www.vaas.org.vn)

Trang 36

2008) Tỷ lệ xay chà gồm tỷ lệ gạo lức, gạo nguyên và gạo trắng, rất biến động và có thể dao động từ 25 – 65% (Cruz và Khush, 2000), nó phụ thuộc vào phương tiện máy móc, các phương pháp xay chà và phụ thuộc vào giống (Cruz và Khush, 2000; Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Giá trị thương phẩm của hạt gạo tùy thuộc rất lớn vào tỷ lệ gạo nguyên, nhưng tỷ lệ gạo nguyên lại phụ thuộc rất nhiều vào đặc tính giống, yếu tố sản xuất, thu hoạch, phơi sấy và tiến trình xay chà Trong đó yếu tố quan trọng nhất là quá trình thu hoạch, phơi sấy và xay chà (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) và một vài kỹ thuật trước và sau thu hoạch (Bùi Chí Bửu, 2004) Tỷ lệ gạo nguyên cũng có liên quan chặt chẽ đến độ bạc bụng của hạt, hạt gạo thường gãy ở điểm có vết bạc bụng (Lê Xuân

Thái và ctv., 2005) Phẩm chất xay chà trên vụ Đông – Xuân có tỷ lệ gạo nguyên gấp

đôi tỷ lệ gạo nguyên vụ Hè – Thu, nguyên nhân này cần chú ý đến lượng mưa kéo dài

trong vụ Hè – Thu dẫn đến chất lượng kém (Nguyễn Thị Lang và ctv., 2004)

2.9.2 Kích thước và hình dạng hạt gạo

Kích thước và hình dạng hạt (tỷ lệ dài/rộng) khác nhau tùy thuộc vào đặc tính giống Hạt thon dài thường gãy nứt hơn hạt tròn và do đó, tỷ lệ xay xát thấp hơn (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Chiều dài hạt gạo là một trong những chỉ tiêu đánh giá phẩm chất hạt gạo và nó bị chi phối mạnh bởi yếu tố di truyền và ít bị chi phối bởi yếu

tố môi trường (Trần Thanh Hoàng, 2005) Hình dạng hạt gạo được dựa trên tỷ lệ chiều dài/chiều rộng của hạt gạo nguyên đã được chà trắng Tuy tỷ lệ xay chà là những hình dạng hạt và kích thước hạt là tiêu chí đầu tiên của các nhà chọn giống trong việc chọn

và phổ triển các giống lúa mới (Cruz và Khush, 2000) Còn hình dạng hạt gạo là yếu tố

có tương quan chặc trẻ với tỷ lệ gạo nguyên (Nguyễn Phước Tuyên, 1997) Trong nhiều trường hợp tương quan giữa chiều dài, chiều rộng và độ dày của hạt gạo không chặt chẽ thì chiều dài hạt được xem là tính trạng chính để phân tích về tính di truyền của kích thước hạt (Nguyễn Thành Phước, 2003)

2.9.3 Độ bạc bụng

Bạc bụng là phần đục của hạt gạo Khi nấu thì bạc bụng sẽ biến mất và không ảnh hưởng đến mùi vị của cơm Tuy nhiên, nó làm giảm cấp của gạo và giảm tỷ lệ xay xát Bạc bụng là do sự trục trặc trong quá trình tạo hạt và phơi sấy Bạc bụng chủ yếu là do

sự sắp xếp không chặt chẽ của những hạt tinh bột trong nội nhũ, tạo ra nhiều khoảng trống làm cho hạt gạo bị đục (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Độ bạc trắng của nội nhũ 1 mặt do yếu tố di truyền mặt khác các điều kiện môi

trường cũng ảnh hưởng đến tính trạng này (Jenning et al., 1979) Tuy nhiên tỷ lệ bạc

bụng không bị ảnh hưởng bởi thời gian bảo quản (Nguyễn Phước Tuyên, 1997)

Tỷ lệ bạc bụng là chỉ tiêu đánh giá phẩm chất gạo trên thị trường, bạc bụng là do đặc tính di truyền và chịu tác động lớn của điều kiện môi trường trong giai đoạn lúa vào chắc đến chín, thời điểm thu hoạch cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ bạc bụng của hạt

Trang 37

Thời gian thu hoạch tốt nhất là 25 ngày sau khi trổ 50% Thu hoạch càng muộn (32 –

40 ngày sau khi trổ 50%) thì tỷ lệ bạc bụng càng cao (Lê Xuân Thái và ctv., 2005)

2.9.4 Độ trở hồ

Độ trở hồ, một đặc tính dung để xác định phẩm chất hạt lúc nấu, là nhiệt độ cần thiết để khi nấu nước hấp thu và hạt tinh bột phồng lên trên hoàn nguyên lại được (Jenning et al., 1979) Độ trở hồ trung bình là tiêu chuẩn tối hảo cho phẩm chất gạo tốt (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2000)

Nhiệt trở hồ sau cùng để hóa hồ biến thiên từ 55 -790C

Độ trở hồ có liên quan một phần đến hàm lượng amylose của tinh bột Giống có

độ trở hồ cao thì có hàm lượng amylose thấp, độ trở hồ trung bình có hàm lượng amylose cao hoặc là trung bình nhưng độ trở hồ thấp không liên hệ với hàm lượng amylose thấp, trung bình hay cao (Jenning et al., 1979)

