1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp về cơ sở hạ tầng nhằm nâng cao hiệu quả đảm bảo an toàn giao thông trên quốc lộ 5

87 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điển hình làtình trạng đan xen của các loại đường bộ; sự giao cắt giữa đường bộ và đường sắt; sựpha tạp giữa nhiều loại phương tiện cùng sử dụng chung một tuyến, làn, luồng giaothông; sự

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH

Hà Nội – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH *** ***

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN HỮU PHÚC

Hà Nội - 2020

Trang 3

CAM KẾT

Tác giả cam kết rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao độngcủa chính tác giả thu được chủ yếu trong thời gian học, nghiên cứu và chưa đượccông bố trong bất cứ một chương trình nghiên cứu nào của người khác

Những kết quả nghiên cứu và tài liệu của người khác (trích dẫn, bảng, biểu,công thức, đồ thị cùng những tài liệu khác) được sử dụng trong luận văn này đãđược các tác giả đồng ý và trích dẫn cụ thể

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, Khoa Quảntrị và Kinh doanh và pháp luật về những cam kết nói trên

Hà Nội, ngày …… tháng …… năm 2020

Tác giả luận văn

Lê Hồng Điệp

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Hữu Phúc – Khoa Quản trị và Kinhdoanh, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình hướng dẫn tôi thực hiện và hoànthành luận văn này

Tiếp theo, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Chủ nhiệm Khoa và các cán bộ, nhânviên của Khoa Quản trị và Kinh doanh cũng như những đồng nghiệp, bạn học đãchia sẻ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do thời gian, phương pháp luận nghiên cứu

và kinh nghiệm của bản thân tôi còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi nhữngkhiếm khuyết, tôi rất mong nhận được những ý kiến nhận xét, góp ý của các Thầy,

Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để vận dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn côngtác của tôi trong lĩnh vực quản lý đường bộ

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày …… tháng …… năm 2020

Tác giả luận văn

Lê Hồng Điệp

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG, CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 14

1.1 An toàn giao thông và cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ 14

1.1.1 An toàn 14

1.1.2 An toàn giao thông đường bộ 15

1.1.3 Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ 16

1.2 Quy trình đảm bảo ATGT của Tổng cục Đường bộ Việt Nam 16

1.2.1 Phát triển kết cấu hạ tầng 16

1.2.2 Tổ chức giao thông 17

1.2.3 Thẩm định an toàn giao thông, cải tạo điểm đen và quản lý, bảo trì đường bộ 18 1.2.4 Quản lý hành lang an toàn đường bộ 19

CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ, THỰC TRẠNG CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG TRÊN QUỐC LỘ 5 21

2.1 Giới thiệu chung về Quốc lộ 5 21

2.2 Thực trạng hoạt động an toàn giao thông trên Quốc lộ 5 24

2.2.1 Thực trạng kết cấu hạ tầng Quốc lộ 5 24

2.2.2 Thực trạng tổ chức giao thông trên tuyến Quốc lộ 5 29

2.2.3 Thực trạng thẩm định an toàn giao thông, cải tạo điểm đen và quản lý, bảo trì đường bộ 32

2.2.4 Thực trạng quản lý hành lang an toàn đường bộ 37

2.3 Đánh giá công tác về cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo an toàn giao thông trên Quốc lộ 5 48

2.3.1 Những kết quả đã đạt được 48

2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại 49

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 49

Trang 6

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG NHẰM NÂNG CAO

HIỆU QUẢ ĐẢM BẢO AN TOÀN GIAO THÔNG TRÊN QUỐC LỘ 5 52

3.1 Tầm nhìn và chiến lược đảm bảo an toàn giao thông đường bộ 52

3.2 Giải pháp về cơ sở hạ thầng nhằm đảm bảo an toàn giao thông Quốc lộ 5 54

3.2.1 Giải pháp về nâng cấp kết cấu hạ tầng 54

3.2.2 Giải pháp tổ chức giao thông 57

3.2.3 Tổ chức thẩm định an toàn giao thông, cải tạo điểm đen và quản lý, bảo trì đường bộ 60

3.2.4 Quản lý hành lang an toàn đường bộ 64

3.3 Một số giải pháp khác 64

3.3.1 Nâng cao vai trò kết nối, giảm tải cho QL 5: 65

3.3.2 Tăng cường công tác quản lý 68

3.3.3 Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền 69

3.3.4 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin 72

PHẦN KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

ATGT An toàn giao thông

TNGT Tai nạn giao thông

XKLĐ Xuất khẩu lao động

UNDP Chương Trình Phát Triển Liên United Nations Development

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Tổng hợp đánh giá về kết cấu hạ tầng quốc lộ 5 25

Bảng 2.2: Các yếu tố liên quan đến tình hình tốt chức giao thông 32

Bảng 2.3: tổng hợp đếm xe các năm gần đây (xcqđ/ngày đêm) 35

Bảng 2.4: Các nhân tố đánh giá việc thẩm định ATGT, cải tạo điểm đen, quản lý vàduy trì đường bộ 36

Bảng 2.5: số vụ tai nạn giao thông trong những năm gần đây 29

Bảng 2.5: Tổng hợp đánh giá về quản lý hành lang an toàn đường bộ Quốc lộ 5 45

Bảng 3.1: giá trạm thu phí cao tốc Hà Nội - Hải Phòng 65

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của nghiên cứu.

Ở Việt Nam, tai nạn giao thông được thẳng thắn nhìn nhận là “thảm họa”, bởinhững hậu quả to lớn nó gây ra đối với kinh tế - xã hội, nhất là những tổn thươngtinh thần không thể khắc phục Phòng, tránh, khắc phục tai nạn giao thông đượcĐảng, Nhà nước và nhân dân coi là một nhiệm vụ rất quan trọng mang tầm quốcgia Nhiều nhà nghiên cứu xã hội và dư luận đều xác định, tai nạn giao thông ở một

số quốc gia, trong đó có Việt Nam, có mức độ thảm khốc hơn cả những cuộc chiếntranh thời hiện đại, nếu đem so sánh về số người thương vong, thiệt hại kinh tế - xãhội và nỗi đau tinh thần cho người ở lại Theo thống kê, trung bình hằng năm, ởViệt Nam có khoảng 8.000 người chết, 15.000 người bị thương khi tham gia giaothông; thiệt hại về mặt kinh tế ước tính 5 - 12 tỷ USD và thiệt hại về tinh thần là vôcùng to lớn

Hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, cùng với những thành tựu to lớn,toàn diện về kinh tế - xã hội, lĩnh vực giao thông vận tải và bảo đảm ATGT đã cóbước phát triển đáng kể Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chínhsách, đặc biệt là Quốc hội đã ban hành nhiều đạo luật quan trọng như Luật giaothông đường bộ (2008), Luật giao thông đường thuỷ nội địa (2004), Luật đường sắt(2017), Luật hàng không dân dụng Việt Nam (2006) Các đạo luật này cùng vớihàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật khác về giao thông vận tải (GTVT) đangphát huy tác dụng trong cuộc sống Với nỗ lực chung của toàn xã hội, GTVT nước

ta đã đạt được những kết quả nhất định, đó là công tác xây dựng quy hoạch, kếhoạch, chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đã được quan tâm từ Trungương đến địa phương; cơ sở hạ tầng giao thông được tăng cường, đáp ứng từngbước yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, phương tiện giao thông hiện đại hơn và ýthức pháp luật của người tham gia giao thông ngày càng được nâng lên

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được trong lĩnh vựcGTVT thì tình hình trật tự ATGT vẫn đang gây lo ngại cho xã hội, nhất là giaothông đường bộ đang diễn biến ngày một phức tạp, mất trật tự, mức độ bảo đảm antoàn thấp, vi phạm pháp luật giao thông và TNGT có nguy cơ gia tăng Tình trạng

Trang 10

phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông không cân đối giữa đường bộ, đường sắt,đường thuỷ nội địa và đường hàng không cũng như việc thiếu chiến lược dài hạn vàquy hoạch chưa đồng bộ hệ thống giao thông vận tải trong tổng thể chiến lược pháttriển kinh tế – xã hội đã tạo ra những khó khăn trong tổ chức giao thông Điển hình làtình trạng đan xen của các loại đường bộ; sự giao cắt giữa đường bộ và đường sắt; sựpha tạp giữa nhiều loại phương tiện cùng sử dụng chung một tuyến, làn, luồng giaothông; sự phát triển tự phát không kiểm soát nổi các loại phương tiện giao thông thuỷ,bộ; cùng với ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông còn thấp, đãlàm cho tình hình trật tự ATGT của nước ta diễn biến phức tạp, gia tăng nguy cơ mất

an toàn và hệ quả là không kiềm chế được TNGT

Tình trạng ùn tắc giao thông tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,Quốc lộ 1, Quốc lộ 5… có xu hướng gia tăng và ngày càng nghiêm trọng So vớitình hình TNGT của nhiều nước trên thế giới và các nước trong khu vực, tình hìnhTNGT ở Việt Nam ở trong nhóm các nước có số vụ TNGT, số người chết vì TNGTcao

