1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Luận văn - Hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng của nông hộ tại huyện Châu Thành - tỉnh Tiền Giang

104 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 839,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Thị Thanh Giang (2006); “Phân tích hiệu quả của các trại nuôi gà công nghiệp gia công tại tỉnh Hậu Giang và tỉnh Vĩnh Long”, luận văn tốt nghiệp khoá 28 khoa Kinh tế - QTKD trườ[r]

Trang 1

MỤC LỤC

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1

1.1.2 Sự cần thiết nghiên cứu 1

1.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu và các giả thuyết cần kiểm định 3

1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.3.2 Các giả thuyết càn kiểm địnhâu hỏi nghiên cứu 4

1.4 Phạm vi nghiên cứu 4

1.4.1 Không gian 4

1.4.2 Thời gian 5

1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 5

1.5 Lược khảo tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu 5

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7

2.1 Phương pháp luận 7

2.1.1 Một số khái niệm 7

2.1.2 Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích 11

2.1.3 Phương pháp phân tích hồi qui nhiều chiều 11

2.2 Phương pháp nghiên cứu 12

2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 12

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 14

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 15

Chương 3 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA HỘ NUÔI GÀ CÔNG NGHIỆP LẤY TRỨNG TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG 16

3.1 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 16

3.1.1 Vị trí địa lý 16

3.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống 16

3.1.3 Dân số lao động 17

Trang 2

3.1.4 Phát triển kinh tế xã hội 18

3.1.5 Tình hình chăn nuôi gia cầm tại huyện Châu Thành 18

3.2 Tổng quan về tình hình chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng tại huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang trước và sau cúm gia cầm xảy ra 19

3.2.1 Tình hình chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng trước khi dịch cúm gia cầm xảy ra 19

3.2.2 Tình hình nuôi gà công nghiệp lấy trứng ở Châu Thành Tiền Giang sau dịch cúm gia cầm xảy ra 20

3.3 Tổng quan về hộ chăn nuôi gà công nghiệp 22

3.4 Giống gà nuôi 24

3.5 Các yếu đầu vào trong chăn nuôi 25

3.6 Đặc điểm giống nuôi 26

3.7 Đặc điểm chuồng trại 26

3.8 Nguồn vốn trong chăn nuôi 27

3.9 Nguyên nhân nuôi 28

3.10 Kỹ thuật trong chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng ở nông hộ huyện Châu Thành 29

3.11 Tình hình tiêu thụ trứng trong chăn nuôi 30

3.12 Hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng của nông hộ huyện Châu Thành 31

3.12.1 Một số chỉ tiêu liên quan đến hiệu quả nuôi trước và sau cúm 31

3.12.2 Phân tích hiệu quả nuôi gà công nghiệp của hộ trước và sau cúm gia cầm theo qui mô 34

3.12.3 So sánh hiệu quả các qui mô nuôi trước và sau cúm 45

3.13 Đàn gà công nghiệp lấy trứng của huyện Châu Thành và tình hình dịch cúm gia cầm 47

3.14 Khó khăn và thuận lợi của hộ nuôi trong nuôi gà công nghiệp 48

Chương 4 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN TRONG CHĂN NUÔI GÀ CÔNG NGHIỆP LẤY TRỨNG VÀ CƠ CẤU THU NHẬP CỦA HỘ CHĂN NUÔI GÀ 49

4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận trong chăn nuôi gà công nghiệp 49

4.2 Phân tích cơ cấu thu nhập hiện nay của hộ chăn nuôi gà .51

Trang 3

Chương 5 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHĂN NUÔI GÀ CÔNG NGHIỆP LẤY TRỨNG CỦA NÔNG HỘ TẠI HUYỆN

CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG 55

5.1 Một số chủ trương của tỉnh Tiền Giang về quản lý chăn nuôi gia cầm 55

5.2 Ma trận SWOT trình bày điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, đe dọa đối với nghề nuôi gà công nghiệp lấy trứng ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang 55

5.3 Một số giải pháp nhằm phát triển đàn gà mang lại hiệu quả chăn nuôi cho người nuôi gà công nghiệp lấy trứng ở huyện Châu Thành 57

5.3.1 Một số yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến chi phí trong chăn nuôi 57

5.3.2 Về kỹ thuật chăn nuôi 57

5.3.3 Về tín dụng trong chăn nuôi 58

Chương 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

6.1 Kết luận 59

6.1.1 Kết luận về thực trạng chăn nuôi gà công nghiệp trong huyện 59

6.1.2 Kết luận về hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệp 59

6.1.3 Kết luận về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi 60

6.1.4 Kết luận chung về ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm đến hiệu quả sản xuất của nông hộ chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng 60

