dung độc hại; hoạt động liên kết xuất bản ở một số nhà xuất bản NXB tổ chức thiếu chặt chẽ, không quản lý tốt nội dung sách liên kết; tình trạng vi phạm bản quyền, sách lậu, sách kém chấ
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
ĐÀO THỊ HOÀN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XUẤT BẢN
TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2016
LU ẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: L ịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
MÃ SỐ: 922 90 15
HÀ N ỘI - 2020
Trang 2H ỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
ĐÀO THỊ HOÀN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XUẤT BẢN
TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2016
LU ẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: L ịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
MÃ SỐ: 922 90 15
Hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS Trần Văn Hải
2 PGS, TS Nguy ễn Thắng Lợi
HÀ N ỘI - 2020
Trang 3ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
c ủa tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung
th ực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả luận án
Đào Thị Hoàn
Trang 4M Ở ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LU ẬN ÁN 8
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN C ỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 9
1.2 K ẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LU ẬN ÁN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT 24
Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XU ẤT BẢN TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2004 28
2.1 M ỘT SỐ KHÁI NIỆM 28
2.2 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC XUẤT BẢN 29
2.3 CH Ủ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC XUẤT BẢN (1990-2004) 39
2.4 QUÁ TRÌNH CH Ỉ ĐẠO CÔNG TÁC XUẤT BẢN 45
Chương 3: ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC XUẤT BẢN TRONG B ỐI CẢNH MỚI (2004-2016) 70
3.1 YÊU C ẦU ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC XUẤT BẢN TRONG TÌNH HÌNH MỚI 70
3.2 CH Ủ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC XUẤT BẢN (2004-2016) 74
3.3 CH Ỉ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC XUẤT BẢN, ĐÁP ỨNG YÊU C ẦU MỚI 81
Chương 4: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 118
4.1 M ỘT SỐ NHẬN XÉT 118
4.2 MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU 135
K ẾT LUẬN 151
DANH M ỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN (2017-2020) 154
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 155
PH Ụ LỤC 172
Trang 5CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 6Trang
(1992-2002) (cấp qua Bộ Văn hóa Thông tin)
56
Bảng 3.1 Số lượng cơ sở in và cơ cấu thành phần kinh tế trước và
sau năm 2004
100
Trang 7Biểu đồ 2.1 Sơ đồ quy trình xuất bản trước năm 1990 36
Biểu đồ 3.9 Chương trình đào tạo tại Khoa Xuất bản, Học viện Báo chí và
Tuyên truyền
110
Biểu đồ 4.2 Đánh giá giá công tác định hướng, chỉ đạo của Đảng
trong hoạt động xuất bản
121
Biểu đồ 4.3 Đánh giá vai trò chỉ đạo của Cục Xuất bản - In - Phát hành,
Sở Thông tin và Truyền thông trong chỉ đạo các đơn vị Xuất bản, In và Phát hành thực hiện chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đối với xuất bản và quản lý hoạt động xuất bản
123
Biểu đồ 4.4 Đánh giá về cơ chế chính sách đối với hoạt động xuất bản
ở Việt Nam
124
Biểu đồ 4.6 Đánh giá các nội dung công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
làm công tác xuất bản
128
Biểu đồ 4.8 Đánh giá về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công
tác xuất bản
134
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi ra đời đã sử dụng sách, báo làm công
cụ tuyên truyền, vận động, giáo dục quần chúng cách mạng, tập hợp, tổ chức lực lượng và đấu tranh đối với kẻ thù Công tác xuất bản dưới sự lãnh đạo của Đảng
đã có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng, kháng chiến, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Bước vào thời kỳ đổi mới, thực hiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự định hướng, chỉ đạo của Đảng đối với công tác xuất bản càng sâu sắc, thiết thực và cụ thể hơn Tại Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần VI (1986), Đảng đã chỉ rõ: “Quản lý chặt chẽ công tác xuất
bản, công tác điện ảnh và công tác phát hành sách, báo, phim ảnh Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng thông tin” [99, tr.92]… Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Đảng tiếp tục khẳng định: “Phát triển sự nghiệp thông tin, báo chí, xuất bản theo hướng nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu thông tin và nâng cao kiến thức mọi mặt cho nhân dân… Quản lý
chặt chẽ công tác xuất bản, thông tin, báo chí…” [100, 84] Đồng thời, trong
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng
nhấn mạnh việc “Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin đa dạng, nhiều chiều,
kịp thời, chân thực và bổ ích” [101, tr.14-15] Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), Đảng đã khẳng định rõ vai trò quan trọng của báo chí, xuất bản trong tình hình
mới: “Hướng báo chí, xuất bản làm tốt chức năng tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát hiện những nhân tố mới, cái hay, cái đẹp trong xã hội, giới thiệu gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên
tiến, phê phán các hiện tượng tiêu cực, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm sai trái; Nâng cao tính chân thực, tính giáo dục và tính chiến đấu của thông tin; khắc phục khuynh hướng “thương mại hóa” trong hoạt
Trang 9động báo chí, xuất bản”[110, tr.144] Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016), Đảng tiếp tục khẳng định, cần "Làm tốt công tác lãnh đạo, quản lý báo chí,
xuất bản Các cơ quan truyền thông phải thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, đối tượng
phục vụ, nâng cao tính tư tưởng, nhân văn và khoa học, đề cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, góp phần xây dựng văn hóa và con người Việt Nam" [123]
Với tinh thần đổi mới toàn diện, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo ngành
xuất bản xác định phương hướng hoạt động phù hợp, từng bước đưa hệ thống các đơn vị xuất bản, in, phát hành từng bước thích ứng với cơ chế thị trường Hoạt
động xuất bản đã góp phần tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền những mô hình tiêu biểu thực hiện nhiệm vụ chính
trị; cổ vũ, tạo sự đồng thuận xã hội; nâng cao kiến thức của nhân dân về chính trị,
lý luận và pháp luật, phục vụ sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đồng thời, XBP là công cụ đấu tranh chống các tư tưởng phản động, thù địch trong và ngoài nước; công cụ quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam hòa bình, hữu
nghị, ổn định và phát triển năng động, giàu tiềm năng hợp tác và là một thành viên
tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; góp phần thông tin về Việt Nam,
giúp nhân dân thế giới và người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng về các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, về đất nước, con người Việt Nam Chú trọng đảm bảo định hướng chính trị và hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất bản
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác lãnh đạo, quản lý hoạt động xuất
bản thời kỳ đổi mới còn những hạn chế: Nhận thức của nhiều cấp ủy về vai trò của
hoạt động xuất bản còn chưa đúng, nhiều nơi buông lòng, chưa sâu sát; tổ chức bộ máy quản lý xuất bản còn nhiều bất cập; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ làm công tác xuất bản còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu; tình trạng nhà xuất
bản xa rời tôn chỉ mục đích, “thương mại hóa” gia tăng; chủ trương phát triển lĩnh vực xuất bản của Đảng trong một số trường hợp chưa được cụ thể hóa, thể chế hóa; chưa có biện pháp kịp thời, kiên quyết để ngăn chặn những ấn phẩm có nội
Trang 10dung độc hại; hoạt động liên kết xuất bản ở một số nhà xuất bản (NXB) tổ chức thiếu chặt chẽ, không quản lý tốt nội dung sách liên kết; tình trạng vi phạm bản quyền, sách lậu, sách kém chất lượng vẫn còn, gây bức xúc dư luận xã hội… Ngày nay, trước bối cảnh toàn cầu hóa, khoa học công nghệ phát triển mạnh
mẽ, sự bùng nổ của dữ liệu, số hóa, kết nối internet, với những thành tựu đột phá
