Bùi Như LaiKỊCH NÓI TIẾP THU ẢNH HƯỞNG KỊCH HÁT TRUYỀN THỐNG QUA MỘT SỐ VỞ DIỄN CỦA NHÀ HÁT TUỔI TRẺ Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Sân khấu Mã số: 9210221 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT N
Trang 1Bùi Như Lai
KỊCH NÓI TIẾP THU ẢNH HƯỞNG KỊCH HÁT TRUYỀN THỐNG QUA MỘT SỐ VỞ DIỄN CỦA
NHÀ HÁT TUỔI TRẺ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Hà Nội - 2021
Trang 2Bùi Như Lai
KỊCH NÓI TIẾP THU ẢNH HƯỞNG KỊCH HÁT
TRUYỀN THỐNG QUA MỘT SỐ VỞ DIỄN CỦA NHÀ
HÁT TUỔI TRẺ
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Sân khấu
Mã số: 9210221
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đào Mạnh Hùng
Hà Nội - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, bản luận án tiến sĩ Kịch nói tiếp thu ảnh
hưởng kịch hát truyền thống qua một số vở diễn của Nhà hát Tuổi trẻ là
công trình nghiên cứu do tôi viết và chưa được công bố Tôi xin chịu tráchnhiệm về lời cam đoan này!
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận án
Bùi Như Lai
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về nghệ thuật kịch nói 8
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về đặc trưng, phương pháp của sân khấu kịch hát truyền thống 12
1.1.3 Những công trình có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu 17
1.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 25
1.3 Cơ sở lý luận của đề tài 30
1.3.1 Các khái niệm thao tác 30
1.3.2 Lý thuyết tiếp biến văn hóa áp dụng vào đề tài luận án 32
1.3.3 Kịch nói và kịch hát truyền thống: những điểm tương đồng, khác biệt 37
1.3.4 Kịch nói vận dụng sáng tạo một số nguyên tắc nghệ thuật của kịch hát truyền thống 45
Tiểu kết 51
Chương 2: CÁC VỞ DIỄN THÀNH CÔNG CỦA NHÀ HÁT TUỔI TRẺ TRONG VIỆC TIẾP THU TINH HOA KỊCH HÁT TRUYỀN THỐNG 54
2.1 Khái quát quá trình kịch nói Việt Nam tiếp thu ảnh hưởng nghệ thuật kịch hát truyền thống 54
2.1.1 Những vở kịch nói đầu tiên tiếp thu ảnh hưởng của kịch hát truyền thống 54
2.1.2 Một số tác phẩm thành công khi tiếp thu ảnh hưởng của kịch hát truyền thống 59
2.2 Một số vở diễn tiêu biểu của Nhà hát Tuổi trẻ tiếp thu tinh hoa kịch hát truyền thống 65
2.2.1 Tiếp thu ảnh hưởng của kịch hát truyền thống trong nghệ thuật biên kịch 65
2.2.2 Tiếp thu ảnh hưởng của kịch hát truyền thống trong nghệ thuật đạo diễn 88
2.2.3 Tiếp thu ảnh hưởng của kịch hát truyền thống trong nghệ thuật diễn xuất 104
Trang 52.2.4 Tiếp thu ảnh hưởng của kịch hát truyền thống trong mỹ thuật 117
2.2.5 Tiếp thu ảnh hưởng kịch hát truyền thống trong âm nhạc 122
2.2.6 Tiếp thu ảnh hưởng kịch hát truyền thống trong những nghệ thuật phụ trợ khác 125
Tiểu kết 128
Chương 3:NHỮNG BÀI HỌC TỪ XU HƯỚNG KỊCH NÓI TIẾP THU NGHỆ THUẬT KỊCH HÁT TRUYỀN THỐNG 131
3.1 Những thành tựu và hạn chế trong việc tiếp thu tinh hoa kịch hát truyền thống vào các vở diễn của Nhà hát Tuổi trẻ 131
3.1.1 Những thành tựu 131
3.1.2 Một số hạn chế 134
3.2 Về xu hướng kịch nói Việt Nam tiếp thu tinh hoa kịch hát truyền thống 135
3.2.1 Hiệu quả của xu hướng kịch nói tiếp thu ảnh hưởng kịch hát truyền thống 135 3.2.2 Một số điểm cần lưu ý trong xu hướng kịch nói tiếp nhận ảnh hưởng kịch hát truyền thống 136
3.2.3 Cần gìn giữ nét độc đáo cho kịch nói Việt Nam hiện đại 143
3.3 Ảnh hưởng của kịch nói đối với kịch hát truyền thống 150
3.3.1 Ảnh hưởng tích cực 151
3.3.2 Ảnh hưởng tiêu cực 152
Tiểu kết 156
KẾT LUẬN 158
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 161
ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 161
TÀI LIỆU THAM KHẢO 162
PHỤ LỤC 17068
Trang 6: Nghệ sĩ nhân dân: Nghệ sĩ ưu tú: Nhà xuất bản: Phó giáo sư, tiến sĩ: Tiến sĩ
: Trang
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Vở kịch đầu tiên được coi là đánh dấu mốc cho sự ra đời của thể loại
kịch nói ở Việt Nam là vở Chén thuốc độc (tác giả Vũ Đình Long) được công
diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội vào năm 1921 Cũng từ đây, sân khấu Việt Namsong song tồn tại hai dòng sân khấu: Sân khấu kịch hát dân tộc (khái niệmrộng hơn khi bao hàm cả kịch hát truyền thống Tuồng, Chèo và các kịch háthình thành sau này như Dân ca Ví dặm, Bài chòi ) và sân khấu kịch nói theokiểu châu Âu
Ở buổi đầu mới hình thành, do chịu ảnh hưởng chủ yếu từ văn học kịchnên về mặt biểu diễn, kịch nói Việt Nam vẫn còn nhiều bước chập chững và chủ
yếu bắt chước những gì các nhà văn hóa Việt lúc đó học hỏi được từ văn
hóa Pháp Tuy nhiên, những nghệ sĩ tiên phong ấy không dừng ở việc bắtchước đơn thuần nghệ thuật ngoại lai, mà sự tự tôn dân tộc đã thôi thúc họ tìmtòi xây dựng một sân khấu kịch nói hướng tới sự gần gũi với văn hóa dân tộc
Ý thức ban đầu ấy đã dần thể hiện qua một số vở diễn có pha trộn thành phầnkịch hát (mời diễn viên kịch hát sang sắm vai, có nhiều đoạn hát Tuồng, hátChèo ) để rồi sau này, khi các đạo diễn du học trở về đã biến thành ý thức chủquan qua nhiều vở diễn học hỏi cách cấu trúc biểu diễn và phương pháp củaTuồng, Chèo Ý thức ấy đã trở thành xu hướng kịch nói tiếp thu những
tinh hoa nghệ thuật của kịch hát truyền thống (Tuồng, Chèo) trong suốt quátrình lịch sử gần 100 năm hình thành và phát triển
Kịch nói Việt Nam vốn là thành quả của quá trình tiếp nhận văn hóaphương Tây (bắt đầu từ văn hóa Pháp), cùng hoạt động trong môi trường vănhóa văn nghệ (trong đó có sân khấu kịch hát dân tộc) để rồi tự nhiên tiếp nhậnảnh hưởng của kịch hát truyền thống (Tuồng, Chèo) dần mang đậm dấu ấnvăn hóa của dân tộc Việt Nam Quá trình kịch nói Việt Nam tiếp thu ảnh
Trang 8hưởng sân khấu kịch hát truyền thống từ nhiều thập niên trước đã góp phầntạo nên thành công của nhiều vở diễn ở hầu hết các đơn vị nghệ thuật, trong
đó có các vở diễn của Nhà hát Tuổi trẻ
Những cuốn sách mang tính sơ khảo, lược khảo về sự hình thành và pháttriển của kịch nói Việt Nam, ghi nhận thực tế hoạt động của kịch chủng nàytrong những khoảng thời gian nhất định đã góp phần quan trọng cho ngườinghiên cứu có cơ sở tìm hiểu sâu về xu hướng kịch nói tiếp thu sân khấu kịch háttruyền thống Cũng đã có một số cuốn sách có nội dung liên quan đến đề tài này
như Về nghệ thuật diễn xuất kịch hát truyền thống và kịch nói Việt Nam (Đỗ Hương) chủ yếu đề cập tới nghệ thuật diễn xuất nhưng chưa tập trung sâu vào từng vở diễn cụ thể; Sân khấu kịch nói tiếp thu sân khấu truyền thống (Hà Diệp) tập trung vào hệ thống những nghiên cứu đã từng được thực hiện; Sự hình thành
và phát triển của mỹ thuật kịch nói (Phùng Huy Bính) như tên gọi, chủ yếu lược
ghi quá trình phát triển của mỹ thuật; tham luận Kịch nói tiếp thu kịch hát vấn đề
thi pháp (in trong sách Thi pháp của Tất Thắng) lại nêu vấn đề chung mà không
chú trọng tới phân tích tác phẩm cùng một số bài viết, tham luận của các nhànghiên cứu và đặc biệt là một số tham luận của NSND Nguyễn Đình Nghi trên tưcách tiếp nhận của người làm thực tiễn Tuy nhiên, những công trình nghiên cứucủa người đi trước đều chưa có công trình nào nghiên cứu về ảnh hưởng của kịchhát truyền thống đến kịch nói Việt Nam qua những vở diễn tiêu biểu cụ thể, ởnhững giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển của một đơn vị nghệ thuật
Trên cơ sở hoạt động thực tiễn nhiều năm tại Nhà hát Tuổi trẻ, NCSthấu hiểu và thật sự tâm đắc với việc áp dụng tinh hoa của nghệ thuật sânkhấu truyền thống vào việc dàn dựng và biểu diễn một số vở Kịch nói tiêubiểu đã mang đến hiệu quả cao về chất lượng nghệ thuật, mang đến nhữngthành công của Nhà hát Tuổi trẻ, được khán giả và những người làm nghề
Trang 9đánh giá cao, qua những huy chương Vàng mà các vở diễn đã đoạt được trongcác kỳ Hội diễn Sân khấu toàn quốc Chính vì vậy, NCS mạnh dạn lựa chọn
đề tài Kịch nói tiếp thu ảnh hưởng của kịch hát truyền thống qua một số vở diễn của Nhà hát Tuổi trẻ để làm luận án tiến sĩ của mình.