6.2 Kiến nghị 61

6.2.1 Kiến nghị đối với người chăn nuôi 61

6.2.2 Kiến nghị đối với chính quyền địa phương 61

6.2.3 Kiến nghị đối với nhà nước 62

6.2.4 Kiến nghị đối với ngân hàng 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Bảng câu hỏi phỏng vấn nông hộ

Phụ lục 2 Kết quả xử lý

Trang 4

DANH MỤC BIỂU BẢNG

Bảng 1 Số lượng gia cầm bị cúm trên toàn quốc trong 3 đợt dịch 12

Bảng 2 Số lượng gia cầm bị cúm ở Tiền Giang trong 3 đợt dịch 13

Bảng 3 Tỉ lệ hộ nuôi thuộc các qui mô trước cúm tại huyện Châu Thành 20

Bảng 4 Số lượng gà nuôi của những hộ hiện đang nuôi 21

Bảng 5 Nguồn lực nông hộ 22

Bảng 6 Trình độ văn hoá của các chủ trại nuôi gà công nghiệp 24

Bảng 7 Giống gà nuôi 25

Bảng 8 Tiêu chí chọn giống nuôi 25

Bảng 9 So sánh một số yếu tố đầu vào trong chăn nuôi 26

Bảng 10 Nguồn vốn nông hộ vay ngân hàng 28

Bảng 11 Chi phí cố định trong chăn nuôi gà công nghiệp trước và sau cúm 31

Bảng 12 Chi phí lao động trong nuôi gà công nghiệp 32

Bảng 13 Các loại chi phí biến đổi khác trước và sau cúm 33

Bảng 14 Các nguồn thu từ nuôi gà trước và sau cúm 34

Bảng 15 Các loại chi phí phát sinh tại hộ nuôi qui mô lớn trước cúm 35

Bảng 16 Doanh thu và lợi nhuận của hộ nuôi qui mô lớn trước cúm 36

Bảng 17 Một số tỉ số tài chính đánh giá hiệu quả chăn nuôi của hộ nuôi qui mô lớn trước cúm 36

Bảng 18 Các loại chi phí phát sinh tại hộ nuôi qui mô lớn sau cúm 37

Bảng 19 Doanh thu và lợi nhuận của hộ nuôi qui mô lớn sau cúm 37

Bảng 20 Một số tỉ số tài chính đánh giá hiệu quả chăn nuôi của hộ nuôi qui mô lớn sau cúm 38

Bảng 21 Các loại chi phí phát sinh tại hộ nuôi qui mô vừa trước cúm 39

Bảng 22 Doanh thu và lợi nhuận của hộ nuôi qui mô vừa trước cúm 39

Bảng 23 Một số tỉ số tài chính đánh giá hiệu quả chăn nuôi của hộ nuôi qui mô vừa trước cúm 40

Bảng 24 Các loại chi phí phát sinh tại hộ nuôi qui mô vừa sau cúm 40

Bảng 25 Doanh thu và lợi nhuận của hộ nuôi qui mô vừa sau cúm 41

Bảng 26 Một số tỉ số tài chính đánh giá hiệu quả chăn nuôi của hộ nuôi qui mô vừa sau cúm 41

Trang 5

Bảng 27 Các loại chi phí phát sinh tại hộ nuôi qui mô nhỏ trước cúm 42

Bảng 28 Doanh thu và lợi nhuận của hộ nuôi qui mô nhỏ trước cúm 42

Bảng 29 Một số tỉ số tài chính đánh giá hiệu quả chăn nuôi của hộ nuôi qui mô nhỏ trước cúm 43

Bảng 30 Các loại chi phí phát sinh tại hộ nuôi qui mô nhỏ sau cúm 43

Bảng 31 Doanh thu và lợi nhuận của hộ nuôi qui mô nhỏ sau cúm .44

Bảng 32 Một số tỉ số tài chính đánh giá hiệu quả chăn nuôi của hộ nuôi qui mô nhỏ sau cúm 44

Bảng 33 So sánh hiệu quả nuôi gà công nghiệp trước và sau cúm theo qui mô nuôi 45

Bảng 34 Kết quả tương quan giữa lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận trong nuôi gà công nghiệp lấy trứng 49

Bảng 35 Thu nhập hiện nay của hộ không tái đàn 52

Bảng 36 Thu nhập của nông hộ và lợi nhuận từ nuôi gà của hộ hiện nay 54

Bảng 37 Ma trận SWOT 56

Trang 7

TÓM TẮT

Trứng gia cầm là một loại thực phẩm được nhiều người ưa chuộng, có giá trị dinh dưỡng cao Vì thế nhu cầu tiêu thụ trứng cũng như các sản phẩm từ trứng trên thị trường ngày càng tăng, do đó trong thời gian gần đây nghề nuôi gà công nghiệp lấy trứng phát triển khá mạnh đặc biệt tại huyện Châu Thành - tỉnh Tiền Giang Tuy nhiên vào cuối năm 2003 hộ nuôi gà trong huyện bị ảnh hưởng nặng

nề bởi dịch cúm gia cầm, ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi, đời sống của hộ nuôi cũng như số lượng gà nuôi hiện nay