về công nghệ thông tin, hoạt động xuất bản của các quốc gia trên thế giới có sự phát triển nhanh chóng, hiện đại, đặt ra hàng loạt vấn đề và thách thức đối với ngành xuất bản Việt Nam Khi công nghệ và tự động hóa phát triển, các đơn vị xuất
bản phải đối mặt với áp lực nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến và đổi mới dây chuyền công nghệ, nguồn nhân lực cần có năng lực về công nghệ cao,… Công nghệ, nhân lực nguồn vốn, năng lực, quy mô, trình độ của các NXB còn nhiều hạn chế,
mô hình tổ chức chưa phù hợp Công tác chỉ đạo, quản lý nhà nước về xuất bản trên
một số mặt chưa hiệu quả, nhất là quản lý xuất bản điện tử,
Vì vậy, công tác xuất bản đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, đòi hỏi phải được nghiên cứu toàn diện, đầy đủ,
có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác xuất bản trong thời kỳ đổi mới Việc tổng kết thực tiễn, đánh giá quan điểm, chủ trương của Đảng trong công tác xuất bản, đúc rút các kinh nghiệm chủ yếu là yêu cầu cần thiết, góp phần cung cấp những luận cứ khoa học để Đảng và Nhà nước tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách cho công tác xuất bản hoạt động hiệu
quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế
Với ý nghĩa đó, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo công tác xuất bản từ năm 1990 đến năm 2016” làm luận án tiến sĩ, ngành
Trang 112.2 Nhi ệm vụ của luận án
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận án giải quyết một số nhiệm vụ
cơ bản:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
- Làm rõ bối cảnh lịch sử và những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xuất bản từ năm 1990 đến năm 2016
- Làm rõ những chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác xuất
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo công tác xuất bản của Đảng từ năm 1990 đến năm 2016
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Bắt đầu từ năm 1990 - là năm Ban Bí thư Trung ương Đảng
(Khóa VI) ban hành Chỉ thị số 63/CT-TW, ngày 25-7-1990, Về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác báo chí, xuất bản Đây được coi là văn kiện
quan trọng đánh dấu mốc đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với công tác báo chí, xuất bản Mốc thời gian kết thúc nghiên cứu: năm 2016 - là
năm Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông báo số 19-TB/TW, ngày 29-12-2016,
xuất bản trên phạm vi cả nước, trong đó, tập trung khảo sát một số cơ quan chỉ đạo, quản lý xuất bản trên cả nước và một số NXB, cơ sở in, đơn vị phát hành sách trên địa bàn Hà Nội
Trang 12- V ề nội dung: Luận án nghiên cứu toàn bộ sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác xuất bản trên các mặt: định hướng lãnh đạo, quản lý hoạt động xuất bản;
chỉ đạo hoạt động kiểm tra, giám sát công tác xuất bản; công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác xuất bản
4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận để tiếp cận vấn đề là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về công tác xuất bản
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic Bên cạnh
đó là các phương pháp: phân tích, tổng hợp, kết hợp các phương pháp liên ngành như phương pháp điều tra bảng hỏi,…
dựa trên những tư liệu, cứ liệu lịch sử, trình bày quá trình phát sinh, vận động, biến đổi và phát triển của thực tiễn từ khi Đảng ra đời, lãnh đạo công tác xuất bản; khái quát hóa, mô tả, tái hiện thực trạng sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xuất bản
Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê được sử dụng nhằm làm rõ chủ
trương và luận chứng các mặt chỉ đạo của Đảng đối với công tác xuất bản từ qua hai giai đoạn 1990-2004 và 2004-2016: Văn kiện của Đảng, Nhà nước; những bài nói, bài
viết, công trình nghiên cứu tiêu biểu của tổ chức, cá nhân về sự lãnh đạo của Đảng đối
với công tác xuất bản; Niên giám thống kê, báo cáo của ngành xuất bản từ năm 1990 đến nay; Kết quả nghiên cứu từ các bài báo khoa học, đề tài khoa học, hội thảo khoa học liên quan đến chủ đề Luận án
Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh hoạt động lãnh đạo của
Đảng đối với công tác xuất bản giữa các giai đoạn
năm 2019 và năm 2020; Địa bàn: Ban Tuyên giáo các tỉnh, thành phố trên cả nước;
Sở Thông tin và Truyền thông một số tỉnh, thành phố; Một số NXB, cơ sở in, công
ty phát hành sách, nhà sách trên địa bàn Hà Nội; Đối tượng: là cán bộ lãnh đạo,
Trang 13quản lý, cán bộ, biên tập viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý
hoạt động xuất bản, trong đó thâm niên công tác chủ yếu trên 10 năm
4.3 Ngu ồn tài liệu
- Các văn kiện Đảng gồm: Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng, Văn kiện Hội nghị BCH Trung ương Đảng; các chỉ thị, nghị quyết, thông tri, thông báo, kết luận
của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; chương trình, kế hoạch, báo cáo, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và các bộ, ban, ngành có liên quan; báo cáo kết quả công tác xuất bản của các cơ quan, các cấp tại Văn phòng và Cục Xuất bản, In và Phát hành thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông,…
- Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài của tập thể, cá nhân các nhà khoa học trong nước và nước ngoài tại liên quan đến đề tài luận án,…
- Nguồn tài liệu, số liệu khảo sát thực tế ở một số NXB, cơ quan quản lý
hoạt động xuất bản
5 Đóng góp mới của Luận án
- Phân tích, làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng về công tác xuất bản từ năm 1990 đến năm 2016
- Làm rõ quá trình phát triển của hoạt động xuất bản ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng từ năm 1990 đến năm 2016
- Đưa ra những nhận xét khách quan, khoa học về những ưu điểm, hạn chế và phân tích nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế qua thực tiễn quá trình Đảng lãnh đạo công tác xuất bản từ năm 1990 đến năm 2016
- Làm rõ hiệu quả triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, thông báo kết luận
của Đảng; các luật, nghị định, thông tư của Nhà nước về công tác xuất bản; đúc rút kinh nghiệm, góp phần cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc bổ sung, hoàn thiện
chủ trương, chính sách đối với công tác xuất bản
- Luận án còn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành lịch sử Đảng, chuyên ngành xuất bản
Trang 146 K ết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
án gồm 4 chương, 11 tiết
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án
- Chương 2: Đảng lãnh đạo công tác xuất bản từ năm 1990 đến năm 2004
- Chương 3: Đảng lãnh đạo đẩy mạnh công tác xuất bản trong bối cảnh mới
(2004-2016)
- Chương 4: Nhận xét và một số kinh nghiệm
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Trong quá trình đấu tranh cách mạng, cùng với báo chí, các xuất bản phẩm (XBP) đóng vai trò là công cụ tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục, tập
hợp lực lượng cách mạng và là vũ khí sắc bén, tấn công trực diện kẻ thù, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, báo chí, xuất bản ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình truyền tải thông tin, là "kênh" quan trọng thực hiện nhiệm vụ phổ biến, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đến
với nhân dân; cung cấp tri thức khoa học; đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, những hiện tượng tiêu cực trong xã hội,
Bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập, công tác xuất bản vừa thuộc lĩnh vực
tư tưởng lý luận vừa thuộc lĩnh vực kinh tế, có vai trò quan trọng trong lĩnh vực
lý luận, tư tưởng, văn hóa của Đảng, vừa có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội Do đó, Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác xuất bản, đặt
dưới sự quản lý trực tiếp của Nhà nước, không tư nhân hóa xuất bản là nguyên tắc
thống nhất của Đảng
Do vị trí, vai trò quan trọng của xuất bản trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về xuất bản Việt Nam, hoạt động xuất bản và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác xuất bản, với quy mô và mức
độ khác nhau, trên các phương diện: Nhận thức của các cấp ủy về vai trò của hoạt động xuất bản; Việc thể chế hóa quan điểm của Đảng bằng các văn bản quy phạm
bản - in - phát hành; những biểu hiện “thương mại hóa” xuất bản; Công tác đào
Trang 16tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ làm công
tác xuất bản
Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với từng lĩnh vực cụ thể
của hoạt động xuất bản, in và phát hành khá đa dạng cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn; nghiên cứu ở những góc độ khác nhau về hoạt động xuất bản, sự lãnh
đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực xuất bản ở Việt Nam
1.1.1.1 Các h ọc giả trong nước nghiên cứu về hoạt động xuất bản
Trần Văn Phượng (1997), Vì sự nghiệp xuất bản, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, KH Kho:VV97.03531, VV97.03532
Với dung lượng 179 trang, cuốn sách tập hợp 48 bài viết của tác giả trong quá trình nghiên cứu về xuất bản, nghiên cứu quan điểm của các nhà kinh điển, Chủ
tịch Hồ Chí Minh, các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam về công tác xuất
bản - in - phát hành; nghiên cứu các văn bản liên quan đến xuất bản; nghiên cứu
hoạt động xuất bản sách ở nước ngoài Cuốn sách cung cấp một phần lịch sử cũng như diện mạo của ngành xuất bản, in và phát hành trong tiến trình lịch sử
Tạ Ngọc Tấn (2003), “Đào tạo cán bộ báo chí, xuất bản ở nước ta hiện nay”,
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ báo chí và xuất bản ở Việt Nam, những yêu
cầu mới đặt ra đối với công tác đào tạo cán bộ báo chí, xuất bản, đồng thời kiến nghị một số vấn đề nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này trong thời gian tiếp theo
Đỗ Quý Doãn (2005), “Thực trạng hoạt động báo chí, xuất bản và công tác
quản lý nhà nước năm 2004”, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 4, tr.3-9 Tác giả
nêu bối cảnh tình hình và những nét chủ yếu trong hoạt động báo chí xuất bản, đồng thời phân tích thực trạng công tác quản lý báo chí, xuất bản trong năm 2004
Trang 17Bài viết khẳng định những ưu điểm trong công tác quản lý báo chí, xuất bản với nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời cũng nêu những hạn chế trong việc
dự báo, thông tin, gợi ý, xây dựng mô hình, phương thức hoạt động đối với hoạt động báo chí, xuất bản Qua đó đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý báo chí, xuất bản, tiến tới thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng và những ngày kỷ
niệm trọng đại của đất nước
Đinh Xuân Dũng (2008), “Vấn đề quy mô, năng lực và mô hình của xuất bản
Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Tuyên giáo, số 10, tr.51-54 Tác giả bài viết phân
tích mô hình hoạt động của hệ thống xuất bản Việt Nam, đánh giá quy mô, năng
lực hoạt động của toàn ngành và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực
hoạt động của xuất bản Việt Nam trong tình hình mới
Trần Hùng Phi (2009), “Hoạt động xuất bản ở thành phố Hồ Chí Minh những
vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động”, Tạp chí Khoa học chính
trị, số 5, tr.67-73 Bài viết nêu thực trạng hoạt động xuất bản sách trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh và đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất bản sách trên địa bàn trong thời gian tới
Trần Văn Hải (2010), Vấn đề xã hội hóa hoạt động xuất bản ở nước ta hiện
truyền, Hà Nội Trên cơ sở làm rõ khái niệm, nội dung xã hội hóa hoạt động xuất
bản, đề tài đi sâu phân tích tình hình xã hội hóa xuất bản, những ưu điểm và hạn chế của nó trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, từ đó tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện chủ trương xã
hội hóa, thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của hoạt động xuất bản
Trần Anh Vũ (2012), Bảo vệ an ninh trong lĩnh vực xuất bản ở nước ta: thực
Sách trình bày khái quát cơ sở lý luận về xuất bản, hoạt động xuất bản và vấn đề
bảo vệ an ninh trong lĩnh vực xuất bản; thực trạng tình hình công tác bảo vệ an
Trang 18ninh trong lĩnh vực xuất bản Các tác giả đưa ra dự báo xu hướng và đề xuất một
số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh đối với lĩnh vực xuất bản trong tình hình mới
Phạm Thị Phương, Đỗ Thị Như Quỳnh và Ngô Thị Vân Anh (2013), Hoạt
động liên doanh, liên kết xuất bản sách truyện tranh nước ngoài dành cho thiếu nhi tại NXB Kim Đồng hiện nay, Đề tài khoa học, Học viện Báo chí và Tuyên
truyền, Hà Nội Đề tài đưa ra những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động liên doanh, liên kết xuất bản nói chung, hoạt động liên doanh liên kết xuất bản sách truyện tranh nước ngoài nói riêng Thực trạng của hoạt động xuất bản và đề xuất
một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động liên doanh, liên kết xuất
bản sách truyện tranh nước ngoài trong giai đoạn hiện nay
Phạm Thị Thanh Tâm, Thái Thu Hoài (2014), "Ngành xuất bản - xu hướng phát triển và vấn đề quản lý", Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 362, tháng 8 Bài
viết phân tích bối cảnh toàn cầu hóa xuất bản tạo cơ hội cho quá trình sản xuất và lưu thông XBP phát triển nhanh chóng, đa dạng và phong phú Ngành xuất bản
Việt Nam đã đáp ứng khá tốt nhu cầu XBP của nhân dân, góp phần tích cực vào
việc thực hiện định hướng tư tưởng và giáo dục Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu
những bất cập trong quản lý xuất bản trước xu thể toàn cầu hóa, công tác quản lý
xuất bản chưa tiến kịp so với yêu cầu thực tiễn, qua đó tác giả đề xuất một số giải pháp quản lý xuất bản trong tình hình mới như: Hoàn thiện chính sách, luật pháp
về xuất bản; Nâng cao năng lực cán bộ quản lý xuất bản; Đổi mới phương pháp
kiểm tra, thanh tra trong hoạt động xuất bản
Nguyễn An Tiêm-Nguyễn Nguyên (đồng chủ biên, 2015), Xã hội hóa hoạt
động xuất bản - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, lưu tại Thư viện Quốc Gia Việt
Nam, Tổng kho: VV15.06236 Sách có dung lượng 367 trang, gồm 4 chương nội dung, tập trung làm rõ cơ sở lý luận của chủ trương xã hội hóa hoạt động xuất bản; khái quát về tình trạng xuất bản và công tác chỉ đạo, quản lý việc thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động xuất bản Qua đó, các tác giả đã dự báo xu hướng
Trang 19phát triển, quan điểm chỉ đạo và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thực hiện
chủ trương này
Trên từng khía cạnh cụ thể của hoạt động xuất bản, có các công trình: Thanh
tra Bộ Văn hóa - Thông tin (2007), Bàn về công tác phòng và chống in lậu XBP,
Hội thảo chuyên đề, Hà Nội; NXB Chính trị quốc gia - Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2018), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ biên tập, xuất bản trong bối
1.1.1.2 Công trình c ủa các học giả nước ngoài về hoạt động xuất bản
Tác giả G Philíp Altbach và Damfew Teferra (1999), Xuất bản và phát triển,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Các tác giả khẳng định: Xuất bản vừa là một nghệ thuật vừa là một ngành kinh doanh Xuất bản vừa thực sự liên quan đến ý tưởng và truyền thông, lại vừa thực sự liên quan đến lợi nhuận, đặc biệt trong điều
kiện các nước đang phát triển Nếu muốn tồn tại, xuất bản phải hoạt động trên nguyên tắc kinh doanh Nguyên tắc tài chính cơ bản này sẽ dần thấm vào các tổ
chức xuất bản ở các nước đang phát triển Đồng thời, xuất bản phải làm việc với các ý tưởng, và ở phần cốt lõi của nó, với hoạt động truyền thông
Emmanuel Pierrat (2007), Quy ền tác giả và hoạt động xuất bản (In lần thứ 3),
NXB Hội Nhà văn, Trung tâm Quyền tác giả Văn học Việt Nam, cuốn sách đánh giá
hoạt động xuất bản ở một số quốc gia; hệ thống các tác phẩm được bảo hộ quyền tác
giả; các loại hình tác phẩm được bảo hộ Bên cạnh đó, sách cập nhật nhiều nội dung
mới liên quan đến truyền thông đa phương tiện, quyền đối với hình ảnh, thời hạn các quyền tác giả, kể cả việc nhượng lại quyền
Xu và Fang (2008), trong đề tài “Công nghiệp xuất bản Trung Quốc hướng
tới toàn cầu: Bối cảnh và Hiệu suất” (Chinese Publishing Industry Going Global:
sách tại Trung Quốc, đánh giá, so sánh số lượng sách được mua và dịch cũng như
số lượng sách Trung Quốc được bán ra thị trường quốc tế Các số liệu phân tích
của tác giả cho thấy sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa nhập khẩu và xuất khẩu
Trang 20trong vấn đề thương mại sách bản quyền của Trung Quốc, nhập khẩu hoặc mua
lại bản quyền dịch thuật, in lại vượt trội so với xuất khẩu hoặc bán các quyền đó
Grigoriev và Adjoubei (2009), Đề tài “Khảo sát xuất bản sách ở Nga” (Survey
trí, số lượng, quy mô của các đơn vị xuất bản ở Nga Sự suy giảm văn hóa đọc trong thanh niên, sự cạnh tranh của các phương tiện truyền thông kỹ thuật số là thách thức đối với công nghiệp xuất bản của Nga Đề tài đánh giá, xuất bản sách
