1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động tại viện hàn lâm khoa học xã hội việt nam

95 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng như các đơn vị công lập khác, với đặc thù là cơ quan nghiên cứu khoa học nên việc tham gia chính sách BHXH Viện Hànlâm đóng vai trò là đơn vị thực hiện chính sách BHXH bắt buộc, tuy

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HUYỀN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HUYỀN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Ngành: CHÍNH SÁCH CÔNG

Mã số: 834 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN BÙI NAM

HÀ NỘI, 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn Thạc sĩ: “Thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam” là

công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi cùng với sự hướng dẫncủa TS Nguyễn Bùi Nam Tôi xin cam kết các số liệu, kết quả nghiên cứu củacông trình này là hoàn toàn trung thực, không trùng lặp với các đề tài khác

Hà Nội,ngày tháng 8 năm 2020

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO

HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG 10 1.1 Khái quát về bảo hiểm xã hội 10

1.3 Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao

động ở Việt Nam 18

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM 37 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 37 2.2 Thực trạng triển khai thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội bắt buộc đối

2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc cho

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM 61 3.1 Quan điểm thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động tại Viện Hàn lâm 65 3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

4 TNLĐ - BNN Tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động 26Bảng 1.2 Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người sử dụng lao động 27Bảng 2.1 Kết quả khảo sát thực trạng các đối tượng có liên quan thực hiện

chính sách BHXH bắt buộc tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam 40Bảng 2.2 Kết quả khảo sát về đảm bảo các yêu cầu thực hiện chính sách

BHXH bắt buộc tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam 42Bảng 2.3 Kết quả khảo sát về công tác xây dựng kế hoạch triển khai thực

hiện chính sách BHXH bắt buộc tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam44Bảng 2.4 Kết quả khảo sát về công tác phổ biến, tuyên truyền thực hiện

chính sách BHXH bắt buộc tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam 46Bảng 2.5 Kết quả khảo sát về công tác phân công, phối hợp thực hiện

chính sách BHXH bắt buộc tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam 48Bảng 2.6 Kết quả khảo sát về công tác duy trì thực hiện chính sách

BHXH bắt buộc tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam 49Bảng 2.7 Kết quả khảo sát về công tác điều chỉnh thực hiện chính sách

BHXH bắt buộc tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam 51Bảng 2.8 Kết quả khảo sát về công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện

chính sách BHXH bắt buộc tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam 52Bảng 2.9 Kết quả khảo sát về đánh giá tổng kết thực hiện chính sách

BHXH bắt buộc tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam 53

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn ba mươi năm tiến hành đổi mới, từ một nước nông nghiệp là chủyếu, Việt Nam đang chuyển dần thành một nước công nghiệp theo xu hướnghiện đại Cùng với quá trình hội nhập và phát triển của đất nước, lực lượng laođộng ngày càng lớn mạnh và có nhiều đóng góp to lớn trong quá trình pháttriển kinh tế - xã hội của nước nhà An sinh xã hội được bảo đảm, là điều kiệntiên quyết thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước và hội nhập quốc tế sâu, rộng

Cũng như các quốc gia trên thế giới, tại Việt Nam, bảo hiểm xã hội đượccoi là trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội Bảo hiểm xã hội có vai trò quantrọng đối với người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước Khi đánhgiá tốc độ phát triển của một quốc gia, một trong các tiêu chí đó chính thống

an sinh xã hội mà trong đó bảo hiểm xã hội giữ vai trò nòng cốt Nhận thứcđược vai trò của bảo hiểm xã hội, Đảng Nhà nước ta đã rất chú trọng việcthiết lập hành lang pháp lý điều chỉnh về bảo hiểm xã hội Đặc biệt là bảohiểm xã hội bắt buộc trong giai đoạn hiện nay Nhà nước đã ban hành Bộ luậtLao động và Luật bảo hiểm xã hội cũng như các văn bản pháp lý hướng dẫnthi hành Bộ luật Lao động về bảo hiểm xã hội và Luật bảo hiểm xã hội Vaitrò quan trọng, tính chất trụ cột của chính sách BHXH, BHYT, BHTN trong

hệ thống An sinh xã hội ngày càng được khẳng định, nhất là trong thời kỳ đấtnước đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, hội nhập, phát triển Thực tế nàyđòi hỏi quá trình xây dựng chính sách, pháp luật cũng như tổ chức thực hiệnBHXH, BHYT phải đáp ứng các mục tiêu phát triển mới với những yêu cầucao hơn theo định hướng của Đảng, Nhà nước, thể hiện rõ qua Nghị quyết 28-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 về cải cách chính sách BHXH

Xác định đúng vị trí và vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội trongcông cuộc đổi mới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam luôn chú trọng

Trang 8

đến công tác đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với công chức, viên chức vàngười lao động đang làm việc tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Hiệnnay, Nhà nước ta đã có khung pháp lý cao nhất để điều chỉnh các quan hệ tronghoạt động bảo hiểm xã hội bắt buộc, tạo cơ sở mới cho việc mở rộng mạng lưới

an sinh xã hội, ngày một đáp ứng nhu cầu của người lao động nói riêng và củatoàn dân nói chung Tuy nhiên, chính sách về bảo hiểm xã hội bắt buộc vẫn cònnhững hạn chế, bất cập Nghị quyết 28-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấphành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách BHXH cũng đã đưa ra nhậnđịnh: “Hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH chưa theo kịp tình hình pháttriển kinh tế - xã hội, chưa thích ứng với quá trình già hóa dân số và sự xuất hiệncác quan hệ lao động mới” Nhiều quy định chưa được hướng dẫn cụ thể, vẫncòn khoảng cách giữa văn bản pháp luật và thực tiễn thực hiện Còn nhiều vướngmắc, khó khăn cho các đơn vị sử dụng lao động và người lao động trong quátrình tham gia bảo hiểm xã hội Cũng như các đơn vị công lập khác, với đặc thù

là cơ quan nghiên cứu khoa học nên việc tham gia chính sách BHXH Viện Hànlâm đóng vai trò là đơn vị thực hiện chính sách BHXH bắt buộc, tuy Viện Hànlâm Khoa học xã hội Việt Nam luôn thực hiện nghiêm túc các chế độ chính sách

về bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động, nhưng vẫn còn gặp nhiều khókhăn, vướng mắc trong quá trình tham gia và giải quyết chế độ BHXH cho ngườilao động của Viện Hàn lâm

Đứng trước các vấn đề trên, tôi đã chọn đề tài luận văn: “Thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.” nhằm hiểu rõ hơn về việc thực hiện chính sách bảo hiểm

xã hội tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, qua đó đóng góp một vài ýkiến, giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác thực hiện chính sách bảo hiểm

xã hội bắt buộc tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chính sách BHXH luôn là một trong những chính sách quan trọng trong

hệ thống chính sách xã hội nói chung và là chính sách cốt lõi của hệ thốngchính sách an sinh xã hội của bất kỳ quốc gia nào, hệ thống xã hội nào Để cóđược các mô hình BHXH đa dạng và phong phú như ngày nay, các nhà lýluận, các nhà quản lý trên thế giới đã tốn khá nhiều công sức và thời gian đểnghiên cứu và tổng kết thực tiễn như:

Cohn Gillion, John Turner, Clive Bailey, Denis Latulippe (2000), chế độ Hưu trí trong chính sách an sinh xã hội - cải cách và phát triển đã đưa ra các

kết quả nghiên cứu giúp các nhà phân tích chính sách và người ra quyết địnhtại các quốc gia có thể tham khảo trong việc đưa ra các chính sách về chế độhưu trí [42]

International Labour Office, Social Security Department (2009), An sinh

xã hội cho mọi người, bài viết đã đưa ra các khám phá và phân tích các vấn đề

của chính sách dựa trên việc tiếp cận chính sách An sinh xã hội theo tiêuchuẩn quốc tế của Tổ chức ILO [43]

International Labour Organization (ILO) (2014), Bảo hiểm xã hội - Trụ cột của chính sách An sinh xã hội đã nêu rõ một số vấn đề thực hiện chính

sách BHXH ở Việt Nam từ giai đoạn 2009-2014 [44]