Theo báo cáo tổng kết của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia 6 tháng đầunăm 2019 toàn quốc xảy ra 8.385 vụ tai nạn giao thông, làm chết 3.810 người, bịthương 6.358 người So với 6 tháng đầu năm 2018, số vụ tai nạn giao thông giảm

641 vụ (giảm 7,1%), số người chết giảm 311 người (giảm 7,55%), số người bịthương giảm 679 người (giảm 9,65%)

Về ùn tắc giao thông, cả nước xảy ra 46 vụ; so với cùng kỳ năm 2018, tăng 8

vụ (tăng 17,4%) Nguyên nhân do tai nạn giao thông là 33 vụ (71,7%), lưu lượngphương tiện đông: 7 vụ (15,2%), nguyên nhân khác (sự cố phương tiện, cháy nổ,sạt lở…) 6 vụ (13,04%)

Người tham gia giao thông ý thức còn kém, ít hiểu biết về pháp luật, sử dụngchất ma túy, rượu bia khi tham gia giao thông, chạy xe quá tốc độ cho phép, phóngnhanh vượt ẩu là những nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông Ngoài ra đường

xá nhỏ hẹp, nhiều tuyến đường xuống cấp trầm trọng, lượng xe lưu thông lớn cũng

là những yếu tố dẫn đến nhiều vụ tai nạn nghiêm trọng xảy ra

Trang 11

Nhận thấy những thực tế cấp bách trên, sau quá trình học tập, nghiên cứu tạichương trình đào tạo Thạc sĩ Quản trị An ninh Phi truyền thống của Khoa Quản trị

và Kinh doanh (HSB) – Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viên đã lựa chọn đề tài

“Một số giải pháp về cơ sở hạ tầng nhằm nâng cao hiệu quả đảm bảo an toàn

giao

thông tại quốc lộ 5” để có được những tiếp cận khoa học và chính xác hơn đối với

công việc hiện tại, từ đó có thể đưa ra được những giải pháp nhằm áp dụng nhữngkiến thức và kinh nghiệm đã học để nâng cao hiệu quả hoạt động cho đơn vị hiện tạiđang phụ trách

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu.

2.1 Những nghiên cứu về an toàn giao thông.

2.1.1 Những bài học về giải pháp an toàn giao thông trên thế giới.

Thụy Điển: Vào giai đoạn những năm 1950 - 1960 của thế kỷ XX, ở Thụy

Điển diễn ra tình trạng gia tăng nhanh chóng số lượng các phương tiện giao thông

cơ giới Theo thống kê, cứ 5 năm thì số lượng xe ô-tô con của Thụy Điển tăng lêngấp hai lần; đến năm 1990 đã đạt tỷ lệ 400 phương tiện cá nhân/1.000 dân Điều đócũng đã kéo theo hệ lụy là gia tăngtình trạng ùn tắc, mất an toàn giao thông(ATGT), số vụ tai nạn giao thông (TNGT) tăng cao

Để kiểm soát và hạn chế TNGT, Chính phủ Thụy Điển đã thực hiện một loạtcác giải pháp, như tổ chức các chiến dịch truyền thông nhằm đề cao trách nhiệmcủa lái xe khi tham gia giao thông, nâng cao nhận thức của người dân về chấp hànhtốt các quy định của pháp luật ATGT Tuy nhiên, những kết quả đạt được cũngchưa như mong muốn và đòi hỏi cần có sự đột phá về chính sách ATGT

Năm 1997, Chính phủ Thụy Điển ban hành Bộ luật Vision Zero (Tầm nhìn về0) Cốt lõi của bộ luật là: Chính phủ Thụy Điển tiếp cận vấn đề ATGT ở góc độ mớivới quan điểm là TNGT hoàn toàn có thể phòng, tránh được Vision Zero chuyểnmục tiêu trọng tâm từ giảm tỷ lệ số vụ TNGT nói chung sang giảm thiểu các vụTNGT gây chết người hoặc thương tích nặng Chính phủ Thụy Điển cũng đã ứngdụng khoa học - công nghệ mạnh mẽ trong Vision Zero

Một số ví dụ điển hình của Vision Zero: 1- Tổ chức các nút giao bằng vòngxuyến: Từ nghiên cứu cho thấy các phương tiện đi theo vòng xuyến thường có

Trang 12

tốc độ thấp hơn các phương tiện đi thẳng, do đó tai nạn ít xảy ra hơn và nếu có, thìkhả năng thương vong cũng thấp hơn, Chính phủ Thụy Điển đã cho xây dựng lại hệthống vòng xuyến to hơn tại các ngã tư và các đường hàng đinh gần bệnh viện,trường học nhằm giảm tốc độ phương tiện; xây dựng hơn 1.500km tuyến đườnggồm 2 làn xe chạy và 1 làn đường dành riêng để vượt; hàng chục nghìn các đoạnđường giao cắt để bảo đảm an toàn cho người đi bộ 2- Bố trí, lắp đặt các dải phâncách trên đường: Cũng dựa trên kết quả nghiên cứu về việc lắp đặt dải phân cách sẽhạn chế thương tích trong trường hợp các phương tiện giao thông đâm, va khi dichuyển cùng chiều, Thụy Điển từng bước triển khai đồng bộ hệ thống dải phân cáchbắt đầu từ năm 1998, xây dựng 12.600 đoạn giao cắt an toàn bao gồm cả cầu vượtcho người đi bộ và đường sọc vằn bao quanh bởi đèn nhấp nháy cảnh báo va chạm.3- Hạn chế tốc độ khi di chuyển trong khu vực dân cư dưới 30km/h: Theo nghiêncứu, tốc độ dưới 30 km/h là giới hạn mà phần lớn người đi bộ có khả năng không

bị tử vong nếu xảy ra va chạm với các phương tiện giao thông Chính quyền các cấp

ở Thụy Điển đã lắp đặt biển báo giới hạn tốc ở tất cả các khu vực quy định với hơn1.100 camera giám sát tốc độ trên toàn quốc Đồng thời, Chính phủ Thụy Điển cònthực hiện một số biện pháp khác, như triển khai các kế hoạch thu phí tắc nghẽn giaothông, sử dụng mũ bảo hiểm cho người đi xe đạp, giải tỏa hành lang giao thông,triển khai thiết bị Alcolock trên các phương tiện giao thông với công dụng cản trở

sự di chuyển của ô-tô nếu như phát hiện nồng độ cồn trong máu người lái vượt quámức quy định

Kết quả là Thụy Điển trở thành một trong những quốc gia được đánh giá làATGT nhất thế giới, với tỷ lệ số người chết vì TNGT chỉ ở mức 2,6/100 nghìn dân(năm 2015) Năm 2012, ở Thụy Điển chỉ có 1 trẻ em dưới 7 tuổi chết vì TNGT (con

số này vào năm 1970 là 58 trẻ) So với năm 1997 thì năm 2013 ở Thụy Điển cólượng phương tiện và người tham gia giao thông tăng gấp đôi nhưng số ngườingười chết vì TNGT lại giảm hơn một nửa

Nhật Bản: Hiện nay, Nhật Bản được đánh giá là quốc gia có hệ thống giao

thông an toàn nhất trên thế giới và người dân rất có ý thức cao khi tham gia giao

Trang 13

thông Tuy nhiên, nếu quay trở về quãng thời gian gần nửa thế kỷ trước, câuchuyện lại hoàn toàn khác.

Năm 1945, sau khi bước ra khỏi chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản bắt đầutiến hành xây dựng lại đất nước Với những chính sách phát triển đúng đắn và sự nỗlực của toàn thể dân tộc, bắt đầu từ cuối thập niên 1950 thế kỷ XX, Nhật Bản, lạimột lần nữa trong lịch sử, có sự phát triển kinh tế - xã hội “thần kỳ” và hệ quả tấtyếu là sự gia tăng nhanh chóng của các phương tiện giao thông Theo ước tính, chỉtrong thời gian 5 năm, từ 1955 đến 1960, số xe ô-tô ở Nhật tăng gấp 3 lần và lượng

xe máy tăng gấp 2 lần Nhưng cùng với đó, số người chết vì TNGT cũng tăng từ6.379 người lên đến 12.055 người, phần lớn là trẻ em dưới 15 tuổi Vào nhữngnăm 1960 - 1970 của thế kỷ XX, những việc như tắc đường, phóng nhanh vượt ẩu,lấn làn… cũng diễn thường xuyên “như cơm bữa” và rất phổ biến tại Nhật Bản Vàđỉnh điểm số người chết vì TNGT tại Nhật lên đến con số cao kỷ lục, với 17.000người chết hằng năm

Trước tình hình đó, Chính phủ Nhật Bản đã phải đưa ra khái niệm “chiếntranh giao thông” nhằm cảnh tỉnh rằng số người chết do TNGT ở Nhật còn nhiềuhơn số người chết trong cuộc chiến tranh ở Nhật vào thế kỷ trước đó Thời điểmnày, dư luận Nhật Bản và các phương tiện truyền thông cũng mạnh mẽ lên tiếngyêu cầu, ủng hộ Chính phủ xây dựng một chính sách ATGT triệt để

