1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

TUYỂN TẬP ĐỀ SO SÁNH NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CẢ LỚP 11 VÀ 12

33 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 297,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viết về cuộc sống, số phận, cảnh ngộ của những con người trong những năm xảy ra nạn đói năm Ất Dậu, “Vợ nhặt” là một tác phẩm tiêu biểu cho những khám phá của nhà văn về vẻ đẹp của ngư[r]

Trang 1

TỔNG HỢP ĐỀ SO SÁNH, LIÊN HỆ Cảm nhận của anh chị về hai đoạn thơ:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa Lòng quê dờn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn bỗng nhớ nhà

(Tràng giang – Huy Cận) Và:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có nhớ hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

(Tây Tiến – Quang Dũng)

1 Đoạn thơ trong bài Tây Tiến

- Nội dung: Vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên và con người miền Tây trong nỗi nhớ của người lính Tây Tiến:

+ Thiên nhiên hoang sơ, gợi cảm: những bông lau chập chờn, lay động trên những bến bờ như cũng có hồn; những bông hoa dập dềnh trên dòng nước lũ cũng mang hồn cảnh vật quyến luyến, tình tứ (hoa đong đưa chứ không phải là đung đưa)

+ Nổi lên trên nền cảnh của bức tranh thiên nhiên thơ mộng là hình ảnh một dáng người vững chãi trên con thuyền độc mộc, giữa dòng nước lũ Hình ảnh ấy tạo thêm một nét đẹp rắn rỏi, khoẻ khoắn cho bức tranh thiên nhiên thơ mộng, mềm mại, đẹp mơ màng + Nỗi nhớ thể hiện tình cảm gắn bó, khăng khít với thiên nhiên, con người cuộc sống miền Tây Qua đó ta thấy được tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, hào hoa của người lính Tây Tiến

- Nghệ thuật

+ Hình ảnh được sáng tạo bằng bút pháp lãng mạn, chấm phá, gợi tả

+ Ngôn ngữ có những kết hợp từ độc đáo mới lạ, tạo sắc thái mới cho từ ngữ (hoa đong đưa)

+ Giọng thơ bâng khuâng, man mác, những câu hỏi tu từ (có nhớ, có thấy…) gợi lại cảnh chia tay trong một chiều sương mờ bao phủ nơi Châu Mộc

2 Về đoạn thơ trong bài Tràng giang

* Câu 1: Không gian tầng cao nhất: bầu trời:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc”

Trang 2

- “Núi bạc”: những đám mây màu trắng được phản chiếu bởi ánh sáng mặt trời -> hùng

vĩ, tráng lệ

- “Đùn”: mây ùn ùn kéo về, tầng tầng liên tiếp dựng nên những dãy núi trùng điệp

- Từ láy “lớp lớp”: gây ấn tượng về sự trùng điệp của những dãy núi

* Câu 2: Tầng lưng trừng giữa trời và đất: cánh chim

“Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa”

-> Bóng chiều vốn vô hình mà trở nên hữu hình

=> Sự bé nhỏ, mỏng manh của cánh chim

* Câu 3 - 4: Tầng dưới cùng: sông nước

“Lòng quê dợn dợn vòi con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

- “Dợn dợn”: tăng mãi lên, nhanh mãi lên, mạnh mãi lên

-> Sóng lòng đang trải ra cùng sóng nước

- Đối thoại lại với người xưa: Nỗi nhớ quê luôn thường trực dai dẳng, triền miên -> sâu sắc

- “Lòng quê”, “nhớ nhà”:

+ Nỗi nhớ Hà Tĩnh của tác giả

+ Biểu hiện kín đáo của lòng yêu nước, nhớ quê hương đất nước của chính mình, thấy thiếu quê hương, nhớ quê hương vì nhớ một thời vàng son chưa mất nước

4 Về sự tương đồng và khác biệt giữa hai đoạn thơ

- Tương đồng: Cả hai đoạn thơ đều tái hiện bức tranh sông nước, thể hiện tình yêu thiên nhiên của tác giả

- Khác biệt: Đoạn thơ trong bài Tây Tiến là lời nhắn nhủ của người đi, được thể hiện bằng thể thơ thất ngôn với một bút pháp lãng mạn, hào hoa… Đoạn thơ trong bài Tràng giang là cảm giác mênh mông, vô định giữa thiên nhiên bao la, nỗi buồn thấm vào mọi cảnh vật của thiên nhiên sông nước ấy; qua đó biểu hiện kín đáo lòng yêu nước

Trang 3

- Lý giải sự tương đồng và khác biệt

+ Tương đồng vì: Hai tác giả đều là những nhà thơ rất mực tài năng, đều cất lên tiếng lòng mình trước những cảnh vật thiên nhiên quen thuộc, gắn bó + Khác biệt vì: Bản chất nghệ thuật là sự sáng tạo, “Mỗi tác phẩm văn học phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung” (nhà văn Lêônit Lêônốp); Do nét riêng của hoàn cảnh cảm hứng và phong cách nghệ thuật độc đáo của mỗi nhà thơ

Trình bày cảm nhận của anh chị về hai đoạn thơ sau:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có nhớ hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

(Tây Tiến – Quang Dũng) Và:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng

(Tràng giang – Huy Cận)

1 Đoạn thơ trong bài Tây Tiến

- Nội dung: Vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên và con người miền Tây trong nỗi nhớ của người lính Tây Tiến:

+ Thiên nhiên hoang sơ, gợi cảm: những bông lau chập chờn, lay động trên những bến bờ như cũng có hồn; những bông hoa dập dềnh trên dòng nước lũ cũng mang hồn cảnh vật quyến luyến, tình tứ (hoa đong đưa chứ không phải là đung đưa)

+ Nổi lên trên nền cảnh của bức tranh thiên nhiên thơ mộng là hình ảnh một dáng người vững chãi trên con thuyền độc mộc, giữa dòng nước lũ Hình ảnh ấy tạo thêm một nét đẹp rắn rỏi, khoẻ khoắn cho bức tranh thiên nhiên thơ mộng, mềm mại, đẹp mơ màng + Nỗi nhớ thể hiện tình cảm gắn bó, khăng khít với thiên nhiên, con người cuộc sống miền Tây Qua đó ta thấy được tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, hào hoa của người lính Tây Tiến

- Nghệ thuật

+ Hình ảnh được sáng tạo bằng bút pháp lãng mạn, chấm phá, gợi tả

+ Ngôn ngữ có những kết hợp từ độc đáo mới lạ, tạo sắc thái mới cho từ ngữ (hoa đong đưa)

+ Giọng thơ bâng khuâng, man mác, những câu hỏi tu từ (có nhớ, có thấy…) gợi lại cảnh chia tay trong một chiều sương mờ bao phủ nơi Châu Mộc

Trang 4

2 Về đoạn thơ trong bài Tràng giang

Nhà thơ sử dụng một loạt các thi liệu trong thơ Đường như “thuyền, nước, sóng, ” Đó

là một bức tranh đẹp như bức tranh thủy mặc nhưng buồn đến tê tái

- “Sóng gợn” chỉ nhẹ thôi nhưng cứ “điệp điệp” kéo dài không dứt, đó chính là những cơn sóng lòng cứ dâng lên khiến cho tác giả buồn bã không nguôi Huy Cận đã sử dụng 2

từ láy liên tiếp nhau trong một câu thơ “tràng giang”, “điệp điệp” Cách dùng từ thật mới

lạ, độc đáo, không phải là buồn bã, da diết mà là buồn “điệp điệp”, nghĩa là một nỗi buồn tuy không mãnh liệt nhưng nó cứ liên tục, không ngừng

Ở câu thơ thứ 2, hình ảnh “thuyền”, “nước” còn sóng đôi, “song song” nhưng đến câu 3 thì ta thấy hai sự vật này đã chia ly tan tác “thuyền về nước lại sầu trăm ngả” Nghệ thuật đối giữa “Thuyền về” và “nước lại” nhằm nhấn mạnh sự chia ly, xa cách, thể hiện sự nuối tiếc trong lòng tác giả

- Nếu nỗi buồn ở câu 1 còn mơ hồ chưa định hình rõ ràng thì đến đây nó đã trở thành nỗi sầu lan tỏa khắp không gian Từ trước đến giờ ta thấy, “thuyền” và “nước” là hai hình ảnh không thể tách rời nhau vậy mà Huy Cận lại chia rẽ chúng ra Điều này chứng tỏ ông

đã quá đau buồn, ông lúc nào cũng mang trong mình một nỗi u hoài, một nỗi chia ly, chia

xa

- Gây ấn tượng nhất trong khổ thơ là hình ảnh ẩn dụ “củi một cành khô” từ thượng nguồn trôi dạt trên dòng sông, đang phải chọn lựa sẽ xuôi theo dòng nước nào khiến tác giả liên tưởng đến cuộc đời mình Ông cũng như bao người dân mất nước mang thân phận bọt bèo giữa cuộc đời rộng lớn

Hình ảnh cành củi kia còn tượng trưng cho kiếp người nhỏ bé, những văn nghệ sĩ đang băn khoăn, ngơ ngác, lạc lõng trước nhiều trường phái văn học, ngã rẽ của cuộc đời Câu thơ nhiều tầng ý nghĩa, khiến cho ý thơ sâu sắc Bằng bút pháp nghệ thuật đảo ngữ: đẩy

từ “củi” lên đầu câu, tác giả nhấn mạnh thân phận nhỏ bé, bọt bèo của kiếp người trong

Nỗi buồn của Huy Cận là nỗi buồn của một kiếp người bởi cuộc đời vốn

có nhiều thay đổi, bất ngờ, không báo trước mà con người thì rất nhỏ nhoi và cô độc, lẻ loi Khổ thơ gợi một cảm giác bâng khuâng, lo lắng , lạc lõng, chơi vơi của tác giả giữa dòng đời vô định, không biết sẽ đi đâu về đâu

4 Về sự tương đồng và khác biệt giữa hai đoạn thơ

- Tương đồng: Cả hai đoạn thơ đều tái hiện bức tranh sông nước, thể hiện tình yêu thiên nhiên của tác giả

- Khác biệt: Đoạn thơ trong bài Tây Tiến là lời nhắn nhủ của người đi, được thể hiện bằng thể thơ thất ngôn với một bút pháp lãng mạn, hào hoa… Đoạn thơ trong bài Tràng

Trang 5

giang là cảm giác mênh mông, vô định giữa thiên nhiên bao la, nỗi buồn thấm vào mọi cảnh vật của thiên nhiên sông nước ấy; qua đó biểu hiện kín đáo lòng yêu nước