Tổ chức UNICEF (2012), Bảo hiểm y tế quốc gia ở Châu Á và Châu Phi

đã đưa ra nhận định: “Bảo hiểm y tế là một yếu tố quan trọng của hệ thốngBảo vệ Sức khỏe Xã hội và có thể đóng vai trò vai trò quan trọng trong việcđạt được bảo hiểm y tế toàn cầu (UHC) ” [45]

Thomas Gabe, Julie M Whittaker (2000), Lợi ích khi tham gia Bảo hiểm thất nghiệp, báo cáo đã nhấn mạnh các lợi ích khi tham gia Bảo hiểm thất nghiệp, những người lao động thất nghiệp được đảm bảo cuộc sống trước tình

hình biến động về kinh tế trong khoảng thời gian tìm kiếm việc làm mới [46]

Trang 10

Trong quá trình hoàn thiện chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, để phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn, đã cómột số công trình nghiên cứu như:

Vương Đình Huệ (2018), Cải cách chính sách BHXH góp phần bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội để phát triển bền vững đất nước, Báo Hà Nội Mới, ngày 08/5/2018, bài viết đã nêu lên những

thành tựu quan trọng trong thực hiện chính sách BHXH ở Việt Nam Bài viếtcũng làm rõ các mặt hạn chế, yếu kém trong việc tổ chức, thực hiện chínhsách BHXH; nguyên nhân của các mặt hạn chế, yếu kém đó; đồng thời đưa racác quan điểm, mục tiêu, đặt ra những vấn đề lớn cần phải cải cách về chínhsách BHXH, điều chỉnh nhiều nội dung để khắc phục những hạn chế, yếukém, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phù hợp với xu hướng phát triển và bối cảnhmới và các giải pháp để đạt được các mục tiêu nêu trên [20]

Nguyễn Văn Thành (2018), Một số vấn đề đặt ra đối với công tác BHXH hiện nay, Tạp chí Cộng sản tháng 12/2018, bài viết đã đề cập đến tình

hình công tác BHXH qua phân tích một số vấn đề trên tất cả các mặt của côngtác BHXH ở Việt Nam hiện nay [24]

Dương Văn Thắng (2014), Đổi mới và phát triển Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, cuốn sách đã khái quát lịch sử

hình thành và phát triển của Bảo hiểm xã hội Việt Nam từ những năm trướccách mạng tháng 8 cho tới nay Cuốn sách đã nêu chi tiết các văn bản phápluật đầu tiên quy định về Bảo hiểm xã hội cho người lao động, điều này chothấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến các cán bộ, công chức, viênchức và người lao động làm trong các đơn vị công lập và dần mở rộng đếnmục tiêu Bảo hiểm xã hội toàn dân Cuốn sách cũng nêu rõ việc đổi mới vàphát triển Bảo hiểm xã hội Việt Nam căn bản dựa trên nhu cầu của các nhómđối tượng trong toàn xã hội [25]

Trang 11

Vũ Đức Thuật (2017), Nghiên cứu các giải pháp tiếp tục cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động nghiệp vụ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y

tế, Bảo hiểm thất nghiệp của Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội, Đề tài nghiên

cứu khoa học, Bảo hiểm xã hội TP Hà Nội đã nêu lên được thực trạng cải cáchthủ tục hành chính thuộc 05 lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN; tổ chức bộ phận

“Một cửa”; ứng dụng công nghệ thông tin, giao dịch hồ sơ điện tử [26]

Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2013), Phát triển Hệ thống An sinh

xã hội ở Việt Nam đến năm 2020, cuốn sách đã đưa ra kết quả đạt được, những tồn tại của chính sách an sinh xã hội hiện hành và các định hướng

chính sách cho giai đoạn từ nay đến năm 2020 [41, Tr.48]

Nghị định số 115/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc và Nghị định số 44/2017/NĐ-CP quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ BH TNLĐ-BNN đã đưa ra các hướng

dẫn cụ thể trong thực hiện chế độ chính sách BHXH bắt buộc theo LuậtBHXH số 58/2014/QH13 [11,12]

Tổ chức Ngân hàng Thế giới (2012), Việt Nam: Phát triển một hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại - Những thách thức hiện tại và các phương án lựa chọn cho cải cách trong tương lai, Báo cáo nghiên cứu đã nêu lên được sự

cần thiết phải đổi mới để mở rộng độ bao phủ, khuyến khích bình đẳng, tăngcường tính bền vững về tài chính, và hiện đại hóa công tác quản lý bảo hiểm

xã hội để đảm bảo an sinh thu nhập cho lượng dân số già của Việt Nam trongnhững thập kỷ tới đây Việc cải cách chính sách cần gắn kết với nỗ lực tăngcường năng lực cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và hệ thốngquản lý nhà nước [36]

Tác giả Nguyễn Thị Hương (2019), Quản lý thu BHXH bắt buộc đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội, Luận văn

Thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam, trên cơ sở đánh giá thực trạngcông tác quản lý thu BHXH bắt buộc đối với các doanh nghiệp trên địa

Trang 12

bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, chỉ ra những kết quả đạt được,những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại, hạn chế; đề xuất giải pháphoàn thiện công tác quản lý thu BHXH bắt buộc đối với các doanh nghiệptrên địa bàn huyện Thanh trì trong thời gian tới [21].

Tác giả Lê Thị Kim Dung (2019), Thực hiện chính sách Bảo hiểm ý tế đối với người cao tuổi qua nghiên cứu trường hợp phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội

Việt Nam, đề tài tìm hiểu thực trạng và phân tích tình hình thực hiện chínhsách BHYT đối với người cao tuổi tại phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm,thành phố Hà Nội, qua đó đề xuất giải pháp cho việc thực hiện chính sáchBHYT đối với người cao tuổi ở địa bàn nghiên cứu [16]

Tác giả Nguyễn Thị Phước (2019), Thực hiện chính sách An sinh xã hội trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ, Học

viện Khoa học xã hội Việt Nam, đề tài làm rõ những vấn đề thực tiễn về thựchiện chính sách an sinh xã hội ở quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; đồngthời vận dụng vào thực tiễn để tìm kiếm các giải pháp nhằm thực hiện có hiệuquả chính sách an sinh xã hội trên địa bàn quận Thanh Khê trong thời gian tới[28]

Đào Việt Ánh (2019), Nghiên cứu xây dựng, thành lập và triển khai mô hình tổ chức hỗ trợ, tư vấn, giải đáp chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y

tế, bảo hiểm thất nghiệp của ngành Bảo hiểm xã hội, Đề án, Vụ Tổ chức –

Cán bộ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đề án nhằm nâng cao nhận thức của ngườidân và người lao động về chính sách pháp luật BHXH, BHYT(nhất là nhữngvấn đề về quyền lợi) ngày càng cao; đồng thời đánh giá thực trạng hoạt độngchăm sóc khách hàng tham gia BHXH, BHYT, BHTN của Hệ thống chăm sóckhách hàng hiện nay của ngành BHXH; đề xuất thành lập Phòng hỗ trợ, tưvấn, giải đáp và quản lý Hệ thống chăm sóc khách hàng; xây dựng chức năng,nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức; các quy chế, quy trình hoạt động của Phòng; xâydựng lộ trình nâng cấp bộ máy hỗ trợ, tư vấn, giải đáp chính sách BHXH,BHYT, BHTN của ngành BHXH giai đoạn 2020 - 2025 [3]

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích, đánh giá việc thực hiệnchính sách BHXH bảo hiểm xã hội bắt buộc Qua đó đề xuất một số giải phápnâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách BHXH bắt buộc cho người laođộng tại Viện Hàn lâm trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thểsau đây:

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động tại Viện Hàn lâm

- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách BHXH bắt buộc đối với ngườilao động tại Viện Hàn lâm từ giai đoạn năm 2015 - 2019, những kết quả đã đạtđược, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tổn tại, hạn chế đó

- Đưa ra các giải pháp và đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực thực hiện chính sách về bảo hiểm xã bắt buộc tại Viện Hàn lâm trong thời gian tới.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động thực hiện chính sách BHXH bắt buộc đối với người lao động tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: Nghiên cứu tình hình thực hiện BHXH bắt buộc từ chính sách BHXH qua thực tiễn tại Viện Hàn lâm

- Về thời gian: Nghiên cứu giai đoạn từ năm 2015 - 2019

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở của phương pháp luận là phép biện chứng duy vật; các quan điểm, đường lối của Đảng, các văn bản pháp luật của

Trang 14

Nhà nước về BHXH bắt buộc, các văn bản hướng dẫn của các Bộ, Ban,Ngành có liên quan và quan điểm của Tổ chức Lao Động Quốc tế (ILO) vềbảo hiểm xã hội bắt buộc qua một số Công ước quốc tế mà Việt Nam đã thamgia ký kết.