Năm 1955, cơ quan phụ trách chính sách ATGT được thành lập và đặt trongNội các Chính phủ; đến năm 1960 thuộc Văn phòng Chính phủ Nhưng đến năm

1965, cơ quan này được nâng tầm, tách ra đứng độc lập, có vai trò, trách nhiệmđiều phối các cơ quan chức năng thực hiện các chính sách về ATGT

Chính phủ Nhật Bản đề ra Chính sách 3E trong bảo đảm ATGT: 1-Enforcement(cư ng chế): Tiến hành cải cách luật giao thông một cách toàn diện, mạnh mẽ; ban hànhLuật Giao thông đường bộ với nội dung gắn chặt với mục tiêu ATGT, thành lập đơn vịcảnh sát giao thông nhằm tăng cường công tác cư ng chế thực hiện pháp luật giaothông, xử lý mạnh tay với những hành vi sai phạm 2-Engineering (xây dựng): Tăngcường xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, tập trung tiến hành xây dựng, lắp đặt cáccông trình ATGT, như các hệ thống đèn hiệu, biển

Trang 14

báo, cầu vượt…; 3- Education (giáo dục): Bộ Giáo dục tuyên bố kế hoạch giáo dụcATGT và phát hành “Sách hướng dẫn ATGT”, đẩy mạnh việc giáo dục ATGT ởcác trường học nhằm tạo ý thức, nhận thức về bảo đảm ATGT cho người Nhật từkhi còn nhỏ Một thời gian sau, Chính sách 3E trở thành Chính sách 4E với thêmtiêu chí Emergency Medical Care (chăm sóc y tế khẩn cấp).

Tháng 6-1970, Luật ATGT Nhật Bản được ban hành và đến ngày nay vẫn lànội dung cốt lõi của chính sách ATGT của đất nước Luật quy định rõ trách nhiệmcủa tất cả các cá thể trong xã hội, từ trung ương đến địa phương, từ cơ quan quản lýgiao thông đến người lái xe, người đi bộ đối với tất cả các hình thức giao thông:Đường biển, đường bộ, đường không, đường sắt ; quy định trách nhiệm cụ thểcủa các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bảo đảm ATGT Luật định các cơ quantrung ương chịu trách nhiệm thi hành các chính sách chung cấp toàn quốc, các cơquan địa phương (tỉnh, thành, xã) trên cơ sở các chính sách đó, xây dựng và thựchiện các chương trình cụ thể phù hợp với đặc trưng của địa bàn Luật còn quy địnhtrách nhiệm rõ ràng đến những nhà sản xuất phương tiện và các công ty dịch vụ vậntải Các văn bản dưới luật tiếp tục cụ thể hóa minh bạch để hướng dẫn thực hiện.Tại Nhật Bản có nhiều cơ quan hành chính khác nhau chịu trách nhiệm vềATGT Do đó nước này thực hiện cơ chế tổ chức hội nghị, ở tất cả các cấp từ trungương đến địa phương, với sự tham gia của lãnh đạo các cơ quan hữu quan nhằmtạo sự thống nhất đưa ra các quyết định quan trọng trong chính sách ATGT

Sau khi Luật ra đời, số người chết do TNGT ở Nhật giảm dần qua các năm

Và ngày nay Nhật Bản là quốc gia tiêu biểu trong phòng, tránh TNGT Bài học lớncủa người Nhật rút ra là: Cần một chiến lược lâu dài, toàn diện và sự quyết tâmmạnh mẽ từ Chính phủ đến người dân

Singapore: Đặc điểm của Singapore là một quốc đảo có diện tích rất nhỏ

nhưng lại có kinh tế - xã hội phát triển mạnh; dân số không phải là đông nhưng sovới diện tích thì có thể xếp vào hàng “đất chật, người đông” Là đất nước có mật độphương tiện giao thông cao nhất trên thế giới - 281 phương tiện/km, cao hơn NhậtBản (63 phương tiện/km), Anh (77 phương tiện/km)… nhưng Singapore không cóquỹ đất để mở rộng, phát triển giao thông

Trang 15

Đứng trước bài toán nan giải đó, Chính phủ Singapore đã đề ra một loạt cácchính sách về giao thông rất thông minh, khoa học, bài bản Trong đó, Chính phủhướng tới giải pháp mang tính bền vững, lâu dài, đó là tăng cường hệ thống giaothông công cộng Bên cạnh đó, kiềm chế, kiểm soát chặt chẽ sự phát triển củaphương tiện giao thông cá nhân.

Singapore đẩy mạnh phát triển mạnh hệ thống giao thông công cộng, như xebuýt, hệ thống tàu điện ngầm MRT hiện đại với mục tiêu được xác định rõ, là phục

vụ người dân di chuyển dễ dàng và tiết kiệm chi phí Từ năm 1996, Singapore xâydựng Sách trắng về giao thông, với mục tiêu chiến lược là nhằm cải thiện hoạt độngcủa hệ thống giao thông (kiểm soát về tốc độ, quản lý hạ tầng giao thông công cộng,

kế hoạch tài chính)

Năm 2008, Chính phủ Singapore ban hành Kế hoạch tổng thể giao thôngđường bộ (LTMP), chuyển sang hướng tiếp cận hệ thống giao thông “lấy ngườidân làm trung tâm”; trong đó hướng mạnh vào phát triển phương tiện giao thôngcông cộng Singapore thực hiện xây dựng thêm tuyến tàu, làn xe buýt, tuyến xebuýt; đồng thời, một điểm rất tinh tế của Chính phủ đó là chú trọng phương phápthực hiện cải thiện trải nghiệm, thay đổi hành vi sử dụng phương tiện giao thông,hướng tới thuyết phục người dân từ bỏ phương tiện cá nhân Singapore còn tậndụng sức ảnh hưởng của người nổi tiếng, những người có uy tín, tiếng nói trongcộng đồng để thuyết phục mọi người thay đổi thói quen dùng xe cá nhân, chuyểnsang sử dụng phương tiện công cộng

Đối với các phương tiện giao thông cá nhân, Chính phủ tiến hành quản lý,điều tiết bằng hệ thống hạn ngạch, phí đăng ký, phí tắc đường Việc đặt hạn ngạch

và phí đăng ký mua xe mới nhằm kiểm soát phát triển lượng ô-tô còn phí tắc đườngđược áp dụng linh hoạt nhằm điều tiết lượng xe tham gia giao thông

2.1.2 Những nghiên cứu về thực trạng, giải pháp tăng cường an toàn giao thông của nước ta.

Công tác ATGT chưa đạt được những kết quả mong muốn trước hết là dothiếu các nghiên cứu toàn diện và sâu sắc về vấn đề này Các công trình khoa học

Trang 16

nghiên cứu về ATGT chưa thực sự hoàn thiện Có hiểu biết sâu sắc và toàn diện về công tác an toàn

GS.TSKH Nguyễn Hữu Hà – Đại học Giao thông vận tải đã phân tích nguyên nhân và đề xuất các giải pháp cụ thể để giải quyết vấn đề ATGT như sau:

- Các nguyên nhân chính gây nên TNGT tại Việt nam hiện nay:

+ Thiếu cơ sở lý luận, chưa có một cách nhìn toàn diện về ATGT.+ Các chính sách về ATGT không đồng bộ và nhất quán

+ Hệ thống vận tải công cộng quá yếu kém

+ Cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, lạc hậu

+ Chưa tận dụng hết các nguồn lực của xã hội tham gia vào phát triển vận tảihành khách

+ Phát triển chưa cân đối các loại hình vận tải

+ Ý thức của người tham gia giao thông chưa cao

- Các giải pháp cho vấn đề ATGT hiện nay:

+ Nghiên cứu lý luận để có cách nhìn toàn diện, sâu sắc về ATGT

+ Tăng cường sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước và sự phối hợp giữa các ngành các cấp trong giải quyết vấn đề ATGT

+ Tăng cường tính đồng bộ và hiệu lực của các biện pháp ATGT.+ Phát triển cân đối giữa năng lực thông qua của các tuyến đường và

phương tiện tham gia giao thông

+ Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành giao thông vận tải

+ Tổ chức hợp lý việc bảo dư ng, sửa chữa các công trình giao thông

+ Tăng cường phổ biến luật lệ và nâng cao ý thức của người tham gia giao thông

+ Đẩy mạnh xã hội hoá công tác vận chuyển hành khách thông qua chính sách trợ giá

+ Phát triển metro và đường sắt trên cao trong các đô thị

TS Khuất Việt Hùng - Phó Chủ tịch Chuyên trách Ủy ban ATGT Quốc gia đưa ra các giải pháp dài hạn nhằm giảm thiểu TNGT đến 2030 tại Hội thảo Khoa

Trang 17

học "Tình hình TNGT đường bộ trên tuyến quốc lộ 1A - Thực trạng và giải pháp giảm thiểu tai nạn”