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu quá trình kịch nói Việt Nam tiếp thu ảnh hưởng của sânkhấu kịch hát truyền thống để khẳng định những luận điểm sau: Đó là sự tiếpthu một cách có sáng tạo tinh hoa văn hóa nghệ thuật nội sinh (từ kịch háttruyền thống) và các yếu tố ngoại sinh (từ kịch phương Tây, chủ yếu là kịchchủ nghĩa Cổ điển Pháp thế kỷ XVII) để hình thành nên thể loại kịch nói ViệtNam Nhà hát Tuổi trẻ đã tiếp nhận được xu hướng này qua những vở diễnthành công Quá trình tiếp nhận các yếu tố nội sinh và ngoại sinh cũng là mộtquá trình tiếp biến văn hóa để kịch nói Việt Nam phát triển Chính sự tiếpnhận mang tính tất yếu và phù hợp quy luật sáng tạo này đã góp phần quantrọng để kịch nói Việt Nam có được yếu tố đậm đà bản sắc dân tộc
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Phân tích một số vở diễn của Nhà hát Tuổi trẻ ở các mảng đề tài như:kịch lịch sử, kịch đề tài hiện đại, hay khi dàn dựng kịch bản kinh điển thếgiới, hoặc kịch cho thiếu nhi để khẳng định sự tiếp thu tinh hoa của sânkhấu truyền thống giúp nghệ thuật kịch nói vượt qua được những gò bó củakhông gian thời gian sân khấu; Đây cũng là quá trình tiếp thu, cải biến nhữngyếu tố của kịch phương Tây để thích hợp với tâm lý thưởng thức, văn hóa củangười Việt, cụ thể là gia tăng yếu tố trữ tình; gia tăng sự giao lưu tương tácvới khán giả, kết hợp giữa nghệ thuật biểu diễn gián cách và nghệ thuật biểudiễn hóa thân, dùng hình thể để hiển thị hoàn cảnh, tình huống kịch
Trang 102.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận về ảnh hưởng của sân khấu kịch hát truyền thống đến sân khấu kịch nói Việt Nam
- Đánh giá về thực trạng ảnh hưởng của sân khấu kịch hát truyền thốngđến sân khấu kịch nói qua phân tích một số vở diễn tiêu biểu của Nhà hát
- Rút ra một số bài học về sự ảnh hưởng của sân khấu kịch hát truyền thống đến sân khấu kịch nói Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về ảnh hưởng của sân khấu kịch hát truyền thốngđến sân khấu kịch nói qua một số vở diễn tiêu biểu của Nhà hát Tuổi trẻ Nhàhát Tuổi trẻ là một trong những đơn vị kịch nói có nhiều thành tích nổi bậtcủa sân khấu Việt Nam với những vở diễn được ghi nhận như những tác phẩm
kinh điển Đó là các vở kịch lịch sử (mà tiêu biểu là các vở Rừng trúc, Vũ
Như Tô, Công lý không gục ngã) cùng các vở kịch kinh điển của sân khấu thế
giới (ở đây NCS lựa chọn vở Macbeth) hay những vở diễn tâm lý xã hội như
Bến bờ xa lắc và đặc biệt là kịch cho thiếu nhi (NCS lấy vở Dế Mèn phiêu lưu ký)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về thời gian
Giai đoạn Nhà hát Tuổi trẻ được thành lập cho tới nay
Phạm vi nội dung
Kịch nói tiếp thu ảnh hưởng kịch hát truyền thống qua những vở diễn ở
những giai đoạn khác nhau trên sân khấu Nhà hát Tuổi trẻ là Rừng trúc (tác
giả Nguyễn Đình Thi, đạo diễn NSND Phạm Thị Thành; bản diễn ngày
02/10/2004); Vũ Như Tô ( tác giả Nguyễn Huy Tưởng, đạo diễn NSND Phạm
Trang 11Thị Thành; bản diễn ngày 26/07/2003); Công lý không gục ngã (tác giả Lê Chí Trung, đạo diễn NSND Doãn Hoàng Giang; bản diễn ngày 17/5/2015);
Macbeth (tác giả William Shakespeare, đạo diễn NSND Lê Hùng; bản diễn
ngày 28/02/2003); Bến bờ xa lắc (tác giả Lê Thu Hạnh, đạo diễn NSND Xuân Huyền và Lee Eun Son; bản diễn ngày 03/11/2017); Dế Mèn phiêu lưu ký (tác
giả chuyển thể Vũ Hải, đạo diễn NSƯT Bùi Như Lai, bản diễn ngày20/05/2015) NCS phân tích kịch bản trên cơ sở là những kịch bản sân khấuđược Nhà hát dàn dựng, những bản diễn này và đã được ghi hình tại đêm diễn
để làm cứ liệu phân tích
- Xu hướng kịch nói Việt Nam tiếp thu kịch hát truyền thống dân tộc cóphải là tất yếu trong bối cảnh tiếp biến văn hóa?
- Xu hướng này được thể hiện cụ thể trong một số vở diễn ở Nhà hát Tuổi trẻ ra sao?
- Khi sân khấu thế giới cũng đang theo xu hướng ước lệ, tối giản thìkịch nói Việt Nam muốn giữ được bản sắc riêng, độc đáo, cần tiếp tục ra sao?
- Bài học kinh nghiệm nào cho đội ngũ sáng tạo kịch nói hiện nay?
Ra đời dưới ảnh hưởng của văn hóa châu Âu (cụ thể là văn hóa Pháp);tiếp thu tinh hoa của sân khấu dân tộc trong quá trình phát triển, kịch nói ViệtNam mới có thể phát triển một cách nhanh chóng và bền vững, khẳng địnhđược nét độc đáo riêng Nhờ vào quá trình tiếp thu này, kịch nói Việt Nam nóichung, Nhà hát Tuổi trẻ nói riêng đã có những vở diễn thành công lớn Sẽ khó
có được những thành công và sự phát triển như ngày nay nếu kịch nói ViệtNam không tiếp thu ảnh hưởng của kịch hát truyền thống
Trang 126 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp đồng đại và lịch đại: Để nghiên cứu một vấn đề mang yếu
tố ảnh hưởng của nghệ thuật sân khấu truyền thống (đã tồn tại lâu đời tronglịch sử dân tộc) đến Kịch nói (một loại hình nghệ thuật mới mẻ) thông qua 06tác phẩm tiêu biểu nhất định cần tới cách thức nhìn từ hai chiều đồng đại vàlịch đại Chiều lịch đại giúp NCS nhìn nhận quá trình tiếp nhận tinh hoa vănhóa dân tộc, đặc biệt là tiếp nhận tinh hoa sân khấu truyền thống ở từng vởđược đưa vào phân tích Chiều đồng đại là cơ sở để NCS có thêm những đánhgiá từ những tác phẩm đương thời
Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích các tác phẩm cụ thể để rồitrên cơ sở đó, tổng hợp thành những vấn đề có tính khái quát là một trongnhững công cụ cần thiết với đối tượng nghiên cứu Ở cả sáu vở diễn, đây làmột trong những thao tác được NCS áp dụng nhiều để thấy được bước tiếntrong nhận thức người sáng tạo về sân khấu kịch nói và sự tiếp thu tinh hoacủa sân khấu truyền thống
Phương pháp so sánh - đối chiếu: Mỗi tác phẩm đều cần được nhìnnhận tổng thể từ các yếu tố tạo thành đến những đặc trưng riêng của Kịch nóihiện đại và sự tiếp thu những tinh hoa mang theo đặc trưng của nghệ thuật sânkhấu truyền thống từ nhiều góc độ soi chiếu khác nhau
Luận án cũng rất cần đến cách tiếp cận liên ngành vì việc tiếp thu tinhhoa sân khấu nước ngoài để hình thành và phát triển kịch nói cũng như tiếpthu tinh hoa sân khấu truyền thống giúp kịch nói Việt Nam có những thànhtựu độc đáo nổi bật là một hiện tượng tiếp biến văn hóa quan trọng của nềnnghệ thuật sân khấu Cách tiếp cận liên ngành giúp NCS luận bàn sâu hơn vềnhững yếu tố văn hóa học, nghệ thuật học, triết học, mỹ học phương Đông vàphương Tây trong quá trình phân tích ảnh hưởng từ kịch hát đến kịch nói
Trang 137 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7.1 Đóng góp về lý luận
Nhìn từ góc độ lý luận đối với một xu hướng phát triển có tính tất yếukhi kịch nói tiếp thu tinh hoa kịch hát truyền thống, củng cố tư liệu đã có vàkhẳng định xu hướng này được chính đội ngũ đạo diễn từ thế hệ đầu tiên đếnnay tiếp tục duy trì Đây cũng là quá trình Việt hóa một hình thức nghệ thuậttiếp thu từ bên ngoài để hình thành và phát triển
7.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Qua phân tích các tác phẩm kịch nói cụ thể dưới góc độ tiếp thu ảnhhưởng sân khấu kịch hát truyền thống, có thể rút ra những bài học thực tế chocông tác dàn dựng của các đạo diễn hiện nay
Chương 2: Các vở diễn thành công của Nhà hát Tuổi trẻ trong việc tiếp
thu tinh hoa kịch hát truyền thống (77 trang)
Chương 3: Những bài học từ xu hướng kịch nói tiếp thu nghệ thuật
kịch hát truyền thống (37 trang)
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Về sân khấu nói chung, sân khấu kịch hát truyền thống và kịch nói ViệtNam nói riêng có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đitrước Trong khuôn khổ của đề tài, NCS xin chia nhóm theo những vấn đề sau
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về nghệ thuật kịch nói
1.1.1.1 Nhóm công trình của các tác giả nước ngoài được phổ biến ở Việt Nam
Rất nhiều sách lý luận kịch phương Tây được dịch và phổ biến ở ViệtNam đã giúp các thế hệ nghệ sĩ hiểu rõ hơn về hình thức kịch nói - drame như:
- Lý luận kịch từ Aristot đến Lessin (Anhikst - Tất Thắng dịch): Cuốn
sách được coi là kho tư liệu phong phú về lịch sử lý luận kịch thế giới từ thời
cổ đại đến thế kỷ XVIII Đây là một cuốn sách tìm hiểu về tiến trình phát triểnrất đặc biệt của sân khấu, nhất là trên lĩnh vực lý luận