Trong luận văn này, tôi tiến hành phân tích hiệu quả nuôi gà công nghiệp của hộ nuôi trước và sau dịch cúm bằng cách thu thập số liệu sơ cấp tại huyện Châu Thành, sau đó sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả về hoạt động nuôi gà của huyện và tình hình cúm gia cầm ảnh hưởng đến đàn gà của huyện, phương pháp phân tích chi phí – lợi ích, phân tích hồi qui tương quan nhiều chiều qua đó xác định những chi phí và lợi ích của việc nuôi gà công nghiệp mang lại cho nông hộ chăn nuôi, và các nhân tố ảnh hưởng đến việc tăng giảm lợi nhuận của hoạt động nuôi gà Phân tích cơ cấu thu nhập của nông hộ hiện không tái đàn

do dịch cúm gia cầm, qua đó có thể xác định được sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hộ Đồng thời phân tích cơ cấu thu nhập của hộ hiện đang nuôi gà nhằm xác định tỉ lệ thu nhập từ nuôi gà trong tổng thu nhập của hộ

Do tích chất tập trung của việc nuôi gà công nghiệp nên tôi chỉ phân tích

hộ nuôi dạng cơ sở chăn nuôi, tức là chỉ xét hộ nuôi qui mô lớn, vừa và nhỏ Kết quả phân tích, so sánh cho thấy hiện nay hoạt động nuôi gà công nghiệp mang lại cao hơn so với thời điểm trước khi dịch cúm gia cầm xảy ra bởi lẽ hiện nay tỉ lệ tăng giá sản phẩm gia cầm cao hơn so với tỉ lệ tăng giá chi phí chăn nuôi Trong

đó hộ nuôi qui mô càng nhỏ hiệu quả càng cao

Qua đó tôi cũng đưa ra một số gải pháp để phát triển bền vững nghề nuôi

gà công nghiệp lấy trứng tại Châu Thành đó là kết hợp chặt chẽ giữa người chăn nuôi và chính quyền địa phương Hộ nuôi khi bắt đầu nuôi gà nên nuôi với số lượng thuộc loại qui mô nhỏ nhằm hạn chế rủi ro, tích lũy kinh nghiệm chăn nuôi sau đó phát triển dần lên qui mô vừa và lớn tùy theo nguồn lực nông hộ

Trang 8

Chương 1

GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Sự cần thiết nghiên cứu

Chăn nuôi gà là nghề truyền thống lâu đời của nhân dân ta Nó cung cấp cho chúng ta sản phẩm thịt và trứng, là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao vì thế đòi hỏi nhu cầu cung cấp cho xã hội ngày càng nhiều Nghề chăn nuôi

gà từng bước mở rộng, từ mô hình sản xuất đơn giản với những giống gà ban đầu, trên cơ sở nghiên cứu phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng có nhiều giống gà nuôi theo nhiều mô hình khác nhau nhằm gia tăng sản phẩm cung cấp cho con người Cùng với những tiến bộ trong các lĩnh vực di truyền, hóa sinh, dinh dưỡng… đã góp phần phát triển nghề chăn nuôi gà, mang lại hiệu quả kinh

tế cao cho người chăn nuôi Bên cạnh đó, là sự phát triển song song của dịch bệnh Ngày càng có nhiều bệnh mới phát sinh đe dọa đàn gia cầm Do tính chất ảnh hưởng rộng khắp và sự nguy hiểm của nó nên gọi là đại dịch cúm gia cầm Đại dịch cúm đi qua để lại hậu quả thật nặng nề Trước sự nguy hại của nó, các nhà khoa học ở các nước như Trung Quốc, Mỹ… đang nghiên cứu về các loại văc-xin phòng ngừa để có thể ngăn chặn đại dịch cúm gia cầm bùng phát trong tương lai

Đại dịch cúm gia cầm đang xảy ra hiện nay có tác động tiêu cực đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp trong nước, khu vực và thế giới Riêng ở Việt Nam, Đồng bằng sông Cửu Long cũng bị thiệt hại nặng nề Trong đó, tại huyện Châu Thành – tỉnh Tiền Giang nơi có hoạt động nuôi gà công nghiệp lấy trứng diễn ra sôi động đã gây thiệt hại to lớn cho nông hộ chăn nuôi, làm cho bà con nông dân gặp rất nhiều khó khăn về đời sống Trong khi đó chính quyền địa phương và các nhà hoạch định chính sách chưa đưa ra được giải pháp hữu hiệu nhằm khắc phục hậu quả do dịch cúm gia cầm gây ra vì thiếu luận cứ khoa học kinh tế

Vấn đề nghiên cứu về ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm đến hiệu quả chăn nuôi của nông hộ trở nên bức xúc và cần thiết Bởi lẽ dịch cúm gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến người chăn nuôi và kinh tế - xã hội của huyện Nghiên cứu về vấn

đề này sẽ xác định được những thiệt hại, mất mát của người nông dân đồng thời tìm hiểu được tâm tư, nguyện vọng của họ để các cấp chính quyền có biện pháp

Trang 9

hỗ trợ đúng đắn và hướng đi đúng để phát triển đàn gia cầm một cách bền vững, tăng thu nhập cho nông hộ, cải thiện đời sống người chăn nuôi đồng thời phát triển kinh tế - xã hội huyện

1.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn

Gà là một trong những loại gia cầm được nhân dân ta chăn nuôi từ lâu đời theo phương thức thả tự do trong sân, vườn để tận dụng những thức ăn sẵn có trong thiên nhiên, và các sản phẩm dư thừa từ mùa màng, sinh hoạt Về sau, tiếp thu cách nuôi công nghiệp từ các nước phương Tây, việc nuôi gà đã mang một diện mạo mới