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai luận văn, tác giả đã sử dụng đồng bộ một số các phươngpháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

Phương pháp thu thập thông tin: phân tích và khai thác thông tin từ các

nguồn tư liệu, đặc biệt là các tư liệu về chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc;các văn bản quy phạm pháp luật; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tàiliệu đã được công bố; các tài liệu của cơ quan có liên quan,…

Bên cạnh đó, đề tài sử dụng phương pháp khảo sát, điều tra với mục đíchthu thập thông tin từ các đối tượng có liên quan thực hiện chính sách BHXHbắt buộc tại Viện Hàn lâm Cụ thể, đề tài đã khảo sát bằng bảng hòi 100trường hợp, bao gồm: Viện Xã hội học (10 phiếu); Viện NC Ấn Độ & TâyNam Á (10 phiếu); Ban Tổ chức - Cán bộ (10 phiếu); Ban Kế hoạch - Tàichính (5 phiếu), Văn phòng Viện Hàn lâm (10 phiếu); Văn phòng Đảng -Đoàn thể (05 phiếu); Viện Thông tin Khoa học xã hội (5 phiếu); Viện NCĐông Bắc Á (10 phiếu); Trung tâm Ứng dụng CNTT (5 phiếu); Viện Địa lýnhân văn (10 phiếu); Viện Tâm lý học (10 phiếu); Viện Dân tộc học (10phiếu) Số phiếu hợp lệ thu về 90 phiếu, mẫu phiếu khảo sát được trình bày tạiPhụ lục của luận văn Các kết quả khảo sát được đề tài thu thập, thống kê,đánh giá, phân tích tại chương 2 của luận văn

Phương pháp phân tích và tổng hợp: các quan điểm khác nhau về nhận

thức khoa học xung quanh các khái niệm, các quy phạm pháp luật có liênquan đến chính sách về BHXH bắt buộc

Phương pháp so sánh: nhằm đối chiếu kinh nghiệm về BHXH của một

số nước trên thế giới.

Trang 15

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn đóng góp, hoàn thiện, bổ sung những vấn đề lý luận và thực tiễn

của chính sách BHXH bắt buộc ở Việt Nam nói chung và Viện Hàn lâm nóiriêng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn cung cấp những nghiên cứu, tư liệu thực tế tại Viện Hàn lâmKhoa học xã hội Việt Nam qua đó phản ánh được thực trạng và đề xuất đượcmột số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm xãhội bắt buộc đối với người lao động tại Viện Hàn lâm Luận văn có thể được

sử dụng làm tài liệu tham khảo, giúp các đơn vị thuộc và trực thuộc Viện Hànlâm củng cố lại việc tổ chức thực hiện chính sách BHXH bắt buộc đối vớingười lao động

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn bao gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắtbuộc đối với người lao động

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc đốivới người lao động tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chínhsách bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động tại Viện Hàn lâm Khoahọc xã hội Việt Nam

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG

1.1 Khái quát về bảo hiểm xã hội

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội

Thuật ngữ “Bảo hiểm xã hội” lần đầu tiên chính thức được sử dụng làmtiêu đề cho một văn bản pháp luật vào năm 1935 của Hợp chủng quốc Hoa

Kỳ Thuật ngữ này xuất hiện trở lại trong một đạo luật được thông qua tạiNew Zealand năm 1938 Năm 1941, trong thời gian chiến tranh thế giới thứhai, thuật ngữ này được dùng trong Hiến chương Đại Tây Dương (the AtlanticCharter of 1941) Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) nhanh chóng chấp nhậnthuật ngữ “bảo hiểm xã hội”, đây là mốc quan trọng ghi nhận giá trị của thuậtngữ này, một thuật ngữ diễn đạt đơn giản nhưng phản ánh được nguyện vọngsâu sắc nhất của nhân dân lao động trên toàn thế giới [17]

BHXH đã ra đời và phát triển hàng trăm năm nay với nhiều mô hình,nhiều cách thức thực hiện khác nhau trên thế giới Để có được các mô hìnhBHXH đa dạng và phong phú như ngày nay, các nhà lý luận, các nhà quản lý

đã tốn khá nhiều công sức và thời gian để nghiên cứu và tổng kết thực tiễn.Không thể không kể đến sự đấu tranh của giai cấp công nhân và người laođộng trên toàn thế giới để có được BHXH như ngày hôm nay

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “bản chất bảo hiểm xã hội là sựbảo vệ của xã hội đối với các thành viên trong xã hội thông qua một loạt cácbiện pháp công cộng để đối phó với các rủi do xã hội, trước hết là khó khăn

về kinh tế - xã hội do bị ngừng hoặc giảm nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốmđau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết; cung cấp chăm sóc y tế và trợcấp cho các gia đình đông con.” [17]

Trang 17

Theo Tập 1, Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Bảo hiểm xã hội là sự thaythế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặcgiảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp,tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất Dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sựđóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo phápluật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồngthời góp phần đảm bảo an toàn xã hội” [38, tr.12]

Theo Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 của Quốchội: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhậpcủa người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tainạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóngvào quỹ bảo hiểm xã hội” [29, tr.2]

Ở Việt Nam hiện nay có 02 hình thức đóng BHXH là: BHXH bắt buộc

và BHXH tự nguyện

1.1.2 Bản chất của bảo hiểm xã hội

BHXH là hình thức bảo hiểm thu nhập cho người lao động, là sản phẩmtất yếu khách quan của xã hội phát triển, là hình thức dịch vụ công để quản lý

và đáp ứng nhu cầu chia sẻ các rủi ro trong cộng đồng, là quyền cơ bản củangười lao động

BHXH vừa để thực hiện các mục đích xã hội, vừa để thực hiện các mụcđích kinh tế trong mỗi cộng đồng, quốc gia Trong đó mục đích kinh tế vàmục đích xã hội luôn được thực hiện đồng thời, đan xen lẫn nhau, là hai mặtkhông thể tách rời của BHXH Khi đề cập đến các lợi ích kinh tế của BHXHđối với người lao động và đối với xã hội là đã bao hàm cả mục đích xã hộicủa nó Ngược lại, các mục đích xã hội của BHXH cũng chỉ đạt được khi nóđồng thời mang lại các lợi ích kinh tế thiết thực cho người tham gia

Về phương diện xã hội: BHXH là sự chia sẻ rủi ro, bảo đảm an toàn xã hội;

Trang 18

Về phương diện kinh tế: BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập giữanhững người tham gia bảo hiểm, thông qua việc hình thành quỹ tiền tệ chung;

Về phương diện chính trị, pháp luật: Khi được nhà nước điều chỉnh bằng phápluật, BHXH đã trở thành quyền cơ bản của người lao động, xét trên cả bìnhdiện quốc gia và quốc tế Đồng thời đó cũng là trách nhiệm của họ và người

sử dụng lao động phải tham gia BHXH Vì vậy, BHXH là một chính sách xã

hội quan trọng, là bộ phận cơ bản để đảm bảo an sinh xã hội của cácquốc gia

độ chăm sóc y tế; (6) chế độ tàn tật (ở Việt Nam còn gọi là chế độ mất sức laođộng, nhưng với nghĩa khác); (7) chế độ tử tuất; (8) chế độ hưu trí, và (9) chế độchăm sóc gia đình (cho những người đông con) [26] Tuỳ theo điều kiện kinh tế -

xã hội của từng nước trong từng giai đoạn, để có thể xây dựng, áp dụng các quyđịnh này Như đã nêu, ở Việt Nam hiện nay, theo quy định của Luật BHXH, đãthực hiện 6 chế độ trong 9 chế độ BHXH nêu trên Trước năm 1995, nước tacũng đã thực hiện các chế độ, trong đó có chế độ mất sức lao động, nhưng lạikhông có chế độ bảo hiểm thất nghiệp

Căn cứ theo Điều 4, Luật BHXH 2014 quy định các chế độ BHXH tạiViệt Nam hiện nay như sau:

a) Bảo hiểm xã hội bắt buộc có các chế độ sau đây: Ốm đau; Thai sản;Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Hưu trí; Tử tuất

b) Bảo hiểm xã hội tự nguyện có các chế độ sau đây: Hưu trí; Tử tuất

Trang 19

c) Bảo hiểm hưu trí bổ sung do Chính phủ quy định [29, tr.7].