ở Nga là một ngành công nghiệp có lợi nhuận, khá năng động, có sự tăng trưởng
hàng năm
Kulesz (2011), Đề tài “Xuất bản kỹ thuật số ở các nước đang phát triển: Sự
nổi lên của các mô hình mới?” (Digital Publishing in Developing Countries: The
triển Các nước đang phát triển với kinh nghiệm xuất bản truyền thống gặp nhiều thách thức khi xuất hiện xuất bản điện tử Hoạt động xuất bản ngày nay chuyển sang sử dụng phương tiện kỹ thuật số nên các khâu xuất bản được thực hiện rất nhanh, hiệu quả cao Đề tài đã đề ra các giải pháp để phát triển xuất bản kỹ thuật
số trong thời kỳ mới
N.D.Eriasvili (2013), Xu ất bản: Quản trị và Marketing, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội Tác giả phân tích hoạt động xuất bản trong điều kiện kinh tế thị trường
ở Nga, một số nội dung tham khảo tình hình kinh doanh sách ở Mỹ và một số quốc gia, từ đó tổng hợp nội dung quan trọng về nghiệp vụ xuất bản, thị trường sách Qua phân tích, tác giả cuốn sách đã đúc kết một số phương pháp, nguyên tắc, hình
thức kinh doanh sách, báo trong điều kiện kinh tế thị trường, có sự cạnh tranh giữa các mô hình kinh doanh
Châu Úy Hoa (2017), Truy ền thông số và chuyển đổi mô hình xuất bản (sách
tham khảo), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, lưu tại Thư viện quốc gia Việt Nam,
KH Kho: VV18.00517, VV18.00518 Tác phẩm này do Công ty TNHH NXB Đại
học Bắc Kinh xuất bản, NXB Chính trị quốc gia Sự thật dịch Sách dày 670 trang,
Trang 21với 8 chương nội dung, đi sâu nghiên cứu một cách tổng thể quy luật và đặc điểm thay đổi, phát triển của các phương tiện xuất bản, cũng như quy trình xuất bản trong điều kiện truyền thông số; phân tích những vấn đề và thách thức đặt ra trong quá trình chuyển đổi mô hình xuất bản và đối sách của ngành truyền thông số của thành phố Bắc Kinh (Trung Quốc), chỉ ra những nhân tố gây trở ngại đối với sự phát triển của xuất bản ở thành phố Bắc Kinh; Phân tích các nhân tố kéo chậm sự phát triển của xuất bản số tại Trung Quốc và đề xuất các giải pháp xử lý mang tính
thực tiễn
Tại Trung Quốc, quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, hoạt động xuất bản là sự nghiệp văn hóa tư tưởng do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo Mục tiêu xuất bản của Trung Quốc là xuất bản xã hội chủ nghĩa không đơn thuần là công cụ kiếm tiền của cá nhân hay tập thể Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Trung Quốc đối với công tác xây dựng kế hoạch đề tài xuất bản cũng như công tác xây dựng chiến lược phát triển sự nghiệp xuất bản là một nội dung quan trọng
Vụ Báo chí - Xuất bản, Ban Tư tưởng Văn hóa - Trung ương (1992), Nâng
Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, KH Kho: VN92.01747, VN92.01748 Sách có dung lượng 262 trang, tập hợp những bài viết, bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước về công tác báo chí xuất bản Đồng
thời, tập hợp những văn bản chỉ đạo của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về công tác tác xuất bản trong các năm 1990 đến 1992
Đường Vinh Sường (1993), Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động của
án nghiên cứu và đề xuất cách thức quản lý nhà nước đối với các NXB trong bối
Trang 22cảnh Quốc hội thông qua Luật Xuất bản năm 1993 Tác giả Luận án đã đề xuất kiến nghị về việc xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật Xuất bản 1993
Vũ Mạnh Chu (1996), Pháp luật xuất bản ở Việt Nam, quá trình thực hiện
và đổi mới trong điều kiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Luận
án Phó tiến sĩ năm 1996, chuyên ngành: Lý luận nhà nước và pháp quyền Luận
án hệ thống hóa quy định pháp luật Việt Nam về xuất bản, làm rõ quá trình thể
chế hóa quan điểm của Đảng về lĩnh vực báo chí xuất bản, thực hiện pháp luật về
xuất bản Việt Nam trong điều kiện mới và đề xuất những giải pháp để thực hiện
tốt hơn trong thời gian tiếp theo
Nhà xuất bản Lao động (2000), Đảng - Bác Hồ khai sinh ngành xuất bản
gia Việt Nam, KH Kho:VV00.01222, VV00.01223 Cuốn sách giới thiệu các văn
kiện, các bài nói, viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về xuất bản; các Nghị quyết,
Chỉ thị của Đảng; văn bản của Nhà nước về hoạt động xuất bản Sách dày 262 trang, gồm hai phần: Phần 1: Các văn kiện của C Mác, V.I.Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh về xuất bản; một số văn kiện của Đảng chỉ đạo công tác xuất bản; Một
số văn bản của Nhà nước về công tác quản lý xuất bản Phần 2: Hình ảnh một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trực tiếp chỉ đạo công tác xuất bản
Khuất Duy Hải (2001), Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức quản lý ở các
đề hoàn thiện tổ chức quản lý ở các NXB, đề xuất cách thức tổ chức quản lý, tổ chức hoạt động của các NXB
Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa - Thông tin, Hội Nhà báo
Việt Nam (2002), Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 22-CT/TW của Bộ Chính trị (Khóa
Chính trị quốc gia, Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, KH Kho: VV02.03375, VV02.03376 Cuốn sách có dung lượng khá lớn với 429 trang là Kỷ
yếu Hội nghị báo chí, xuất bản toàn quốc từ ngày 29 đến 31-10-2001, với 34 bản báo
Trang 23cáo, cung cấp bức tranh toàn cảnh sinh động về báo chí, xuất bản, cung cấp hệ thống
tài liệu, ý kiến đa chiều giúp các cơ quan chủ quản cũng như các đơn vị báo chí, xuất
bản quán triệt hơn nữa Chị thị 22-CT/TW của Bộ Chính trị (Khóa VIII) trong giai đoạn mới
Nguyễn Đình Nhã (2002), “Tăng cường quản lý hoạt động xuất bản”, Tạp
bản sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 22/CT-TW, ngày 17-10-1997 của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về Tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo
quả triển khai, công tác quản lý xuất bản Bài viết khẳng định, thực hiện Chỉ thị
số 22-CT/TW của Bộ Chính trị, hoạt động xuất bản đã đạt được những bước tiến
mạnh mẽ và vững chắc Hoạt động xuất bản trong 5 năm (1997-2002) đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, bước đầu thích ứng với cơ chế thị trường, ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và quản lý, tạo nên sự phát triển mới
của toàn ngành
Trần Văn Phượng (2002), Quá trình xây dựng Luật Xuất bản (Kỷ yếu), NXB
Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, KH Kho: VN02.07475, VN02.07474, VN02.07473 Sách dày 276 trang, tác giả sưu tầm, hệ
thống hóa tất cả các văn bản như Báo cáo, công văn, tờ trình, bài phát biểu, về quá trình khởi thảo, xây dựng, xin ý kiến, chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện Luật Xuất
bản (1993) Thông qua các Chương, Điều, ngôn ngữ được chọn lọc, chắt lọc trong
Luật thể hiện sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự đóng góp trí tuệ
của toàn dân thông qua các đại biểu Quốc hội khóa VIII và khóa IX, với 2.858 ý
kiến đóng góp và 30 lần chỉnh lý, bổ sung Luật Xuất bản được Quốc hội khóa IX thông qua năm 2003
Lê Thanh Bình (2004), Qu ản lý và phát triển Báo chí - Xuất bản
quốc gia Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, KH Kho: VN04.07085,
Trang 24VN04.07084 Sách dày 350 trang đề cập đến các vấn đề lý luận chung về báo chí
- xuất bản, nêu thực trạng tình hình báo chí - xuất bản Việt Nam và thế giới những năm đầu thế kỷ XX Tác giả chỉ ra xu hướng thương mại hóa dẫn đến sự xa rời tôn chỉ, mục đích hoạt động của một số cơ quan báo chí – xuất bản là một trong
những nguyên nhân gây khó khăn trong công tác quản lý Từ đó, tác giả đề xuất
một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh
vực báo chí - xuất bản
Trần Văn Hải (chủ nhiệm) (2005), Xuất bản sách lý luận chính trị với việc
trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ, Phân viện
Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội
Trần Thu Hà (2005), Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất
Chí Minh Đề tài đã phân tích thực trạng, làm rõ những hạn chế về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản, như: mô hình tổ chức và cơ chế chính sách cho
hoạt động xuất bản còn nhiều hạn chế, bất cập; nội dung một số XBP có nội dung không phù hợp với thuần phong mỹ tục bị dư luận phê phán; nạn in lậu, in trái phép chưa được ngăn chặn, xử lý kịp thời; thị trường XBP chưa được quản lý chặt
chẽ; hệ thống phát hành XBP Nhà nước không được quan tâm đúng mức và đang