2.9.5 Hàm lượng amylose

Tinh bột - chất trùng hợp của glucose – là cấu tử chính của gạo, chiếm khoảng 90% trọng lượng khô Nó hiện diện dưới dạng những hạt đa diện phức hợp, có kích thước 3-9 μm Tinh bột bao gồm thành phần mạch nhánh (amylopectin) là chủ yếu và loại mạch thẳng (amylose) Dựa trên cơ sở hàm lượng amylose, gạo được phân làm loại nếp (1-2% amylose), hoặc gạo tẻ (>2% amylose) Gạo tẻ có hàm lượng amylose rất thấp (2-9% amylose), thấp (9-20% amylose), trung bình (20-25% amylose) và cao (25-33% amylose) Trong gạo hàm lượng amylose phổ biến từ 15 tới 35% Gạo có hàm lượng amylose cao cơm sẽ nở nhiều và dễ tróc, nhưng khô cơm và cứng khi nguội Ngược lại, gạo có hàm lượng amylose thấp khi nấu ít nở, cơm mềm và dẻo (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Gạo có hàm lượng amylose thấp hay trung bình rất được ưa chuộng Những giống lúa mùa địa phương có hàm lượng amylose trung bình và mềm cơm, trong khi những giống lúa cải tiến có hàm lượng amylose cao nên cứng cơm khi để nguội (Vương Đình Tuấn, 2001)

Trang 38

2.9.6 Mùi thơm

Gạo có mùi thơm là một đặc tính phẩm chất có giá trị thứ yếu nhưng được người dân ở vùng Châu Á ưa chuộng và sẳn lòng trả giá cao (Jennings et al., 1979) Mùi thơm của gạo do 2 – acetyl – 1 – pymoline, được tìm thấy trong thành phần dầu của gạo nấu gây ra do một loại hóa chất có khả năng khuếch tán trong không khí, đó là aste – aceton – aldehyde, nó là chỉ số quan trong có ảnh hưởng rất lớn đến khẩu vị và dễ bị

biến đổi trong quá trình bảo quản (Lê Doãn Biên, 1990)

Mùi thơm cũng như các đặc tính khác của chất lượng gạo ngoài chịu ảnh hưởng của môi trường còn do tính di truyền quyết định Tính trạng mùi thơm của lúa do hai hay ba gen lặn kiểm soát (Đỗ Khắc Thịnh, 1994) Ảnh hưởng của môi trường đến tính trạng mùi thơm cũng được ghi nhận, nhưng cơ chế này cho đến nay vẩn chưa được biết rõ Ví dụ Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan có thể được gieo trồng ở khá nhiều loại đất khác nhau nhưng mùi thơm thì khác nhau giữa các vùng Tương tự các giống lúa đặc sản của Việt Nam như: Tám xoan, Tám thơm, Nàng Hương, Nàng Thơm, Chợ Đào,… chỉ cho mùi thơm đặc trưng không những vùng đất nhất định, nếu gieo trồng ở những vùng đất khác thì không có mùi thơm hoặc thơm nhẹ Có thể chúng phụ thuộc vào mùa vụ gieo trồng, loại đất, địa điểm và độ phì của đất (Vương Đình Tuấn, 2001)

Trang 39

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm

Thí nghiệm được thực hiện vụ Đông Xuân từ 12/2012 – 03/2013 tại khoa Phát triển Nông thôn – Đại học Cần Thơ – khu Hòa An, xã Hòa An, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, ngày gieo là 04/12/2012, ngày cấy là 22/12/2012

3.1.2 Giống lúa

Các giống lúa thí nghiệm thuộc bộ giống cao sản ngắn ngày do Bộ môn Tài nguyên cây trồng – Viện Nghiên cứu Phát triển đồng bằng sông Cửu Long, Trường Đại học Cần Thơ chọn tạo gồm 16 giống lúa được trình bày ở Bảng 3.1

Bảng 3.1: Danh sách 16 giống lúa cao sản ngắn ngày chịu phèn tại Hòa An vụ Đông

Trang 40

3.1.3 Các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm

Giấy, viết, thước và các thanh tre để đo đạt và ghi nhận các chỉ tiêu ngoài đồng như chiều cao cây, số chồi, mức độ thiệt hại do sâu bệnh Ngoài ra còn có giấy quỳ để

đo độ pH

Máy móc trong phòng thí nghiệm: Máy tách chắc lép, máy đếm 1000 hạt, máy đo

độ ẩm, cân điện tử, máy tách vỏ trấu, máy đánh bóng,…

Thí nghiệm ngoài đồng được bố trí theo phương thức khối ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại có 16 nghiệm thức tương ứng với 16 giống lúa, kích thước mỗi nghiệm thức là 10 m2 Trong cùng một dãy, các lô thí nghiệm được xếp liền nhau với khoảng cách 40 cm và khoảng cách giữa các dãy với nhau là 40 cm

Hình 3.1: Máy đếm 1000 hạt Hình 3.2: Máy tách vỏ trấu

Ngày đăng: 11/01/2021, 19:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w