Ngày nay trong phạm vi xã hội và trong khuôn khổ từng gia đình, gà công nghiệp đã thực sự là một ngành sinh lợi Trong điều kiện kinh tế chưa phát triển mạnh như nước ta, việc nuôi gà công nghiệp còn có ý nghĩa lớn nhằm góp phần tạo ra sự cân bằng trong cơ cấu kinh tế, tránh việc người nông dân chỉ độc canh cây lúa hoặc một loại cây trồng khác

Với ưu thế của một ngành kinh tế kỹ thuật tiên tiến, sản phẩm gà công nghiệp nhanh chóng được người sản xuất và người tiêu dùng chấp nhận Đặc biệt trong vài năm gần đây, gà công nghiệp đã trở thành một nghề sản xuất chính, sản xuất thịt trứng có hiệu quả kinh tế cao Nhiều gia đình đã làm giàu một cách nhanh chóng từ nuôi gà công nghiệp

Tại huyện Châu Thành – tỉnh Tiền Giang, hoạt động nuôi gà công nghiệp tại nông hộ rất phổ biến do hiệu quả kinh tế của nó mang lại Kinh tế gia đình phát triển nhanh chóng từ việc nuôi gà công nghiệp, nhiều nông hộ chăn nuôi không ngừng mở rộng quy mô nuôi hiện tại Nhiều nông hộ khác cũng bắt đầu xây dựng chuồng trại để chăn nuôi bởi vì việc nuôi khá dễ dàng Đặc biệt, đa phần các hộ trong huyện nuôi gà công nghiệp chủ yếu nuôi lấy trứng vì tính hiệu quả của việc nuôi gà này so với các loại gà khác

Tuy nhiên khi đại dịch cúm gia cầm xảy ra, người nuôi gà khắp nơi bị thiệt hại nặng nề và dĩ nhiên là những hộ chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng ở huyện Châu Thành cũng bị ảnh hưởng rất lớn Nhiều nông hộ bị mất trắng và lâm vào tình trạng cùng cực Trước những tổn thất nặng nề của dịch cúm gia cầm gây

nên, do đó việc nghiên cứu “Hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng của nông hộ tại huyện Châu Thành – tỉnh Tiền Giang” để từ đó có thể đưa ra

Trang 10

những giải pháp khả thi để phát triển đàn gà công nghiệp lấy trứng theo hướng bền vững là rất cần thiết

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Phân tích ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm đến hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng của nông hộ tại huyện Châu Thành để nắm được mức độ thiệt hại đồng thời đưa ra giải pháp phát triển nghề chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng dựa trên cở sở khoa học và tính hiệu quả kinh tế qua thực tiễn nghiên cứu

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

● Thực trạng chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng tại huyện Châu Thành – tỉnh Tiền Giang cùng những thiệt hại trong chăn nuôi khi dịch cúm gia cầm xảy

ra

● Phân tích hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng của nông hộ trước

và sau khi dịch cúm xảy ra

● Phân tích cơ cấu thu nhập của nông hộ và hiệu quả sử dụng vốn trong chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng Qua đó phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc tái đàn

● Đề xuất giải pháp nhằm phát triển đàn gà trong tương lai, mang lại hiệu quả chăn nuôi cho người chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng

1.3 Các câu hỏi nghiên cứu và các giả thuyết cần kiểm định

1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu

— Đối với mục tiêu 1:

+ Tổng số hộ chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng tại địa bàn huyện

+ Quy mô chăn nuôi của từng hộ trong huyện

+ Kinh nghiệm chăn nuôi

+ Cơ sở vật chất trong chăn nuôi

+ Lao động cần thiết phục vụ cho chăn nuôi

+ Đàn gà có bị ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm không?

— Đối với mục tiêu 2:

+ Chi phí đầu tư

+ Doanh thu từ bán trứng gà

+ Thu nhập từ chăn nuôi gà

Trang 11

+ Chi phí cơ hội: tại sao nông hộ trong huyện Châu Thành quyết định nuôi

gà công nghiệp lấy trứng mà không nuôi để lấy thịt hay không nuôi một loại gia cầm hay gia súc nào khác

+ Hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng

— Đối với mục tiêu 3:

+ Các hoạt động tạo ra thu nhập của nông hộ: bao gồm các hoạt động từ nông nghiệp và phi nông nghiệp

+ Thu nhập từ nuôi gà công nghiệp lấy trứng chiếm bao nhiêu % trong cơ cấu thu nhập của gia đình

+ Hiệu quả sử dụng vốn trong chăn nuôi so với các hoạt động sản xuất khác của nông hộ

+ Tìm hiểu nguyên nhân không tái đàn ở một số hộ

— Đối với mục tiêu 4:

Từ thực tế điều tra, nắm được thực trạng về tình hình thiệt hại của nông hộ cũng như những hỗ trợ trong thời gian qua của địa phương, qua đó tìm hiểu về mong muốn của người chăn nuôi để từ đó có thể đưa ra giải pháp để tái đàn trong tương lai

1.3.2 Các giả thuyết cần kiểm định

► Giả thuyết 1: Khi dịch cúm gia cầm xảy ra đàn gà của nông hộ bị thiệt hại do chết hoặc tiêu hủy

○ Kiểm định: Thực tế có đàn gà nào trong huyện không bị thiệt hại, không

bị tiêu hủy khi có dịch không?