- Người diễn viên thế kỷ XX (Aslan Odette - Vũ Quý Biền dịch) Tác giả
đúc kết tinh thần của sân khấu thể nghiệm theo phương pháp của Stanislavski,cũng như những điểm còn hạn chế trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn củadiễn viên và nghệ thuật đạo diễn Cuốn sách đi sâu phân tích tâm lý ngườidiễn viên, quá trình làm việc để thực sự nhập vai diễn
- Bàn về sân khấu tự sự (B Brecht - Đỗ Trọng Quang dịch) Một trong
những cuốn sách hiếm hoi phổ biến những điểm đặc biệt, quan điểm thẩm mỹ rấtriêng của B Brecht Ông cho rằng, thông qua tác phẩm sân khấu có thể góp phầncải thiện thế giới Chính vì thế, ông mong muốn có sự cải tiến lớn
trong nhận thức về nghệ thuật sân khấu: Không hướng tới ảo giác, hòa cảm
mà để khán giả tỉnh táo, cùng suy nghĩ để hướng tới nhận thức hiện thực, cải
Trang 15thiện hiện thực Thể hiện một sân khấu rất trí tuệ, giàu tính tư duy mới mẻ vớisân khấu thế giới thời điểm đó
- Nghệ thuật diễn viên (Dakhava - Vũ Đình Phòng dịch) Tác giả đã
trình bày một cách khoa học những quy luật chủ yếu của sáng tạo diễn viên từhàng loạt các ví dụ rút trong thực tiễn hoạt động của sân khấu Xô Viết Với cáchnhìn nhận và quan điểm về bản chất của nghệ thuật diễn viên, Dakhava đã nêu đầy
đủ những quan điểm trái ngược nhau từng tồn tại trong lịch sử lý luận sân khấu thếgiới Tác giả cũng chỉ ra những nguyên tắc chủ yếu của hệ thống Stanislavski trongđào tạo diễn viên
- 4 tập Nghệ thuật đạo diễn (Zvereva chủ biên - Hoàng Sự dịch): Sách
dịch, có thể coi là giáo trình của ngành đạo diễn với những bài giảng mẫu mực,qua đó giúp người đọc hiểu sâu về ngành đạo diễn cùng những đặc trưng của kịchdrama
- Lý luận về biểu diễn sân khấu (K.S.Stanislapxki - Nguyễn Đức Lộc
dịch) Cuốn sách cho người đọc thấy được quá trình quan sát, nghiên cứu, học tập
và thực nghiệm của Stanislavski Là những trải nghiệm, là quá trình nghiên cứu lâudài nghiêm túc, để Stanislavski hình thành nên một hệ thống lý thuyết và hệ thốngcác bài tập kỹ xảo thực hành về nghệ thuật biểu diễn cho diễn viên kịch “diễn viênchẳng những phải khéo tự tu dưỡng mà còn phải giỏi sáng tạo vai kịch”
1.1.1.2 Những công trình lý luận về kịch nói của các tác giả Việt Nam
- Về thi pháp kịch của PGS Tất Thắng gồm 2 phần Phần một là “Thi
pháp kịch qua các thời kỳ (từ Cổ đại đến thế kỷ XIX)” Phần hai là “Khám phásáng tạo trong thi pháp” Tác giả đã lần lượt khảo sát lý thuyết về kịch qua các thời
đại từ thời Cổ đại với Nghệ thuật thi ca của Aristot đến hài kịch
ở Trung thế kỷ; tiếp đó là thời kỳ Phục hưng rồi đến Chủ nghĩa Kiểu cách;Nghệ thuật Barokko hay Chủ nghĩa Cổ điển thế kỷ XVII rồi thế kỷ Khai
Trang 16sáng Gần hơn là kịch của Chủ nghĩa lãng mạn, Chủ nghĩa hiện thực cùngnhững phân tích về thi pháp Tác giả dành nhiều trang để phân tích quan điểmcủa người đặt nền móng cho lý luận kịch là Aristot như kịch là hành động vớinhững yêu cầu về tính trọn vẹn, sự hợp lý nội tại, dung lượng thích hợp cùng sự phân biệt bi kịch, hài kịch Mỗi giai đoạn, tác giả đều có những tổngkết qua các tác phẩm của những tác giả nổi tiếng để cho thấy đặc trưng củakịch như những nguyên tắc cấu trúc 5 hồi, nguyên tắc chống sự can thiệpngoài kịch để mở nút kịch, nguyên tắc tam duy nhất đến những cố gắngtiệm cận hiện thực để hình thành thể loại chính kịch.
Đáng chú ý là ở phần 2, tác giả có bài viết “Kịch nói tiếp thu kịch hátvấn đề thi pháp” NCS xin để ở tiểu mục sau
- Lý luận kịch của PGS Tất Thắng đã tổng kết những vấn đề lý thuyết
chủ yếu Kịch diễn tả cuộc sống một cách trực tiếp (mô phỏng, bắt chước) nhưcuộc sống đang tự diễn ra trước mắt khán giả với yêu cầu về tính hợp lý nội tại, từđầu đến cuối trong một dung lượng nhất định Kịch là tác phẩm văn học đặc biệtdành cho dàn dựng sân khấu và cũng vì thế, nó chịu ảnh hưởng, chịu sức ép thẩm
mỹ để tạo thành yêu cầu về ngôn ngữ đối thoại, về hiện tại hóa các hành độngkịch, về dung lượng Tính hành động là đặc trưng thể loại quan trọng nhất củakịch, là sự thể hiện bản chất thể loại kịch trong so sánh với trữ tình và tự sự Tínhxung đột phải được quan niệm như là một trong những đặc trưng chủ yếu của kịch:Kịch là xung đột, không có xung đột thì không thành kịch Xung đột trong kịchphải là xung đột ở mức độ cao nhất và
được thể hiện như một biện pháp mỹ học nhằm làm cho kịch là chính nó, làmcho kịch hấp dẫn, thu hút Theo sự phát triển của xung đột kịch, dẫn tới hìnhthái cấu trúc cổ điển của kịch là cấu trúc 5 hồi (Giao đãi - Thắt nút - Cao trào
- Tạm thời hòa hoãn - Giải quyết và kết thúc) Đây là một trong những cuốn
Trang 17lý thuyết công phu, khoa học, với những luận điểm mang tính khoa giáo, có dẫn chứng cụ thể, dễ tiếp thu.
- Những vấn đề cơ sở lý luận phê bình sân khấu của PGS.TS Phạm Duy
Khuê Sách có 10 chương, tác giả đã đưa ra những lý thuyết cơ sở về Nhậnthức và sáng tạo nghệ thuật (chương 1), Linh cảm trong hoạt động nhận thứcphê bình tác phẩm sân khấu (chương 2) nhưng trong nội dung cần của luận
án, xin chỉ chú ý tới chương 3: Thi pháp văn học tự sự, trữ tình, kịch và côngtác phê bình Chương này có những kiến thức mang tính quy chuẩn, khoa giáo
về đặc trưng kịch như đặc trưng ngôn ngữ đối thoại với những giải thích cụthể về nguyên nhân khiến kịch có ngôn ngữ đối thoại cùng những chức năngcần thiết trong đối thoại kịch Rồi ông phân tích đặc trưng tính hành độngcùng những thuộc tính của nó, đặc trưng xung đột từ các cấp độ xung đột, nộidung xung đột cũng là nội dung phản ánh của tác phẩm cũng như phương diệnnghệ thuật của xung đột Cũng như các công trình phổ biến kiến thức về kịch,tác giả nêu rõ cấu trúc tác phẩm kịch chuẩn là 5 hồi (Giao đãi - Thắt nút
- Phát triển - Cao trào - Kết thúc)
Hàng loạt các khái niệm khác cũng đã được duy danh định tính cụ thểnhư cốt truyện kịch, khái lược thi pháp sân khấu Aristot, thi pháp sân khấuthời đại phong kiến ở Tây Âu, thi pháp sân khấu Trung cổ sơ kỳ kéo dài tớichủ nghĩa hiện đại phương Tây, chủ nghĩa hậu hiện đại, mấy tiền đề của thipháp sân khấu đương đại
Đây là một cuốn sách quý với nhiều nội dung được cập nhật gần hơn với đương thời mà ở những sách sân khấu trước đây chưa được đề cập tới NCS cũng xin không nhắc tới nhiều cuốn sách về lịch sử kịch nói vì mục đíchchính là nắm bắt những đặc trưng của thể loại kịch nói chung
Trang 181.1.2 Những công trình nghiên cứu về đặc trưng, phương pháp của sân khấu kịch hát truyền thống
Đặc trưng nghệ thuật Tuồng (Nhà nghiên cứu Mịch Quang) với những
nghiên cứu chuyên sâu về từng thành phần như Kịch bản Tuồng, Hát Tuồng,Múa Tuồng, Nghệ thuật diễn viên Tuồng, Phương pháp sân khấu Tuồng đểthực hiện mục tiêu của chính ông đề ra: “Tìm hiểu đặc trưng của Tuồng cũng
có nghĩa là tìm xem trải qua lịch sử phát triển loại hình của nó, sân khấuTuồng đã tái hiện con người và cuộc sống như thế nào và cách tái hiện của nó
có gì khác các bộ môn bạn” [57, tr 6] Với kịch bản, ngoài những nhận địnhchung về nội dung phản ánh, về hình thức thơ biền ngẫu thì tác giả khẳngđịnh, “kịch bản Tuồng được viết theo lối kể chuyện đồng thời phát triển caotính kịch và tính trữ tình Tạm gọi là thể loại tự sự kịch tính trữ tình hay kể, tả,biểu hiện” [57, tr 50]; Hay ở phần về nghệ thuật diễn viên, ông cho rằng, “sânkhấu Tuồng là sân khấu tổng thể, tích hợp” [57, tr 271] Đặc biệt, về phươngpháp sân khấu Tuồng, theo tác giả, đó chính là sân khấu hiện thực tả ý, vớiđặc điểm cơ bản là:
Nó rất chú trọng tái hiện bản chất, nó không ngại ngần cách điệu,
cường điệu hiện thực làm cho nó phản ánh đúng bản chất và nó vừa
tả để gợi cho người xem tưởng tượng thêm, không mô tả râu ria tỉ
mỉ Đặc biệt, nó quan tâm làm cho khán giả thấy được cái bêntrong, cái đằng sau của con người và cuộc sống bằng những thủpháp giả định [57, tr 288]
trình nhận thức Tuồng, nhất là nhận thức về lịch sử: quá trình hình thành, phát triển vàđạt tới đỉnh cao qua những vở tuồng thầy ra đời vào thế kỷ XVIII, XIX
- Hội thoại về nghệ thuật Tuồng của Phạm Phú Tiết qua hình thức đối
thoại khá độc đáo về nguồn gốc quá trình hình thành và phát triển của nghệ
Trang 19thuật Tuồng Việt Nam cùng một số tên gọi, thuật ngữ và một số tác gia, vở diễn quan trọng trong lịch sử Tuồng.