- Lý giải sự tương đồng và khác biệt

+ Tương đồng vì: Hai tác giả đều là những nhà thơ rất mực tài năng, đều cất lên tiếng lòng mình trước những cảnh vật thiên nhiên quen thuộc, gắn bó + Khác biệt vì: Bản chất nghệ thuật là sự sáng tạo, “Mỗi tác phẩm văn học phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung” (nhà văn Lêônit Lêônốp); Do nét riêng của hoàn cảnh cảm hứng và phong cách nghệ thuật độc đáo của mỗi nhà thơ

Trình bày cảm nhận của anh chị về đoạn thơ sau trong bài thơ “Sóng” – Xuân Quỳnh:

Làm sao để tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ Liên hệ với đoạn thơ của Xuân Diệu và so sánh điểm giống, khác nhau giữa hai đoạn thơ ấy:

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Qua đó, nhận xét vẻ đẹp của thơ ca cách mạng Việt Nam

1 Khái quát chung:

– Giới thiệu hai tác giả: Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ “Sóng” là bài thơ tình đặc sắc được Xuân Quỳnh sáng tác nhân chuyến đi thực tế về vùng biển Diêm Điền Bài thơ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng sóng

-Trích dẫn hai đoạn thơ, nêu vị trí và cảm nhận chung

2 Phân tích – chứng minh

a Đoạn thơ của bài “Sóng”:

Trang 6

- Nội dung : Đoạn thơ thể hiện khát vọng cao cả đầy nữ tính của người phụ nữ đang yêu, muốn hòa cái tôi nhỏ bé vào cái chung rộng lớn, muốn tình yêu của mình trở lên bất tử (mơ ước được “tan ra” như trăm con sóng nhỏ giữa biển lớn tình yêu, nghĩa là quên mình,

hi sinh cho người mình yêu và tình yêu của mình)

- Nghệ thuật:

+ Thể thơ 5 chữ với câu thơ ngắn gọn ,sử dụng thành công biện pháp ẩn dụ

+ Tạo nên 2 hình tượng tuy hai mà một, nhà thơ sử dụng hình ảnh con sóng nhẹ nhàng nhưng đầy nữ tính để thể hiện khát vọng mãnh liệt trong tình yêu của mình

b Liên hệ tới đoạn thơ trong bài “Vội vàng”

- Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới Hồn thơ Xuân Diệu là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu cuộc đời, yêu con người, một hồn thơ tha thiết, rạo rực, băn khoăn Điều đó được thể hiện rõ qua đoạn thơ cuối bài thơ “Vội vàng”

- Nội dung:

+ Đoạn thơ thể hiện quan niệm sống mới mẻ, sống vội vàng, cuống quýt như chạy đua với thời gian để tận hưởng mọi sắc màu, hương vị, vẻ đẹp của cõi trần gian + Thể hiện một cái tôi ham sống, muốn tận hưởng cuộc đời một cách mãnh liệt, trực tiếp (ôm, say, thâu, cắn…)

+ Ý thức chiếm lĩnh, tận hưởng cuộc sống ở mức độ cao nhất (chếnh choáng, dã đầy, no nê…) với những gì tươi đẹp nhất của trần gian (mùi thơm, ánh sáng, thời tươi…)

- Nghệ thuật:

+ Sử dụng các điệp từ, điệp ngữ, các tính từ mạnh cộng hưởng với nghệ thuật liệt kê để thể hiện nhịp sống hối hả, sôi nổi, cuồng nhiệt gấp gáp, cuống quýt của tác giả + Thể thơ tự do, ngôn từ hết sức táo bạo và đầy sáng tạo là một thành công đặc sắc của Xuân Diệu

3 Đánh giá:

- Sự tương đồng:

+ Hai nhà thơ cùng chung một khát vọng được hòa “cái tôi” của mình vào cuộc đời, vào

“cái ta” chung rộng lớn

+ Đều bộc lộ những suy ngẫm, trăn trở trước cuộc đời, cả 2 đoạn thơ đều có sự kết hợp giữa cảm xúc và chất triết lí

- Sự khác biệt:

+ Xuân Diệu quan niệm thời gian chảy trôi, không tuần hoàn nên đề xuất lối sống gấp gáp, cuống quýt, vội vàng, tận hiến, tận hưởng; Xuân Quỳnh trước những đổ vỡ trong

Trang 7

cuộc sống và bằng những dự cảm đầy nữ tính, luôn khát vọng muốn hòa tình yêu nhỏ bé của mình vào tình yêu chung của cuộc đời để tình yêu đó luôn còn mãi

+ Mỗi nhà thơ có một phong cách nghệ thuật riêng để lại ấn tượng khác nhau trong lòng độc giả (cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật và thể thơ)

4 Nhận xét vẻ đẹp của thơ ca cách mạng

- “Vội vàng” được sáng tác năm 1938, bản thân tác giả cũng là một nhà thơ trong phong trào Thơ Mới nhưng Xuân Diệu không giống các nhà thơ Mới: không thoát lên tiên như Thế Lữ, không phiêu lưu trong trường tình như Lưu Trọng Lư, không ảo não như Huy Cận hay đầy ám ảnh, kinh dị như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên mà thi sĩ đã gắn chặt với cuộc đời trần thế, ước muốn có một thiên đường trên mặt đất để được tận hưởng Đó là quan niệm sống ý nghĩa, thể hiện giá trị tích cực trong thơ Xuân Diệu