► Giả thuyết 2: Các đàn gia cầm bị tiêu hủy đều được hỗ trợ từ chính quyền địa phương

○ Kiểm định: Thực tế có hộ nào không nhận được tiền hỗ trợ không?

► Giả thuyết 3: Người nông dân gặp khó khăn tài chính trong việc tái đàn

○ Kiểm định: Ngoài nguyên nhân tài chính có nguyên nhân nào khác ảnh hưởng làm cho người nông dân không muốn tài đàn không?

1.4 Phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Không gian

- Các nông hộ nuôi gà công nghiệp lấy trứng thuộc các xã trong huyện Châu Thành – tỉnh Tiền Giang

Trang 12

- Số liệu được sử dụng trong đề tài là các số liệu được thu thập tại các cơ quan ban ngành của tỉnh Tiền Giang gồm: Phòng Nông – Lâm – Ngư thuộc Sở Nông nghiệp – Phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang, Chi cục thú y Tiền Giang, Trạm thú y huyện Châu Thành, Phòng Nông nghiệp huyện Châu Thành, Phòng Kinh tế huyện Châu Thành, Phòng Thống kê huyện Châu Thành

Do tính chất của hoạt động nuôi gà công nghiệp thường chăn nuôi tập trung Do đó các số liệu sơ cấp trong đề tài là các số liệu thu thập tại các hộ nuôi

có quy mô tập trung từ 200 con trở lên

1.4.2 Thời gian

- Đề tài được thực hiện trong thời gian từ tháng 2 năm 2007 đến tháng 6 năm 2007

- Số liệu sử dụng trong đề tài là số liệu từ năm 2003 đến năm 2007

+ Số liệu sơ cấp được thu thập trong tháng 4 và tháng 5 năm 2007

+ Số liệu thứ cấp là các số liệu từ năm 2003 đến cuối năm 2006 và số kế hoạch năm 2007

1.4.3 Đối tượng nghiên cứu

- Hiệu quả sản xuất của việc nuôi gà công nghiệp lấy trứng của các nông hộ chăn nuôi tập trung dạng cơ sở chăn nuôi

- Các nông hộ chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng tại huyện Châu Thành - tỉnh Tiền Giang

1.5 Lược khảo tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu

Hiệu quả sản xuất là vấn đề được nhiều người sản xuất đặc biệt quan tâm,

vì nó thể hiện kết quả của quá trình lao động sản xuất Qua đó có thể xác định những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp cũng có một số đề tài nghiên cứu liên quan đến việc xác định hiệu quả sản xuất, cụ thể như sau:

Mai Văn Nam (2004); “Thị trường nông sản và các giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa ở đồng bằng sông Cửu Long”: Trường hợp sản phẩm heo ở Cần Thơ”, VNRP, chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan; phương pháp phân tích SCP và mô hình Probit được sử dụng trong nghiên cứu; kết quả nghiên cứu cho thấy chăn nuôi heo ở qui mô nhỏ hộ gia đình có hiệu quả thấp hơn qui mô lớn tập trung và các yếu tố đầu vào như con giống, thức ăn, chế

Trang 13

biến sản phẩm và các thể chế chính sách có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, tiêu thụ sản phẩm

Nguyễn Trung Cang (2004); “Giải pháp đưa kinh tế hộ trồng lúa Đồng Tháp Mười vươn lên giàu có”, VNRP, chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà lan; phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) và so sánh kinh tế hộ theo qui

mô diện tích được sử dụng trong nghiên cứu; kết quả nghiên cứu cho thấy thể chế chính sách đóng vai trò tích cực trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và tăng hiệu quả sản xuất, đặc biệt đối với trang trại và kinh tế hộ có qui mô diện tích lớn trên 03 hecta

Nguyễn Thị Thanh Giang (2006); “Phân tích hiệu quả của các trại nuôi gà

công nghiệp gia công tại tỉnh Hậu Giang và tỉnh Vĩnh Long”, luận văn tốt nghiệp khoá 28 khoa Kinh tế - QTKD trường đại học Cần Thơ; phương pháp thống kê,

mô tả, so sánh, phương pháp phân tích lợi ích – chi phí; kết quả nghiên cứu cho thấy hình thức nuôi gia công có hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội, đặc biệt các trại nuôi theo hình thức chuồng kín mang lại hiệu quả cao hơn so với các trại nuôi theo hình thức chuồng hở

Tuy nhiên hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng của nông hộ do tác động của dịch cúm gia cầm tại huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang hiện chưa có nghiên cứu cụ thể Cho nên tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu vấn đề này trong thời gian thực tập tốt nghiệp đại học của mình

