tỉnh rượu để thấy được tài năng miêu tả tâm lí nhân vật của các nhà văn – Nhân vật Chí Phèo trong buổi sáng tỉnh rượu được Nam Cao khắc họa rất thành công chuỗi diễn biến tâm lí: cảm [r]
Trang 1TỔNG HỢP ĐỀ LIÊN HỆ
VĂN LỚP 12 VÀ 11
(Có duy nhất tại QUÀ TẶNG VĂN HỌC và GIAODUCVANHOC.VN)
Hoàng Thái Bảo Ngọc – Biên tập viên Quà tặng Văn học tuyển chọn
Do tài liệu được Bảo Ngọc tuyển chọn không ghi rõ tên tác giả nên Ngọc không thể ghi nguồn cụ thể nhưng rất cảm ơn các tác giả đã biên soạn bộ tài liệu này Tài liệu này được chúng tôi share lại hoàn toàn miễn phí trên trang giaoducvanhoc.vn và Quà tặng Văn
học!
Trang 2Đề 1
Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ sau:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ,
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh,
Áo bào thay chiếu anh về đất,
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
(Trích Tây Tiến – Quang Dũng, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr 69-70)
Từ đó liên hệ với hình tượng người nghĩa sĩ Cần Giuộc trong tác
phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu (Ngữ văn 11, tập
một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017) để thấy rõ sự kế thừa và đổi mới của nội dung yêu nước trong văn học Việt Nam
Trang 3+ Bốn câu sau: Vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến trong chiến đấu và hi sinh
Về nghệ thuật
– Cảm hứng lãng mạn và bút pháp bi tráng
– Ngôn từ tinh tế, hình ảnh đặc sắc, giàu cảm xúc
– Sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật đặc sắc,…
Liên hệ với hình tượng người nghĩa sĩ Cần Giuộc trong tác phẩm “Văn tế nghĩa
sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu:
– Liên hệ với hình tượng người nghĩa sĩ Cần Giuộc:
+ Hình tượng người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc và hình tượng người lính Tây Tiến đều mang vẻ đẹp sử thi; đều được tác giả dành cho tình cảm tự hào, ngưỡng
mộ và tiếc thương vô hạn và qua đó thể hiện nội dung yêu nước sâu sắc
+ Xuất thân: Người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc xuất thân từ nông dân nghèo khổ (người lính Tây Tiến xuất thân từ tầng lớp trí thức), không được giáo dục lòng yêu nước từ những trang sách nhưng họ đã ý thức được trách nhiệm của mình đối với đất nước (khi đất nước bị ngoại xâm, triều đình bạc nhược, đầu hàng) bằng lòng yêu nước nồng nàn và lòng căm thù giặc sâu sắc, mãnh liệt + Vẻ đẹp bi tráng của người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc toát lên từ sự chân chất, mộc mạc, bộc trực của người nông dân nghèo khó ở mảnh đất Nam Bộ thế kỉ XIX (khác với vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, lãng mạn của những chàng trai Tây Tiến ở mảnh đất Hà thành trong thời đại Hồ Chí Minh ở thế kỉ XX)
– Sự kế thừa và đổi mới của nội dung yêu nước trong văn học Việt Nam:
+ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu và Tây Tiến của Quang
Dũng đều là những tác phẩm mang nội dung yêu nước sâu sắc dù ở thời đại khác nhau Qua đó, ta thấy được sự kế thừa và đổi mới của nội dung đổi mới trong văn học Việt Nam
+ Sự kế thừa nội dung yêu nước trong văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945: yêu nước là nội dung lớn, kế thừa nội dung yêu nước trong văn học
trung đại cả về cảm xúc và giọng điệu Nhiều điểm gặp gỡ giữa Tây Tiến và Văn