có nguy cơ bị thu hẹp, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo
Hồng Vinh (2006), “Một số vấn đề đặt ra từ công tác lãnh đạo, quản lý hoạt
động báo chí, xuất bản trong tình hình hiện nay”, Tạp chí Tư tưởng- văn hóa, số
7 Tác giả đi sâu phân tích lý do phải tăng cường lãnh đạo, quản lý hoạt động báo chí, xuất bản Trước hết, đó là đòi hỏi tự thân sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống báo chí, xuất bản trong hai mươi năm đầu đổi mới đất nước (1986-2006); do yêu cầu phát triển phải đi đôi với quản lý tốt; do yêu cầu phát triển báo chí, xuất bản của từng địa phương, từng ngành đặt ra những yêu cầu quản lý cụ thể Bài viết nêu những căn cứ để tiền hành công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản, như: các
Trang 25văn bản của Đảng, Nhà nước đề cập công tác báo chí, xuất bản Sau đó, bài viết nêu một số vấn đề đáng chú ý trong hoạt động báo chí, xuất bản và đề xuất một số trọng tâm trong công tác chỉ đạo, quản lý xuất bản hiện thời, trong đó nhấn mạnh
“ tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, trước hết là tăng cường chỉ đạo của chính
cơ quan tuyên giáo các cấp với tư cách vừa là người tham mưu đề xuất, vừa là người tác chiến cụ thể trên lĩnh vực này”
Nguyễn Duy Bắc (2009), “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác báo chí - xuất bản trong thời kỳ đổi mới”, Đề tài cấp Bộ, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh Đề tài làm rõ quan điểm của Đảng về báo chí và xuất bản, phân tích
những thành tựu, hạn chế trong công tác quản lý hoạt động báo chí xuất bản, đề
xuất những giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với công tác báo chí - xuất bản trong tình hình mới
Lê Minh Nghĩa (2009), Xuất bản sách lý luận chính trị phục vụ hiệu quả
đoạn hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ của Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng
Trung ương Đề tài phân tích cơ sở lý luận và những nhân tố tác động đến hoạt động xuất bản sách lý luận chính trị Đồng thời, đánh giá thực trạng xuất bản sách lý
luận chính trị bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nêu những vấn
đề đặt ra đối với việc xuất bản loại sách này Đề tài xây dựng phương hướng và giải pháp chủ yếu, đề xuất các kiến nghị làm cơ sở để thực hiện các giải pháp đó
Đỗ Quý Doãn (2010), “Thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng về báo
chí, xuất bản thành chính sách, pháp luật của Nhà nước”, Tạp chí Cộng sản, số 4
Bài viết khẳng định, báo chí, xuất bản là lĩnh vực có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) chỉ rõ công tác tư tưởng, lý luận và báo chí là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng Bài viết đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về báo chí, xuất bản trong xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước
Trang 26Nhiều tác giả - sách tuyển chọn (2010), Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí
quốc gia Hồ Chí Minh, VN01789 Cuốn sách sưu tầm, tuyển chọn bài nói, bài viết
của Hồ Chí Minh về báo chí, xuất bản, trong đó phần các bài theo tuyến nội dung
gồm: Lên án chủ nghĩa thực dân đế quốc trong lĩnh vực báo chí, xuất bản; Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của báo chí, xuất bản; Đặc trưng của báo chí, xuất bản cách
mạng; Nhà báo cách mạng; Những lĩnh vực công tác xuất bản cần coi trọng Cuốn sách dày 176 trang do NXB Chính trị quốc gia ấn hành, khẳng định, tư tưởng của Hồ Chí Minh về báo chí, xuất bản đến nay còn nguyên giá trị, là những chỉ dẫn quý báu đối với quá trình phát triển của báo chí, xuất bản Việt Nam
Nhiều tác giả (2011), Xuất bản Việt Nam trong những năm đổi mới đất nước,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, lưu tại Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,VN7535 Cuốn sách có dung lượng 176 trang, các tác giả nêu rõ hoạt động xuất bản gồm 3 bộ phận: xuất bản - in và phát hành, thuộc lĩnh vực văn hóa
- tư tưởng của Đảng, có vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và xây dựng nhân cách con người Việt Nam; phân tích quá trình
ra đời của ngành xuất bản Việt Nam, bước đầu đánh giá thành tựu và hạn chế của
xuất bản Việt Nam qua 25 năm đổi mới
Nhiều tác giả (2012), Xuất bản Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường
quốc gia Hồ Chí Minh, VN4131 Cuốn sách có dung lượng lớn với 552 trang, các tác giả nghiên cứu tương đối toàn diện từ cơ sở lý luận chung, thực trạng, đánh giá
sự tác động của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế đến hoạt động xuất bản Việt Nam Từ kết quả nghiên cứu của 5 đề tài nhánh với 54 chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu, dựa trên kết quả điều tra xã hội học, báo cáo khảo sát của Đề tài Khoa
học cấp Nhà nước, cuốn sách là công trình nghiên cứu công phu về hoạt động xuất
bản Việt Nam thời kỳ đổi mới
Nhiều tác giả (2012), Một số nghiên cứu về xuất bản nước ta trong những
năm gần đây, NXB Thời đại, Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, KH
Trang 27Kho: VV13.03735, VV13.03736 Cuốn sách dày 526 trang, chủ biên và các tác
giả đã tuyển chọn, biên soạn một số công trình nghiên cứu của các cá nhân, tổ
chức, những nghiên cứu đã được ứng dụng trong thực hiện hoạt động xuất bản
Bộ Thông tin và Truyền thông (2012), 60 năm ngành xuất bản, in, phát hành
bách khoa, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, KH: VL13.01516 Sách dày 222
trang, tổng quát quá trình hình thành và phát triển của ngành xuất bản, in, phát hành trong 60 năm, giới thiệu chức năng, nhiệm vụ, năng lực sản xuất, kinh doanh và thành tích của 64 NXB, số lượng lớn cơ sở in và đơn vị phát hành sách, hoạt động trên các vùng miền trong cả nước, được độc giả trong và ngoài nước quan tâm
Nguyễn Duy Hùng (2012), Những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả
đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương Đề tài tập trung phân tích thực trạng công tác xuất bản sách lý luận chính trị từ khi có Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 27-1-
2003 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, phát hành
cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, công tác phát hành sách lý luận chính trị Đặng Vũ Huân (2013), “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý báo chí,
xuất bản của cơ quan chủ quản”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 6, tác giả nêu
một số yêu cầu đối với công tác quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản trong tình hình mới, trong đó khẳng định, công tác quản lý báo chí, xuất bản phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, trong khuôn khổ của pháp luật, đồng thời phải bắt kịp trình độ phát triển cao của kỹ thuật, công nghệ truyền thông hiện đại Sau khi phân tích thực trạng quản lý báo chí của một số cơ quan chủ quản cũng như mối quan hệ hữu cơ giữa cơ quan chủ quản và cơ quan xuất bản, tác giả đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản của cơ quan chủ quản Trong đó nhận định, “muốn nâng cao hiệu quả quản lý, cần xác định rõ trách nhiệm, cơ chế phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản với cơ quan chủ quản báo chí, xuất bản”
Trang 28Ban Tuyên giáo Trung ương (2013), Một số vấn đề đặt ra và giải pháp thúc
đẩy công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn trong thời kỳ phát triển mới
Nguyễn An Tiêm, Nguyễn Nguyên (Đồng chủ biên) (2013), Tổ chức, quản
lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách
308 trang, giới thiệu về tổ chức, quản lý xuất bản của một số quốc gia như Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Đây là các
quốc gia có ngành công nghiệp xuất bản phát triển lâu đời Từ kết quả nghiên cứu,
các tác giả tham chiếu với các vấn đề của xuất bản Việt Nam trong bối cảnh mới,
từ đó đề xuất một số giải pháp vĩ mô về tổ chức, quản lý và xây dựng chính sách đối với ngành xuất bản Việt Nam Đồng thời, các tác giả đã đúc kết một số kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xuất bản, trong đó nhấn
mạnh nội dung cần tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với công tác xây dựng chính sách cho phù hợp đặc thù của hoạt động xuất bản ở Việt Nam
Đường Vinh Sường (2013), Công tác xuất bản - một số vấn đề lý luận và
Nam, KH Kho: VV13.08431, VV13.08430 Cuốn sách gồm 318 trang, tập hợp các công trình đã được tác giả công bố trong nhiều năm trên các lĩnh vực của công tác xuất bản Nội dung sách phân tích cơ sở lý luận, những quan điểm và đề xuất