Trang 14

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp luận

2.1.1 Một số khái niệm

2.1.1.1 Khái niệm về nông hộ

Nông hộ là những hộ nông dân làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp

và dịch vụ hoặc làm kết hợp nhiều ngành nghề, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh Nông hộ tiến hành sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp để phục vụ cuộc sống và được gọi là kinh tế hộ gia đình

Kinh tế hộ gia đình là loại hình sản xuất có hiệu quả nhất về kinh tế- xã hội, tồn tại và phát triển lâu dài và có vị trí quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp, nông thôn Kinh tế hộ gia đình phát triển tạo ra sản lượng hàng hóa đa dạng, có chất lượng, có giá trị ngày càng cao, góp phần tăng thu nhập cho người nông dân, cải thiện mọi mặt đời sống, cung cấp sản phẩm cho công nghiệp và xuất khẩu Đồng thời, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế được thực hiện ngay từ kinh tế nông hộ

2.1.1.2 Khái quát về chăn nuôi

Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, chăn nuôi cung cấp nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao Một xu hướng tiêu dùng có quy luật là khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu tiêu dùng về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên cả về số lượng và chủng loại Chăn nuôi còn là ngành cung cấp nhiều sản phẩm là nguyên liệu quý cho công nghiệp chế biến Phát triển chăn nuôi còn có mối quan hệ khắng khít thúc đẩy phát triển ngành trồng trọt, tạo nên một nền nông nghiệp cân đối bền vững

Chăn nuôi là ngành sản xuất có đối tượng tác động là cơ thể sống đòi hỏi phải có đầu tư duy trì thường xuyên Chăn nuôi có thể phát triển theo phương thức di động phân tán theo phương thức tự nhiên, song cũng có thể phát triển tập trung tĩnh tại theo phương thức công nghệp, sản phẩm của ngành chăn nuôi rất đa dạng có sản phẩm chính và sản phẩm phụ có giá trị kinh tế cao

Chăn nuôi theo phương thức công nghiệp là phương thức chăn nuôi hoàn toàn đối lập với chăn nuôi theo phương thức tự nhiên Phương châm cơ bản của chăn nuôi công nghiệp là tăng tối đa khả năng tiếp nhận thức ăn, giảm tối thiểu

Trang 15

quá trình vận động để tiết kiệm hao phí năng lượng nhằm rút ngắn thời gian tích lũy năng lượng, tăng khối lượng và năng suất sản phẩm Thức ăn cho chăn nuôi công nghiệp thức ăn chế biến sẵn theo phương thức công nghiệp có sử dụng các kích thích tố tăng trưởng để vật nuôi có thể cho năng suất sản phẩm cao nhất với chu kỳ nuôi ngắn nhất Phương thức chăn nuôi công nghiệp đòi hỏi mức đầu tư thâm canh rất cao, không phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên nên năng suất sản phẩm cao và ổn định Tuy nhiên, chất lượng kém hơn chăn nuôi chăn nuôi tự nhiên kể cả về giá trị dinh dưỡng hương vị và tính chất vệ sinh an toàn thực phẩm Tuy vậy, chăn nuôi công nghiệp vẫn là một phương thức chăn nuôi đang được cả thế giới chấp nhận và phát triển vì nó tạo ra một sự thay đổi vượt bậc về năng suất và sản lượng sản phẩm chăn nuôi cho xã hội

Mục tiêu phấn đấu của ngành chăn nuôi để đến năm 2010 sẽ có tổng đàn đạt 275 đến 280 triệu con, tốc độ tăng trưởng 6% đạt 42 đến 43 vạn tấn thịt, 5,5 đến 6 tỷ quả trứng

Năng suất: trong chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng năng suất trong chăn nuôi chính là lượng trứng thu được ở mỗi con gà trong một lứa nuôi

2.1.1.3 Chi phí

Trong các hoạt động sản xuất nông nói chung cũng như trong chăn nuôi gà công nghiệp nói riêng các nhà quản lý thường chia theo mức độ hoạt động kinh doanh, đó là cách ứng xử của chi phí Trên quan điểm về cách ứng xử của chi phí người ta chia toàn bộ chi phí thành 3 loại:

a) Chi phí khả biến: là những chi phí mà giá trị của nó sẽ tăng lên, giảm theo sự tăng giảm về mức độ hoạt động Tổng số của chi phí khả biến sẽ tăng khi mức độ hoạt động tăng và ngược lại Tuy nhiên nếu tính trên một đơn vị của mức

độ hoạt động thì chi phí khả biến lại không đổi trong phạm vi phù hợp Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có hoạt động

Trong nuôi gà công nghiệp chi phí khả biến bao gồm chi phí con giống, chi phí thức ăn, chi phí thuốc thú y, chi phí điện, chi phí nước và một số chi phí khác như chi phí gas…

b) Chi phí bất biến: là những chi phí có tổng số của nó không thay đổi khi

có mức độ hoạt động thay đổi Chi phí bất biến có thể chia thành hai loại: chi phí bất biến bắt buộc và chi phí bất biến không bắt buộc