- Phát triển các phương thức vận tải có tính năng an toàn cao như đường sắt,đường sắt đô thị, vận tải hành khách công cộng, vận tải phi cơ giới (xe đạp côngcộng và đi bộ) với làn đường dành riêng, ôtô cá nhân (trong những mục tiêu chuyến

đi thích hợp) đồng thời giảm dần các phương tiện vận tải có tính năng an toàn thấpnhư xe máy

- Quy hoạch sử dụng đất hợp lý, theo hướng hỗ trợ người dân tiếp cận và sửdụng vận tải công cộng thuận tiện hơn, tạo ra những chuyến đi có thể thực hiệnbằng vận tải phi cơ giới qua đó giảm thiểu nhu cầu đi lại không cần thiết bằngphương tiện vận tải cơ giới cá nhân

- Chuẩn hóa số liệu thống kê về an toàn giao thông bằng việc thể chế hóa quytrình cung cấp, báo cáo và chia sẻ thông tin về tình hình an toàn giao thông của các

tổ chức có liên quan, bao gồm: cảnh sát giao thông, hệ thống y tế (bệnh viện), cáccông ty bảo hiểm và ngành tư pháp (quản lý hộ tịch), qua đó có thể kiểm tra chéo

số lượng người thiệt mạng từ tai nạn giao thông

- Phát triển thị trường bảo hiểm như một công cụ về kinh tế để điều tiết hành

vi của người tham gia giao thông Đảm bảo thị trường bảo hiểm này được vậnhành theo cơ chế thị trường, có môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai minhbạch Đây cũng là mô hình đã được áp dụng thành công tại rất nhiều nước pháttriển trên thế giới

- Nâng cao dân trí của người dân về an toàn giao thông, thể hiện qua việcngười dân tuân thủ các quy định khi tham gia giao thông và cơ quan quản lý có đủnăng lực để xử lý những trường hợp vi phạm Hai nội dung này thường đi liền vớinhau Để xử lý được vi phạm (đặc biệt xử lý nguội), cơ quan quản lý cần biết thôngtin về phương tiện và người lái/chủ sở hữu phương tiện theo địa chỉ cụ thể Do đóviệc xây dựng mã số bưu chính, quản lý xe chính chủ, quản lý người sử dụngphương tiện có một vai trò cực kỳ quan trọng Trong đó mã số bưu chính cho từngđịa chỉ cần được xây dựng trước tiên

Trang 18

- Quy định rõ hơn quyền hạn, nguồn lực, quyền lợi và trách nhiệm của cá nhântrong việc đảm bảo an toàn giao thông đặc biệt là chủ tịch UBND và Giám đốc sởGTVT tại các địa phương.

- Cho phép người dân cộng đồng thực sự tham gia vào quá trình xây dựng hoạch định các chính sách liên quan đến an toàn giao thông

- Có cơ chế thu nhận thông tin phản hồi của người dân về an toàn giao thông.Xây dựng trung tâm cứu hộ quốc gia với một số điện thoại duy nhất, đảm bảo nănglực xử lý và lưu trữ toàn bộ các cuộc đàm thoại Quy định rõ trách nhiệm quyềnhạn của cá nhân trong xử lý thông tin phản hồi Thể chế hóa quy trình xử lý thôngtin và tốc độ xử lý thông tin phản hồi

- Thành lập một tổ chức kiểm định an toàn giao thông đối với phương tiện,hoạt động trên cơ sở phi lợi nhuận và độc lập (có thể do hiệp hội các nhà sản xuấtôtô tài trợ) để tiến hành kiểm định độc lập về an toàn với các phương tiện giaothông đường bộ lưu hành trên lãnh thổ Việt Nam

- Đưa nội dung an toàn giao thông thành một môn học chủ đạo trong chươngtrình đào tạo các ngành về kiểm định, quy hoạch, thiết kế cơ sở hạ tầng, thi côngxây dựng, giám sát vận hành, bảo trì bảo dư ng trong các trường đại học cao đẳng

3 Đánh giá tình hình nghiên cứu

Thông qua quá trình nghiên cứu, tổng hợp các bài báo, luận văn, sách, tạp chí,tác giả đã đúc rút ra được một số vấn đề như sau:

Một là, làm rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về ATGT, coi ATGT là

những biểu hiện nhằm duy trì trật tự và bảo vệ đất nước khỏi những mối đe dọa,đồng thời đem lại sự bình yên và giải quyết những bất đồng mâu thuẫn trong xã hộihiện nay

Hai là, trong những năm qua, tình hình ATGT ở nước ta nói chung, nhưng

chưa đánh giá thực trạng ATGT một cách chuyên sâu để giải quyết các vấn đề đangtồn tại, phát sinh liên quan đến ATGT

Ba là, các công trình nghiên cứu đã hệ thống rất nhiều các nhóm giải pháp, kiến

nghị vừa có tính định hướng vừa có tính thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động

về ATGT Tuy vậy, các nhóm giải pháp phần nhiều không cập nhật được tính

Trang 19

thời sự hiện nay; giải pháp mang tính chất đơn lẻ trong từng lĩnh vực cụ thể củaATGT Do đó, các giải pháp mà các nhà nghiên cứu đã nêu chắc chắn sẽ phảinghiên cứu, phân tích sâu hơn.

4 Mục tiêu nghiên cứu

- Về lý thuyết: hệ thống và đưa ra mô hình lý thuyết cho các giải pháp tăng cường ATGT

- Về thực trạng: sử dụng công cụ đã chọn, trên cơ sở nền tảng của việc phântích dữ liệu, đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân, đánh giá vấn đề ATGTtrên tuyến Quốc lộ 5

- Về giải pháp: thông qua tư vấn từ những chuyên gia và người có tráchnhiệm liên quan để đưa ra đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đảmbảo ATGT trên Quốc lộ 5

5 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là yếu tố về ATGT trên tuyến đường Quốc lộ, cụ thể:Quốc lộ 5

6 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: nghiên cứu hoạt động giao thông trên Quốc lộ 5, tập trung

vào các yếu tố đảm bảo an toàn giao thông trên tuyến

Phạm vi không gian: tại tuyến Quốc lộ 5.

Phạm vi thời gian: nghiên cứu thực trạng an toàn giao thông của đường Quốc

lộ 5 giai đoạn 2017-2019, dữ liệu khảo sát vào năm 2019, giải pháp đề xuất tới năm

2025 và định hướng tới năm 2030

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

7.1.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu bằng phương pháp desk data (thu thập

dữ liệu tại bàn) Các nguồn dữ liệu này bao gồm:

1) Các lý thuyết nền tảng liên quan đến chủ đề nghiên cứu như an ninh phi truyền thống, an toàn giao thông,…;

2) Các nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế về chủ đề này

Trang 20

3) Các bài báo, tài liệu hội thảo trong và ngoài nước.

Việc nghiên cứu dữ liệu thứ cấp sẽ giúp học viên xây dựng được mô hìnhnghiên cứu và phát triển được các giả thuyết nghiên cứu về an toàn giao thông trênQuốc lộ 5, làm căn cứ cho việc kiểm định tại chương thực trạng và đề xuất các giảipháp

7.1.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp

1) Bằng phiếu khảo sát

Để kiểm định các giả thuyết nêu ra từ mô hình nghiên cứu, tác giả sẽ thiết kế

và phát một phiếu hỏi định lượng tới các đối tượng khảo sát Phiếu khảo sát sẽ baogồm các thông tin chung về nghiên cứu, các câu hỏi xoay quanh vấn đề an toàn giaothông trên Quốc lộ 5 theo những căn cứ nghiên cứu đã đề xuất, và những nội dungthu thập thêm từ người trả lời

Thang đo Likert từ 1 đến 5 sẽ được sử dụng cho đa số các câu hỏi trong phiếu

hỏi định lượng với 5 tương ứng với mức “cao nhất” và 1 tương ứng với mức “thấp nhất”.