- “Sóng” được sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, không chỉ nói về tình yêu cá nhân mà còn thể hiện ước muốn hòa cái tôi nhỏ bé của mình vào tình yêu rộng lớn của đất nước, hòa một con sóng nhỏ vào đại dương để ngàn năm còn vỗ Đó là sự kết hợp giữa cái riêng và cái chung tạo nên sức mạnh cho người dân Việt Nam trong kháng chiến

để đánh đuổi mọi kẻ thù tàn bạo nhất Vì thế, bài thơ được xem như một bông hoa nở dọc

- Hai bài thơ thể hiện khát vọng của hai tác giả, là những ước muốn được tận hưởng và tận hiến, con người làm chủ cuộc đời, làm chủ vận mệnh Đó là nội dung tiêu biểu của văn học cách mạng Việt Nam

Cảm nhận của em về hai đoạn thơ sau:

Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

(Việt Bắc – Tố Hữu) Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

(Từ ấy – Tố Hữu)

Từ đó, chỉ ra sự vận động trong tư tưởng của Tố Hữu qua hai chặng đường thơ

a Việt Bắc

- Lời của người ra đi khẳng định tấm lòng thủy chung của mình

- Kỉ niệm không thể quên về những ngày tháng gian khổ, khó khăn ở chiến khu Việt Bắc

- Nghệ thuật: thành ngữ, cách nói dân gian, thể thơ lục bát

b Từ ấy: là khổ thơ thứ hai của bài, thể hiện nhận thức mới về lẽ sống của tác giả:

Trang 8

- Cái “tôi”: là cái tôi chung, hòa nhập, gắn kết với cộng đồng, không bơ vơ lạc lõng giống như cái “tôi” trong thơ mới

+“gần gũi nhau”: Là sự gần gũi giữa “tôi” với “bao hồn khổ” -> sự tương tác 2 chiều, người Đảng viên chính thức được đón nhận vào với quần chúng nhân dân

- Kết quả cuối cung của sự hòa nhập: “mạnh khối đời” “Khối đờn” là cuộc đời chung, cuộc đời rộng lớn, không thể nhìn thấy, không thể cân đo đong đếm, là khái niệm trừu tượng Cách dùng từ “mạnh khối đời” đã khiến”khối đời” trở nên hữu hình -> Nhấn mạnh sức mạnh của sự đoàn kết trong đấu tranh cách mạng: mỗi cá nhân sẽ làm cho khối đời chung trở nên mạnh hơn, ngược lại, khối đời chung ấy sẽ giúp cho mỗi cá nhân tăng thêm sức mạnh cho mình, vững tâm hơn, tin tưởng hơn

Đánh giá:

- Giống nhau: cả hai đoạn thơ thể hiện nhận thức của tác giả về những ngày tháng cách mạng khó khăn, gian khổ nhưng luôn vượt qua bằng tình yêu thương, sự đoàn kết của quân và dân

- Khác nhau:

+ Về nội dung: Từ ấy là giác ngộ khi mới vào Đảng Việt Bắc là tổng kết của một cán bộ

đã có những năm tháng đồng cam cộng khổ cùng người dân để làm nên thắng lợi vẻ vang của dân tộc

+ Về nghệ thuật :

Việt Bắc có cấu tứ của ca dao với hai nhân vật trữ tình là ta và mình, người ra đi và người

ở lại đối đáp với nhau Nhưng ở đây, cấu tứ đó được thể hiện một cách gián tiếp qua việc

sử dụng từ “mình, ta” trong lời của người cán bộ cách mạng Tố Hữu đã phát huy được

Trang 9

nhiều thế mạnh của thể lục bát truyền thống Nhà thơ rất chú ý sử dụng kiểu tiểu đối của

ca dao, chẳng những có tác dụng nhấn mạnh ý mà còn tạo ra nhịp điệu uyển chuyển, cân xứng, hài hoà, làm cho lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, thấm sâu vào tâm tư Về ngôn ngữ, Tố Hữu chú ý sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân rất giản dị, mộc mạc nhưng cũng rất sinh động để tái hiện lại một thời cách mạng và kháng chiến đầy gian khổ mà dạt dào tình nghĩa

Từ ấy thể thơ 7 chữ

Nhận xét về sự vận động tư tưởng thơ Tố Hữu qua hai chặng đường

- Hai bài thơ thể hiện tiếng thơ Tố Hữu – lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam

- Hai đoạn thơ thể hiện sự vận động đi lên của tư tưởng thơ Tố Hữu qua hai giai đoạn lịch

sử khác nhau: Từ ấy là sự tìm đường và nhận đường của một chiến sĩ vừa giác ngộ lí tưởng Việt Bắc là tâm tình của con người đã hòa nhập hoàn toàn để mỗi sự kiện lịch sử đều được đưa vào thơ bằng cảm hứng say mê với khung hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn đậm nét

“Cảm nhận vẻ đẹp và sự độc đáo của hai hình tượng Sông Đà và Sông Hương để thấy được cách cảm nhận độc đáo riêng của từng tác giả trong hai bài tuỳ bút “ Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân và bút kí “ Ai đã đặt tên cho dòng sông

?” ( trích- của Hoàng Phủ Ngọc Tường)