- Nội dung xã hội và mỹ học Tuồng đồ là công trình nghiên cứu đáng
chú ý của Lê Ngọc Cầu và Phan Ngọc Các tác giả nghiên cứu những mối liên
hệ giữa Tuồng đồ với Tuồng thầy, với các hình thức văn hóa dân gian Bảngtổng kết nhằm so sánh Tuồng thầy và Tuồng đồ là những cố gắng đúc kếtkhoa học, chính xác về mặt nhận thức đối với Tuồng đồ, Tuồng thầy Ví dụ,
về mặt tư tưởng triết học thì Tuồng đồ ứng xử theo đạo lý làm người, trongkhi Tuồng thầy là tuyên truyền đạo thờ vua giúp nước; Hay với cấu trúc thìTuồng đồ nặng về tự sự, trong khi Tuồng thầy nặng về xung đột bạo liệt; Còn
về ngôn ngữ thì Tuồng đồ mộc mạc ngược lại Tuồng thầy trau chuốt điệunghệ Ngoài phần nghiên cứu tỉ mỉ, kỹ lưỡng về ý nghĩa xã hội của tuồng đồ
là phản ánh và phê phán thì công trình còn đóng góp lớn về mặt nhận thức mỹhọc Tuồng đồ với những nguyên tắc cơ bản về các biện pháp như tả thần, ước
lệ, huyền thoại hóa để làm chỗ dựa cho những yếu tố cấu trúc, ngôn ngữ, nghệthuật biểu diễn
- Nghệ thuật Tuồng, nhận thức từ một phía của PGS Tất Thắng xét khá
toàn diện từ lịch sử tuồng, nội dung, thi pháp rồi đưa ra những nghiên cứu của tácgiả về Tuồng đồ, về danh nhân Đào Tấn Đáng chú ý, ông đã khẳng định về mặtnghệ thuật, thi pháp thể loại thì Tuồng có xu thế khác lạ hóa, xu thế mô hình hóa,
xu thế trò hóa Những luận điểm này được ông chứng minh cụ thể, thận trọng và
có những dẫn chứng thuyết phục
Đạo diễn với kịch hát dân tộc, (NSND Nguyễn Ngọc Phương) giúp
NCS có thể tìm thấy những gợi ý, những ý tưởng qua cuốn sách có tính tựtruyện, chiêm nghiệm về nghề nghiệp đạo diễn
- Chèo - một hiện tượng sân khấu dân tộc của GS.NSND Trần Bảng đã
phân tích sâu sắc, lý giải cụ thể về phương pháp của nghệ thuật Chèo và về ba
Trang 20nguyên tắc lớn và cơ bản của Chèo: Chèo - sân khấu tự sự; Chèo - sân khấuước lệ; Chèo - nghệ thuật chuyển hóa mô hình Tác giả phân tích về tính tự
sự, tính ước lệ, cũng khẳng định về sự gắn kết giữa tính ước lệ và tính tự sựhay lối diễn ngẫu hứng duyên dáng mà không tùy tiện Ở phần phương pháp
mô hình hóa nhân vật, ông viết cụ thể quá trình xây dựng mô hình nhân vật,
xử lý và chuyển hóa mô hình nhân vật
Trần Bảng - Đạo diễn chèo (GS.NSND Trần Bảng) là những đúc rút
của một người được đánh giá là ông trùm Chèo với tư cách là người làm nghềđồng thời cũng đầy đủ kiến thức lý luận Ở từng phần, tác giả đã duy danhđịnh nghĩa nhiều khái niệm như Đạo diễn Chèo = Người sắp trò hiện đại; Tưduy Chèo là tư duy thơ, tư duy huyền thoại, tư duy ước lệ; Chèo là sân khấutổng thể: tổng thể do nhiều thành phần nghệ thuật hợp thành, tổng thể trongphương tiện diễn tả là nghệ thuật diễn viên Trong công trình, tác giả đã khảonghiệm, phân tích khoa học những nét khác biệt giữa kịch drama với kịch háttruyền thống, mà cụ thể là Chèo như thế nào Những kinh nghiệm của rấtnhiều lần thử nghiệm với sân khấu Chèo theo cung cách khác nhau đã cho ôngnhiều nhận thức quý, như vai trò của các nghệ nhân trong gìn giữ các giá trị
truyền thống của dân tộc Cuốn sách là một cách nhìn ngược đầy thú vị về ảnh
hưởng của sân khấu truyền thống với các đạo diễn hiện đại, cùng những bàihọc về bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc
- Những nguyên tắc cơ bản trong phương pháp nghệ thuật của Chèo truyền thống của TS, nhà viết kịch Trần Đình Ngôn Ở chương đầu, ông quan
niệm nghệ thuật nào cũng có cơ sở triết học Tam giáo đồng nguyên là cơ sởtriết học, là tư duy cho văn hóa nghệ thuật Việt, trong đó có Chèo Tác giảkhẳng định, phương pháp sáng tác của Chèo là phương pháp huyền thoại dângian Xuất phát từ đó, ông tìm hiểu về hiện thực tả ý, bút pháp tả thần cùngnhững nguyên tắc cơ bản như tự sự “là yếu tố căn bản chi phối các nguyên tắc
Trang 21khác trong Chèo truyền thống” [44, tr 122], nguyên tắc ước lệ (nguyên tắc,thủ pháp, tính chất và nguyên tắc này trong cấu trúc tích trò); nguyên tắc xâydựng và chuyển hóa mô hình
- Sân khấu truyền thống bản sắc dân tộc và sự phát triển do GS.TS
Đào Hùng chủ biên đề cập đến bản sắc dân tộc của sân khấu truyền thống vàvấn đề gìn giữ bản sắc dân tộc trong sự phát triển của xã hội hiện đại Theocác tác giả, bản sắc dân tộc trong Chèo là sự hài hòa giữa hiện thực và lãngmạn, giữa cái bi và cái hài, giữa dân gian và bác học, truyền thống và hiệnđại Còn bản sắc dân tộc trong Tuồng được thể hiện qua phương thức táihiện cuộc sống thể hiện trong tích trò, thủ pháp nghệ thuật, ngôn ngữ
- Sân khấu Việt nam và sự tiếp thu ảnh hưởng của sân khấu nước ngoài trong quá trình phát triển của GS.TS Đào Mạnh Hùng Đây là một công trình
nghiên cứu khoa học về quá trình giao lưu hội nhập văn hóa của Việt Nam với thếgiới qua các giai đoạn lịch sử:
- Lần thứ nhất với văn hoá Ấn Độ thông qua sự truyền bá đạo Phật
- Lần thứ hai với văn hoá Trung Hoa thông qua sự truyền bá đạo Khổng
- Lần thứ ba với văn hoá phương Tây mà cụ thể là văn hoá Pháp và đạo
Ki tô
- Lần thứ tư với văn hoá Xã hội chủ nghĩa Liên Xô
Trong bối cảnh chung của nền văn hoá dân tộc, qua những lần giao lưuhội nhập, nghệ thuật sân khấu cũng tiếp thu ảnh hưởng của văn hoá nghệ thuậtthế giới và tự hoàn thiện mình
- Cơ sở Nghệ thuật ngẫu hứng của PGS.TS Phạm Duy Khuê là cách
tiếp cận từ những phân tích mang tính tiềm thức của con người cho tới vai trò củatưởng tượng, rồi cao hơn là linh cảm và hoạt động nhận thức linh cảm
trong hoạt động sáng tạo, trình diễn và thưởng thức nghệ thuật biểu diễn Rồitới nhận thức tâm linh trong ứng tác và ứng diễn NCS chú ý tới chương 5, tác
Trang 22giả viết về phương pháp thể loại của sân khấu kịch hát truyền thống dân tộc.Tác giả đã phân tích từ tư duy văn hóa trong sự đối sánh giữa văn hóa phươngĐông và văn hóa phương Tây, rồi lược qua lịch sử của sân khấu kịch háttruyền thống Qua góc nhìn mới mẻ khi luôn so sánh giữa sân khấu phươngĐông với sân khấu kịch nói phương Tây, PGS đã có những nhận định chuẩnxác về những phương pháp sân khấu từng xuất hiện như: Phương pháp sânkhấu tái hiện hiện thực từ Aristot đến Xtanixlapxki; Phương pháp sân khấu tự
sự biện chứng của Becton Brecht và sau đó là phương pháp sân khấu kịch háttruyền thống Ông cho rằng, “Các phương pháp nhận thức và phản ánh hiệnthực của chúng là phương pháp hiện thực tả ý và phương pháp hiện thực tảthần Chúng sáng tác, tái tạo lại hiện thực nhằm bộc lộ ý tưởng sâu sa, cáithần là bản chất của vấn đề hiện thực được phản ánh rồi để tự người xem cảmnhận và rút ra sự đánh giá ” [25, tr 280]
Tác giả đi sâu phân tích về phương pháp hiện thực tả thần với cácnguyên tắc như tự sự hóa; trò hóa; lạ hóa; ước lệ hóa; ẩn dụ hóa; cách điệuhóa; tượng trưng hóa; hài hước hóa; nhấn mạnh, đột xuất và đặc tả; sáng tạongẫu hứng
Với phương pháp hiện thực tả ý, tác giả rút ra những đặc trưng củaphương pháp là tính chất tổng thể; Tính chất công chúng hóa; Kết hợp hài hòagiữa ba yếu tố bi, hài và chính; Tính chất dân gian; Tính chất trữ tình; Tínhchất mô hình hóa; Tính chất ngẫu hứng sáng tạo; Tính chất linh cảm tự thân;Tính chất chân thực; Không gian và thời gian lưu chuyển; Tạo cảm xúc đốinghịch; Kết cấu mở về ý Các nguyên tắc của phương pháp là: Lập ý; Giảđịnh hóa; Tự sự hóa; Trò hóa; Trào phúng hóa; Thơ hóa; Lạ hóa; Ước lệ hóa;Cách điệu hóa; Ẩn dụ hóa; So sánh đối chiếu; Tượng trưng hóa; Huyền thoạihóa
Trang 23Ông đã rất công phu để đưa ra bảng so sánh giữa phương pháp hiện thực tả ý, phương pháp hiện thực tả thần và phương pháp tự sự biện chứng
- Nghệ thuật Chèo hiện đại - kế thừa và biến đổi của PGS.TS Đinh
Quang Trung sau khi đưa ra những ý kiến của người nghiên cứu đi trước về đặctrưng của nghệ thuật Chèo cũng đã tổng kết rằng, sân khấu Chèo gồm có các thủpháp và nguyên tắc: Thủ pháp cách điệu hóa (cách điệu hóa những động tác trongđời sống thành những động tác hoa mỹ trên sàn diễn); Thủ pháp tượng trưng (được
sử dụng ở hầu hết các yếu tố hát, múa, diễn, mỹ thuật nhằm mục đích gợi tả, gợicảm cho khán giả); Nguyên tắc tự sự (kể chuyện theo trình tự thời gian không đảolộn, không hồi tưởng người nghệ sĩ chỉ bỏ bớt hoặc nhấn vào chi tiết sự kiện);Nguyên tắc ước lệ: (mọi thành phần sáng tạo của Tuồng, Chèo đều chịu sự chiphối của nguyên tắc này, đặc
biệt là việc xử lý không gian và thời gian sân khấu Ước lệ không giống như
thật nhưng lại đạt được hiệu quả cao về sự nhận biết để lột tả được cái thần,
cái bản chất của sự vật hiện tượng và tâm tư con người; Nguyên tắc xây dựng
và chuyển hóa mô hình (Tuồng, Chèo thực hiện nguyên tắc mô hình hóa trongxây dựng hình tượng nhân vật, trong cấu trúc các làn điệu hát, các khuôn múa,