Đối tượng khảo sát 1: là ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên của Tổng cục Đường

bộ Việt Nam đang công tác liên quan đến lĩnh vực quản lý, khai thác đường Quốc

lộ Số lượng phiếu phát ra là 80 phiếu và số phiếu thu về hợp lệ là 72

Đối tượng khảo sát 2: là người dân, lái xe lưu thông trên tuyến Quốc lộ 5 vào

1 thời điểm nhất định Số phiếu là 60 gửi đi qua email và thu về là 48 phiếu

2) Phỏng vấn chuyên gia

Tác giả trực tiếp phỏng vấn sâu 5 chuyên gia trong lĩnh vực an toàn, quản lýgiao thông đường bộ

7.2 Phương pháp phân tích dữ liệu

Phương pháp định lượng: Tác giả sẽ sử dụng phần mềm excel để phân tíchcác dữ liệu đã thu thập được

Phương pháp định tính: song song với phương pháp định lượng, luận văncũng sử dụng những phương pháp định tính như so sánh, phân tích, đánh giá nhằmlàm rõ vấn đề nghiên cứu

8 Cấu trúc luận văn

Trang 21

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục; phần nội dung của luận văn được chia thành 03 chương:

- Chương 1 Cơ sở lý luận về an toàn giao thông, cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ

- Chương 2 Nghiên cứu vấn đề, thực trạng cơ sở hạ tầng giao thông trên Quốc lộ 5

- Chương 3 Đề xuất giải pháp về cơ sở hạ tầng nhằm nâng cao hiệu quả đảmbảo an toàn giao thông trên Quốc lộ 5

Trang 22

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐỂ ĐẢM

BẢO AN TOÀN ĐƯỜNG BỘ 1.1 An toàn giao thông và cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ

1.1.1 An toàn

Theo (Thượng tướng, TS Nguyễn Văn Hưởng, Thượng tướng, PGS TS.Bùi Văn Nam, PGS TS Hoàng Đình Phi, 2015) an ninh có nghĩa là an toàn, bình

an ngược lại với nguy hiểm Gốc của “An” là sự tồn tại Từ đó ta có phương trình

an ninh của mỗi quốc gia:

AN QG VN = ỔN ĐỊNH + PT BỀN VỮNG + ĐỘC LẬP + CHỦ QUYỀN +THỐNG NHẤT + TOÀN VẸN LÃNH THỔ

Theo mô hình 3S-3C hay khung lý thuyết cơ bản của quản trị an ninh phitruyền thống (Nguyễn Văn Hưởng, Hoàng Đình Phi, 2015)

C1: Chi phí và công tác quản trị rủi ro để đảm bảo an toàn

C2: Chi phí tổn thất do rủi ro đã xảy ra thành khủng hoảng và công tác quảntrị khủng hoảng

C3: Chi phí và công tác khắc phục hậu quả sau khủng hoảng

Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm và 7 yếu tố đảm bảo

an ninh con người theo quan điểm của LHQ bởi đây là một khái niệm đã được chấpnhận rộng rãi trên toàn thế giới và cũng là những yếu tố nền tảng cho phân tích cácvấn đề về an ninh con người Bảy yếu tố này sẽ được cụ thể hóa trong hoạt độngđảm bảo an toàn giao thông để đưa ra được khung phân tích chung về an ninh conngười trong lĩnh vực quản lý đường bộ

Trang 23

1.1.2 An toàn giao thông đường bộ

An toàn giao thông là các tính chất tổng hợp nhằm giảm xác suất phát sinh tai nạngiao thông và giảm thiểu tổn thất về vật chất và con người khi xảy ra tai nạn giao thông

An toàn giao thông đường bộ đề cập đến các cách thức, biện pháp được sửdụng để ngăn chặn người tham gia giao thông đường bộ tử vong hoặc bị thươngnặng do tai nạn giao thông Những người tham gia giao thông đường bộ bao gồm:người đi bộ, người đi xe đạp, người lái các loại xe máy khác nhau, hành khách trêncác phương tiện công cộng (như xe buýt)

Các phương pháp tốt nhất trong chiến lược an toàn đường bộ hiện đại:

Chiến lược cơ bản là để đảm bảo rằng trong trường hợp xảy ra tai nạn, tai nạnvẫn dưới ngư ng có khả năng gây ra tử vong hoặc thương tích nghiêm trọng Ngư

ng này sẽ thay đổi tùy thuộc vào mức độ bảo vệ được cung cấp cho người tham giagiao thông Ví dụ, cơ hội sống sót cho người đi bộ không được bảo vệ sẽ giảm ởtốc độ lớn hơn 30 km/h, trong khi đối với xe có động cơ hạn chế, tốc độ va chạm đó

là 50 km/h (đối với va chạm bên hông) và 70 km/h (đối với tai nạn ở vùng đầu).(Diễn đàn Giao thông vận tải quốc tế, Hướng tới Zero, Mục tiêu an toàn đường bộđầy tham vọng và phương pháp tiếp cận hệ thống an toàn, trang Tóm tắt điều hành

19[1])

Do giải pháp bền vững cho tất cả hoạt động an toàn đường bộ chưa được xácđịnh, đặc biệt là các tuyến đường nông thôn và vùng xa xôi, nên áp dụng hệ thốngkiểm soát phân cấp, tương tự như phân loại được sử dụng để cải thiện an toàn vàsức khỏe nghề nghiệp:[1]

Ở cấp độ cao nhất là phòng chống thương tích nghiêm trọng và tai nạnnghiêm trọng, với yêu cầu này tất cả các khu vực giao thông chính yếu cần đượctập trung quản lý tốt

Ở cấp độ thứ hai là giảm rủi ro trong thời gian thực, bao gồm việc cung cấpcho người tham gia giao thông các biển báo cụ thể cho phép họ nhanh chóng điềuchỉnh việc di chuyển của họ

Cấp độ thứ ba là áp dụng các tiêu chuẩn và hướng dẫn thiết kế đường bộ (chẳng hạn như từ AASHTO), điều chỉnh thói quen và hoạt động lái xe

Trang 24

1.1.3 Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ

Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ bao gồm toàn bộ điều kiện vật chất kỹthuật như: Hệ thống cầu, đường bộ, các công trình, thiết bị phụ trợ, các trạm nghỉđường bộ và thể chế chính sách quản lý cũng như môi trường hoạt động gắn vớigiao thông đường bộ để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội

Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ đượcphân thành các loại khác nhau, nhằm mục đích quản lý và huy động vốn đầu tư pháttriển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ một cách hợp lý và có hiệu quả (TheoEPAC (Economic Planning and Advisory Commission – Hội đồng Kếhoạch và Tưvấn kinh tế)

Căn cứ vào hình thái biểu hiện: cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ gồm cóhình thái vật chất và hình thái phi vật chất:

1) Cơ sở hạ tầng mang hình thái vật chất: bao gồm các công trình cầu, hầm,đường bộ, bến phà và các công trình phụ trợ kèm theo như: Hệ thống tườngphòng vệ, dải phân cách đường, cột cây số, công trình an toàn giao thông, hệthống thoát nước, bãi đỗ xe, trạm thu phí, trạm cân xe, các biển báo, cácphương tiện báo hiệu, hệ thống đèn chiếu sáng, các bến bãi và các thiết bịđiều khiển giao thông khác…

2) Cơ sở hạ tầng mang hình thái phi vật chất: bao gồm các cơ chế, chính sáchquản lý hạ tầng giao thông, công nghệ thông tin, môi trường an ninh xã hộigắn với hoạt động giao thông đường bộ

Theo cách phân loại này cho thấy tính toàn diện của hệ thống cơ sở hạ tầnggiao thông đường bộ nói chung và đề cao vai trò của Nhà nước trong việc xâydựng, cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ mang hình thái phi vật chất, tạođiều kiện, môi trường thuận lợi cho việc phát triển giao thông đường bộ

1.2 Quy trình đảm bảo ATGT của Tổng cục Đường bộ Việt Nam

1.2.1 Phát triển kết cấu hạ tầng

Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là các công trình đường bộ, bến xe, bãi

đỗ xe và hành lang an toàn đường bộ Mạng lưới đường bộ gồm quốc lộ, đường

Trang 25

tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị và đường chuyên dùng Đường bộđược đặt tên hoặc số hiệu và phân thành các cấp đường Chính phủ quy định việcphân loại, đặt tên hoặc số hiệu đường và tiêu chuẩn kỹ thuật các cấp đường bộ.Kết cấu hạ tầng nói chung và kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ nói riêng lànền tảng vật chất có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xãhội của đất nước Có kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đồng bộ, hiện đại, kếtnối đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hóa, hành khách… thì nền kinh tế mới có điềukiện để tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững Việc phát triển nhanh kết cấu hạtầng giao thông đường bộ với phương châm “đi trước một bước” là đòi hỏi bứcthiết của thực tiễn, vừa nhằm tháo g các điểm nghẽn, vừa tạo điều kiện bứt phánhanh trong quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ của đất nước.

1.2.2 Tổ chức giao thông

Tổ chức giao thông là sử dụng có hiệu quả hệ thống đường, các trang thiết bịtrên đường nhằm tăng khả năng thông qua của mạng lưới tránh ùn tắc giao thông,nâng cao chất lượng phục vụ giao thông đặc biệt cho những người sử dụng cácphương tiện giao thông công cộng đảm bảo ATGT, giảm các vụ tai nạn đặc biệt làcác vụ tai nạn nghiêm trọng, giảm tiêu hao nhiên liệu, giảm lượng khí thải, tiếng ồn,bụi giữ vệ sinh môi trường cho nhân dân

Tổ chức giao thông gồm các nội dung sau đây:

- Phân làn, phân luồng, phân tuyến và quy định thời gian đi lại cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ;

- Quy định các đoạn đường cấm đi, đường đi một chiều, nơi cấm dừng, cấm

đỗ, cấm quay đầu xe; lắp đặt báo hiệu đường bộ;

- Thông báo khi có sự thay đổi về việc phân luồng, phân tuyến, thời gian đi lạitạm thời hoặc lâu dài; thực hiện các biện pháp ứng cứu khi có sự cố xảy ra và cácbiện pháp khác về đi lại trên đường bộ để bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn.Trách nhiệm tổ chức giao thông quy định như sau:

- Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm tổ chức giao thông trên hệthống quốc lộ;

Trang 26

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức giao thông trên các hệ thống đường bộ thuộc phạm vi quản lý.