Với đề này học sinh cần biết đặt hai hình tượng trong thế đối sánh để làm nổi bật vẻ đẹp

và sự độc đáo không chỉ của hai hình tượng mà còn cả hai phong cách nghệ thuật

Bước 1: xác định những điểm chung (nét tương đồng )của sự khám phá vẻ đẹp hai hình

tượng Sông Đà, sông Hương trong hai tác phẩm của hai tác giả

+ Điểm chung thứ nhất về đề tài: Sông Đà và Sông Hương là những dòng sông nổi tiếng

đã gắn bó sâu sắc với con người Việt Nam Cả hai con sông đều được khám phá ở vẻ đẹp trữ tình và mạnh mẽ hoang sơ

+ Điểm chung thứ hai về thể loại : cả hai tác giả cùng viết tuỳ bút về những dòng sông Bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của HPNT thực sự là một thiên tuỳ bút- một áng văn xuôi tự sự trữ tình

+ Điểm chung thứ ba là nét phong cách căn bản của hai tác giả: Cả hai đều là những cây bút tài hoa, uyên bác Hai tác giả đều huy động kiến thức địa lí, lịch sử, văn hoá sâu rộng, đều thể hiện cái tôi trữ tình khi khám phá vẻ đẹp của những con sông quê hương đất nước, kết đọng trong đó tình yêu xứ sở Đó là sự gặp gỡ của những tâm hồn Việt, những tài năng tuỳ bút bậc thầy

Bước 2: phân tách đối tượng thành nhiều bình diện để so sánh, tìm ra nét riêng- sự khác

Trang 10

Từ 2 bình diện lớn: nội dung- nghệ thuật, căn cứ vào đối tượng cụ thể ta có thể phân tách thành những phương diện nhỏ hơn Muốn làm được điều này học sinh phải huy động kiến thức về lí luận văn học về tác phẩm - thể loại Về hình tượng các con sông nên tách thành

4 bình diện sau:

Sự khác biệt:

1 Cảm hứng- điểm nhìn khám phá

2 Vẻ đẹp hình tượng

3 Nghệ thuật xây dựng hình tượng

4 Vai trò, ý nghĩa của hình tượng

Ví dụ triển khai ý 2 khám phá vẻ đẹp riêng của hai dòng sông trong hai thiên tuỳ bút theo lối đối sánh, ta có thể đi vào những ý chính sau :

* Trong Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân khai thác hai mặt nổi bật tạo nên hai vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của dòng sông, khám phá con sông đầy tiềm năng cho sự phát triển của đất nước Sông Đà hiện lên đầy cá tính, lúc như một bầy thuỷ quái ( hung bạo), lúc như một cố nhân( trữ tình)

+ Sông Đà hung bạo từ bờ sông, ghềnh đá, hút nước đến thác đá…

+ Sông Đà mang vẻ đẹp trữ tình thơ mộng : từ dáng sông, màu nước cho tới khung cảnh ven bờ…

* Nếu như Sông Đà là một con sông- một sinh thể, thì sông Hương lại được HPNT ví như một người gái đẹp – lúc là cô gái Digan phóng khoáng và man dại, khi là người con gái kín đáo dịu dàng trong tình yêu, lúc là người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở Dòng Hương đã hiện lên với nhiều vẻ đẹp khác nhau trong trang bút kí- tuỳ bút của HPNT

+ Vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên

+ Vẻ đẹp lịch sử

+ Vẻ đẹp văn hoá, thi ca

Bước 3: Lí giải sư tương đồng và nét khác biệt đồng thời khái quát phong cách của từng

tác giả thể hiện qua hai bài kí

Đây là một yêu cầu của đề bài Học sinh cần phải huy động kiến thức lí luận , kiến thức

về tác gia văn học để trình bày khái niệm về phong cách, các phương diện biểu hiện cụ thể trong phong cách nghệ thuật của hai tác giả

Trang 11

Đồng thời đây cũng là phần lí giải tại sao lại có sự tương đồng và nét khác biệt trong cách khám phá thể hiện hình tượng hai dòng sông Nguyên nhân do thời đại, bối cảnh văn hoá

xã hội hầu như không có Yếu tố chính làm nên sự độc đáo của hai hình tượng Sông Đà, Sông Hương trong hai bài kí là phong cách nghệ thuật của 2 tác giả

Cả hai đều là những nhà văn viết tuỳ bút thành công Tuỳ bút Nguyễn Tuân giàu chất kí, chất truyện Bút kí của HPNT giàu chất trữ tình- chất tuỳ bút Cùng có phong cách tài hoa uyên bác, nhưng Nguyễn Tuân tài hoa kiêu bạc, HPNT tài hoa sâu lắng Nguyễn Tuân đến với sông Đà như đến với một sự thử thách để bộc lộ cái Tôi độc đáo tài hoa, thể hiện cảm hứng mãnh liệt trước cái đẹp, cái khác thường phi thường thì HP đến với sông Hương như một sự tương giao linh diệu của một tâm hồn Huế, gắn bó tha thiết với dòng sông với xứ Huế, với chiều sâu văn hoá của đất quê hương Nguyễn Tuân là phù thuỷ ngôn từ, câu chữ co duỗi nhịp nhàng, giàu giá trị tạo hình, dựng cảnh tả người đặc sắc HPNT giàu liên tưởng, tưởng tượng, lối văn đậm chất thơ, thiên về thể hiện cảm xúc suy ngẫm mang chiều sâu văn hoá