Quy định các chế độ BHXH là những nội dung cốt lõi của bất kỳ hệthống BHXH nào, trong đó quy định rõ ràng các quan hệ trách nhiệm vànghĩa vụ của các bên tham gia BHXH; quan hệ về nghĩa vụ và quyền lợi củangười lao động khi tham gia BHXH Ví dụ, trong chế độ BHTN, quy định rất

rõ đối tượng nào được tham gia bảo hiểm; quy định mức đóng góp BHTN củangười lao động và người sử dụng lao động; quy định khi nào thì người thấtnghiệp được hưởng trợ cấp BHTN; quy định về mức hưởng trợ cấp và thờigian hưởng trợ cấp; quy định về các quyền lợi khác có liên quan như họcnghề, hỗ trợ tìm việc làm…

1.2 Chính sách bảo hiểm xã hội và chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc

1.2.1 Chính sách bảo hiểm xã hội

1.2.1.1 Sơ lược lịch sử chính sách bảo hiểm xã hội

Chính sách BHXH luôn là một trong những chính sách quan trọng trong

hệ thống chính sách xã hội nói chung và là chính sách cốt lõi của hệ thốngchính sách an sinh xã hội của bất kỳ quốc gia nào, hệ thống xã hội nào

Về mặt chính sách, BHXH chính thức ra đời từ năm 1838 dưới thời TểTướng Bismark Ban đầu chính sách BHXH chỉ có chế độ trợ cấp TNLĐ -BNN sau đó bổ sung trợ cấp ốm đau (năm 1865) Tuy nhiên, để có tính pháp

lý cao thì phải đến năm 1883, đạo luật về BHXH mới được ban hành Đây cóthể coi là văn bản pháp luật đầu tiên về BHXH trên thế giới Như vậy, kể từkhi có chính sách BHXH đến khi có được đạo luật cơ bản về BHXH, nướcĐức (nước Phổ cũ) đã phải mất gần nửa thế kỷ (45 năm) với nhiều thay đổi,

sự phát triển kinh tế - xã hội của nước Đức [33]

Sau Đức, nhiều nước châu Âu cũng cho ra đời các Đạo luật BHXH củamình Đến đầu thế kỷ XX, BHXH đã mở rộng ra nhiều nước trên thế giới, đặcbiệt là các nước Mỹ La Tinh, Hoa Kỳ, Canađa và một số nước khác Ở Mỹđạo luật đầu tiên lại không phải là đạo Luật về BHXH mà về an sinh xã hội

Trang 20

(Social Security Act 1935), trong đó BHXH là nòng cốt, ngoài ra còn có các chế

độ phúc lợi khác như trợ cấp dưỡng lão, trợ cấp tàn tật, phúc lợi y tế… dần dầncác chế độ được bổ sung và điều chỉnh để phù hợp với sự phát triển kinh tế

- xã hội của nước Mỹ như trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm việc làm, phúc lợi phụ nữ và trẻ em [33]

Trong quá trình phát triển, BHXH đã trở thành một vấn đề quốc tế gắnvới vai trò của Liên hợp quốc mà trực tiếp là Tổ chức Lao động quốc tế

(ILO), là một trong những quyền cơ bản nhất của con người được ghi nhậntrong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc: “Tất cả mọi người với tưcách là thành viên của xã hội có quyền hưởng bảo hiểm xã hội, quyền đóđược đặt cơ sở trên sự thỏa mãn các quyền về kinh tế - xã hội và văn hóa, nhucầu cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người” Tính đến thời điểmhiện tại, theo ILO, trên thế giới có khoảng hơn 170 nước thực hiện chính sáchBHXH, trong đó 155 nước (chiếm 95%) nhưng chỉ có 63 nước (chiếm 38,6%)thực hiện hình thức bảo hiểm hưu trí, tai nạn lao động, ốm đau, thai sản [24]

Ở Việt Nam, ngay từ năm 1929, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sảnĐông Dương (một trong các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam)

đã nêu: “Tổ chức tất cả vô sản giai cấp và công hội, thực hành bảo hiểm chothợ thuyền, giúp đỡ thợ thuyền thất nghiệp ” Điều 7 Nghị quyết về giànhchính quyền toàn quốc và thi hành 10 chính sách lớn của Việt Minh đượcthông qua tại kỳ họp Quốc dân Đại hội từ ngày 16 đến 17-8-1945 có viết:

“Ban bố Luật Lao động; ngày làm 08 giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảohiểm” [24]

Trên cơ sở này, ngay sau khi giành được chính quyền cách mạng, ngày 11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ ban hành Sắc lệnh số

3-54-SL về ấn định các điều kiện cho công chức về hưu trí; ngày 14-6-1946 ban hành Sắc lệnh số 105-SL quy định về việc cấp hưu bổng và đóng BHXH đối với công chức Đây là hai văn bản pháp luật đầu tiên quy định về quyền

Trang 21

lợi, mức hưởng hưu trí của công chức, khẳng định nguyên tắc đóng - hưởngcủa BHXH, quy định trách nhiệm bảo hộ của Nhà nước đối với Quỹ BHXH.

Kế thừa các quy định này, phù hợp với từng giai đoạn cách mạng của đấtnước, tham khảo có chọn lọc pháp luật và kinh nghiệm quốc tế về BHXH,Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, văn bản pháp luật vềBHXH, tiêu biểu như Nghị định số 235-HĐBT, ngày 18-9-1985, của Hội

đồng Bộ trưởng Về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang, bãi bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá bù lỗ, chuyển

sang chế độ trả lương bằng tiền do quỹ hàng hóa bảo đảm; Nghị định số

236-HĐBT, ngày 18-9-1985, của Hội đồng Bộ trưởng Về bổ sung, sửa đổi một số chế độ, chính sách về thương binh xã hội; Luật BHXH năm 2006; Nghị quyết

số 21-NQ/TW, ngày 22-11-2012, của Bộ Chính trị Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 - 2020; Chiến lược phát triển ngành BHXH Việt Nam đến năm 2020 được Thủ

tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1215/QĐ-TTg, ngày 23-7-2013;Luật BHXH năm 2014 Mới đây nhất, cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo về ansinh xã hội tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, ngày 23-5-

2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số

28-NQ/TW Về cải cách chính sách BHXH [24].

Quan điểm chỉ đạo nêu trên thể hiện tầm nhìn chiến lược có tính xuyênsuốt đối với việc phát triển BHXH trong hệ thống chính sách xã hội nhằm bảođảm tiến bộ và công bằng xã hội, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực pháttriển bền vững đất nước, thể hiện tính ưu việt, bản chất tốt đẹp của chế độ ta.Đến nay, đã hình thành hệ thống chính sách BHXH tương đối đồng bộ gồmbảo hiểm hưu trí - tử tuất, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm ốm đau, thai sản vàbảo hiểm tai nạn lao động, cơ bản bao quát các chế độ BHXH theo thông lệquốc tế về BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện trong các ngành, thành phầnkinh tế với các loại hình lao động khác nhau Quỹ BHXH trở thành quỹ an

Trang 22

sinh lớn nhất, hoạt động theo nguyên tắc đóng - hưởng và chia sẻ giữa nhữngngười lao động cùng thế hệ và giữa các thế hệ tham gia BHXH Diện bao phủBHXH theo quy định và quy mô tham gia BHXH được mở rộng, số ngườitham gia, số người được hưởng BHXH tăng lên [24].