1.2.3 Thẩm định an toàn giao thông, cải tạo điểm đen và quản lý, bảo trì đường bộ

1) Thẩm định an toàn giao thông:

Thẩm định an toàn giao thông để hạn chế tối đa các nguy cơ mất an toàn giaothông; giảm thiểu tai nạn giao thông và tăng cường an toàn giao thông trong quátrình tham gia giao thông trên hệ thống đường bộ

Các giai đoạn thẩm định an toàn giao thông được quy định tại Điều 53 Thông

tư 50/2015/TT-BGTVT hướng dẫn Nghị định 11/2010/NĐ-CP về quản lý và bảo

vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ như sau:

- Đối với đường bộ xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo:

+ Bắt buộc phải thẩm định an toàn giao thông giai đoạn thiết kế kỹ thuật (dự

án thiết kế 3 bước) hoặc thiết kế bản vẽ thi công (dự án thiết kế 2 bước) và giaiđoạn trước khi đưa công trình vào khai thác

+ Ngoài các giai đoạn thẩm định bắt buộc nêu trên, người có thẩm quyềnquyết định đầu tư có thể quyết định tiến hành thẩm định an toàn giao thông tại bất

kỳ thời điểm nào trong quá trình lập dự án, thiết kế, thi công nếu thấy cần thiết

+ Riêng đối với dự án do các địa phương là cấp quyết định đầu tư, tùy vàođiều kiện thực tế có thể thực hiện theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều nàyhoặc thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 11/2010/NĐ-CP

- Đối với công trình đường bộ đang khai thác

+ Công trình đường bộ đang khai thác phải thực hiện việc thẩm định an toàngiao thông khi xảy ra một trong các trường hợp nêu tại khoản 2 Điều 13 của Nghịđịnh số 11/2010/NĐ-CP

+ Cơ quan có thẩm quyền quyết định và tổ chức thực hiện thẩm định an toàngiao thông được quy định tại khoản 2 Điều 54 Thông tư này quyết định phê duyệtdanh mục tuyến đoạn tuyến phải thẩm định an toàn giao thông đáp ứng điểm aKhoản này do đơn vị quản lý tuyến đường đề nghị

2) Cải tạo điểm đen và quản lý, bảo trì đường bộ:

18

Trang 27

Tại Khoản 2 Điều 3 Thông tư 26/2012/TT-BGTVT, có quy định về tiêu chí xác định điểm đen tai nạn giao thông đường bộ, cụ thể như sau:

Tiêu chí xác định điểm đen là tình hình tai nạn giao thông xảy ra trong một năm (12 tháng), thuộc một trong các trường hợp sau:

- 02 vụ tai nạn giao thông có người chết;

- 03 vụ tai nạn trở lên, trong đó có 01 vụ có người chết

- 04 vụ tai nạn trở lên, nhưng chỉ có người bị thương

Cùng với đổi mới toàn diện công tác bảo trì đường bộ, công tác khắc phục các điểmđen, điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông cũng được Bộ Giao thông vận tải và Tổng cụcĐường bộ đặc biệt quan tâm góp phần làm giảm số lượng các vụ tai nạn giao thông.Công tác Quản lý, bảo trì đường bộ được quy định như sau:

- Bảo trì đường bộ là thực hiện các công việc bảo dư ng và sửa chữa đường

bộ nhằm duy trì tiêu chuẩn kỹ thuật của đường đang khai thác

- Đường bộ đưa vào khai thác phải được quản lý, bảo trì với các nội dung sau đây:+ Theo dõi tình trạng công trình đường bộ; tổ chức giao thông; kiểm tra, thanh tra việc bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;

+ Bảo dư ng thường xuyên, sửa chữa định kỳ và sửa chữa đột xuất

- Trách nhiệm tổ chức quản lý, bảo trì đường bộ quy định như sau:

+ Hệ thống quốc lộ do Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm;

+ Hệ thống đường tỉnh, đường đô thị do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịutrách nhiệm Việc quản lý, bảo trì hệ thống đường huyện, đường xã do Ủy bannhân dân cấp tỉnh quy định;

+ Đường chuyên dùng, đường không do Nhà nước quản lý khai thác,đường được đầu tư xây dựng không bằng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước dochủ đầu tư tổ chức quản lý, bảo trì theo quy định

1.2.4 Quản lý hành lang an toàn đường bộ

Hành lang an toàn đường bộ là dải đất dọc hai bên đất của đường bộ, tính từ mép ngoài đất của đường bộ ra hai bên để bảo đảm an toàn giao thông đường bộ.Trong đó: “Đất của đường bộ là phần đất trên đó công trình đường bộ được xâydựng và phần đất dọc hai bên đường bộ để quản lý, bảo trì, bảo vệ công trình đường bộ.”

Trang 28

Nghĩa là, hành lang an toàn là phạm vi tính từ đất của đường bộ trở ra hai bên,phạm vi của hành lang an toàn được quy định tại điều 15 Nghị định 11/2010/NĐ-

CP của chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đườngbộ

- Đối với đường ngoài đô thị: căn cứ cấp kỹ thuật của đường theo quy hoạch,phạm vi hành lang an toàn của đường có bề rộng tính từ đất của đường bộ trở ra haibên là:

+ 47 mét đối với đường cao tốc;

+ 17 mét đối với đường cấp I, cấp II;

+ 13 mét đối với đường cấp III;

+ 09 mét đối với đường cấp IV, cấp V;

+ 04 mét đối với đường có cấp thấp hơn cấp V

- Đối với đường đô thị, bề rộng hành lang an toàn được tính từ mép đườngđến chỉ giới xây dựng của đường theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phêduyệt Đối với đường cao tốc đô thị, bề rộng hành lang an toàn là 40 mét

- Đối với đường bộ có hành lang an toàn chồng lấn với hành lang an toànđường sắt thì phân định ranh giới quản lý theo nguyên tắc ưu tiên bố trí hành lang

an toàn cho đường sắt, nhưng ranh giới hành lang an toàn dành cho đường sắtkhông được chồng lên công trình đường bộ

Trường hợp đường bộ, đường sắt liền kề và chung nhau rãnh dọc thì ranh giớihành lang an toàn là mép đáy rãnh phía nền đường cao hơn, nếu cao độ bằng nhauthì ranh giới hành lang an toàn là mép đáy rãnh phía đường sắt

- Đối với đường bộ có hành lang an toàn chồng lấn với hành lang bảo vệ đường thủy nội địa thì ranh giới hành lang an toàn là mép bờ tự nhiên.”

Hành lang an toàn đường bộ đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo đảm

an toàn giao thông, bảo vệ công trình đường bộ và là quỹ đất dự phòng để mở rộngtuyến đường Việc thực hiện các quy định pháp luật về quản lý, bảo vệ hành lang

an toàn đường bộ và các quy định pháp luật về quản lý, bảo vệ hành lang an toànđường bộ đã được các ngành, các cấp, quan tâm thực hiện góp phần bảo đảm giaothông trên các tuyến đường bộ thuận lợi, an toàn

Trang 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG VÀ AN TOÀN GIAO THÔNG TRÊN QUỐC LỘ 5 GIAI ĐOẠN NĂM 2015-2020

2.1 Giới thiệu chung về Quốc lộ 5.

Quốc lộ 5 là tuyến giao thông huyết mạch nối cụm cảng biển Quốc gia HảiPhòng với thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc Hiện nay là tuyến đường trọng yếunằm trong trục kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Nằm ở vị trí trung tâmcủa đồng bằng Bắc Bộ, từ thời xưa cho đến nay, Quốc lộ 5 luôn có vị trí địa lý hànhchính kinh tế và giao thương rất quan trọng giữa Hà Nội với các tỉnh phía đông vàđông bắc, một vùng trọng điểm về nông nghiệp, khai thác khoáng sản, đánh bắt thủyhải sản và vận tải sông biển

(Cầu Phú Lương trên Quốc lộ 5 )Gần như chạy song song với quốc lộ 5 còn có tuyến đường sắt Hà Nội - HảiPhòng dài khoảng 110 km, được bắt đầu từ Quận Long Biên (Hà Nội) đến QuậnNgô Quyền ( Hải Phòng) Trước đây trục đường 5 cũ chạy từ Như Quỳnh đếnthành phố Hải Dương chạy song song với tuyến đường sắt, đến cuối thành phố Hải

Trang 30

Dương, qua cầu đường sắt Phú Lương mới nhập vào Quốc lộ 5 như hiện nay Đếnbây giờ tuyến đường 5 cũ này vẫn còn tồn tại và trở thành đường tỉnh lộ 388.