vũ đạo Mô hình nhân vật qua sự chắt lọc tinh túy và khái quát hóa một loạingười) [71, tr 35-51]
1.1.3 Những công trình có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu
- Về nghệ thuật diễn xuất kịch hát truyền thống và kịch nói Việt Nam
của TS Đỗ Hương, tác giả chủ yếu trình bày kịch nói Việt Nam tiếp thu tựphát ảnh hưởng của nghệ thuật diễn xuất kịch hát truyền thống Đó là mốiquan hệ tương tác, chịu ảnh hưởng lẫn nhau, tiếp biến văn hóa khi sân khấuViệt Nam hiện đại có sự song hành của kịch hát truyền thống và kịch nói, vốn
là hai loại hình chịu sự chi phối của quan điểm thẩm mỹ khác biệt, thuộc hainền văn hóa phương Đông và phương Tây
Trang 24Ở chương 1, tác giả tìm hiểu đặc trưng của nghệ thuật diễn xuất kịchhát truyền thống Kịch hát truyền thống phản ánh hiện thực qua hình thức hát
- múa - nói lối - động tác vũ đạo đã được tiết tấu hóa Diễn xuất theo lối tả ý,
tả thần qua nghệ thuật ước lệ, cách điệu theo tư duy biểu trưng, biểu cảm Nhưngtrong diễn xuất, giữa các nhân vật lại là sự vừa nhập vai, vừa thoát vai tùy từnghoàn cảnh
Chương 2, tác giả trình bày nghệ thuật diễn xuất của kịch nói ViệtNam Tác giả nhận định “Diễn xuất của kịch nói Việt Nam mang trong mìnhnét đặc trưng của kịch chủng và tố chất của phong cách nghệ thuật hiện thực
mà Thể hệ Stanislavski đóng vai trò chủ lưu” [19, tr 144] nhưng “Với tínhđộng và mở của nền văn hóa dân tộc, từ nghiệp dư, tài tử trở nên chuyên
nghiệp, diễn xuất kịch nói Việt Nam hướng tới nét bản sắc dân tộc kết hợp néttiến bộ của sân khấu nhân loại” [19, tr 146]
Trên cơ sở tìm hiểu diễn xuất kịch hát và kịch nói cùng những khác biệt
cơ bản, tác giả đã mô tả quá trình chịu ảnh hưởng tự phát như sự pha tạp lốidiễn xuất kịch hát vào kịch nói ở giai đoạn đầu đầy tính ngẫu hứng và nghiệpdư cho tới giai đoạn sau, để kịch hát “Là điểm tựa, tham gia sự tồn tại, địnhhình của kịch nói” [19, tr 108] Kịch nói Việt Nam tham vấn và ứng dụngphương thức biểu đạt truyền thống, nhờ vào những yếu tố nghệ thuật của kịchhát truyền thống là một hướng phát triển đúng để vượt thoát khỏi hạn chếtrong ngôn ngữ biểu đạt của loại hình Tác giả đã đi sâu vào những khía cạnhnghệ thuật diễn xuất kịch nói Việt Nam ứng dụng kịch hát truyền thống Đángchú ý là những trang phân tích về loại kịch độc diễn với những nghệ sĩ kịchnói biểu diễn thành công, mà nguyên nhân là do nghệ sĩ đã làm tốt việc xác
định hình thái giả định cho hoàn cảnh kịch để mở rộng khả năng phản ánh của
sàn diễn và diễn viên
Trang 25Tuy nhiên, do giới hạn của đề tài nghiên cứu nên tác giả chưa thể trìnhbày một cách hoàn chỉnh và đầy đủ các khía cạnh của ảnh hưởng kịch háttruyền thống tới kịch nói Vẫn là những đánh giá và những dẫn chứng chungnhất cho ảnh hưởng của nghệ thuật diễn xuất Mà chưa phải là cái nhìn tổngthể, đặc biệt là cách các đạo diễn kịch nói tiếp thu tinh hoa trong xử lý khônggian, thời gian sân khấu
- Sân khấu kịch nói tiếp thu sân khấu truyền thống của nhà nghiên cứu
Hà Diệp, với các phần:
Vấn đề kịch nói tiếp thu tinh hoa kịch hát truyền thống: Chủ yếu trìnhbày những lý thuyết đã được thừa nhận để kết luận việc tiếp thu này là xu thế,
là quy luật tất yếu của sự phát triển kịch nói Việt Nam
Vấn đề tiếp thu sân khấu truyền thống Việt Nam: Tác giả điểm qua sự
ra đời của kịch nói và quá trình phát triển, đặc điểm của kịch nói Việt Nam đểrồi tìm nguyên nhân dẫn tới sự kế thừa này Tuy nhiên, người đọc không tìmthấy những quy nạp để nhận định rõ về đặc điểm của kịch nói Việt Nam nhưtiêu mục đề ra mà chủ yếu là sự liệt kê, mô tả Không có phát hiện mới, lạicũng không chi tiết như đã đọc ở các cuốn sơ thảo lịch sử kịch nói Việt Nam
đã được công bố Phần lý giải nguyên nhân, theo tác giả là do ý thức dân tộcthì NCS lại cho rằng, nhận định như vậy chưa đủ thuyết phục
Quá trình tiếp thu: Tác giả nhắc lại những đặc điểm của nghệ thuật sânkhấu truyền thống trong sự so sánh với sân khấu phương Tây nhưng chủ yếu
là lấy ý kiến của các nghệ sĩ, nhà nghiên cứu đi trước, cũng có những lý giải
về nguyên nhân kịch nói kế thừa là do ý thức dân tộc, mong muốn tìm chokịch nói một lối đi riêng, nhưng chưa khẳng định được thành phần sáng tạonào của kịch nói là chủ lực để tự giác đưa kịch nói đi theo xu hướng tiếp thukịch hát Tác giả cũng chia tách các thành phần sáng tạo để tìm kiếm sự tiếpthu ra sao, nhưng chưa thấy được nét tổng quát trong việc tiếp thu này cũng
Trang 26như tìm ra và khẳng định thành phần nào là chủ đạo trong việc tiếp thu tựgiác Rồi tới cách đặt tên các tiểu mục phân tích phạm vi tiếp thu NCSphân vân với cách đặt tiêu mục như cái gọi là công tác đạo diễn, công tác biênkịch thì tạm ổn nhưng gọi nghệ thuật biểu diễn là công tác biểu diễn thì khákiên cưỡng Nhìn chung, sách nặng về mô tả, lược lại ý kiến của người đitrước mà chưa có giá trị nhiều về mặt nghiên cứu chuyên sâu.
- Tiếng cười trên sân khấu kịch nói Việt Nam trong quan hệ với tiếng cười của sân khấu truyền thống - Luận án của Lê Mạnh Hùng.
Ngoài lý thuyết về tiếng cười nói chung, tác giả phân tích những nhân
tố gây ảnh hưởng từ sân khấu truyền thống Việt Nam vào tiếng cười trên sânkhấu kịch nói và Tiếng cười của kịch nói Việt Nam tiếp nhận ảnh hưởng củatiếng cười trên sân khấu truyền thống
Để tìm hiểu về tiếng cười của kịch hát truyền thống, tác giả cũng đã tìmhiểu những nét chung về kịch hát truyền thống như:
Tư duy sáng tạo của sân khấu truyền thống là hệ quả của hình thái
tư duy tổng hợp cảm tính đã hình thành từ rất lâu đời và chi phốinhiều lĩnh vực trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật của các dân tộcphương Đông nói chung, người Việt Nam nói riêng Sự kết hợp cácnguyên tắc sáng tạo và phương thức thể hiện đã tạo nên sắc tháiriêng cho sân khấu truyền thống [18, tr 84]
Nhìn nhận mọi khía cạnh của nghệ thuật gây cười từ sân khấu truyềnthống ảnh hưởng tới cái hài trong kịch nói Việt Nam, tác giả luận án cũng cónhững đúc rút như: “Sự tiếp nhận ảnh hưởng từ sân khấu bản địa vào thể loạikịch du nhập từ phương Tây được xem như một lẽ tự nhiên, diễn ra ngay từ
khi mới hình thành và bắt đầu phát triển Vở kịch đầu tiên Chén thuốc độc
khai sinh nền Kịch nói Việt Nam đã được vận dụng rất nhiều yếu tố từ sânkhấu truyền thống; múa hát, hầu đồng ” [18, tr 145] Theo tác giả, chínhnhững tiếp thu này đã giúp kịch nói Việt Nam “Tạo nên diện mạo riêng mang
Trang 27tính cá biệt cho Kịch nói Việt Nam - Kịch hình thái Tây nhưng được sáng tác
và biểu diễn trong không gian văn hóa Việt Nam, mang tâm thức người ViệtNam” [18, tr 145] Và đề ra xu hướng phát triển sân khấu hài “Chúng ta cầntiếp tục học tập từ tinh hoa nghệ thuật sân khấu thế giới và kế thừa, phát huynhững giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống của dân tộc ” [18, tr 145]
Ảnh hưởng đó vừa là hệ quả tất yếu của tư duy sáng tạo mang tínhcách dân tộc, vừa là sự tích hợp văn hóa khi phương thức sáng tạocủa nghệ thuật sân khấu truyền thống được ứng dụng nhằm xâydựng tác phẩm nghệ thuật theo nguyên lý sáng tác của thể loại sânkhấu kịch phương Tây Con đường ảnh hưởng qua tư duy sáng tạo
là hệ quả tất yếu của quá trình thẩm thấu các giá trị văn hóa mangtâm lý, tính cách người Việt [18, tr 147]
- Sự hình thành và phát triển của Mỹ thuật Kịch nói của NSND Phùng
Huy Bính là cuốn sách tư liệu chân thực Bằng những ghi chép cần mẫn và nhữngsuy tư khi trực tiếp sáng tạo mỹ thuật từ những vở ban đầu của kịch nói Việt Nam
cho tới những năm cuối thế kỷ XX, tác giả giúp người làm nghề đi sau có thể vẽ
lại một cách trung thực sự tiếp thu tinh hoa sân khấu truyền thống của Mỹ thuật
Kịch nói Việt Nam Vì thiết kế mỹ thuật là khâu thể hiện rõ rệt nhất cách xử lýkhông gian, thời gian sân khấu Mà xử lý không gian, thời gian cũng là điểm đặcbiệt quan trọng giúp định hình xu hướng, phong cách thậm chí trường phái củasân khấu ở từng giai đoạn, từng đạo diễn
Như đánh giá của GS.TS NSND Đình Quang:
Có thể cảm thấy nhu cầu mỹ thuật sân khấu kịch nói đã phần nàokích thích hoặc sánh vai cùng mỹ thuật của sân khấu Tuồng, Chèotruyền thống vốn dĩ xưa kia không đầy đủ Tuy nhiên, về động lựccủa sự phát triển, có 3 nguyên nhân chi phối: Đó là hoàn cảnhthường xuyên phải đi lưu diễn, không thể có những thiết kế cồngkềnh phức tạp dù là cần thiết; Đó là điều kiện trang thiết bị sân khấu
Trang 28còn thô sơ của các rạp hát không cho phép có những chuyển cảnhquy mô nhanh chóng và do ảnh hưởng của quan niệm sân khấu cáchđiệu, ước lệ, tả ý của Tuồng và Chèo truyền thống [6, tr 5].