Sơ lược lịch sử phát triển BHXH ở Việt Nam cho thấy, cả về tư duy vàtrong tổ chức thực hiện, chính sách BHXH luôn được cải cách, được đổi mới

để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạnphát triển Nói cách khác, cải cách BHXH là vấn đề có tính khách quan vàđiều này không có nghĩa các chính sách BHXH đã qua “có vấn đề”, ngược lại,các chính sách BHXH qua các thời kỳ đều đã làm tròn “sứ mạng lịch sử” củamình Ngay trong Nghị quyết 28-NQ/TƯ nêu trên đã cũng đã khẳng định,chính sách BHXH đã từng bước khẳng định và phát huy vai trò là một trụ cộtchính của hệ thống ASXH, là sự bảo đảm thay thế, hoặc bù đắp một phần thunhập cho người lao động khi họ gặp phải những rủi ro trong cuộc sống

1.2.1.2 Vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội

- Thực hiện chính sách BHXH nhằm ổn định cuộc sống người lao động,trợ giúp người lao động khi gặp rủi ro: ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghềnghiệp, thất nghiệp sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm cóviệc làm

- Thực hiện tốt chính sách BHXH nhất là chế độ hưu trí, góp phần ổnđịnh cuộc sống của người lao động khi hết tuổi lao động hoặc không còn khảnăng lao động

- Thực hiện chính sách BHXH góp phần ổn định và nâng cao chất lượnglao động, bảo đảm sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động trong cácthành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển

-BHXH, BHYT, BHTN là một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phầnvào việc phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng, hợp lý giữa các

Trang 23

tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh

xã hội bền vững

1.2.1.3 Sự cần thiết của chính sách bảo hiểm xã hội

BHXH là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. TrongNghị quyết số 28-NQ/TW đã xác định rõ, BHXH là một trụ cột chính của hệthống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn địnhchính trị - xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước

1.2.1.4 Nguyên tắc hoạt động của chính sách bảo hiểm xã hội

Nhìn chung hệ thống BHXH được thực hiện dựa trên các nguyên tắc sau:

- Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội

- Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lươngtháng của người lao động Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tínhtrên cơ sở mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn

- Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa

có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí vàchế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội Thời gian đóngbảo hiểm xã hội đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì không tínhvào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội

- Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung, thống nhất, công khai,minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo cácquỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nướcquy định và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định

- Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội [29, tr.7]

Trang 24

1.2.2 Chính sách Bảo hiểm xã hội bắt buộc

1.2.2.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc

BHXH bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động vàngười sử dụng lao động phải tham gia [29, tr.6]

BHXH hội bắt buộc là một trong những chính sách an sinh hữu ích đốivới người lao động Con người muốn tồn tại và phát triển cần có hoạt độnglao động do đó xuất hiện mối quan hệ giữa người lao động và đơn vị sử dụnglao động Hàng tháng người lao động sẽ trích nộp một khoản từ tiền lương vàđơn vị sử dụng lao động sẽ phải chi trả một khoản tiền ngoài tiền lương đểtrích nộp BHXH bắt buộc cho người lao động

1.2.2.2 Chính bảo hiểm xã hội bắt buộc

Chính sách BHXH bắt buộc nằm trong hệ thống chính sách BHXH ởViệt Nam, do đó hội tụ đầy đủ các đặc trưng cơ bản của chính sách BHXH:lịch sử, vai trò, mục tiêu, nguyên tắc hoạt động,…

Đặc điểm của chính sách BHXH bắt buộc:

- Việc tham gia loại hình bảo hiểm này mang tính chất bắt buộc;

- Pháp luật quy định cụ thể về mức đóng và phương thức đóng BHXH bắt buộc: theo Điều 85 Luật bảo hiểm xã hội 2014

- Người tham gia BHXH bắt buộc được hưởng nhiều quyền lợi hơn sovới người tham gia BHXH tự nguyện gồm chế độ sau: ốm đau; thai sản;lương hưu; tử tuất; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1.3 Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động ở Việt Nam

1.3.1 Hệ thống chính sách, pháp luật về Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam.

Đến nay, nước ta đã hình thành được hệ thống chính sách BHXH kháđồng bộ, bao quát hầu hết các chế độ BHXH theo thông lệ quốc tế, gồm cảloại hình BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện; đối với cả người có quan hệ

Trang 25

lao động lẫn người không có quan hệ lao động; cho cả khu vực kinh tế chínhthức lẫn khu vực phi chính thức.

Hệ thống chính sách BHXH, các quan hệ BHXH được thiết kế, điều chỉnh

và vận hành ngày càng phù hợp Với vai trò chủ đạo của Nhà nước, sự tham giacủa người lao động và người sử dụng lao động, quỹ BHXH đã trở thành quỹ ansinh xã hội lớn nhất, hoạt động theo nguyên tắc đóng - hưởng và chia sẻ giữanhững người lao động cùng thế hệ và giữa các thế hệ tham gia BHXH

Mô hình tổ chức hệ thống BHXH cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tếvới việc tách cơ quan quản lý nhà nước với cơ quan tổ chức thực hiện chínhsách đã phát huy được vai trò và tính hiệu quả trong từng khâu thiết kế, xâydựng, hoạch định, tổ chức thực hiện chính sách, thu, chi và quản lý QuỹBHXH Năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về BHXH được tăngcường Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về BHXH thường xuyên đượcsửa đổi, bổ sung và hoàn thiện; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việcchấp hành pháp luật BHXH được chú trọng; công tác đối ngoại và hội nhậpquốc tế về BHXH được đẩy mạnh

Theo Điều 6 Luật BHXH năm 2014 về chính sách của Nhà nước đối vớiBHXH: Khuyến khích, tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham giabảo hiểm xã hội; Hỗ trợ người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện; Bảo hộquỹ bảo hiểm xã hội và có biện pháp bảo toàn, tăng trưởng quỹ; Khuyếnkhích người sử dụng lao động và người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổsung; Ưu tiên đầu tư phát triển công nghệ thông tin trong quản lý bảo hiểm xãhội [29, tr.7]

1.3.2 Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Việt Nam

Căn cứ theo Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 có quy định về đốitượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc như sau:

(1) Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:

Trang 26

a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợpđồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo mộtcông việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợpđồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theopháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;

b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;

e) Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công annhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theohọc được hưởng sinh hoạt phí;

g) Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

h) Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;

i) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn

(2) Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam cógiấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do

cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắtbuộc theo quy định của Chính phủ

(3) Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm

cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chínhtrị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức

Trang 27

xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổchức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộkinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụnglao động theo hợp đồng lao động.

(4) Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam từ

đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này.(5) Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội

Các đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều này sau đây gọi chung là người lao động [29, tr.5]

1.3.3 Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Việt Nam

- Trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, dosay rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy theo danh mục do Chínhphủ quy định thì không được hưởng chế độ ốm đau

- Phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền

- Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau cùng mức hưởng chế độ ốm đaucủa người lao động sẽ phụ thuộc vào đối tượng hưởng, làm việc trong môitrường bình thường hay làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại , nguyhiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm [29, tr.14]

1.3.3.2 Chế độ thai sản

- Người lao động thuộc đối tượng và thuộc một trong các trường hợptheo quy định tại Điều 30 và Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 khi

Trang 28

đang đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ ốm đau và thai sản sẽ được nghỉ hưởng chế độ thai sản.

- Trường hợp đối với lao động nữ đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản sẽđược nghỉ khám thai, hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưuhoặc phá thai bệnh lý; nghỉ hưởng chế độ khi sinh con; nghỉ hưởng chế độ khithực hiện các biện pháp tránh thai

- Trường hợp lao động nữ mang thai hộ hay người mẹ nhờ mang thai hộ,người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi cũng sẽ được nghỉhưởng chế độ thai sản khi đủ điều kiện hưởng

- Lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06tháng tuổi thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sởtại tháng lao động nữ sinh con hoặc tháng người lao động nhận nuôi con nuôi.Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội thì cha đượctrợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con[29, tr.16]

1.3.3.3 Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề

nghiệp Điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động:

*) Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc;

- Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;

- Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;

- Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên

Điều kiện hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp như sau:

- Bị bệnh thuộc danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao động

- Thương binh và Xã hội ban hành khi làm việc trong môi trường hoặc nghề

có yếu tố độc hại;

Trang 29

- Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị bệnh quy định tại khoản 1 Điều này.