Trang 16

Trong chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng chi phí bất biến là các chi phí chuồng trại, chi phí lồng nuôi, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí trang thiết bị và một số chi phí cố định khác… phục vụ cho chăn nuôi như thiết bị vận chuyển thức ăn, máng ăn, máng uống, dụng cụ làm vệ sinh, quạt, moteur dùng phun xịt nước cho gà khi trời nóng…

c) Chi phí hỗn hợp: là chi phí mà thành phần của nó bao gồm cả yếu tố bất biến và yếu tố khả biến

d) Chi phí cơ hội:

Ngoài ra đối với các nhà kinh tế, một trong những chi phí quan trọng nhất

là chi phí cơ hội Chi phí cơ hội dựa trên cơ sở là: mọi đầu vào hay yếu tố sản xuất đều có một cách sử dụng thay thế ngay cả khi nó không được sử dụng Khi một đầu vào được sử dụng cho mục đích cụ thể đó, thì nó không thể sẵn sàng để

sử dụng cho bất kỳ phương án nào khác và thu nhập từ phương án thay thế này sẽ

bị mất đi Chi phí cơ hội có thể được định nghĩa theo hai cách:

Thứ nhất: chi phí cơ hội là giá trị của sản phẩm không được sản xuất vì một đầu vào đã được sử dụng cho một mục đích khác

Thứ hai: chi phí cơ hội là thu nhập sẽ nhận được nếu nguồn lực đầu vào này được sử dụng cho phương án khác và đem lại lợi nhuận cao nhất

2.1.1.4 Thu nhập

Hầu hết nông hộ dành phần lớn thời gian của hộ vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi nên thu nhập của họ cũng xuất phát từ các hoạt động chính này Bên cạnh đó một số hộ có một số nguồn thu nhập từ các nguồn khác như từ các hoạt động phi nông nghiệp như buôn bán, tiền lương và các khoản trợ cấp…

2.1.1.5 Hiệu quả sản xuất

Trong sản xuất kinh doanh thường phải đối mặt với các giới hạn trong việc

sử dụng nguồn lực sản xuất Do đó họ cần phải xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các hoạt động cần thực hiện dựa vào các nguồn lực đó sao cho đạt kết quả cao nhất Thuật ngữ mà chúng ta thường dùng để chỉ kết quả đạt được đó là hiệu quả Hiệu quả là một thuật ngữ tương đối và luôn liên qua đến một vài chỉ tiêu cụ thể Trong bất kỳ quá trình sản xuất nào khi tính đến hiệu quả sản xuất thì người

Trang 17

ta thường đề cập đến ba nội dung cơ bản đó là:hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật

và hiệu quả phân phối

a) Hiệu quả kinh tế: tiêu chí về hiệu quả kinh tế thực ra là giá trị Có nghĩa

là, khi sự thay đổi làm tăng giá trị thì sự thay đổi đó có hiệu quả và ngược lại sẽ không hiệu quả

b) Hiệu quả kỹ thuật: đòi hỏi nhà sản xuất tạo ra một số lượng sản phẩm nhất định xuất phát từ việc sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất Thật ra hiệu quả kỹ thuật được xem chỉ là một thành phần của hiệu quả kinh tế Trong trường hợp tối đa hóa lợi nhuận đòi hỏi nhà sản xuất phải sản xuất ra mức sản lượng tối

đa tương ứng với mức nguồn lực đầu vào nhất định hay nói cách khác hiệu quả

kỹ thuật dùng để chỉ kết hợp tối ưu các nguồn lực đầu vào để tạo ra mức sản lượng nhất định

c) Hiệu quả phân phối: thể hiện mối quan hệ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Có nghĩa là, nhà sản xuất phải cung cấp những sản phẩm và dịch vụ

mà người tiêu dùng cần nhất hay nói các khác nguồn lực được phân phối sao cho lợi ích của người sử dụng nó đạt được cao nhất

• Chi phí lao động = (số lao động nhà + số lao động thuê) x công nhật

+ Doanh thu/ chi phí đo lường tổng số tiền thu được khi bỏ ra 1 đồng chi phí đầu tư

+ Lợi nhuận/ chi phí đo lường lợi nhuận của hộ thu được khi bỏ ra 1 đồng chi phí đầu tư

+ Lợi nhuận/ doanh thu đo lường trong 1 đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi nhuận

Trang 18

2.1.2 Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí

Phân tích chi phí - lợi ích là một phương pháp để đánh giá sự mong muốn tương đối giữa các phương án cạnh tranh nhau, khi sự lựa chọn được đo lường bằng giá trị kinh tế tạo ra cho toàn xã hội

Phương pháp này tìm sự đánh đổi giữa các lợi ích thực mà xã hội có được

từ một phương án cụ thể với các nguồn tài nguyên thực mà xã hội phải từ bỏ để đạt được lợi ích đó Theo cách này đây là phương pháp ước lượng sự đánh đổi thực giữa các phương án, và nhờ đó giúp cho xã hội đạt được những lựa chọn ưu tiên kinh tế của mình