Điểm đầu Quốc lộ 5 được tính từ km 166 quốc lộ 1A cũ, đó là nút giao thôngkhu vực ngã ba Cầu Chui – Long Biên – Hà Nội, đi qua Văn Lâm, Yên Mỹ, MỹHào (Bắc Hưng Yên), Cẩm Giàng, thành phố Hải Dương, qua cầu Phú Lương mới,ngã ba Quốc lộ 5 với Quốc lộ 37 ( hay còn gọi là QL18B), tại khu vực Tiền Trunghuyện Nam Sách, tiếp đến là Kim Thành (Hải Dương), Phú Thái, Khu Công nghiệpNomura - Quán Toan, đài liệt sĩ Hồng Bàng, nối vào trục đường Tôn Đức Thắng,tiếp nối cũng là đường Nguyễn Văn Linh, qua các cầu An Dương, Lạch Tray…điểm cuối cùng là nút giao Quốc lộ 5 với đường tỉnh lộ 356 tại khu vực bến cảngChùa Vẽ - trên sông Cấm thuộc cảng Hải Phòng, với chiều dài toàn tuyến là 106km

Quốc lộ 5 được cải tạo, nâng cấp và mở rộng từ tháng 6 năm 1996 do banquản lý dự án 5 Bộ GTVT đại diện chủ đầu tư Các nhà thầu tham gia thi công gồmcác Cienco1, Cienco8, TCT xây dựng Thăng Long, Công ty Sumitomo (Nhật Bản)

và công ty Taisei Nhật Bản (Licogi - bộ Xây Dựng là nhà thầu phụ), các công ty xâydựng giao thông 246 (Cienco4) và Công ty xây dựng công trình giao thông HảiPhòng Gói thầu cuối cùng dự án cải tạo và mở rộng Quốc lộ 5 được hoàn thànhvào tháng 6 năm 1998

Bây giờ Quốc lộ 5 là đường cấp 1 đồng bằng, đi qua địa hình đồng bằng châuthổ sông Hồng, dân cư đông đúc, có mạng đường dọc, đường ngang, đường bổ trợkhá hoàn chỉnh và phát triển;

Chính vì vậy trên trục đường Quốc lộ 5, có nhiều khu dân cư đang được đô thịhóa, rồi các khu công nghiệp, cũng như các cơ sở sản xuất dịch vụ …nằm dọc Quốc lộ

5, gần như san sát với nhau từ đầu cho đến cuối tuyến Mở đầu là khu dịch vụ thươngmại Savico cùng với hệ thống cửa hàng buôn bán ô tô xe máy, đồ gỗ, siêu thị điện máy

đồ gia dụng tại quận Long Biên, tiếp đến khu công nghiệp Sài Đồng và thị trấn TrâuQuỳ (Gia Lâm) Tiếp đó là hàng loạt các khu công nghiệp dịch vụ, các nhà máy xínghiệp từ Hà Nội về mở rộng phát triển sản xuất trên trục quốc lộ từ

Trang 31

Hà Nội đến Phố Nối (Hưng Yên), thành phố Hải Dương đến Lai Cách (Hải Phòng)

2000 đến nay, Nhà nước và Bộ Giao thông vận tải rất quan tâm đầu tư nâng cao nănglực giao thông trên quốc lộ này và đã có nhiều cầu vượt dân sinh được xây dựng cảithiện đáng kể cho năng lực giao thông Gần đây dự án tăng cường ATGT

trên Quốc lộ 5, thuộc vốn vay JICA và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam đãđược triển khai vào đầu năm 2012 Dự án do Ban Quản lý dự án ATGT là đơn vịđược giao quản lý, các hợp phần do Tổng cục Đường bộ Việt Nam làm chủ đầu tư.Mục tiêu của dự án là giảm số vụ và thiệt hại do TNGT trên các tuyến Quốc lộ 3, 5,

10, 18 và góp phần cải thiện môi trường sống của người dân sống dọc các tuyếnquốc lộ cũng như của người tham gia giao thông, xây dựng nền văn hóa giao thông.Trên tuyến đường Quốc lộ 5 từ ngày xưa cho đến nay có nhiều địa danh lịch

sử và nổi tiếng trong các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc và trong xây dựng hòabình, trong đó có 2 địa danh không thể không nêu, đó là thành phố Hải Dương vàthành phố Hải Phòng

Thành phố Hải Dương ngày xưa nằm trên trục đường cái quan nối kinh thànhThăng Long với các phía đông và vùng duyên hải Bắc bộ như Hải Phòng, QuảngYên, Tiên Yên (Quảnh Ninh) Dưới thời vua Gia Long (1804) được gọi là ThànhĐông Khi đó tổng đốc Trần Công Hiến là người khởi công xây dựng thành, gọi làThành Đông, với mục tiêu vừa là trấn thành, vừa án ngữ phía đông Kinh thànhThăng Long, trong thành không có dân, chỉ có quan lại và quân lính

Do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong khu vực đồng bằng Bắc bộ, vàotháng 2 năm 2009, đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng (còn gọi là Quốc lộ 5B)

Trang 32

là một trong 6 tuyến cao tốc được xây dựng theo quy hoạch tại miền Bắc Việt Nam

đã được khởi công Đây là dự án đường ô-tô cao tốc loại A dài 105,5 km từ Thủ đô

Hà Nội qua Hưng Yên, Hải Dương tới thành phố cảng Hải Phòng Dự án do Tổngcông ty Phát triển hạ tầng và đầu tư tài chính Việt Nam (VIDIFI) là chủ đầu tư dự

án này theo hình thức hợp đồng BOT

Theo thiết kế này, các loại xe ô-tô, đặc biệt các xe công-ten-nơ siêu trường, siêutrọng có thể chạy thẳng luồng tới cảng biển lớn nhất vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.Tổng chi phí giao thông của các phương tiện, nhất là hao phí thời gian sẽ giảm mạnhgóp phần quan trọng trong việc giảm tải áp lực giao thông cho Quốc lộ 5

2.2 Thực trạng hoạt động an toàn giao thông trên Quốc lộ 5

2.2.1 Thực trạng cơ sở hạ tầng Quốc lộ 5

Quốc lộ 5 là tuyến đường đôi, có giải phân cách giữa (rộng 1,2m), mỗi chiều

có 2 làn xe cơ giới (2x3,5m) và 1 làn xe thô sơ 2-6m, với mặt cắt ngang phổ biếnnền đường là 23m, mặt đường 21m, riêng đoạn cuối tuyến từ Km106 đếnKm106+866 gồm 3 làn xe cơ giới, đoạn Km106+866 đến Km113+252 rộng 60m dothành phố Hải Phòng mới đầu tư Lưu lượng thiết kế 6.000-15.000 xcqđ/ngày đêm

(Hình ảnh minh họa Quốc lộ 5)

Trang 33

Tác giả tiến hành khảo sát cán bộ thuộc Tổng cục Đường bộ Việt Nam, ngườidân tham gia giao thông và người dân sinh sống 2 bên quốc lộ 5, mẫu khảo sát là

150 người, kết quả thu được 120 phiếu hợp lệ

Trong những phiếu khảo sát, tác giả tiến hành tổng kết các yếu tố được khảosát như sau:

Bảng 2.1: Tổng hợp đánh giá về kết cấu hạ tầng quốc lộ 5

Cải tạo điểm giao cắt,

thông hoàn chỉnh

Tháo d giải phân cách

đường

(Tổng hợp kết quả khảo sát năm 2019)

Từ bảng số liệu trên cho thấy điểm bình quân là 3,29/5 điểm khá cao, donhững nguyên nhân sau:

Với tầm quan trọng về địa lý và xu hướng phát triển kinh tế cùng với lưulượng tham gia giao thông phức tạp của Quốc lộ 5 nên Bộ Giao thông vận tải vàTổng cục đường bộ luôn đặt nhiều sự quan tâm đến việc nâng cấp kết cấu hạ tầngcho tuyến quốc lộ này

Trang 34

Từ số liệu khảo sát theo bảng trên cho thấy người dân rất đồng tình với cácgiải pháp như bổ sung thêm cầu vượt, cải tạo điểm giao cắt, điểm mở thành nútgiao thông hoàn chỉnh Các phương án này đều nhằm đến một mục tiêu chung làgiảm các điểm giao cắt đồng mức thiếu an toàn, dễ gây xung đột giao thông giúpgiảm tình trạng ùn tắc và nâng cao hiệu quả ATGT.