- Phần 2 trong cuốn Về thi pháp kịch của PGS Tất Thắng, như NCS đã
nhắc tới trong tiểu mục trên, có bài “Kịch nói tiếp thu kịch hát vấn đề thi pháp”.Ông nhận định: “Trong vòng vài thập kỷ trở lại đây, Kịch nói Việt Nam mà cụ thể
là sân khấu kịch nói Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể trong việc tiếp thumột cách có sáng tạo những tinh hoa của sân khấu kịch
hát” [62, tr 260] Ông dẫn chứng hàng loạt các tác phẩm đã thành công khi đitheo xu hướng này, đồng thời cho rằng “thực chất những thành tựu ấy là ngẫunhiên, đơn lẻ, nó không có tính lý luận và tính hệ thống, do đó, việc làm này
là chỉ phụ thuộc vào trình độ và sở trường ý thức và cảm thụ chủ yếu của đạodiễn” [62, tr 261] “Hơn nữa, sự tiếp thu này đa phần là ngẫu nhiên, cá lẻ nênchưa thể tạo nên một khuynh hướng, một trào lưu nào theo ý nghĩa thực sựcủa nó” [62, tr 263] Vì vậy, ông kêu gọi, “hãy tạo cho Kịch nói Việt Nammột thi pháp với những nguyên lý sáng tạo của nó” [62, tr 263] mà cụ thể lànguyên lý cấu trúc Tác giả sau khi phân tích cấu trúc kịch 5 hồi cùng nhữngbiến thể 4 hồi, 3 hồi của kịch phương Tây thì nhận định, kịch hát truyền thốngViệt Nam là cấu trúc mảnh trò và đã có một số vở kịch nói được viết theo cấutrúc này
Tiếp đó, ông trình bày một yếu tố thi pháp thể loại của kịch hát truyềnthống là yếu tố tiếp cận, xử lý hiện thực cuộc sống “Thi pháp truyền thống làcung cách diễn tả hiện thực cuộc sống từ chất liệu nguyên khối của nó đến lúcđược nghệ thuật hóa, đã biến dạng để hóa thân thành dạng khác Và để thựchiện ý đồ nghệ thuật ấy, kịch hát dã vận dụng ngôn ngữ ước lệ, cách điệu,tượng trưng và thậm chí phi lý hóa” [62, tr 270]
Trang 29Yếu tố nữa, chính là tự sự hóa, quá khứ hóa rồi ông nhận định “để tiếpthu tận gốc những tinh hoa của kịch hát truyền thống, Kịch nói hãy trước hết tiếpthu những đặc trưng thi pháp thể loại của kịch hát trong đó có đặc trưng về cấutrúc mảnh trò, về cung cách diễn tả chất liệu ấy với những yếu tố khác lạ hóa, tự
sự hóa và những yếu tố khác, những đặc trưng khác nữa” [62, tr 273]
- Loạt tham luận của TS.NSND Nguyễn Đình Nghi “Sân khấu kịchViệt Nam trên đường tìm về truyền thống” [37], “Quan hệ giữa sáng tác và biểudiễn kịch Việt Nam giai đoạn 1921-1945 dưới ảnh hưởng của phương Tây” [38];
“Kịch nói Việt Nam đến hiện đại từ truyền thống” [39], đã lược ghi quá trình kịchnói Việt Nam tiếp thu tinh hoa sân khấu kịch hát truyền thống Ban đầu, dưới ảnhhưởng của văn hóa Pháp, những nhà văn hóa Việt đã hình thành nên sân khấu kịchnói như một cố gắng để có được loại hình sân khấu mới hoàn toàn khác với Tuồng,Chèo nên “Rất dễ hiểu, vì sao trong một thời gian dài, đặc biệt là sau khi hìnhthành, sân khấu kịch luôn có xu hướng thoát ly khỏi truyền thống” [39, tr 74].Nhưng những nhân cách nghệ sĩ lớn lại cũng “không thể cam tâm với sự bắtchước Một điều tâm huyết luôn luôn thôi thúc họ cần phải xây dựng một sân khấukịch nói Việt Nam” [39, tr 75] Chỉ ít lâu sau đó, khi công cuộc kháng chiến khiếncho tinh thần dân tộc
lên cao, thì cũng là lúc các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc được đánh giálại “Sau bao nhiêu thập kỷ bị vùi lấp, giờ đây vẻ đẹp truyền thống hồi sinh đãhiện ra chân chất nhưng tinh tế, huy hoàng ” “Và một sự so sánh hiển nhiênquyến rũ như Súy Vân, Thị Màu, lão Tạ, Hồ Nguyệt Cô Thì những hìnhtượng kịch nói xuất hiện cùng thời quả thật mờ nhạt” [39, tr 75] Thêm vào
đó, “Tin tức về một sân khấu châu Âu đương thời rất sôi động cũng vangvọng tới Việt Nam, gây hứng thú lớn bởi sự hướng về tính ước lệ, tính trìnhdiễn, bởi sự mở rộng không gian sân khấu tất cả những điều này đều rất gầngũi với đặc điểm truyền thống Việt Nam và là thế mạnh của sân khấu cổ’ [39,
Trang 30tr 75] Để từ đó, “Một ý tưởng hình thành: Có thể học tập truyền thống đểphá vỡ thế gò bó bấy lâu nay Có thể tìm cách xây dựng kịch Việt Nam trên
cơ sở kinh nghiệm châu Âu kết hợp với sư tiếp thu bài học truyền thống, vớiđiều kiện không phá vỡ đặc điểm thể loại của kịch” [39, tr 75] Thế gò bóđược nhắc tới ở đây, theo tác giả là vấn đề không gian sân khấu và cùng với
nó là thời gian sân khấu Phương Tây giải quyết bằng phép biên kịch vớinhững quy định về địa điểm, thời gian, hành động Phương Đông lại có cáchgiải quyết khác là “biến đổi ý nghĩa sàn diễn Nó không còn ý nghĩa là mấychục thước vuông, nó mang ý nghĩa ước lệ, giả định ” [39, tr 76] Thời giansân khấu cũng mang ý nghĩa tương ứng, cũng trở thành giả định, có khả năng
co giãn vô hạn
Ông cũng khẳng định, nhờ vào lựa chọn học tập tinh hoa giải quyết khônggian thời gian sân khấu mà những đạo diễn Việt Nam đã chứng minh rằng, có thểbiểu hiện trên sân khấu những hoàn cảnh mà sân khấu tả thực không bao giờtưởng tượng nổi “Hình thái ước lệ, giả định cho phép mở rộng về hạn độ khônggian và thời gian sân khấu Nhưng không chỉ có thế Ưu thế lớn nhất của hìnhthái giả định là mở rộng thế giới của nhân vật, giải thoát nhân vật khỏi biên cảnhthế giới hành động mà Stanislapxki đã xác lập” [39, tr 77]
Đặc biệt, ông đánh giá, người diễn viên trên cơ sở tiếp thu sân khấutruyền thống thì sẽ không rơi vào cực đoan như những trường phái châu Âu
mà chấp nhận cả hai trạng thái đối địch mà châu Âu gọi là hòa cảm và giáncách Tuy nhiên, sáng tạo của diễn viên kịch cũng khác diễn viên kịch háttruyền thống ở nhiều điểm Nếu sáng tạo của diễn viên truyền thống là “sángtạo tập thể không ngừng được thêm bớt, hoàn thiện dần qua nhiều thế hệdiễn viên Mỗi lần diễn, người ta thường chỉ lặp lại những mô hình” [38; tr.31], thì sáng tạo của diễn viên kịch nói là sáng tạo từng vai kịch của từng cánhân, không chấp nhận bất cứ sự lặp lại nào, dù là lặp lại chính mình
Trang 311.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Qua những gì các nhà nghiên cứu đi trước đã công bố về ảnh hưởng củakịch hát truyền thống đến kịch nói Việt Nam, NCS nhận thấy còn những vấn
là kịch hát truyền thống với kịch nói Việt Nam, chưa trở thành đối tượngnghiên cứu chuyên biệt và trọng tâm Đặc biệt là chưa có những nghiên cứutrên những vở diễn cụ thể dưới góc nhìn đối sánh này
Trong giai đoạn những năm đầu thế kỷ XXI, việc áp dụng những thuộctính như: ước lệ, cách điệu vào trang trí sân khấu cũng đã trở thành xu hướngcủa nhiều nước Ở những Liên hoan sân khấu thử nghiệm Quốc tế từng được
tổ chức tại Việt Nam, các nước đưa những tác phẩm tới tham dự, cũng đi vào
xu hướng lấy ít tả nhiều, lấy tối thiểu để miêu tả tối đa như đánh giá của nhiều
chuyên gia, nhà hoạt động sân khấu Trên thực tế, kịch nói Việt Nam khi đitheo xu hướng này đã và đang có những thay đổi cần nghiên cứu sâu ở nhiềukhía cạnh Ngoài những áp dụng tinh hoa trong mô tả không gian, thời giansân khấu, thì các khâu khác như biên kịch, âm nhạc, diễn xuất chưa
Trang 32thực sự có được sự đồng bộ, lại càng cần thiết nghiên cứu để không làm lẫn điranh giới thể loại kịch nói Chưa kể, hiện nay, sân khấu thế giới cũng đi theo
xu hướng này, những khác biệt của kịch nói Việt Nam nên đi theo hướng tiếptục khẳng định được bản sắc riêng trong dòng chảy chung của kịch thế giới.Hiện tại, chưa có công trình nào đặt lại vấn đề này để tiến hành nghiên cứutrên thực tế hoạt động kịch nói Việt Nam thời kỳ mới, thời kỳ có những giaolưu hội nhập, có sự cọ sát thông qua nhiều kênh khác nhau với sân khấu cácnước khác Bởi vậy, nhìn nhận và tìm hiểu để phát hiện thêm được nhữngđiều mới của xu hướng tiếp nhận này là điều cần thiết cho sân khấu nước nhànói chung, thể loại kịch, nói riêng
Nếu như ảnh hưởng của sân khấu nước ngoài đã góp phần không nhỏtới quá trình phát triển chuyên nghiệp hóa đồng bộ và toàn diện của kịch nóiViệt Nam, thì sự tiếp thu những yếu tố nội sinh - những tinh hoa của kịch háttruyền thống đã giúp cho sân khấu kịch nói hình thành được bản sắc riêng,độc đáo, giọng điệu riêng của kịch nói Việt Nam
Nhưng cũng trong bối cảnh tác động của rất nhiều các yếu tố ngoại sinhđến sân khấu Việt Nam, đặc biệt là tác động quan trọng tới nghệ thuật kịchnói như một tất yếu lịch sử của thời đại, thì những yếu tố nội sinh cũng đóngvai trò hết sức quyết định đến kịch nói Việt Nam hiện đại Nhất là đặt trongbối cảnh hiện nay, thời kỳ đầu của thiên niên kỷ thứ III của nhân loại, với rấtnhiều biến động về mặt xã hội, văn hóa, nghệ thuật, thông tin đa chiều nhanhchóng, lượng kiến thức được đa dạng hóa… Nhưng cái cơ bản nhất, quantrọng nhất của các nền kịch nghệ chính là gìn giữ nét riêng biệt, đặc sắc, độcđáo, trộn cũng không lẫn của mình trong giao lưu với thế giới Tuy nhiên,người làm công tác nghệ thuật, do đặc trưng nghệ thuật luôn cần yếu tố mới
mẻ, mang màu sắc đương đại để “làm mới” các sáng tạo nên không ít nghệ sĩ
Trang 33chỉ cố công tìm kiếm những gì mới lạ, cố gắng áp dụng những “chiêu thức”mang tính hình thức mới mà bỏ quên những kiến thức mang tính nền tảng.