Trang 4tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: yêu nước là yêu quê hương đất nước, lòng căm thù giặc,
ý thức trách nhiệm đối với đất nước, quyết tâm đánh giặc, sẵn sàng xả thân vì đất nước,…; giọng điệu tự hào, xót thương, tiếc nuối,…
+ Sự đổi mới trong dung yêu nước của văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng
Tám 1945 ở Tây Tiến: Không còn tư tưởng trung quân mà là lòng tự hào dân tộc,
ý thức về một giang sơn thống nhất, toàn vẹn, thiêng liêng; tình yêu đất nước không trừu tượng, cao siêu mà hết sức cụ thể, thân thuộc: tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình, quê hương,…
+ Sự đổi mới là do quy luật phát triển của văn học
ĐỀ 2/
Ta về mình có nhớ ta,
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung
(Trích Việt Bắc – Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập một,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2016)
Từ đó liên hệ với bức tranh thiên nhiên trong Tràng giang của Huy
Cận (Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016) để nhận xét về
sự khác biệt trong cảm nhận thiên nhiên của hai tác giả
HƯỚNG DẪN
* Giới thiệu ngắn gọn về tác giả Tố Hữu, bài thơ Việt Bắc
Trang 5* Cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong Việt Bắc:
– 2 câu đầu: định hướng miêu tả bức tranh: hòa hợp vẻ đẹp của thiên nhiên và con người
– Phân tích lần lượt 4 cặp lục bát: bức tranh mùa đông, mùa xuân, mùa hạ, mùa thu
– Nhận xét: Trình tự sắp xếp 4 mùa; sự đan xen 1 câu tả thiên nhiên, 1 câu tả con người; màu sắc, hình ảnh tươi sáng của bức tranh; nghệ thuật đoạn thơ
* Liên hệ với bức tranh thiên nhiên trong Tràng giang (Huy Cận):
– Bức tranh sông nước rộng lớn, mênh mông, chia lìa, hoang vắng
– Con người xuất hiện qua những ẩn dụ về sự nhỏ bé, đơn chiếc, lạc loài, trong
sự phủ định (không tồn tại), trong nỗi nhớ quê hương
– Nhận xét về nghệ thuật: thể thơ, biện pháp tu từ,…
* Nhận xét vể sự khác biệt trong cảm nhận thiên nhiên của 2 tác giả:
– Việt Bắc: Thiên nhiên ấm áp, tràn đầy sức sống, hòa hợp với con người – Tràng giang: Thiên nhiên mênh mông, hoang vắng, chia lìa nhau và xa cách với con người
Lý giải sự khác biệt: do hoàn cảnh sáng tác, thế giới quan và phong cách nghệ thuật của 2 nhà thơ khác nhau (Sau này khi tìm được sự hòa hợp, tìm được lối thoát khỏi cái tôi cô đơn, Huy Cận cũng cảm nhận được thiên nhiên trong sự hồi
sinh, gắn bó với con người: Đất nở hoa, Trời mỗi ngày lại sáng)
ĐỀ 3/
Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa,chăn sui đắp cùng
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô
Nhớ sao lớp học i tờ
Trang 6Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo Nhớ sao tiếng mỏ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa
( Trích Việt Bắc, Tố Hữu) Cảm nhận đoạn thơ trên Từ đó, liên hệ với bài thơ Từ ấy ( Tố Hữu, Ngữ văn 11) để bình luận ngắn ý kiến sau: Ngay từ đầu, cái tôi trữ tình trong
thơ Tố Hữu đã là cái tôi chiến sĩ, càng về sau càng xác định rõ là cái tôi nhân danh Đảng, nhân danh cộng đồng dân tộc ( SGK Ngữ văn 12, Tập I, NXBGD
Việt Nam, năm 2010 tr 97)
b.Thân bài: 3.50
– Khái quát về bài thơ, đoạn thơ: 0.25 đ
+Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Miền Bắc được giải phóng Tháng 10 năm 1954, các cơ quan Trung ương Đảng và Nhà nước chuyển từ Việt Bắc(Thủ đô kháng chiến) về thủ đô Hà Nội Sự lưu luyến giữa kẻ ở và người ra đi đã khơi nguồn cảm xúc lớn cho nhà thơ sáng tác “Việt Bắc”
Trang 7+ Đoạn trích thuộc phần đầu của bài thơ
– Cảm nhận nội dung, nghệ thuật về đoạn thơ: 2.25đ
* Về nội dung:
+Nêu ý chính toàn đoạn thơ: Khẳng định tấm lòng trước sau như một, nỗi nhớ
sâu sắc trào dâng, tình cảm ân tình giữa kẻ đi với người ở Cảnh sắc thiên nhiên, cuộc sống sinh hoạt, kỉ niệm kháng chiến lần lượt hiện ra sâu sắc, chân thực +Hai dòng đầu:
++Từ “đây-đó” chỉ vị trí liền kề
++Cụm từ “đắng cay ngọt bùi” là ẩn dụ, chỉ những gian khổ và niềm vui
Hai câu thơ diễn tả sự gắn bó mật thiết giữa người Việt Bắc với người Cách Mạng, cùng chịu gian khổ, chia sẻ niềm vui
+Hai câu tiếp:
++Hình ảnh “củ sắn lùi, bát cơm, chăn sui” đi với những từ ngữ “chia, sẻ, cùng” cho thấy sự thiếu thốn, khổ cực của cuộc sống kháng chiến, đắng cay cùng hưởng, ngọt bùi cùng chia
++Tượng trưng cho một mối tình đậm đà giai cấp
Hai câu thơ chứa đựng bao tình nghĩa sâu đậm Tất cả những khoảnh khắc ấy sáng mãi trong lòng người ra đi, tâm trí người ở lại, ghi dấu ấn không thể xóa nhòa
+Hai câu thơ tiếp theo:
++“Người mẹ nắng cháy lưng”, “địu con” gợi liên tưởng đến sự tần tảo chắt chiu, cần cù lao động của người mẹ chiến sĩ trong kháng chiến
++Là hình ảnh tiêu biểu cho cái đẹp, ân tình trong cuộc sống kháng chiến
+Bốn câu cuối: nhớ về Việt Bắc là nhớ về cuộc sống sinh hoạt kháng chiến một thời không thể nào quên:
++Nhớ “lớp học i tờ” xóa mù chữ: Cách mạng đem đến cho nhân dân không chỉ
tự do mà còn đem đến ánh sáng của tri thức;
++Nhớ nhịp sống những “ngày tháng cơ quan”, ”gian nan vẫn ca vang núi đèo” gợi tinh thần lạc quan yêu đời của cán bộ chiến sĩ bất chấp khó khăn;
Trang 8++Nhớ những thanh âm đặc trưng của miền núi: tiếng mõ rừng chiều, tiếng chày đêm nên cối, tiếng suối xa,….Đó là những hồi ức về cuộc sống bình dị ấm áp mà vui tươi nơi núi rừng Việt Bắc
++Điệp cấu trúc “Nhớ sao” 3 lần cùng phép đối lập và cảm hứng lãng mạn Nỗi nhớ Việt Bắc là nỗi nhớ dạt dào và trùng điệp vang mãi trong tấm lòng mỗi con người kháng chiến
* Về nghệ thuật:
+Bức tranh Việt Bắc hiện lên qua nỗi nhớ của chủ thể trữ tình, trong hoài niệm
có ba mảng thống nhất và hòa nhập vào nhau: nỗi nhớ thiến nhiên, núi rừng Việt Bắc, cuộc sống ở Việt Bắc
+Giọng thơ tâm tình, ngọt ngào, tha thiết
+Điệp từ “nhớ”, điệp ngữ: nhớ sao….nhớ người… trùng điệp, cùng cách ngắt nhịp của câu thơ tạo nên nét nhạc thơ thật đằm thắm
+Hình ảnh chân thực, bình dị, giàu sức gợi cảm
c Liên hệ với bài thơ Từ ấy để bình luận ngắn ý kiến sau: Ngay từ đầu, cái
tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu đã là cái tôi chiến sĩ, càng về sau càng xác định
rõ là cái tôi nhân danh Đảng, nhân danh cộng đồng dân tộc ( 1.0đ)
– Giải thích: cái tôi trữ tình: là sự bày tỏ cảm xúc riêng của nhà thơ trước các vấn
đề của xã hội, trước sự phát triển của lịch sử dân tộc;
Tố Hữu quả đúng là nhà thơ của lí tưởng cộng sản vì đời sống cách mạng luôn chi phối toàn diện và sâu sắc sự nghiệp sáng tác thơ của ông
– Phân tích, chứng minh, bình luận:
Qúa trình sáng tác của Tố Hữu song hành với hành trình cách mạng: các chặng đường thơ tương ứng với các giai đoạn cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng
+ Bài thơ“Từ ấy”:
++“Từ ấy” trích trong tập thơ cùng tên, là tập thơ đầu tay của Tố Hữu – có vị trí đặc biệt trên con đường thơ của ông
++Bài thơ chứa đựng một cá tính mạnh mẽ, một khí chất say sưa, một quan niệm
cá nhân cởi mở giữa những người đồng chí đã làm cho cái tôi nhà thơ được bộc
Trang 9lộ tự do, không hề bị trói buộc bởi bất kỳ công thức, chuẩn mực nào, tạo nên những vẫn thơ đẹp, xúc động, đầy men say, bay bổng bậc nhất trang thơ ca cách mạng Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX
++Bài thơ còn thể hiện niềm vui, niềm hạnh phúc của chàng thanh niên giác ngộ
lý tưởng cách mạng
++Qua “Từ ấy”, Tố Hữu đã thể hiện một cái tôi cá nhân cảm tính, ở phương diện tích cực, mạnh mẽ một mặt mà thơ mới lãng mạn chưa hề biết đến
+ Đoạn trích Viết Bắc nói riêng, bài thơ nói chung:
++ Cái tôi đã hoà chung với cái Ta của cộng đồng, dân tộc Mình là ta – Ta là mình – Ta với mình như hoà quyện vào nhau, đan xen nhau Tố Hữu đã đặt mình vào vị trí của những con người kháng chiến, nói về mình về người để bày tỏ những ân tình, lòng biết ơn sâu sắc đối với những ân tình
++Qua “Việt Bắc” nói chung và đoạn trích nói riêng, cái tôi trữ tình của Tố Hữu trong chặng đường thơ này là cái tôi nhập vai nhằm làm nổi bật, tôn vinh lên hình tượng những con người kháng chiến, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình, niềm cảm phục trước sự hy sinh cao cả của người dân kháng chiến
+ Khắng định tính đúng đắn của nhận định “Ngay từ đầu, cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu đã là cái tôi chiến sĩ, càng về sau càng xác định rõ là cái tôi nhân danh Đảng, nhân danh cộng đồng dân tộc”
c.Kết bài: 0.25
Kết luận về nội dung, nghệ thuật đoạn thơ Cảm nghĩ của bản thân về cái tôi
trong thơ Tố Hữu qua 2 bài thơ
ĐỀ 4/
Phân tích tấn bi kịch của Hồn Trương Ba trong đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt – Lưu Quang Vũ, từ đó liên hệ với bi kịch của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao để từ đó bình luận quan niệm nghệ thuật về con người mà hai nhà văn gửi gắm qua tác phẩm
Trang 10HƯỚNG DẪN
Mở bài:
– Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm;
– Giới thiệu bi kịch của nhân vật hồn Trương Ba của vở kịch
VD: Lưu Quang Vũ là một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch Việt Nam những năm tám mươi của thế kỷ XX Ông được coi là nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt nam hiện đại Tác phẩm của ông toát lên một ý vị triết lí và nhân sinh về đời người, kiếp người Ông có nhiều tác phẩm kịch gây chấn động dư luận, trong đó có vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” Trong đoạn trích ( cảnh 7) của vở kịch, tác giả đã diễn tả sâu sắc bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba, qua đó gửi gắm nhiều suy tư của tác giả
Thân bài:
Khái quát về tác phẩm :Giới thiệu hoàn cảnh ra đời tác phẩm, xuất xứ tác phẩm,
tóm tắt cốt truyện
– “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ,
được sáng tác từ năm 1981, nhưng ba năm sau (1984) mới được ra mắt khán giả
Từ cốt truyện dân gian, Lưu Quang Vũ đã xây dựng lại thành một vở kịch nói hiện đại và lồng vào đó nhiều triết lí nhân văn về cuộc đời và con người