So sánh Mị và vợ nhặt, A Phủ và Tràng

1, Điểm giống nhau giữa hai tác phẩm:

- Ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử dân tộc

- Cùng viết về người nông dân nghèo trong cảnh ngộ khốn khổ

- Hai tác phẩm cùng vẽ ra hành trình đến với cách mạng, đến với hạnh phúc của những con người tưởng như đã bị đẩy vào bước đường cùng Chính hoàn cảnh tăm tối, cuộc sống nghiệt ngã đã viết nên thiên tình sử của Mị - A Phủ, Thị - Tràng

- Chứa đựng giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo mới mẻ, sâu sắc

A Phủ từ nơi khác lưu lạc đến Hồng Ngài, làm thuê, làm mướn

Tràng bị dồn đuổi bởi cái đói dừng chân, dựng nhà ở cuối xóm ngụ cư, bên mé bờ sông -> Cuộc sống của họ bấp bênh; do hoàn cảnh, do nghèo khó nên họ khó có thể lấy được

vợ, có được vợ

Trang 12

+ Bị đè nén bởi tư tưởng cai trị của giai cấp thống trị:

Tràng không dám cướp thóc bỏ trốn khi có cơ hội

A Phủ không bước qua khỏi lời nguyền, trở thành kẻ ở gạt nợ cho thống lí Pá Tra; nhẫn nhục chịu đựng như con trâu, con ngựa

+ Giàu ước mơ và khát vọng:

Tràng vượt lên mọi hoàn cảnh: Tàn khốc của XH; Khổ cực của bản thân; Tăm tối của cuộc sống để đến với hạnh phúc, đến với mái ấm gia đình, với thiên chức làm người cao

cả "Trong một lúc Tràng như quên những cảnh sống ê chề tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát đang đe doạ trong lòng hắn chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên" Tràng xôn xao, phấn khởi, sung sướng với hạnh phúc của đời mình Khi cái đói đeo bám, cái chết đe doạ, Tràng vẫn không thôi nâng đỡ, tôn vinh những giá trị cao cả của cuộc sống A Phủ: Dù khó lấy được vợ vì quá nghèo nhưng cái nghèo không kìm nén được bước chân của những con người biết tự mình vượt lên khỏi hoàn cảnh để được sống đúng ý nghĩa của cuộc sống A Phủ cùng đám bạn rong ruổi theo những cuộc chơi khi mùa xuân

về Cùng thổi kèn thổi sáo; cùng réo rắt những bản tình ca gọi bạn đi chơi…Khi bị trói, nhận thức được cảnh ngộ của mình A Phủ đã khóc Giọt nước mắt của sự cam chịu, bất lực, đồng thời cũng là giọt nước mắt khóc cho những ước vọng không thành, giọt nước của cuộc đời từ đây vĩnh biệt….Khi được Mị cắt dây trói, A Phủ khuỵ xuống, nhưng rồi khát vọng sống lại khiến anh quất sức, vùng lên chạy Đó là sự tiếp sức của lòng ham sống của, của khát vọng tự do

Trang 13

+ Tràng được tác giả tập trung khắc hoạ bởi những diễn biến tâm lí phức tạp còn A Phủ lại được nhà văn Tô Hoài miêu tả bằng những hành động cụ thể, sinh động

b, Thị và Mị:

- Điểm giống:

+ Cả hai đều là nhân vật điển hình cho thân phận, số phận những người phụ nữ dưới ách thống trị của thực dân Pháp Mị điển hình cho hoàn cảnh của người phụ nữ vùng cao Tây Bắc, thị điển hình cho cảnh ngộ người phụ nữ trong nạn đói 1945

+ Bị đẩy vào bước đường cùng:

Vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ, Mị phải đau đớn chấp nhận phận làm dâu gạt nợ; Vì cha mẹ không có tiền trả cho nhà giàu, mị phải trả bằng cả tuổi trẻ, hạnh phúc, tự do của mình

Vì cái đói dồn đuổi, cái chết đeo bám, thị trở thành một người phụ nữ không có gì cả: không tên, không gốc gác, gầy vêu rách như tổ đỉa, không tư thế, không luôn cả tự trọng…

+ Giàu lòng ham sống và khát vọng hạnh phúc:

Mị yêu đời yêu cuộc sống tự do, không ham giàu sang phú quý: Xin bố đừng gả con cho nhà giàu, sẵn sàng làm nương ngô giả nợ thay cho bố Khi bị ép về nhà Pá tra, mị đã định quyên sinh bàng lá ngón để giải thoát khỏi cuộc sống tù túng, thiếu tự do và không có tình yêu đích thực

Khi mùa xuân đến, Mị đã hồi sinh (….) và mị muốn đi chơi Khi bị A Phủ trói đứng vào cột, Mị như không biết mình đang bị trói, vẫn thổn thức vẫn bồi hồi Nhìn thấy dòng nước mắt chảy xuống hai hõm má đen xạm của A Phủ, niềm khao khát tự do lại trỗi dậy mãnh liệt thôi thúc Mị cắt dây trói, cứu A Phủ và tự giải thoát cho cuộc đời Đối với thị, lần đầu làm quen Tràng bởi câu hò chơi cho đỡ nhọc của anh và bởi những lời trêu ghẹo của bạn bè, thị ton ton chạy lại đẩy xe cho tràng rồi liếc mắt cười tít -> Thị mong chờ một cái gì đó dù chỉ là mong manh cho tương lai tăm tối của mình Lần thứ hai gặp tràng, thị đã sẵn sàng bỏ qua ý thức về danh dự về nhân phẩm; thị chao chát chỏng lỏn, thị sấn sổ, thị trơ trẽn không biết xấu hổ là gì, thị xem miếng ăn là tất cả

"cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng trò chuyện gì" rồi không băn khoăn, thị gật đầu theo không Tràng về làm vợ chỉ với một suy nghĩ cho khỏi đói, để được sống Sáng hôm sau thị trở thành một cô dâu hiền thục, dịu dàng, đúng mực và có trách nhiệm với gia đình: Thị bắt đầu vun vén cho tổ ấm " quét dọn sân nhà sạch sẽ, gánh nước đổ đầy ang nước" Tình người và những khao khát nhân bản đã làm nên điều kì diệu + Tin tưởng vào ánh sáng cách mạng:

Mị rời khỏi Hồng Ngài được giác ngộ cách mạng, trở thành du kích

Trang 14

Thị vững tin vào một ngày mai tươi sáng, yên ấm; khi một ngày mới, một lá cờ đỏ tươi thắm, một chân trời mới đang dần hiện hữu

Phân tích hình tượng rừng xà nu khi liên hệ với Chí Phèo qua kết cấu đầu cuối tương ứng

- Giải thích thế nào là đầu cuối tương ứng? Hình ảnh, chi tiết nghệ thuật xuất hiện ở đầu tác phẩm được lặp lại ở cuối tác phẩm, thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả, gửi gắm chủ đề tư tưởng của tác phẩm

- Phân tích hình tượng rừng xà nu

a Xuất hiện nổi bật và xuyên suốt chiều dài tác phẩm

(Vị trí của hình tượng rừng xà nu)

- Cây xà nu là một hình tượng nghệ thuật lớn bao trùm tác phẩm, không phải ngẫu nhiên

nhà văn chọn “rừng xà nu” làm nhan đề cho truyện ngắn Hơn thế, hình ảnh rừng xà nu xuất hiện xuyên suốt tác phẩm, được tác giả nhắc đến gần 20 lần Xà nu được miêu tả dưới nhiều góc độ: rừng xà nu, đồi xà nu, cây xà nu, nhựa xà nu… Mặt khác, xà nu còn trở thành mộ nhân vật tham dự vào đời sống sinh hoạt, chứng kiến mọi tâm tình, bước đường trưởng thành của cách mạng Xô-man Nhựa xà nu đốt đuốc đi rừng, khói xà nu xông bảng để Mai và Tnu học chữ, nhem nhuốc khuôn mặt lũ trẻ, củi xà nu cháy rừng rực giữa nhà ưng cho dân làng quay quần nghe cụ Mết kể về cuộc đời bi tráng của dân làng Xô-man và người anh hùng Tnu

- Có thể nói, người Xô-man sinh ra dưới tán xà nu, lớn lên bên ánh lửa xà nu và khi trở

về với đất mẹ, họ cũng nằm dưới ánh xà nu Xà nu trở thành phần đời gắn bó tha thiết của

họ Với Nguyễn Trung Thành, xà nu như một mối duyên nợ, một loài cây ám ảnh trong tâm trí nhà văn trên chặng đường chiến đấu cầm bút và sáng tác Dưới cái nhìn của Nguyễn Trung Thành, hình tượng cây xà nu không chỉ có ý nghĩa tả thực về bức tranh thiên nhiên mà còn có ý nghĩa biểu tượng về con người Xô-man, con người Tây Nguyên bất khuất kiên cường trong kháng chiến chống Mỹ Lấy một loài cây để nói đến con

người không phải đến Nguyễn Trung Thành mới có Ta từng biết Tre Việt Nam của

Trang 15

Nguyễn Duy hay người Nga tự ví mình với cây bạch dương… Tuy vậy, hình tượng cây

xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu vẫn là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo, mang nhiều

ý nghĩa

b Ý nghĩa tả thực của hình tượng rừng xà nu

- Xà nu là một loại cây thuộc họ thông, mọc bạt ngàn ở vùng đất Tây Nguyên Cây xà nu

lực lưỡng, có sức mạnh dẻo dai Nói như Nguyễn Trung Thành, xà nu là một loài cây

hùng vĩ mà cao thượng, man dại mà trong sạch Cả cánh rừng xà nu gợi cảm giác vĩ đại

cùng sức mạnh quật khởi và khát vọng hướng về phía mặt trời

- Nguyễn Trung Thành đã gửi đến người đọc một thước phim về cảnh thiên nhiên thơ mộng Đó là vẻ đẹp lãng mạn của thiên nhiên vút lên từ trong cái chết, trong mưa bom

bão đạn của giặc Mỹ Xà nu với cành lá xum xuê, ngọn xanh rờn, nhựa ứa ra tràn trề

thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt vẫn bám trụ trong nắng, trong gió của mảnh