Bên cạnh đó, còn những điểm cần tiếp tục để có thể làm rõ hơn ảnhhưởng của kịch hát truyền thống với kịch nói Việt Nam:
Ảnh hưởng quan trọng trong xử lý không gian thời gian sân khấu
Sân khấu vốn đã có thuộc tính ước lệ khi muốn dùng khoảng không gianchật hẹp chừng vài chục thước vuông và khoảng thời gian mấy tiếng đồng hồ đểdiễn tả không gian bao la của hiện thực, thời gian có đôi khi là cả đời người,nhiều thế hệ Với kịch nói, những ước định, thuộc tính ước lệ đó ở sân khấu thếgiới rất nhiều thế kỷ trước vẫn là sự cố gắng tái hiện hiện thực sao cho giốngthật, chân thực nhất Mãi tới những năm cuối thế kỷ XIX, sang thế kỷ
XX thì những bức bối trói buộc của sự mô tả như thật này cũng đã bị người làm sân khấu thế giới cố gắng phá vỡ
Trong khi đó, kịch hát truyền thống Việt Nam nằm trong dòng chủ lưucủa sân khấu phương Đông nên ước lệ, cách điệu đã được nêu thành nguyêntắc sáng tạo Chính vì thế, bài toán về xử lý không gian thời gian sân khấutheo cung cách của kịch hát đã là cách giải quyết được nhiều thế hệ nghệ sĩ,nhất là các đạo diễn kịch nói Việt Nam coi là xu hướng đúng đắn Sự kết hợpgiữa lý thuyết phương Tây và hình thức diễn tả bối cảnh “giả định” phươngĐông, từ những biện pháp ước lệ, cách điệu, ẩn dụ, tượng trưng đã mở rộngdung lượng phản ánh của tác phẩm sân khấu: khả năng biểu đạt thế giới conngười trong tính phong phú, phức tạp, đan xen nhiều cõi (hữu thể, vô thể, tựnhiên, xã hội, nhân tạo,…), bằng sự đa dạng những biện pháp xử lý khônggian, thời gian một cách ứng biến, thỏa mãn được cả các chiều: quá khứ, hiệntại, tương lai và tâm linh theo quy luật tâm lý
Ảnh hưởng của kịch hát truyền thống tới nghệ thuật diễn xuất kịch nói
Trang 34Với những bối cảnh có những ước định, đòi hỏi diễn xuất cũng phảitương thích mới có thể khơi gợi được liên tưởng của người xem Ví dụ, chỉmột góc phòng mà phải coi đó là cả căn nhà, hay chỉ với chiếc mái chèo, cầntưởng tượng để diễn như đang ngồi trên con thuyền sóng nước Trên sàndiễn, với những trang trí mỹ thuật mang tính gợi ý đó, người diễn viên kịchnói cũng cần tìm về với những động tác kịch hát truyền thống để tham khảo.
Có thể tìm những dẫn chứng cụ thể trong các vở diễn là đối tượng nghiên cứuchính của luận án
Dù vậy, vẫn không thể sử dụng diễn xuất kịch hát truyền thống trongdiễn xuất kịch nói, không thể trộn lẫn, xóa nhòa ranh giới giữa diễn xuất kịchhát và kịch nói Về bản chất, sự chân thực trong động tác kịch nói vẫn phải rấtgần với đời thực, khác với kịch hát là động tác được nâng dần từ động tác
bình thường động tác cách điệu động tác múa minh họa trình thức múa
Với thoại kịch cũng vậy, diễn viên phải nhập vai thật phù hợp với tính cáchnhân vật, ứng xử của nhân vật trong đời thường Trong khi kịch hát truyền
thống sẽ đi từ nói nói lối hát
Ảnh hưởng của kịch hát truyền thống tới nghệ thuật biên kịch kịch nói
Đây là phần hầu như chưa có công trình nào phân tích một cách cụ thể,chi tiết Bởi nếu kịch bản có kết cấu hoàn toàn cổ điển theo đúng lý thuyếtkịch phương Tây, thì khi áp dụng, dùng thủ pháp của sân khấu kịch hát truyềnthống vào để xử lý không gian thời gian sân khấu sẽ dẫn tới vênh lệch Đạo
diễn Vũ Minh, người dàn dựng vở Ông già và biển cả cho sân khấu nhỏ từng
tự rút ra kết luận: “ Tôi đã quá lạm dụng lối diễn và mi dăng xen đạo diễncách điệu phương Đông vào một vở diễn, tả theo cấu trúc không phải phươngĐông mà là Mỹ La tinh kết hợp châu Âu” [31, tr 149]
Trang 35Điều đó cũng có nghĩa là, những phương pháp đạo diễn phần nào cũngtác động tới khâu biên kịch Đôi khi, các đạo diễn đòi hỏi các biên kịch phảisửa chữa kịch bản theo hướng này Hay nói cách khác, nếu muốn sử dụngphương pháp của kịch hát truyền thống thì kịch bản cũng phải thay đổi Thêmnữa, muốn thử nghiệm những cách làm mới lạ, khác biệt thì cũng cần phải cónhững kịch bản viết theo lối tư duy khác với cách nghĩ, cách cảm cũ Đâycũng là điểm khó khăn cho khâu sáng tạo của các đạo diễn hiện nay vì các nhàviết kịch chưa theo kịp với những xu hướng sáng tạo mới, khơi gợi đượcnhững nội dung cũng như hình thức cấu trúc, hình thức diễn tả mới, vừa phảnánh tốt xã hội hiện đại, vừa hấp dẫn vì đa dạng, khác biệt… Chưa kể, hiện tại,khâu bị đánh giá là yếu trong quy trình sáng tạo sân khấu là biên kịch, với độingũ nhà viết kịch không nhiều, lại không được chuyên nghiệp hóa theo nghĩa
có thể sống bằng nghề, toàn tâm toàn ý cho việc viết kịch
Ảnh hưởng của sân khấu kịch hát truyền thống tới các thành tố khác của kịch nói
Tác phẩm sân khấu là một thể thống nhất, nên nếu phong cách của đạodiễn là theo xu hướng tiếp thu sân khấu truyền thống thì những yếu tố phụ trợcũng phải tuân thủ những nguyên tắc sáng tác tương đồng Những bài họctrong sáng tạo của các họa sĩ là dễ thấy nhất của xu hướng này khi họ đồngsáng tác với các đạo diễn trong xử lý không gian, thời gian sân khấu Từ ý đồ
xử lý không gian ước lệ của đạo diễn, các họa sỹ cũng cùng chung ý tưởngsáng tác cho trang trí sân khấu kịch nói mang tính ước lệ, các biên đạo múacũng đưa các màn múa vào mô tả ý tưởng sáng tạo xây dựng hình tượng vởdiễn cho kịch nói… Hay các nhạc sĩ cũng cần đi sâu hơn để khai thác âm nhạcdân gian, dân tộc
Trang 36Đặc biệt là kịch hát tiếp thu ảnh hưởng của kịch nói qua một số vở diễn
cụ thể, nhất là trên sân khấu Nhà hát Tuổi trẻ, một trong những đơn vị nghệ
thuật kịch nói hàng đầu của nền sân khấu Việt Nam
1.3 Cơ sở lý luận của đề tài
1.3.1 Các khái niệm thao tác
1.3.1.1 Khái niệm ảnh hưởng - tiếp thu
Ảnh hưởng: Theo Từ điển Tiếng Việt là “Tác động có thể để lại kết quả
ở sự vật hoặc người nào đó” [46, tr 7] Ảnh hưởng từ bên ngoài (externalities) Các yếu tố ảnh hưởng (factor of productions).
Triển khai hàm nghĩa này, có thể tiếp tục đặt những giả thiết để nghiêncứu về ảnh hưởng như: Cái gì ảnh hưởng? Ảnh hưởng như thế nào? Ở đâu?Tại sao? Ai/ cái gì ảnh hưởng đến ai/ cái gì?