– Trong tác phẩm, Trương Ba là một ông lão gần sáu mươi, thích trồng vườn, yêu cái đẹp, tâm hồn thanh nhã, giỏi đánh cờ Chỉ vì sự tắc trách của Nam Tào gạch nhầm tên mà Trương Ba chết oan Theo lời khuyên của “tiên cờ” Đế Thích, Nam Tào, Bắc Đẩu “sửa sai” bằng cách cho hồn Trương Ba được tiếp tục sống trong thân xác của anh hàng thịt mới chết gần nhà Nhưng điều đó lại đưa Trương Ba
và một nghịch cảnh khi linh hồn mình phải trú nhờ vào người khác Do phải sống tạm bợ, lệ thuộc, Trương Ba dần bị xác hàng thịt làm mất đi bản chất trong sạch, ngay thẳng của mình Ý thức được điều đó, Trương Ba dằn vặt, đau khổ và quyết định chống lại bằng cách tách ra khỏi xác thịt Qua các cuộc đối thoại của Trương
Ba, tác giả dần tạo nên một mạch truyện dẫn dắt người xem hiểu sâu hơn về Trương Ba
Trang 11– Đoạn trích là phần lớn cảnh VII Đây cũng là đoạn kết của vở kịch, đúng vào lúc xung đột trung tâm của vở kịch lên đến đỉnh điểm Sau mấy tháng sống trong tình trạng “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”, nhân vật Hồn Trương Ba ngày càng trở nên xa lạ với bạn bè, người thân trong gia đình và tự chán ghét chính mình, muốn thoát ra khỏi nghịch cảnh trớ trêu
Giải thích: Bi kịch là gì? là trạng thái đau khổ về tinh thần khi con người đứng
trước những mâu thuẫn không thể hóa giải, khi mong muốn khát vọng và thực tiễn hoàn toàn trái ngược… Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, nhân vật Trương Ba là người mang tấn bi kịch đó
Phân tích tấn bi kịch của nhân vật hồn Trương Ba :
Trương Ba có số phận bi kịch đáng thương:
– Chịu cái chết oan uổng do sự tắc trách của quan trời: Trương Ba vốn là người làm vườn hiền lành, khỏe mạnh, chăm chỉ, yêu thương vợ con, sống có tâm hồn trong sạch Nhưng do Nam Tào vội đi dự tiệc nên đã bắt chết nhầm
– Không được là chính mình: Sự sửa sai của Nam Tào, Bắc Đẩu theo lời khuyên của Đế Thích nhằm trả lại công bằng cho Trương Ba lại đẩy Trương Ba vào một nghịch cảnh vô lí hơn: phải trú nhờ linh hồn minh trong thân xác của người khác,
bi kịch hồn này, xác nọ Con người vốn là một tổng thể thống nhất, vậy mà Trương Ba lại không được sống là mình trọn vẹn
1 Bi kịch bị tha hóa về nhân cách:
– Trước kia: Trương Ba là người làm vườn chăm chỉ, khéo léo (qua lời của cái Gái, chị con dâu), luôn quan tâm tới vợ con, chăm sóc yêu chiều các cháu, hòa thuận, tốt bụng với xóm làng Bởi vậy, trong mắt người thân, ông là người mẫu mực được yêu quý, kính trọng
– Bây giờ: Từ khi sống trong thể xác anh hàng thịt thô lỗ, phàm phu Xác thịt âm
u, đui mù nhưng vẫn có tiếng nói riêng, sức mạnh riêng Lin hồnnhân hậu, trong sạch, ngay thẳng của Trương Ba vì phải sống mượn, gá lắp, tạm bợ, lệ thuộc nên chẳng những đã không sai khiến được xác thitjmaf trái lại còn bị cái xác ấy nó
Trang 12điều khiển Đáng sợ hơn, hồn Trương Ba dần dần bị nhiễm độc bởi cái tầm thường của xác thịt anh đồ tể
– Trương Ba cảm nhận được sự thay đổi của chính mình dù không muốn thừa nhận: “Không! Ta vẫn có một đời sống riêng, nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn…” Ông cố bấu víu vào các trò chơi tâm hồn đổ lỗi cho xác: “ Đấy là mày đấy chứ, chân tay mày, hơi thở mày.” Nhưng rồi Trương Ba cũng không thể phủ nhận được một sự thật đau đớn là ông đang dần đánh mất mình: “Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không phải của ta ạ, mày đã tìm được đủ mọi cách để lấn
át ta.”