đất Tây Nguyên Đứng trên đồi xà nu trông ra xa hết tầm mắt cũng không thấy gì ngoài

những rừng xà nu nối tiếp đến tận chân trời Có thể nói, với đoạn văn mở đầu truyện

ngắn thật gợi hình gợi cảm đã miêu tả một thế giới xà nu căng tràn sức sống, Nguyễn Trung Thành đã góp cho văn học Việt Nam một bức tranh sơn mài về thiên nhiên, không phải là thiên nhiên lãng mạn trong bình yên mà là thiên nhiên mơ mộng trong đau thương, chết choc Từ đó nhà văn đã khắc họa vẻ đẹp hùng vĩ, nguyên sơ của núi rừng Tây Nguyên

- Vẻ đẹp rừng xà nu còn là một bức tranh thiên nhiên bi tráng Cây xà nu trong tác phẩm giống như một loài cây thần trong sử thi của người Tây Nguyên xưa với vẻ đẹp phi

thường huyền thoại Dưới tầm đại bác của kẻ thù, cả rừng xà nu không cây nào không bị

thương nhưng chúng vẫn kiêu hùng, tràn đầy sức sống, ưỡn tấm ngực lớn của mình r ache chở cho làng Đó là hiện thực đầy bi tráng về bức tranh thiên nhiên bị tàn phá trong

chiến tranh

c Ý nghĩa biểu tượng của cây xà nu

* Xà nu trở thành nhân chứng cho tội ác chiến tranh hủy diệt của MĨ Diệm và tay sai, tượng trưng cho những đau thương vô bờ mà người dân Xô-man phải chịu đựng

- Xà nu mở đầu truyện ngắn lực lưỡng và bi thương Câu văn “Làng ở trong tầm đại bác

của giặc” căng như một đường đạn Từ câu văn mở đầu này, rừng xà nu xuất hiện trong

tư thế đôi đầu với cái chết Hầu hết đạn đại bác đều rơi xuống đồi xà nu cạnh con nước lớn Đối đầu với bão táp của chiến tranh nên rừng xà nu hàng vạn cây không câu nào

không bị thương Có những cây bị đạn đại bác chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào

như một trận bão Có những cây còn non, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, đạn đại bác bắn vào không lành được, năm đến mười hôm sau thì cây chết, ở những chỗ vết thương của xà nu, nhựa dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn

Trang 16

- Hình tượng rừng xà nu với những thương tích gợi ta nhớ đến những đau thương của người dân Xô-man với bao cảnh đầu rơi máu chảy Khắp núi rừng đều in dấu vết tội ác của kẻ thù Chúng đi trong rừng như cọp beo với lưỡi lê dính máu Chúng treo cổ anh Sút lên cây vả đầu làng, chặt đầu bà Nhan, cột tóc treo bắn súng… không khí khủng bố bao trùm lên núi rừng với tiếng cười sằng sặc, giần giật của thằng Dục ác ôn Tiếng gậy sắt nện lên tấm lung nhỏ bé của mẹ con Mai, nhựa xà nu ddoangj lại thành từng cục máu lớn hay đó cũng chính là máu của người dân Xô-man đã đổ xuống Từ cánh rừng xà nu đau thương Nguyễn Trung Thành đã cho người đọc thấy những mất hi sinh, mất mát của người dân Xô-man – Tây Nguyên nói riêng và hình ảnh tang thương của đất nước, quê hương nói chung trong chiến tranh Điều này gợi nhắc đến ý thơ đầy xót thương của Nguyễn Đình Thi:

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều

* Xà nu tượng trưng cho khát vọng tự do, hướng về ánh sáng, cách mạng của người dân Xô-man

- Xà nu là loài cây ham ánh sáng mặt trời Cây xà nu với hình nhọn mũi tên lao thẳng lên

bầu trời Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp Hình ảnh này không chỉ đặc tả sức sống của xà nu mà còn đặc

tả sức mạnh trỗi dậy, vươn tới nắng trời và khao khát tự do của dân làng Xô-man Người dân Xô-man vì yêu tự do mà làm cách mạng, mặc cho kẻ thù khủng bố, nghe theo lời cụ Mết “Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn” Người Xô-man tích cực đi nuôi giấu cán bộ và hoạt động cách mạng từ ông già, bà già đến thanh niên, trẻ con… Họ không quản ngại, mất mát hi sinh, đi nuôi giấu và làm giao liên cho cán bộ cách mạng Bởi vậy, trong năm năm liền, không có cán bộ nào bị bắt hay bị giết Họ có niềm tin vào lí tưởng, vào con đường tất thắng “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”

- Cây xà nu nào cũng có dáng đứng thẳng ngay ngắn, cứng cỏi trên đất cằn sỏi đá Người Xô-man cũng vậy, họ không chấp nhận làm nô lệ, họ đứng về tự do với bản lĩnh kiên cường bất khuất Đây không chỉ là phẩm chất cao đẹp của dân làng Xô-man mà là phẩm

chất chung của con người Việt Nam Trong bài Tre Việt Nam, Nguyễn Duy từng viết:

Nòi tre đâu chịu mọc cong

Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường

*Rừng xà nu biểu tượng cho tình yêu thương, đoàn kết người dân Xôman

- Trong rừng xà nu có ba thế hệ: cây cổ thụ, cây trưởng thành và cây non Những cây cổ thụ che chở và bảo vệ cho nhwunxg cây non Rừng xà nu đan cài vào nhau tạo nên một lũy thép khiến kẻ thù và đạn đại bác không thể hủy diệt được

Ngày đăng: 11/01/2021, 18:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w