giải pháp nhằm cụ thể hóa quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với
hoạt động xuất bản trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Một
phần sách tập trung nghiên cứu về vị trí, vai trò, chức năng và đặc điểm hoạt động
xuất bản; một số vấn đề về tổ chức kinh tế xuất bản, đặc biệt là hiệu quả kinh tế trong xuất bản sách lý luận chính trị; xu hướng xuất bản sách điện tử
Lê Văn Yên (2013), Quản lý nhà nước đối với hoạt động in và phát hành
sách ở nước ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ của Hội động Khoa học các cơ
quan Đảng Trung ương Nhóm tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý
Trang 29nhà nước về lĩnh vực in ấn, phát hành XBP Qua đó, phân tích những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước với hoạt động in và phát hành sách ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Phạm Thị Vui (2013), “Một số vấn đề về chính sách xuất bản ở nước ta hiện
nay”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 9, tr 68-72 Bài viết tập trung bàn về một số
chính sách xuất bản, như: chính sách tài trợ đặt hàng; chính sách trợ cước vận chuyển, đặc biệt là trợ cước vận chuyển sách cho các tỉnh miền núi, hải đảo; chính sách thuế; chính sách nhuận bút; chính sách xã hội hóa hoạt động xuất bản của Đảng và Nhà nước Tác giả bài viết nhấn mạnh, xuất bản là lĩnh vực hoạt động tư tưởng sắc bén của Đảng, Nhà nước, nhưng thực tế các NXB vẫn phải nộp các khoản thuế như các doanh nghiệp kinh doanh thuần túy, nên gặp nhiều khó khăn Bài viết đề xuất Chính phủ áp dụng thuế suất ưu đãi cho hoạt động xuất bản, trong
đó có thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu hàng hóa (giấy), tạo điều kiện cho các NXB thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhà nước giao
Nguyễn An Tiêm (2015), "Để khắc phục những tiêu cực trong hoạt động xuất
bản", Tạp chí Tuyên giáo, số 3 Bài viết chỉ ra những yếu kém, hạn chế trong hoạt
động xuất bản đồng thời chỉ rõ nguyên nhân của những yếu kém, hạn chế đó Tác
giả đề xuất 8 nội dung quan trọng nhằm khắc phục những tiêu cực trong hoạt động
xuất bản: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ trong NXB; Xây dựng, bổ sung và thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với xuất bản trước yêu cầu mới; Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển
mạng lưới xuất bản dựa trên quan điểm định hướng phát triển của Đảng, Nhà nước; Chăm lo giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ làm công tác xuất bản; tăng cường trách nhiệm của cơ quan chủ quản; Vai trò của
tổ chức Hội Xuất bản; Đổi mới nội dung đào tạo, bồi dưỡng của các cơ sở đào tạo cán bộ xuất bản; Tăng cường nâng cấp, hiện đại hóa cơ sở vật chất cho các NXB, Nguyễn Anh Tú (2015), Quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản ở Việt
Trang 30kinh tế quốc dân, Hà Nội Luận án đã đưa ra dự báo về hoạt động xuất bản, quản
lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản, trong đó nói đến xu hướng của sách điện
tử và xuất bản trực tuyến Luận án nêu quan điểm về quản lý nhà nước đối với
hoạt động xuất bản, đưa ra 4 nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản Trong đó, nhấn mạnh việc nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan bảo vệ pháp luật đối với phòng chống sách giả, sách
lậu là yêu cầu cấp bách đối với hoạt động xuất bản Việt Nam
Vũ Thùy Dương (2016), Nhận diện các sai phạm trong hoạt động xuất bản
Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Đề tài đã đánh giá thực trạng các sai
phạm và xử lý các sai phạm trong hoạt động xuất bản hiện nay Qua đó đề ra các
giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý các sai phạm này
Kiều Thúy Nga (2016), “Tác động của Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban Bí thư
Về nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản với hoạt động thư viện
và việc thúc đẩy văn hóa đọc”, Tạp chí Thư viện Việt Nam, Số 5 (61) Bài viết làm
rõ mối quan hệ chặt chẽ, sự tác động lẫn nhau giữa hoạt động xuất bản và công tác thư viện Quá trình thực hiện Chỉ thị số 42 đã góp phần quan trọng trong việc
từng bước đáp ứng nhu cầu đọc của độc giả, giúp hoạt động thư viện có những thay đổi theo chiều hướng tích cực Bên cạnh những kết quả đạt được sau hơn 10 năm thực hiện Chỉ thị, còn nhiều nội dung chưa được triển khai thực hiện, ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động xuất bản, tác động trực tiếp tới hoạt động thư viện Tác giả kiến nghị: Tăng cường chỉ đạo, giám sát việc thực hiện Chỉ
thị số 42-CT/TW đối với ngành Xuất bản, In và Phát hành ; Đối với ngành Xuất
bản, In và Phát hành cần đổi mới công nghệ, phát triển mạng lưới xuất bản, in
và phát hành rộng khắp cả nước Phối hợp chặt chẽ với ngành thư viện xây dựng
cộng đồng đọc rộng lớn
Học viện Báo chí và Tuyên truyền – NXB Chính trị quốc gia (2019), Vai trò
yếu Hội thảo khoa học quốc gia, Hà Nội
Trang 31Hội Xuất bản Việt Nam- Vụ Báo chí - Xuất bản (Ban Tuyên giáo Trung ương) - Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Thông tin và Truyền thông), NXB
Chính trị Quốc gia (2019), Hội thảo khoa học “Cải cách thủ tục hành chính trong
lĩnh vực xuất bản, phát hành nhằm đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghệ 4.0”
Sở Thông tin và Truyền thông Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ Thông tin và Truyền thông (2019), Hội thảo “Đặt hàng XBP sử dụng ngân sách Nhà nước”, TP
Hồ Chí Minh
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong nước khá phong phú, của cả các nhà khoa học và các nhà lãnh đạo quản lý, những người hoạt động trực tiếp trong lĩnh
vực xuất bản các công trình không chỉ nêu rõ quan điểm của Đảng, những quy định
của Nhà nước về xuất bản, mà còn nêu rõ thực trạng hoạt động xuất bản trên những
nội dung cụ thể, những khó khăn, vấn đề cần tháo gỡ đối với hoạt động xuất bản
ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác xuất bản khá
đa dạng cả về mặt lý luận và thực tiễn Những công trình nghiên cứu liên quan đã
đề cập ở những góc độ khác nhau về hoạt động xuất bản, sự lãnh đạo của Đảng,
sự quản lý nhà nước đối với lĩnh vực xuất bản ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đã làm rõ một số vấn đề:
- Luận chứng sự cần thiết và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động
xuất bản và công tác quản lý nhà nước về xuất bản; Điểm qua những quan điểm,
chủ trương của Đảng về công tác xuất bản
Tuy nhiên, các công trình trên chưa hệ thống được các quan điểm chủ trương
của Đảng về công tác xuất bản; chưa phân tích có hệ thống và đầy đủ về quá trình hoàn thiện quan điểm, chủ trương, cũng như chưa nghiên cứu cụ thể về vai trò định hướng của Đảng đối với công tác xuất bản trong cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 32- Các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản
đã nêu được một cách khái quát thực trạng quản lý nhà nước về công tác xuất bản trong thời kỳ đổi mới; phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và bước đầu đưa ra được một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động xuất
bản - in - phát hành
Tuy nhiên, các công trình này mới dừng lại ở việc phân tích thực trạng quản
lý nhà nước về xuất bản; kết quả hoạt động cụ thể các NXB, cơ sở in, đơn vị phát hành mà chưa xây dựng được các giải pháp mang tính toàn diện và khả thi nhằm
lập lại trật tự trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là lĩnh vực in và phát hành sách còn nhiều yếu kém, bất cập
- Các công trình nghiên cứu về xuất bản và hoạt động xuất bản đã hệ thống quan điểm về vị trí, vai trò và chức năng của xuất bản và hoạt động xuất bản; đưa
ra những khái niệm, đặc điểm, nội dung và đặc trưng, đặc thù hoạt động xuất bản
Việt Nam Các nghiên cứu đã làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động xuất bản với tư cách là một lĩnh vực khoa học đặc thù
Những đề xuất, kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động
xuất bản về mặt nghiệp vụ như: công tác xây dựng kế hoạch đề tài, công tác cộng tác viên, công tác in ấn, phát hành sách đã được đề cập đến Tuy nhiên, đó là những nghiên cứu riêng rẽ về mặt nghiệp vụ xuất bản là chủ yếu
- Các công trình của tác giả nước ngoài nghiên cứu về hoạt động xuất bản cho thấy, xuất bản là lĩnh vực đặc thù, các nước có quan điểm khác nhau về quản