Bên cạnh đó cũng còn một số yếu tố chưa được người dân đánh giá cao nhưvẫn tồn tại nhiều điểm tháo d giải phân cách tạo lối sang đường, việc này có thể tiệnlợi đối với một số người do điểm mở sang đường hoặc quay đầu quá xa gây bất tiệntrong quá trình tham gia giao thông nhưng tình trạng này càng làm cho tình hìnhgiao thông thêm phức tạp tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất ATGT Chất lượng mặtđường nhiều đoạn cũng chưa được đánh giá tốt do xe quá tải thường xuyên lưuthông làm cho mặt đường bị gồ ghề, lún sụt gây khó khăn cho các phương tiện lưuthông trên tuyến

Quốc lộ 5 được cải tạo, nâng cấp từ năm 1996 và hoàn thành năm 1998-2000.Thực tế, Quốc lộ 5 đã khai thác trên 21 năm, nhưng chưa một lần được sửa chữalớn, nên đang xuống cấp nghiêm trọng Hiện nay, hai bên đường, các khu côngnghiệp, cụm công nghiệp, khu dân cư, các loại hình dịch vụ phát triển mạnh và đấunối trực tiếp, khiến Quốc lộ 5 giống như một tuyến phố dài, với gần 150 điểm đấunối giữa Quốc lộ 5 với các Quốc lộ khác và đường tỉnh, đường huyện, đường xã.Trong khi đó, việc cải tạo, sửa chữa, hoàn thiện hạ tầng Quốc lộ 5 chưa theo kịp vớimức độ gia tăng phương tiện và tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của các địaphương có tuyến đường đi qua Tình trạng mặt đường lồi lõm, "sống trâu" diễn rahầu hết trên tuyến, nhưng chậm được sửa chữa thường xuyên Hệ thống báo hiệuđường bộ, sơn vạch kẻ đường không được rà soát, sửa chữa, thay thế, điều chỉnh

và bổ sung kịp thời, công tác bảo trì chưa được quan tâm tương xứng…

Trang 35

(Hình ảnh tình trạng xuống cấp trầm trọng tại một số điểm trên Quốc lộ 5)

Quá trình sửa chữa, nâng cấp kết cấu hạ tầng:

1 Km11+135 – Km76 Năm 2008: Sửa chữa một số vị trí mặt đường

hư hỏng, rãnh thoát nước, bổ sung sơn kẻđường, biển báo, nâng bó vỉa… theo dự ánWB4, hoàn thành năm 2010

Năm 2012: Sửa chữa một số vị trí mặt đường

hư hỏng, nâng cao độ làn xe thô sơ bằng cao

độ làn xe cơ giới, tháo d giải phân cách giữalàn xe thô sơ và cơ giới, phân làn xe

2 Km76 – Km94 Năm 2014: Sửa chữa mặt đường

3 Km94 – Km104+600 Năm 2014: Sửa chữa mặt đường, hoàn thành

Trang 36

Hiện nay, ngoài đoạn Km94 – Km104+600 mới sửa chữa mặt đường hoànthành năm 2016 còn các đoạn khác do đã được khai thác thời gian dài, quá trìnhsửa chữa định kỳ chưa đồng bộ kết hợp lưu lượng tang cao, nhiều xe tải lưu thôngnên kết cấu mặt đường, cầu và các công trình phụ trợ đã xuống cấp và thườngxuyên hư hỏng ảnh hưởng đến khả năng khai thác và an toàn giao thông trên tuyến.Quốc lộ 5 ngoài việc có rất nhiều điểm đấu nối còn thường xuyên mở cácđiểm giao cắt, mở giải phân cách giữa làm cho tình hình tổ chức giao thông trêntuyến cực kì phức tạp.

(Hình ảnh tình hình giao thông phức tạp tại Quốc lộ 5)

Thống kê đoạn từ Km11+135 – Km113+252 do Vidifi quản lý cho thấy:

1 Hưng Yên (Văn Km11+135 – 12 điểm mở (trong đó 7 cầu vượt (1Lâm, Yên Mỹ, Mỹ Km33+720 có 5 điểm có đèn tín đi bộ, 3 xe

2 Hải Dương (Bình Km33+720 – 28 điểm mở (trong đó 14 cầu vượt (3Giang, Cẩm Giàng, Km77+830 có 6 điểm có đèn tín đi bộ, 8 xe

Nam Sách, Thanh

Trang 37

Hà, Kim Thành)

3 Hải Phòng (An Km77+830 – 47 điểm mở (trong đó 7 cầu vượt (4Dương, Hồng Bàng, Km113+252 có 10 điểm có đèn tín đi bộ, 3 ô tô)

Quyền, Hải An)

2.2.2 Thực trạng tai nạn thương vong giai đoạn 2015-2020 giao thông trên tuyến Quốc 5

Thống kê số liệu các vụ TNGT cho thấy mặc dù tuyến đường đã được ưu tiên đầu

tư bổ sung hệ thống cảnh báo để nâng cao ATGT nhưng theo thống kê từ năm

2016 đến nay, TNGT trên Quốc lộ 5 tăng cả về số vụ cũng như số người chết, vớidiễn biến phức tạp

Bảng 2.5: số vụ tai nạn giao thông trong những năm gần đây

Trang 38

Sau khi xảy ra các vụ TNGT nghiêm trọng Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã tổ chức bảo trì, sửa chữa một số hạng mục xuống cấp và bổ sung các hạng mục phụ trợ nhằm giảm số lượng TNGT như:

Stt Hạng mục công trình Quy mô chủ yếu Giá trị Ghi chú

(tỷ đồng)

1 Sửa chữa đột xuất hằn lún Cào bạt phẳng 8,9 Đã hoànvệt bánh xe, sửa chữa hư 51.746m2; khối lượng thiện

hỏng cục bộ mặt đường; hoàn trả BTN dự kiến

hoàn trả sơn vạch kẻ 5.425m2; khối lượng

đường, sửa chữa cục bộ hàng rào dải phân cách

hang rào dải phân cách giữa dự kiến thay thế

giữa đoạn Km11+135 – 2.046m, 761 cột, sửa

Km76 QL5 và xây dựng chữa dự kiến 1.338m

hang rào bảo vệ gầm cầu

An Đồng Km96+77, QL5

2 Sửa chữa cấp bách, đột Sơn vạch kẻ đường: 5,7 Đã hoànxuất các công trình 13.000 m2 và 2.050 thiện

30

Trang 39

ATGT trên QL5 đinh phản quang (tại

các đầu cầu vượt)

3 Sơn kẻ đường, đinh phản Bổ sung sơn vạch đi bộ 0,65 Đã hoànquang, gờ giảm tốc, cắm qua đường và vạch thiện

biển “tốc độ tối đa cho dừng, gờ giảm tốc; “tốc

phép” tại Km63+530 độ tối đa cho phép”

4 Sơn kẻ đường, đinh phản Bổ sung sơn vạch đi bộ 0,65 Đã hoànquang, gờ giảm tốc, cắm qua đường và vạch thiện

biển “tốc độ tối đa cho dừng, gờ giảm tốc; “tốc

phép” tại Km27+160 độ tối đa cho phép”

5 Cắm biển hạn chế tốc độ Bổ sung biển báo 0,02 Đã hoàn

khu vực nút giao Km86

trên cầu Quán Toan

6 Thay thế biển “tốc độ Tháo d biển phụ 0,05 Đã hoàn

8 Sửa chữa đột xuất, tổ Lắp đặt mới 1 cụm đèn 7,0 Đang tổchức lại giao thông nút tín hiệu; sơn kẻ đường: (tạm tính) chức phêgiao Km92+650 và nút 2.700 m2; thay thế 30 duyệt vàKm107+400 (cuối đường cụm biển báo Xén đảo lựa chọn

hiện

Trang 40

9 Sửa chữa cấp bách, đột Sơn, đinh phản quang 14,0 Đang trìnhxuất các công trình sơn, và biển báo (tạm tính) TCĐBVN

quang

Về tình hình tổ chức giao thông, kết quả khảo sát thu đƣợc nhƣ sau:

Bảng 2.2: Các yếu tố liên quan đến tình hình tốt chức giao thông

Ngày đăng: 11/01/2021, 15:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Hưởng, Bùi Văn Nam, Hoàng Đình Phi, “Tổng quan về quản trị an ninh phi truyền thống”, – Chương trình đạo tạo Thạc sĩ Quản trị An ninh Phi truyền thống, Khoa Quản trị và Kinh doanh (HSB), Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014-2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về quản trịan ninh phi truyền thống
6. Trần Sơn Hà (2013), “Tăng cường bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong tình hình hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, tháng 10/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong tình hình hiện nay
Tác giả: Trần Sơn Hà
Năm: 2013
7. Trần Sơn Hà (2015), “Bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - x hội”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 12/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - x hội
Tác giả: Trần Sơn Hà
Năm: 2015
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (2014), Báo cáo kết quả thanh tra công tác quản lý nhà nước về đầu tư phát triển bằng nguồn vốn nhà nước giai đoạn 2009-2013 tại tỉnh Hà Nam, Hà Nội Khác
3. Thái Bá Cẩn (2007), Quản lý tài chính trong lĩnh vực đầu tƣ xây dựng cơ bản, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Khác
4. Trần Kim Chung (2017), Giải pháp vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng gắn với tái cơ cấu đầu tƣ, bài viết đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 1, số tháng 3/2017, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ƣơng Khác
5. Phạm Ngọc Biên (2002), Hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Khác
8. Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ Khác
9. Nghị định số 100/2013/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ Khác
10. Nghị định số 107/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 12 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w