Bi kịch bị người thân xa lánh, hắt hủi
– Người vợ mà ông rất mực yêu thương giờ đây buồn bã và cứ nhất quyết đòi bỏ
đi Cái Gái không thừa nhận ông, xua đuổi quyết liệt: “Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!” Chị con dâu là người sâu sắc, chín chắn, sấu sắc, hiểu điều hơn lẽ thiệt nhưng nỗi buồn đau trước tình cảnh gia đình “như sắp tan hoang ra cả” khiến chị cũng không đừng nói lên sự thật đau đớn : “Thầy bảo con cái bên ngoài là không đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau đớn thấy…mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nỗi có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa…”
– Tâm trạng của Trương Ba vô cùng đau khổ và tuyệt vọng vì bị gia đình- nơi cuối cùng có thể tìm thấy sự yêu thương và cảm thông- từ chối
1 Bi kịch bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo:
– Bên trong: Thẳm sâu trong tâm hồn Trương Ba luôn có những nhu cầu tinh thần thanh cao, muốn giữ gìn danh dự, muốn sống có đạo đức và trách nhiệm, sống thanh thản trong những nguồn vui giản dị Trong xác anh hàng thịt, Trương Ba vẫn ngày ngày chăm sóc cây, yêu thương con cháu, luôn muốn là bản thân mình trọn vẹn
– Bên ngoài: Tuy nhiên, do bị trói buộc bởi một xác hàng thịt, nên hồn Trương
Ba giờ đây là gắn với nhu cầu của thể xác phàm tục như thèm ăn thịt, muốn thỏa
Trang 13mãn những dục vọng tầm thường, Trương Ba trở thành một người vụng về, thô
lỗ bị mọi người xa lánh
– Mối quan hệ: Cuộc đối thoại giữa Hồn Trương Ba và xác hàng thịt là cuộc đấu tranh giữa thể xác và linh hồn cùng tồn tại trong một con người Thể xác và linh hồn có quan hệ hữu cơ với nhau, cả hai gắn bó với nhau để cùng sống, cùng tồn tại Thể xác có tính chất độc lập tương đối của nó, có tiếng nói của nó, có khả năng tác dộng vào linh hồn, vì nó là nơi trú ngụ của linh hồn Khi thể xác tiêu tan thì linh hồn cũng mất Khi linh hồn bay đi thì thể xác cũng trở về với cát bụi Nhờ
có linh hồn đấu tranh, chi phối với những ham muốn, những dục vọng tầm thường của thể xác mà nhân cách được hoàn thiện, tâm hồn được trong sáng Bởi vậy, sự khác biệt giữa linh hồn và thể xác sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường Trong những cuộc đối thoại Trương Ba không chỉ phải đấu tránh với thể xác hàng thịt
âm u, đui mù mà còn phải đấu tranh với quan Trời: Đế Thích Cuối cùng, Trương
Ba đã phải tìm đến cái chết, mắc dù lòng khát khao được sống rất mãnh liệt Những dằn vặt đau đớn của Trương Ba và cuối cùng quyết định chọn lấy cái chết
để giữ gìn những giá trị tốt đẹp của Hồn Trương Ba khiến người đọc không khỏi xót xa, thương cảm
Liên hệ: Bi kịch của Chí Phèo để làm rõ quan niệm nghệ thuật về con người
mà hai nhà văn gửi gắm qua tác phẩm
Bi kịch của Chí Phèo:
* Bi kịch bị lưu manh hóa: (Bi kịch bị tha hóa về nhân hình lẫn nhân tính):
– Nhà tù thực dân có một sự tàn phá ghê gớm đối với con người, biến một anh nông dân lương thiện thành một con quỹ dữ Chí Phèo ra tù với bộ dạng hoàn toàn mới “cái đầu thì trọc lóc, cái mặt thì đen lại rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm…”