*) Người lao động khi bị tai nạn lao động thuộc đối tượng quy định tạiĐiều 42 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và đủ điều kiện được quy định thuộcĐiều 43, Điều 44 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 sẽ được hưởng trợ cấp mộtlần hay trợ cấp hàng tháng tùy thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động,thời gian tham gia bảo hiểm xã hội

*) Ngoài 2 trợ cấp trên thì người lao động nếu đủ điều kiện hưởng chế độtai nạn lao động, chế độ bệnh nghề nghiệp còn có thể được cấp phương tiệntrợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình; hưởng trợ cấp phục vụ hàng tháng; trợcấp một lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; dưỡng sức, phụchồi sức khỏe sau khi điều trị thương tật, bệnh tật [29, tr.19]

1.3.3.4 Chế độ hưu trí

*) Về điều kiện nghỉ hưu của người lao động thì theo quy định sẽ phụthuộc vào tuổi, thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tối thiểu là 20 năm, côngviệc, mức suy giảm khả năng lao động,… được quy định tại Điều 54 và Điều

55 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014

*) Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của ngườilao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật này được tính bằng 45%mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 62của Luật này và tương ứng với số năm đóng bảo hiểm xã hội như sau:

- Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm,năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm;

- Lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm

- Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động quy định tại điểm a và điểm bkhoản này được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%

*) Về thời điểm hưởng lương hưu hoặc là thời điểm ghi trong quyết địnhnghỉ việc do người sử dụng lao động lập khi người lao động đã đủ điều kiện

Trang 30

hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật; hoặc là tính từ tháng liền kềkhi người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu và có văn bản đề nghị gửicho cơ quan bảo hiểm xã hội; hoặc là thời điểm ghi trong văn bản đề nghị củangười lao động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu.

*) Về thời điểm hưởng lương hưu thì là thời điểm ghi trong quyết địnhnghỉ việc do người sử dụng lao động lập khi người lao động đã đủ điều kiệnhưởng lương hưu theo quy định của pháp luật Đối với người lao động đangđóng bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định tại điểm h khoản 1 Điều 2 của Luậtnày, thời điểm hưởng lương hưu được tính từ tháng liền kề khi người lao động

đủ điều kiện hưởng lương hưu và có văn bản đề nghị gửi cho cơ quan bảohiểm xã hội

*) Đối với người lao động quy định tại điểm g khoản 1 Điều 2 của Luậtnày và người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội, thời điểm hưởnglương hưu là thời điểm ghi trong văn bản đề nghị của người lao động đã đủđiều kiện hưởng lương hưu theo quy định [29, tr.21]

( Bảo hiểm xã hội 1 lần

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này mà có yêu cầu thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 54của Luật này mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội hoặc theo quy định tạikhoản 3 Điều 54 của Luật này mà chưa đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội vàkhông tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện;

- Ra nước ngoài để định cư;

- Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạngnhư ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đãchuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế;

- Trường hợp người lao động quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1Điều 2 của Luật này khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà không đủ điều kiện

để hưởng lương hưu [29, tr.24]

Trang 31

- Đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 15 năm trở lên nhưng chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần;

- Đang hưởng lương hưu;

- Chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

- Đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng vớimức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên

Căn cứ Khoản 2 Điều 67 Luật BHXH 2014 quy định thân nhân củanhững người quy định tại khoản 1 Điều này được hưởng trợ cấp tuất hàngtháng nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

- Con chưa đủ 18 tuổi; con từ đủ 18 tuổi trở lên nếu bị suy giảm khả nănglao động từ 81% trở lên; con được sinh khi người bố chết mà người mẹ đang

- Cha đẻ, mẹ đẻ, cha đẻ của vợ hoặc cha đẻ của chồng, mẹ đẻ của vợhoặc mẹ đẻ của chồng, thành viên khác trong gia đình mà người tham gia bảohiểm xã hội đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn

Trang 32

nhân và gia đình nếu dưới 60 tuổi đối với nam, dưới 55 tuổi đối với nữ và bịsuy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

Mức trợ cấp tuất hàng tháng phụ thuộc vào mức lương cơ sở, mức trợcấp tuất một lần phụ thuộc vào thời gian tham gia bảo hiểm xã hội và mứctiền lương bình quân đóng bảo hiểm xã hội [29, tr.26]

1.3.3.6 Bảo hiểm thất nghiệp

Bảo hiểm thất nghiệp là một trong những chế độ của bảo hiểm xã hội khingười lao động chấm dứt hợp đồng lao động với đơn vị sử dụng lao động Đểđược hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động phải đang tham gia đóng gópvào quỹ bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong khoảng thời gian 24tháng trước khi bị thất nghiệp

Và làm hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp thì trong thời gian 3 tháng kể từkhi thất nghiệp, người lao động phải nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tạiTrung tâm dịch vụ việc làm Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp bằng 60% mứcbình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kềtrước khi thất nghiệp

1.3.4 Mức đóng BHXH bắt buộc

Bảng 1.1 Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động

Trang 33

Bảng 1.2 Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người sử dụng lao động

Nguồn: Đề tài tạo khung theo mức đóng quy định của Luật BHXH

1.4 Tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc

1.4.1 Triển khai thực hiện chính sách

Sau khi Bộ luật Lao động ra đời, Luật BHXH có hiệu lực, việc thực hiệnchính sách BHXH đối với người lao động đã đạt được những kết quả tích cực.Tính đến nay, chính sách BHXH đã chuyển dần từ tự nguyện sang chính sáchbắt buộc và tiến tới thực hiện BHXH toàn dân, do Nhà nước chịu trách nhiệm

tổ chức với sự tham gia rộng rãi của người dân Đáng chú ý, chính sáchBHXH có sự chia sẻ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người laođộng ở các mức độ khác nhau, tính chất chia sẻ này góp phần quan trọng đểthay đổi tích cực hơn nhận thức của người dân, giảm bớt sự ỷ lại vào Nhànước, nâng cao trách nhiệm của người sử dụng lao động, người lao động, tăngtính bền vững cho chính sách

Số người tham gia BHXH, theo báo cáo của BHXH Việt Nam tính đếnhết năm 2019, số người tham gia BHXH bắt buộc là 15,185 triệu người;BHXH tự nguyện là 551 nghìn người; bảo hiểm tai nạn lao động bệnh nghềnghiệp là 15,068 triệu người; BHTN là 13,343 triệu người; BHYT là 85,390triệu người, đạt tỷ lệ bao phủ 90% dân số [39]

Trang 34

Các chính sách BHXH đã thể hiện tính công bằng thông qua nguyên tắcđóng - hưởng, công bằng, chia sẻ Quỹ Bảo hiểm hưu trí - tử tuất với mô hìnhtích lũy đang là quỹ dài hạn có tính chất chia sẻ giữa các thế hệ người laođộng, các quỹ bảo hiểm ngắn hạn (ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghềnghiệp, thất nghiệp) Thống kê cho thấy, ngành BHXH đã hoàn thành việc cấp

mã số BHXH và thẻ BHYT theo mã số BHXH cho gần 90 triệu người thamgia BHXH, BHYT

Hiện nay, với hơn 15 triệu người tham gia BHXH, tiến tới thực hiệnBHXH toàn dân theo tinh thần cải cách chính sách BHXH việc đẩy mạnh ứngdụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa BHXH để nâng cao chất lượng phục

vụ người tham gia và hưởng BHXH, BHYT đã trở thành yêu cầu cấp thiết.BHXH Việt Nam đã tập trung triển khai mạnh mẽ ứng dụng công nghệthông tin trong hầu hết các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu: giao dịch điện tửtrong công tác thu BHXH, BHYT, BHTN và cấp sổ BHXH, thẻ BHYT; giámđịnh điện tử chi phí khám, chữa bệnh BHYT thông qua Hệ thống thông tingiám định BHYT; số hóa hồ sơ lưu trữ; các phần mềm phục vụ công tác tàichính - kế toán, quản lý văn bản… Hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị công nghệthông tin được trang bị đầy đủ và vận hành hiệu quả [39]

1.4.2 Đảm bảo các yêu cầu thực hiện chính sách BHXH bắt buộc ở Việt Nam

a) Đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu của chính sách BHXH bắt buộc Vớimục tiêu BHXH toàn dân, vì vậy công tác thực hiện chính sách