lý hoạt động xuất là do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau Đối với các nước phát triển, doanh nghiệp xuất bản hoạt động thuần túy trong cơ chế thị trường thì mục tiêu hoạt động xuất bản tập trung giải quyết mối quan hệ giữa nhà sản xuất
và người tiêu dùng chủ yếu mang tính chất kinh doanh, do vậy nhà nước không có
cơ chế, chính sách riêng cho hoạt động này Vì vậy, nghiên cứu hoạt động xuất
bản và phương thức quản lý xuất bản ở các quốc gia này thường tập trung vào vấn
đề tiếp cận thị trường, quan hệ công chúng, trào lưu xuất bản mới,
Trang 33Do đó, các công trình nêu trên có ý nghĩa tham khảo hữu ích cho triển khai nghiên cứu đề tài luận án, đặc biệt là có thể kế thừa về cách tiếp cận, phương pháp
và một số tư liệu, tài liệu
Đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình, đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với công tác xuất
bản giai đoạn 1990-2016 Vì thế, luận án sẽ tập trung giải quyết các vấn đề cơ
bản như:
của Đảng về phát triển hoạt động xuất bản từ năm 1990 đến năm 2016
năm 1990 đến năm 2016 một cách toàn diện, có hệ thống Luận án tập hợp, hệ
thống hóa các văn bản chỉ đạo của Đảng đối với công tác xuất bản qua mỗi giai đoạn, trong đó, tập trung làm rõ sự phát triển trong nhận thức và chủ trương của Đảng về công tác xuất bản
hiện ở những điểm sau: Vai trò định hướng của Đảng trong việc quy hoạch phát triển, xây dựng chiến lược, chương trình mục tiêu hoạt động xuất bản; Vai trò của các cơ quan tham mưu cấp ủy từ Trung ương đến các cơ quan chủ quan, các tỉnh, thành phố; Vai trò định hướng chính trị, tư tưởng của tổ chức đảng, đoàn tại cơ quan chủ quản, các NXB, cơ sở in và các đơn vị phát hành sách; Sự chỉ đạo của Đảng trong việc thể chế hóa, xây dựng, ban hành và thực thi những văn bản pháp quy về lĩnh vực xuất bản đã góp phần trực tiếp định hướng và điều chỉnh hoạt động xuất bản như thế nào; Cơ chế phối hợp cụ thể giữa cơ quan chỉ đạo với cơ quan quản lý trong công tác thanh tra, kiểm tra lĩnh vực xuất bản; Vai trò của Đảng trong việc định hướng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành xuất bản
nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế; đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng lãnh đạo công tác xuất bản từ năm 1990 đến năm 2016
Trang 34Tiểu kết
Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xuất bản tại Việt Nam là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan tham mưu, cơ quan quản lý, các NXB và những người nghiên cứu về hoạt động xuất bản Liên quan đến vấn đề này, đã có nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu, tổng kết, các cuộc hội thảo, các luận văn, luận
án đề cập tới nhiều góc độ, từ các vấn đề chung, khái quát đến cụ thể trong từng lĩnh vực xuất bản - in - phát hành Từ nguồn tư liệu phong phú, qua nhiều cách
tiếp cận khác nhau cho thấy, công tác xuất bản trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ năm 1990 đến năm 2016, đã được quan tâm nghiên cứu Đó là những nội dung về quan điểm, chủ trương cơ bản của Đảng, sự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực
xuất bản; về thực trạng phát triển mạnh mẽ của ngành xuất bản trong thời kỳ đổi
mới; về kết quả và nguyên nhân của những thành tựu cũng như hạn chế của hoạt động xuất bản, qua đó luận giải rõ hơn vai trò định hướng của Đảng trong công tác xuất bản
Những nguồn tư liệu cơ bản của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước nêu trên đã đề cập tới những vấn đề liên quan đến hoạt động xuất bản nói chung, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với công tác xuất bản nói riêng,
có nhiều nội dung, vấn đề luận án có thể kế thừa Từ đó, tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu, luận giải những vấn đề về chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác xuất bản, thực trạng quản lý xuất bản và kết quả hoạt động xuất bản - in
- phát hành qua từng giai đoạn, từ năm 1990 đến năm 2016; đồng thời, đưa ra
những nhận xét, đúc rút một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối
với vấn đề có ý nghĩa quan trọng này
Trang 35Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG
ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XUẤT BẢN TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2004
Xuất bản các năm 1993, 2004, 2008 (sửa đổi), 2012 Luật Xuất bản (2012) quy định:
để in và phát hành hoặc để phát hành trực tiếp qua các phương tiện điện tử”
hội, giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật được xuất
bản thông qua nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được cấp giấy phép xuất
bản bằng các ngôn ngữ khác nhau, bằng hình ảnh, âm thanh và được thể hiện dưới các hình thức sau đây: a) Sách in; b) Sách chữ nổi; c) Tranh, ảnh, bản
đồ, áp-phích, tờ rời, tờ gấp; d) Các loại lịch; đ) Bản ghi âm, ghi hình có nội dung thay sách hoặc minh họa cho sách [188,1]
So với các Luật Xuất bản trước đó, “xuất bản phẩm” theo Luật Xuất bản năm 2012 có nội hàm rộng hơn
hoạt động: lãnh đạo, quản lý xuất bản; sản xuất, phân phối, tiêu dùng XBP (hoạt động xuất bản: biên tập - in - phát hành XBP); đào tạo nhân lực xuất bản; thanh tra, kiểm tra hoạt động xuất bản
được sử dụng phổ biến, đều chỉ một đối tượng, quy trình chung, các khâu xuất bản,
nhưng có nội hàm khác nhau: Hoạt động xuất bản, là công việc của NXB, cơ sở in, đơn
vị phát hành XBP Trong cơ chế thị trường, hoạt động xuất bản vừa là hoạt động sự nghiệp công ích, vừa là dịch vụ công cộng, hoạt động kinh doanh sản phẩm văn hóa
Trang 36Như vậy, công tác xuất bản có nội hàm bao trùm hoạt động xuất bản ở khâu lãnh đạo, quản lý xuất bản, công tác lãnh đạo, quản lý xuất bản, là hoạt động
của các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội đối với hoạt động xuất bản Trong đó, Đảng cầm quyền là cơ quan lãnh đạo, định hướng phát triển xuất bản; Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô các hoạt động xuất bản Công tác lãnh đạo, quản lý xuất bản định hướng, tạo môi trường pháp lý và kinh
tế cho hoạt động xuất bản phát triển Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản và Nhà nước
là chủ thể lãnh đạo, quản lý hoạt động xuất bản, tạo điều kiện để xuất bản phục
vụ nhân dân lao động, phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc
Do đó, việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xuất bản là
nghiên cứu nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng trên các mặt: công tác định hướng, chỉ đạo của Đảng; công tác quản lý của Nhà nước (thể chế hóa và chỉ đạo hoạt động xuất bản); hoạt động xuất bản (biên tập - in ấn - phát hành); công tác đào tạo nhân lực xuất bản; công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động xuất bản
Đầu những năm 90 thế kỷ XX, trên thế giới, sự biến đổi phức tạp, đột ngột của
tình hình quốc tế tác động sâu sắc đến Việt Nam Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa
xã hội (CNXH) ở Liên Xô và sự tan rã của hệ thống các nước XHCN ở Đông Âu đã tác động mạnh đến tư tưởng và tình cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân Việt Nam
Hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch ở cả trong và ngoài nước diễn
biến phức tạp Các thế lực thù địch và phản động ráo riết chống phá CNXH nhằm
tiến tới xoá bỏ CNXH bằng mọi thủ đoạn thâm độc Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tìm mọi cách thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” thông qua nhiều kênh thâm nhập khác nhau, trong đó sách, báo là công cụ đặc biệt quan trọng Hơn lúc nào
hết, sách, báo là vũ khí sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần giữ vững
sự ổn định về chính trị, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, nâng cao dân trí, phát huy dân
Trang 37quyền, [219, tr.46] Xu hướng đổi mới theo hướng dân chủ hóa xã hội ngày càng cao, tác động không nhỏ đến lãnh đạo hoạt động xuất bản
Ở trong nước, sau 4 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, các chủ
trương, chính sách đổi mới bắt đầu mang lại những kết quả nhất định: Tình hình chính trị đất nước ổn định; nền kinh tế có những thay đổi rõ rệt khi tiến hành thực
hiện Ba chương trình kinh tế (lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất
khẩu); kinh tế đối ngoại phát triển nhanh, mở rộng hơn về quy mô, hình thức, góp
phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội; bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,… Kết quả quan trọng nhất là đã từng bước đưa đất nước thoát khỏi tình
trạng khủng hoảng kính tế - xã hội Quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được phát huy Quốc phòng được giữ vững, an ninh quốc gia được bảo đảm, từng bước phá thế bao vây về kinh tế, chính trị Cùng với duy trì tốt quan hệ truyền thống, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, tạo ra môi trường thuận lợi để đẩy mạnh công
cuộc đổi mới Đây là bối cảnh thuận lợi để đổi mới hoạt động xuất bản, đổi mới các cơ quan xuất bản thích ứng với cơ chế thị trường
Bên cạnh những thuận lợi và những kết quả đã đạt được, những yếu kém và khó khăn còn rất lớn: Đất nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiều vấn
đề kinh tế - xã hội nóng bỏng chưa được giải quyết như lạm phát cao, nhiều cơ sở sản
xuất đình đốn kéo dài Số lao động thiếu việc làm tăng Chế độ lương bất hợp lý Tốc
độ tăng dân số còn quá cao; tình trạng vi phạm dân chủ còn nhiều; văn hoá xã hội có
những mặt tiếp tục xuống cấp Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, bất công trong xã hội gia tăng, an ninh trật tự và an tòan xã hội còn phức tạp, vẫn còn nhân tố gây
mất ổn định chính trị, bộ máy nhà nước, Đảng và các đoàn thể nhân dân cồng kềnh,
quan liêu, hoạt động kém hiệu quả Một số tổ chức Đảng chưa phát huy vai trò lãnh đạo Tình hình phức tạp đó tác động mạnh đến tư tưởng, tình cảm của nhân dân Bên cạnh đó, các ấn phẩm có nội dung độc hại tràn vào Việt Nam ngày càng nhiều
Đã xuất hiện những ý kiến đòi tự do báo chí, tự do xuất bản Một số cơ quan xuất
bản chạy theo cơ chế thị trường, quá coi trọng mục tiêu kinh tế mà không chú ý
Trang 38đúng mức đến chất lượng ấn phẩm Thực tế đó đòi hỏi ngành xuất bản với tư cách
là bộ phận của công tác tư tưởng của Đảng, phải có những hoạt động tích cực, với
những ấn phẩm có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, định hướng tư tưởng để nhân dân tin tượng và quan tâm thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới
Bên cạnh những khó khăn, bối cảnh trong nước và thế giới cũng tạo ra những thuận lợi cơ bản để các NXB hoạt động Cơ chế quản lý mới tháo gỡ nhiều khó khăn, hạn chế, tạo điều kiện cho hoạt động xuất bản phát triển nhanh, chủ động hơn Nền kinh tế nhiều thành phần bước đầu phát huy tác dụng, tạo sự tăng trưởng, kích thích tính năng động xã hội, đời sống nhân dân bước đầu được cải thiện, sức tiêu dùng xã hội tăng đáng kể, tác động, giúp hoạt động xuất bản có thêm nguồn năng lượng mới, tạo đà cho sự phát triển của ngành Sự phát triển và mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học-công nghệ, hội nhập với kinh tế thế giới, làm cho
hoạt động xuất bản có điều kiện tiếp cận, hợp tác với hoạt động xuất bản thế giới
Nền xuất bản Việt Nam đã bước đầu được định hình sớm với dấu mốc quan
trọng là việc xuất bản cuốn Đường Kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc (viết năm
1927) Sau đó là sự hình thành một số nhà sách công khai trong phong trào
1936-1939, cung cấp sách, báo để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam Tiếp
đó, nhiều tác phẩm cách mạng ra đời, như: Vấn đề dân cày (Qua Ninh và Vân
Đình) bút danh của đồng chí Trường - Chinh và đồng chí Võ Nguyên Giáp (1938)),
Đề cương về văn hóa Việt Nam (Tổng Bí thư Trường - Chinh khởi thảo (1943)),
năm 1941),… đã góp phần xây dựng nền tảng đầu tiên của ngành xuất bản Việt Nam, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ
Giai đoạn 1945-1975: sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945,
Việt Nam giành được độc lập, đánh dấu mốc son trong lịch sử dân tộc Nhiệm vụ
trọng tâm trong 30 năm là toàn Đảng, toàn dân tập trung cho công cuộc bảo vệ nhà nước dân chủ nhân dân và đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Đây cũng là đặc điểm chi phối hoạt động của ngành xuất bản Đối với công tác
Trang 39xuất bản, đây cũng là mốc đánh dấu thời kỳ tạo dựng nền móng, hình thành và
từng bước phát triển nền xuất bản cách mạng Đối với công tác xuất bản, Đảng lần đầu tiên xác định khá toàn diện vai trò, vị trí, chức năng của xuất bản trong Chỉ
thị số 172-CT/TW, ngày 23-11-1959 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao
động Việt Nam về Công tác xuất bản [48, tr.18]
Giai đoạn này, một loạt các NXB được thành lập Các NXB ở Trung ương có: Lao động (23-11), Sự thật (5-12), Văn hóa cứu quốc, Giáo dục (1957), Kim Đồng (1957), Ngoại văn (1957) - nay là NXB Thế giới Ccác NXB địa phương ra đời như: Nhân dân miền Nam (1948) ở Nam Bộ, Vệ quốc quân (1947), Giải phóng (1968) - nay là NXB Văn hóa Văn nghệ TP Hồ Chí Minh,… Các nhà in lần lượt
xuất hiện: Công đoàn 91945), Ba Đình (1946), Tiến bộ (1946); Cơ quan Tổng Phát hành sách báo Cứu quốc (1946), [48, tr.17-18)] Đặc biệt, ngày 10-10-1952, Chủ
tịch Hồ Chí Minh ký sắc lênh 122/SL thành lập Nhà in quốc gia, được lấy làm ngày truyền thống của ngành Xuất bản, In, Phát hành sách Việt Nam Các tác
phẩm tiêu biểu những năm 1945-1975: Sửa đổi lối làm việc (bút danh XYZ (1947)); Kháng chi ến nhất định thắng lợi (Trường - Chinh (1947)); Đất nước đứng
Đến năm 1975, sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, cùng với việc tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội, Đảng luôn quan tâm đến công tác xuất bản để đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, đời sống văn hóa của nhân dân, đồng thời truyền bá sâu rộng chính trị, tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng đến các tầng lớp nhân dân
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV (năm 1976), Đảng khẳng định nhiệm vụ trung tâm của cách mạng tư tưởng văn hóa là xây dựng nền văn hóa mới
và con người mới xã hội chủ nghĩa Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh nhiệm vụ
của các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó có xuất bản: "Các ngành báo
chí, thông tấn, xuất bản, thông tin, truyền thanh, truyền hình, điện ảnh, nhiếp ảnh,
v.v phải kịp thời làm sáng tỏ quan điểm của Đảng về những sự kiện quan trọng trong nước và thế giới, góp phần nâng cao tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa, ý
Trang 40thức tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy tắc, thể lệ về trật tự, an ninh, nâng cao nhiệt tình lao động của quần chúng, hướng dẫn kịp thời và đúng đắn dư luận xã hội, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Mở rộng và nâng cao hơn nữa nội dung và phương pháp thể hiện của các báo, đài, phim ảnh và các XBP" [114, tr.1.020] Nhấn mạnh vị trí quan trọng của lĩnh vực thông tin đại chúng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (1982) khẳng định, "Báo chí, xuất bản, phát thanh, thông tin cổ động, vô tuyến trình hình v.v Tóm lại toàn bộ lĩnh vực thông tin đại chúng là những bộ phận rất quan trọng của mặt trận văn hóa, tư tưởng" [97, tr.102] Bước vào thời kỳ đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó, công tác tư
tưởng được Đảng đặc biệt chú trọng Công tác xuất bản thuộc lĩnh vực văn hóa -
tư tưởng, nhận được sự định hướng trực tiếp, cụ thể của Đảng Văn kiện Đại hội
tác điện ảnh và công tác phát hành sách, báo, phim ảnh" [98, tr.426] Đại hội nhấn
mạnh vai trò, nhiệm vụ và nêu ra những yêu cầu cụ thể đối với công tác xuất bản:
"Nâng cao chất lượng công tác xuất bản cả ở Trung ương và địa phương, bảo đảm
có nhiều sách bổ ích, kịp thời phát hiện và xử lý những trường hợp vi phạm nguyên
tắc và thiếu trách nhiệm dẫn tới xuất bản và phát hành văn hóa phẩm độc hại Cố
gắng xuất bản một số sách chính trị, khoa học, kỹ thuật, văn học có chất lượng, với
khối lượng tương đối lớn, đủ cung cấp cho mỗi cơ sở một tủ sách hay" [98, tr.464]
Có thể nói, việc xác định rõ vị trí, vai trò của công tác xuất bản là một khâu quan trọng trên mặt trận tư tưởng - văn hóa cùng với những định hướng lớn cho
hoạt động xuất bản theo tinh thần đổi mới sẽ là cơ sở để công tác xuất bản từng bước phát triển và hội nhập trên những chặng đường lịch sử tiếp sau
Có thể nói, những biến đổi của bối cảnh thế giới cũng như tình hình đất nước
những năm đầu thập niên 90 thế kỷ XX đã tác động không nhỏ đến công tác xuất
bản, nhất là trong bối cảnh một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng còn mơ hồ
về nhận thức, đặc biệt trong nhận thức về vai trò, tác dụng của hoạt động xuất bản,