– Về nhân tính: Ra tù hôm trước hôm sau hắn đã ra chợ uống rượu và ăn thịt chó, hắn xách chai đến nhà Bá Kiến rạch mặt, ăn vạ Bị lão gian hùng dụ dỗ, hắn trở thành tay sai đắc lực chuyên đòi nợ cho nhà Bá Kiến Chí Phèo triền miên trong những cơn say và làm tất cả những việc người ta sai hắn làm Hắn đã làm đổ máu
Trang 14và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện, phá nát bao nhiêu cảnh yên vui, làm tan vỡ bao hạnh phúc Hắn trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại
* Bi kịch bị từ chối quyền làm người: Mơ ước được hoàn lương và bi kịch từ
chối quyền làm người Thị Nở và bát cháo hành là tình cảm nhân đạo mà Nam Cao đã dành cho nhân vật của mình
– Sau đêm gặp gỡ với Thị Nở, tình yêu thương chân thành mà giản dị của Thị Nở
đã giúp Chí tỉnh giấc sau những năm tháng say triền miên Lần đầu Chí Phèo được lo lắng, chăm sóc thật sự Hắn cảm thấy mình có thể hòa hợp với mọi người
và khao khát được làm người lương thiện Hắn mong Thị Nở sẽ mở đường cho hắn
– Bị Thị Nở từ chối, Chí Phèo vô cùng đau đớn đến nhà Bá Kiến đòi lương thiện, đâm chết Bá Kiến rồi tự vẫn Chí Phèo phải chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống Nỗi đau đớn tận cùng của con người không phải là chết mà là sống không
có quyền làm một con người Chính vì thế có thể khẳng định đây chính là bi kịch lớn nhất của Chí Phèo
– Trương Ba nhận ra bi kịch của mình, còn Chí thì không, Chí không biết đã gây
ra bao tội ác cho dân làng
* Quan niệm nghệ thuật về con người mà hai nhà văn gửi gắm qua tác phẩm
Trang 15Con người dù sống trong hoàn cảnh bi đát thế nào cũng luôn đấu tranh để loại trừ cái xấu, để gìn giữ nhân cách cao đẹp: Trương Ba quyết định chết và trả lại xác cho anh Hàng Thịt để mình luôn được sống trong lòng của những người thân yêu với những ấn tượng tốt đẹp; Chí Phèo chết để được là Người chứ nhất quyết không sống kiếp quỷ dữ nữa Đó là niềm tin bất diệt của 2 nhà văn vào con người
Kết bài
– Số phận bi kịch của con người trong xã hội phong kiến- Giá trị tố cáo
– Con người luôn cố gắng vượt lên, giữ phẩm giá, hoàn thiện nhân cách – Giá trị nhân văn cao đẹp
ĐỀ 5/
Phân tích hình tượng nhân vật Tràng (Vợ nhặt – Kim Lân) trong buổi sáng ngày hôm sau Từ đó, anh/chị hãy liên hệ với hình tượng Chí Phèo (Chí
Phèo – Nam Cao) trong buổi sáng tỉnh rượu để thấy được tài năng miêu tả
tâm lí nhân vật của các nhà văn
HƯỚNG DẪN
Trên cơ sở hiểu biết về tác giả Kim Lân và tác phẩm Vợ nhặt, thí sinh có
thể cảm nhận về hình tượng nhân vật Tràng trong buổi sáng ngày hôm sau theo nhiều cách nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục Dưới đây là một số gợi ý:
* Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, đoạn trích
– Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn về cuộc sống nông thôn và người nông dân
– Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân
– Một trong các nhân vật chính của truyện ngắn là anh cu Tràng Truyện khắc hoạ đậm nét diễn biến tâm trạng của nhân vật Tràng, đặc biệt trong buổi sáng ngày hôm sau
* Sơ lược về tình huống truyện và diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng trong buổi chiều hôm trước