BHXH bắt buộc phải hướng tới mục tiêu phát triển bền vững: bảo đảm quyềnlợi của người dân; nâng cao niềm tin của người dân với chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước; đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính

b) Đảm bảo tính pháp lý, hợp lý, thống nhất, ổn định và linh hoạt trong

tổ chức thực hiện chính sách BHXH bắt buộc

Trang 35

Chất lượng của việc tổ chức thực hiện chính sách BHXH bắt buộc đượcxem xét qua tính hợp pháp và tính hợp lý, đây là hai tiêu chuẩn đánh giá việcthực hiện chính sách ở hai góc độ khác nhau, có mối quan hệ mật thiết, thốngnhất và bổ trợ cho nhau Bên cạnh hoạt động lập pháp bao giờ cũng tồn tạihoạt động lập quy để bảo đảm tính thống nhất, ổn định, linh hoạt trong quátrình thực hiện chính sách BHXH bắt buộc.

c) Đảm bảo quyền là lợi ích hợp pháp của các đối tượng thụ hưởng chínhsách BHXH bắt buộc

Chính sách về BHXH ngày càng được ban hành đầy đủ, hoàn thiện hơn.Chính sách BHXH nói chung và chính sách BHXH bắt buộc nói riêng đã pháthuy tích cực trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động,người sử dụng lao động

1.4.3 Các bước thực hiện chính sách BHXH bắt buộc

1.4.3.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách BHXH bắt buộc

Để thực hiện chính sách BHXH bắt buộc có hiệu quả cần: xây dựng kế

hoạch thực hiện chính sách một cách chính xác, cụ thể các nội dung, nhiệm vụtrong kế hoạch tổ chức điều hành; nguồn lực tài chính; trang thiết bị cơ sở vậtchất; thời gian hợp lý; kiểm tra đôn đốc việc thực hiện chính sách Nguồnnhân lực làm công tác tham mưu xây dựng phải hiểu biết sâu sắc nội dung vàtầm quan trọng của chính sách BHXH bắt buộc Trên cơ sở đó xác định chínhxác mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, các nguồn lực và giải pháp tổ chức thựchiện chính sách BHXH bắt buộc phù hợp với đặc điểm, tình hình kinh tế,chính trị - xã hội của mỗi tổ chức, mỗi địa phương

1.4.3.2 Phổ biến, tuyên truyền về chính sách BHXH bắt buộc

Phổ biến, tuyên truyền trong thực hiện chính sách BHXH bắt buộc có ýnghĩa và tầm quan trọng đặc biệt trong tổ chức thực hiện chính sách, quyếtđịnh đến hiệu quả thực hiện chính sách Nội dung tuyên truyền phải truyền tảiđược vị trí, vai trò, ý nghĩa nhân văn của chính sách BHXH trong hệ thống

Trang 36

chính sách an sinh xã hội; làm rõ những vấn đề căn bản, cốt lõi của các điềuluật về BHXH bắt buộc góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội đối với cácchủ trương, chính sách BHXH, chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhànước Các hình thức phổ biến, tuyên truyền đa dạng, phong phú với nhiều thểloại mới, tạo được điểm nhấn và thu hút sự quan tâm của đông đảo các tầnglớp nhân dân, người lao động.

1.4.3.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách BHXH bắt buộc

Phân công, phối hợp thực hiện chính sách BHXH bắt buộc là khả năng tổchức, điều hành thực hiện chính sách một cách chặt chẽ, khoa học và hợp lý.Phân công trách nhiệm trong thực hiện chính sách BHXH bắt buộc phải rõràng, cụ thể: trách nhiệm các tổ chức, cá nhân có liên quan trong thực hiệnchính sách; xác định tổ chức, cá nhân chủ trì, chịu trách nhiệm chính, các cánhân, tổ chức tham gia phối hợp trong quá trình thực hiện chính sách, điều đó

sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách Cần đặc biệt chú ý đếntrình độ, năng lực chuyên môn, khả năng, thế mạnh của từng tổ chức, cá nhân

để tránh chồng chéo, trách nhiệm không rõ ràng

1.4.3.4 Duy trì thực hiện chính sách BHXH bắt buộc

Duy trì thực hiện chính sách BHXH bắt buộc nhằm đảm bảo cho chínhsách được duy trì, tồn tại và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế Côngtác tham mưu đề xuất các giải pháp, biện pháp duy trì bảo đảm cho chính sáchtồn tại và phát huy tác dụng là vô cùng quan trọng trong thực hiện chính sách.Chính sách BHXH bắt buộc được duy trì, thực hiện tốt góp phần không nhỏvào mục tiêu an sinh xã hội của đất nước

1.4.3.5 Điều chỉnh thực hiện chính sách BHXH bắt buộc

Về nguyên tắc, thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách là của cơquan, tổ chức ban hành chính sách BHXH Nhưng trên thực tế việc điều chỉnhcác nội dung, các cơ chế chính sách diễn ra rất năng động và linh hoạt trongthực tế thực hiện chính sách BHXH nói chung và chính sách BHXH bắt buộc

Trang 37

nói riêng Do nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan, thực tế việc thựchiện chính BHXH bắt buộc sẽ gặp phải nhiều khó khăn, hạn chế nên cần phải

có những điều chỉnh, bổ sung nội dung thực hiện chính sách phù hợp với yêucầu thực tế mỗi địa phương, mỗi tổ chức

1.4.3.6 Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chính sách BHXH bắtbuộc Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra là một nhiệm vụ, một khâu quan trọng trongthực hiện chính sách Các ngành, các tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ cótrách nhiệm phối hợp chặt chẽ trong công tác theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việcthực hiện chính sách BHXH bắt buộc Kết quả kiểm tra sẽ được tiến hànhphân tích xử lý thông tin, đối chiếu so sánh với các quy định trong chính sách,các quy định trong kế hoạch, quy chế, nội quy thực hiện chính sách để có cơ

sở phát hiện, phòng ngừa và xử lý vi phạm Đồng thời đề xuất các biện pháp,giải pháp nâng cao hiệu quả công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thựchiện chính sách BHXH bắt buộc phù hợp với tình hình thực tế

1.4.3.7 Đánh giá, tổng kết thực hiện chính sách BHXH bắt buộc

Đánh giá, tổng kết việc thực hiện chính sách BHXH là quá trình xem xét,kết luận về sự chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện chính sách của chủ thểthực hiện chính sách Để công tác đánh giá, tổng kết việc thực hiện chính sáchđạt hiệu quả cao thì ngay từ các cấp cơ sở việc đánh giá, tổng kết phải chỉ rađược chính xác ưu điểm, nhược điểm, kinh nghiệm thực hiện chính sách, các

tổ chức cá nhân thực hiện tốt hoặc không tốt Đồng thời, công tác đánh giá,tổng kết phải dựa trên các tiêu chuẩn, tiêu chí và các nguyên tắc nhất định

1.5 Kinh nghiệm của một số quốc gia về BHXH và an sinh xã hội

1.5.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Là quốc gia láng giềng có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, TrungQuốc có những thành tích vượt bậc trong phát triển kinh tế và cùng với đó lànhững thành công đáng chú ý trong phát triển hệ thống an sinh xã hội Hệthống an sinh xã hội của Trung Quốc ra đời từ năm 1951 với việc ban hành

Trang 38

Quy định về bảo hiểm lao động Trong thời kỳ đầu từ 1951-1978, hệ thống bảohiểm xã hội được vận hành trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung (chưa có bảohiểm thất nghiệp) Ở nông thôn Trung Quốc xây dựng hệ thống y tế cơ sở chămsóc cho 90% dân số nông thôn lúc đó Thời kỳ tiếp theo từ năm 1978-2002, cùngvới quá trình cải cách mở cửa, phát triển kinh tế thị trường, Trung Quốc xâydựng các chương trình bảo hiểm xã hội dựa trên việc làm và đóng góp Các chế

độ bảo hiểm thất nghiệp, thai sản và tai nạn lao động bắt đầu được áp dụng lầnlượt vào năm 1986, 1995 và 1996 Lần lượt trong năm 1998 và 1999, TrungQuốc áp dụng toàn quốc bảo hiểm hưu trí và bảo hiểm y tế cơ bản

Thời kỳ thứ 3 là thời kỳ mở rộng nhanh độ bao phủ từ 2003 đến nay.Trung Quốc lựa chọn mô hình bảo hiểm đa tầng, bao phủ rộng, chế độ thụhưởng vừa phải và bền vững, đặt mục tiêu bao phủ toàn bộ dân số tới năm