Tiếp thu theo Từ điển Tiếng Việt có nghĩa: “Nhận lại cái do người khác
để lại; Tiếp nhận, biến thành nhận thức của mình” [46, tr 954]
Triển khai hàm nghĩa này, cũng có thể đặt những giả thiết để nghiêncứu về sự tiếp thu như: Tiếp thu cái gì? Tiếp thu như thế nào? Ở đâu? Tạisao? Ai/ cái gì tiếp thu từ ai/ cái gì? Về sự tiếp thu ảnh hưởng trong nghệthuật sân khấu, theo GS.TS Đào Mạnh Hùng: Lịch sử nghệ thuật sân khấuViệt Nam là lịch sử của quá trình hình thành bản sắc văn hóa dân tộc và sựtiếp thu ảnh hưởng qua quá trình giao lưu hội nhập với văn hóa thế giới
Như vậy, đề tài Kịch nói tiếp thu ảnh hưởng kịch hát truyền thống qua
một số vở diễn của Nhà hát Tuổi trẻ hàm nghĩa: kịch nói tiếp thu ảnh hưởng
của kịch hát cái gì, tiếp thu những ảnh hưởng như thế nào, tại sao lại tiếpthu để từ đó triển khai nghiên cứu với các vở diễn được lựa chọn
1.3.1.2 Khái niệm về sân khấu kịch Drama của châu Âu
Theo Từ điển bách khoa toàn thư, Kịch - trong tiếng Hy Lạp - (drama)
có nguồn gốc từ “dran”, có nghĩa là động tác, và tương quan với điều này, nó
Trang 37cũng bao hàm ý “to act”, nghĩa là diễn xuất, biểu diễn Thời cổ đại Trung
Quốc, trong Thuyết văn giải tự An Hứa Thận đã giải thích “kịch” thể hiện tình
huống lưỡng hổ giao đấu hết sức căng thẳng “Kịch” xuất phát từ chữ “qua”(giáo) biểu thị “Tam quân chi thiên” “Thiên” là một hình thức tổ chức chiếnđấu bằng xe thời cổ đại, 25 xe làm thành một thiên, mà “Qua” (giáo) thời cổđại là công cụ lao động đánh cá và săn bắt, đồng thời là một loại vũ khí Có
thể thấy, quan niệm về kịch của Trung Quốc cổ đại có nhiều nét gần gũi với
quan niệm về kịch của Hy Lạp cổ đại: Chỉ những hành động có mục đích, cótính đối kháng của con người
Với những lý thuyết sân khấu hiện đại thì, trước hết kịch là một thể loạicủa văn học, “được viết dưới hình thức đối thoại dành cho biểu diễn sân khấu,
lấy xung đột làm động cơ phát triển của toàn bộ nội dung vở kịch và là sự
dung hợp các yếu tố đối lập của tính khách quan tự sự và tính chủ quan trữ tình [Bêlinxky]” [24, tr 115].
Nhưng kịch còn có nghĩa là một loại hình nghệ thuật biểu diễn, một loạihình nghệ thuật tổng hợp, lấy nghệ thuật diễn xuất làm trung tâm để tái hiệncuộc sống Kịch phản ánh thực tế xã hội bằng hành động và đối thoại thôngqua biểu diễn của người diễn viên trước công chúng Hiện thực cuộc sốngđược phản ánh trong kịch dưới hình thức trực tiếp biểu hiện trước mắt côngchúng
1.3.1.3 Khái niệm về kịch hát truyền thống Việt Nam
Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập II, định nghĩa kịch hát dân
tộc là “Khái niệm xuất hiện từ sau Cách mạng tháng 8 năm 4945, chỉ chung
hai loại kịch hát truyền thống là Chèo và Tuồng cùng tất cả các loại hình kịchhát khác ra đời đầu thế kỷ 20 theo phương pháp của nghệ thuật chèo và tuồngnhư các nghệ thuật: Cải lương, ca kịch Huế, ca kịch Bài chòi, ca kịch NghệTĩnh v.v Kịch hát dân tộc thuộc loại sân khấu tự sự (kể chuyện) phương tiện
Trang 38biểu hiện bao gồm từ lời nói thường, nói lối đến ngâm vịnh, ca hát; từ độngtác thường đến cách điệu và múa phối hợp hào hòa với nhau Hát và múa pháttriển từ dân ca, dân vũ đã tạo nên màu sắc dân tộc đậm đà, phong phú trongkịch hát dân tộc Kịch hát dân tộc là bộ phận chủ yếu làm nên bề dày của nềnnghệ thuật sân khấu Việt Nam” [32, tr 560]
Từ định nghĩa này, ta có thể rút ra, Kịch hát truyền thống của Việt
Nam có hai thể loại là Tuồng và Chèo, thuộc loại sân khấu tự sự (kể chuyện)phương tiện biểu hiện bao gồm từ lời nói thường, nói lối đến ngâm vịnh, cahát; từ động tác thường đến cách điệu và múa phối hợp hào hòa với nhau.NCS cũng xin bổ sung thêm, Tuồng và Chèo (kịch hát truyền thống) ra đờikhoảng thế kỷ XIII, lấy múa, hát (các bài hát, các làn điệu chuyên dùng và đadùng), hành động cách điệu và nghệ thuật diễn xuất của diễn viên làm ngônngữ chủ yếu để tái tạo hiện thực, xây dựng, biểu hiện đời sống nhân vật - hìnhtượng nhân vật nhằm diễn kể câu chuyện (tích) trên sân khấu, theo hệ thốngcác nguyên tắc của phương pháp hiện thực tả ý - hiện thực tả thần
1.3.2 Lý thuyết tiếp biến văn hóa áp dụng vào đề tài luận án
1.3.2.1 Khái niệm “tiếp biến văn hóa”
Tiếp biến văn hóa (acculturation) là khái niệm được các nhà nhân họcphương Tây đưa ra vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX “Cách dịch đượcnhiều người chấp nhận là giao lưu văn hóa, tiếp (xúc) và biến (đổi) văn hóa.Theo GS Hà Văn Tấn, các nhà khoa học Mỹ Redifiled, Linton và Herkovitsvào năm 1936 đã định nghĩa khái niệm này như sau:
Dưới từ acculturation, ta hiểu là hiện tượng xảy ra khi những nhómngười có văn hóa khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp, gây ra sựbiến đổi mô thức (pattent) văn hóa ban đầu của một hay cả hainhóm” Như vậy, giao lưu và tiếp xúc văn hóa là sự vận độngthường xuyên của xã hội, gắn bó với tiến hóa xã hội nhưng cũng
Trang 39gắn bó với sự phát triển của văn hóa, là sự vận động thường xuyên của văn hóa [73, tr 50].
“Giao lưu văn hóa vừa là kết quả tự nhiên trong tiến trình phát triển xãhội, đồng thời vừa là chất xúc tác, là động lực thúc đẩy các mối quan hệ banggiao về chính trị, ngoại giao và kinh tế giao lưu văn hóa là một quy luật vậnđộng và phát triển của các dân tộc và của các nền văn hóa” [47, tr 24]
Có thể thấy, giao lưu văn hóa chính là sự tiếp xúc, tương hỗ, biến đổilẫn nhau giữa hai nền văn hóa khác nhau Sự tiếp xúc, tương hỗ này có khidiễn ra không cân xứng, và kết quả sẽ có một nền văn hóa bị biến đổi theo,mất đi nét riêng biệt, hoặc bị thay đổi bởi một nền văn hóa khác; hay cả hainền văn hóa cùng thay đổi Tiếp biến, giao lưu văn hóa là một thuộc tính củanhân loại vì đó là hoạt động tự nhiên của con người
Theo GS.TS Lê Thị Hoài Phương, có những khía cạnh mang tính bảnchất của tiếp biến, giao lưu văn hóa như sau:
- Bản chất của giao lưu văn hóa là sự tác động biện chứng giữa cái nộisinh và cái ngoại sinh của các nền văn hóa Cái nội sinh là những yếu tố văn hóabản địa, làm nên bản sắc độc đáo của văn hóa nghệ thuật dân tộc trong nền văn hóanghệ thuật thế giới Còn cái ngoại sinh là những yếu tố văn hóa “ngoại nhập”
- Các hành động giao lưu văn hóa có thể được xảy ra, tiến hành theo nhiều kiểu, nhiều phương thức khác nhau
- Giao lưu văn hóa xét trên bình diện nhân loại là hành động tiến bộ, mang đầy nội dung nhân bản và chủ nghĩa nhân đạo
- Hợp tác văn hóa chính là sự giao lưu văn hóa ở cấp độ cao, thể hiện tính chất của sự giao lưu là tự nguyện và có mục đích rõ ràng [47, tr 25-27]
1.3.2.2 Áp dụng lý thuyết tiếp biến văn hóa vào đề tài luận án
GS.TS.NSND Đình Quang từng viết:
Trang 40Trong giao lưu, cần giữ đúng mối quan hệ biện chứng giữa nội sinh vàngoại sinh Trong hoàn cảnh nào cũng phải xuất phát từ các điều kiệnnội sinh rồi mới kết hợp với yếu tố ngoại sinh Chỉ nội sinh mà coithường ngoại sinh là không hòa nhập, trái lại chỉ chạy theo ngoại sinh
mà bất chấp hoàn cảnh nội sinh sẽ dẫn tới hòa tan” [54, tr 48]
Không hẹn mà đồng tư tưởng, khi bàn về quan hệ giữa dân tộc và nhânloại, giữa nội sinh và ngoại sinh, GS Vũ Khiêu cũng phát biểu về vấn đề nàykhá sâu sắc:
Chỉ dựa vào nhân tố nội sinh và đóng cửa, không tiếp nhận những
gì từ bên ngoài, thì một con người dù lành mạnh, một dân tộc dù cótruyền thống lâu đời cũng sẽ dần suy yếu đi và không còn sinh khínữa Ngược lại, chỉ chú ý đến nhân tố ngoại sinh, không chuẩn bịđầy đủ những điều kiện nội sinh thì nhân tố ngoại sinh dù hay đếnđâu cũng sẽ bị bật ra ngoài Đó là điểm rất quan trọng trong quan hệbên trong và bên ngoài [34, tr 175-176]
Cũng có những cảnh báo về sự quá coi nhẹ tính dân tộc hoặc ngược lại,quá cực đoan dân tộc chủ nghĩa GS Phạm Đức Dương khẳng định:
Khi nói đến tiếp xúc và giao thoa văn hóa, chúng ta cũng không nênquá nhấn mạnh đến quá trình sao phỏng (Ấn Độ hóa, Trung Hoahóa hay Âu hóa) như các học giả phương Tây đã làm, mà phải chú
ý đến quá trình bản địa hóa (Đông Nam Á hóa); đồng thời cũngphải tránh lối nhìn thiểu cận của quan niệm dân tộc hẹp hòi, dẫn tới việc xem nhẹhoặc đánh giá sai lạc, thiếu công bằng sự đóng góp của các nền văn hóa lớn đối vớitoàn bộ khu vực và từng nước Đông Nam Á [34, tr 120]
Chúng ta vốn có một nền văn hóa lâu đời, tạo nên được những giá trị tinh thần và một hệ tư tưởng vững chắc Sự vững vàng này chính là bộ lọc để