2020, trong đó trọng tâm là hệ thống hưu trí, bảo hiểm y tế và hệ thống hỗ trợthu nhập tối thiểu Trải qua quá trình phát triển, mô hình an sinh xã hội củaTrung Quốc hiện nay dựa trên các trụ cột chính là bảo hiểm xã hội (hưu trí, y

tế, thất nghiệp, thai sản và tai nạn lao động), trợ giúp và phúc lợi xã hội

*)Bảo hiểm hưu trí có 5 loại chương trình khác nhau ở Trung Quốc (không bao gồm chế độ cho lực lượng vũ trang): Chương trình hưu trí do

ngân sách nhà nước hỗ trợ toàn bộ dành cho công chức và những ngườihưởng lương từ ngân sách; Chương trình lương hưu cơ bản bắt buộc dành chocác doanh nghiệp cũng như các tổ chức sự nghiệp công mà không được hoặcchỉ được hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách; Chương trình bảo hiểm hưutrí tự nguyện ở nông thôn; Chương trình bảo hiểm hưu trí tự nguyện đô thị;Chương trình đảm bảo thu nhập tối thiểu

*) Bảo hiểm y tế có 4 chương trình ở Trung Quốc: Chương trình bảo

hiểm y tế cơ bản cho người lao động đô thị; Chương trình bảo hiểm y tế cơbản cho người dân đô thị; Chương trình bảo hiểm y tế hợp tác nông thôn mới;Chương trình hỗ trợ y tế do ngân sách đảm bảo

Trang 39

*) Hạn chế mô hình an sinh xã hội Trung Quốc:

Mô hình an sinh xã hội của Trung Quốc phải đối mặt với những tháchthức lớn về tính bền vững Trước hết là nguy cơ mất cân bằng quỹ bảo hiểm

xã hội khi số phải tài trợ lũy kế trong 30 năm qua lên tới 6 nghìn tỷ NDT dogià hóa dân số và ngân sách nhà nước sẽ không còn hỗ trợ những người trungniên và người già nghỉ hưu Khi đó, thế hệ lao động hiện tại phải đóng góplớn hơn để hỗ trợ thế hệ đã nghỉ hưu

Một vấn đề nữa là sự phân mảnh các chương trình bảo hiểm xã hội ởnông thôn và thành thị, làm hạn chế sự chia sẻ rủi ro, chi phí quản lý cao vàtác động phân phối lại thấp Nó cũng gây khó khăn cho việc di chuyển laođộng từ vùng này sang vùng khác với chương trình bảo hiểm khác nhau Sựkhác biệt địa phương cũng tạo ra sự cạnh tranh giữa các chính quyền địaphương về mức phúc lợi và tạo ra gánh nặng tài chính lớn cho các địaphương Ngoài ra, mô hình an sinh xã hội của Trung Quốc cũng gặp phải cácvấn đề rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch với chương trình bảo hiểm tựnguyện Cuối cùng, quản lý và đầu tư tăng giá trị quỹ bảo hiểm xã hội từ đónggóp như thế nào cho hiệu quả cũng là vấn đề cần chú ý giải quyết [35]

1.5.2 Kinh nghiệm của Thái Lan

Thái lan có mô hình an sinh xã hội đa trụ cột với sự bao phủ rộng: Trụcột số không cung cấp an sinh tối thiểu dưới dạng hỗ trợ xã hội; trụ cột thứnhất là bảo hiểm xã hội phi đóng góp do nhà nước quản lý; trụ cột thứ hai làbảo hiểm xã hội bắt buộc do cá nhân đóng góp; trụ cột thứ ba là bảo hiểm tựnguyện do cá nhân đóng góp Trụ cột thứ tư là các chương trình bổ sung chongười nghèo (Worldbank, 2009)

*) An sinh xã hội dựa trên đóng góp

Bảo hiểm xã hội là hệ thống cung cấp an sinh xã hội dựa trên sự đóng góp Ở Thái Lan, có hai chương trình BHXH bắt buộc, hệ thống an sinh nghề

Trang 40

nghiệp và BHXH tự nguyện Bảo hiểm bắt buộc bao gồm chương trình bảohiểm xã hội hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp và tai nạn và quỹ giáo viên.

Bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng với các doanh nghiệp có từ 20 laođộng trở lên được đưa ra vào năm 1991 với 4 chế độ: ốm đau, tàn tật, thai sản và

tử tuất Từ năm 1993, chương trình mở rộng ra các doanh nghiệp có từ 10 laođộng trở lên Từ năm 1998, chương trình bao gồm cả hưu trí cho người già và trợcấp trẻ em Từ năm 2002, chương trình bao phủ các doanh nghiệp có từ 10 laođộng trở lên Bảo hiểm thất nghiệp được bổ sung áp dụng từ 2004

Bảo hiểm xã hội được tài trợ nhờ sự đóng góp của người lao động, người

sử dụng lao động và hỗ trợ của chính phủ Tổng đóng góp bảo hiểm, bao gồmbảo hiểm ốm đau, thai sản, tàn tật, tử tuất, trẻ em và hưu trí là 3,5% thu nhập.Sau đó, tỷ lệ này tăng lên 4,5% vào năm 2003 Đóng góp bảo hiểm thấtnghiệp là 0,5% lương của người lao động và 0,25% hỗ trợ từ chính phủ Tổngđóng góp vào quĩ là 5% với người lao động và sử dụng lao động và 2,75%cho chính phủ

Bên cạnh hệ thống BHXH dựa trên đóng góp bắt buộc là hệ thống ansinh nghề nghiệp cung cấp cho công chức chính phủ và nhân viên doanhnghiệp nhà nước Hệ thống bảo hiểm này bao gồm nhiều chế độ: hưu trí, y tế

và chăm sóc trẻ em Tất cả các chế độ đều do ngân sách nhà nước tài trợ.Tuy nhiên, kể từ những năm 1990, hệ thống an sinh nghề nghiệp này gây

ra gánh nặng ngân sách lớn Do dân số già hóa, ngân sách chính phủ cho hưutrí tăng mỗi năm 20% Vì thế, vào năm 1997, Thái lan cải cách hệ thống hưutrí, chuyển từ nhà nước tài trợ kiểu lợi ích xác định sang kiểu đóng góp xácđịnh Mức lương tính lương hưu được tính trong 60 tháng trước thay vì mứclương của tháng cuối cùng và tỷ lệ hưởng lương hưu không quá 70% lươnglàm việc Cả chính phủ và người lao động, mỗi bên đóng góp 3% lương vàoquỹ bảo hiểm

Ngày đăng: 11/01/2021, 15:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Nguyên Anh (2010), Bảo hiểm xã hội năm 2010: Vấn đề và giải pháp, Tạp chí Tài chính số 10, tr. 29-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Nguyên Anh (2010), "Bảo hiểm xã hội năm 2010: Vấn đề và giảipháp
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Năm: 2010
2. Đặng Nguyên Anh (2015), An sinh xã hội ở Việt Nam sau 30 năm đổi mới và định hướng đến 2030, Tạp chí Xã hội học số 2, tr. 5-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An sinh xã hội ở Việt Nam sau 30 năm đổi mới và định hướng đến 2030
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Năm: 2015
3. Đào Việt Ánh (2019), Nghiên cứu xây dựng, thành lập và triển khai mô hình tổ chức hỗ trợ, tư vấn, giải đáp chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của ngành Bảo hiểm xã hội, Đề án, Vụ Tổ chức – Cán bộ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng, thành lập và triển khaimô hình tổ chức hỗ trợ, tư vấn, giải đáp chính sách bảo hiểm xã hội, bảohiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của ngành Bảo hiểm xã hội
Tác giả: Đào Việt Ánh
Năm: 2019
4. Nguyễn Huy Ban (2003), Bảo hiểm xã hội - bộ phận quan trọng trong chiến lược con người của Đảng, Tạp chí Cộng sản số 17, tr. 38 - 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội - bộ phận quan trọng trong chiến lược con người của Đảng
Tác giả: Nguyễn Huy Ban
Năm: 2003
5. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới , banhành ngày 25/10/2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghịlần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về tăng cường công tác bảovệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới
6. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 28-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về cải cách chính sách Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Chấp hành Trung ương

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w