Phân tích lợi ích - chi phí là một khuôn khổ nhằm tổ chức thông tin, liệt kê những thuận lợi và bất lợi của từng phương án, xác định các giá trị kinh tế có liên quan, và xếp hạng các phương án dựa vào các tiêu chí giá trị kinh tế Vì thế phân tích lợi ích - chi phí là một phương thức để thực hiện sự lựa chọn chứ không chỉ

là một phương pháp để đánh giá sự ưa thích

2.1.3 Phương pháp phân tích hồi quy nhiều chiều

Mục đích của việc thiết lập phương trình hồi quy là tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến một chỉ tiêu nào đó Xác định các nhân tố ảnh hưởng tốt để phát huy

và nhân tố ảnh hưởng xấu để khắc phục

Phương trình hồi quy có dạng:

Y = β0 + β1 X1 + β2 X2+…+βk Xk

Trong đó:

Y: biến phụ thuộc

Xi ( i = 1,2,…,k) là các biến độc lập

Các tham số β0, β1…, βk được tính toán bằng phần mềm SPSS

Kết quả in ra từ SPSS có các thông số sau:

Multiple R: hệ số tương quan bội (Multiple Corrlation Corfficient) nói lên tính liên hệ chặt chẽ của mối liên hệ giữa biến phụ thuộc Y và các biến độc lập

Xi, R càng lớn mối liên hệ càng chặt chẽ ( -1 ≤ R ≤ 1)

Hệ số xác định đã điều chỉnh R2 (Adjusted Corfficient of Determination), đây là một chỉ số quan trọng để chúng ta nên thêm một biến độc lập mới vào phương trình hồi quy hay không

Trang 19

Giá trị Significance F, giá trị này cho ta kết luận ngay mô hình hồi quy có ý nghĩa khi nó nhỏ hơn mức ý nghĩa α nào đó, và giá trị Significance F cũng là cơ

sở để quyết định bác bỏ hay chấp nhận giả thuyết H0 trong kiểm định bao quát các tham số của mô hình hồi quy Nói chung F càng lớn, khả năng bác bỏ giả thuyết H0 càng cao - giả thuyết H0 cho rằng tất cả các tham số hồi quy đều bằng

0, nghĩa là các biến độc lập (Xi) không liên quan tuyến tính tới biến phụ thuộc Y

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu

Chăn nuôi là một trong hai ngành nông nghiệp phát triển nhất của nền nông nghiệp Việt Nam Nó góp phần quan trọng vào việc tăng trưởng chung của ngành nông nghiệp Trong đó chăn nuôi gia cầm là một trong những ngành quan trọng, đóng vai trò cung cấp thịt trứng cho nhu cầu thực phẩm của con người Tuy nhiên khi dịch cúm gia cầm xã hội Việt Nam đã gánh chịu những hậu quả nặng

nề Cụ thể số lượng gia cầm bị mắc bệnh chết và tiêu hủy theo từng đợt trên cả nước như sau:

Bảng 1: Số lượng gia cầm bị cúm trên toàn quốc trong 3 đợt dịch

ĐVT: con

ĐỢT DỊCH GÀ

VỊT, NGAN CÚT

TỔNG CỘNG

I (cuối 2003 đầu 2004) 30,41 triệu 13,53 triệu 14,76 triệu 60,70 triệu

III (cuối 2004 đầu

2005)

470.490 825.689 551.689 1,85 triệu

Nguồn: Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm

Qua đó có thể thấy số lượng gia cầm bị thiệt hại trong 3 đợt dịch cúm trên

cả nước là rất lớn, trong đó đợt đầu tiên là lớn nhất Tình hình dịch cúm đã làm giảm số lượng gia cầm trên cả nước đồng thời gây thiệt hại lớn đến kinh tế - xã hội

Tiền Giang là một trong những tỉnh có số lượng gia cầm khá cao ở Đồng bằng sông Cửu Long Nghề nuôi gia cầm của tỉnh không ngừng phát triển với số lượng hộ nuôi và qui mô nuôi liên tục tăng lên với các loại gia cầm rất phong phú như gà thị, gà chuyên trứng, gà ri, vịt, cút, bồ câu… Tuy nhiên, năm 2003 cùng

Trang 20

Giang, làm thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi và có khả năng đe dọa đến sức khỏe cộng đồng Tính đến nay ở tỉnh Tiền Giang đã xảy ra 3 đợt dịch cúm gia cầm, cụ thể như sau:

Bảng 2: Số lượng gia cầm bị cúm ở Tiền Giang trong 3 đợt dịch

Nguồn: Cục thống kê Tiền Giang

Qua đó có thể thấy tại Tiền Giang số lượng gia cầm bị thiệt hại trong 3 đợt dịch cúm là rất lớn, trong đó thiệt hại nhiều nhất đó là gà bao gồm cả gà công nghiệp, bán công nghiệp, thả vườn Nếu xét về giá trị kinh tế, dịch cúm gia cầm

đã ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế hộ và cả nền kinh tế của tỉnh Tiền Giang Chỉ tính riêng đợt dịch cúm gia cầm đầu tiên Tiền Giang đã bị thiệt hại kinh tế khoảng 329 tỷ đồng

Sau các đợt dịch này, tổng đàn gia cầm của Tiền Giang biến động rõ rệt; nếu năm 2003, toàn tỉnh có 5.801.000 con gia cầm thì năm 2005, con số này chỉ còn lại 2.915.225 con, giảm 49,75% (số liệu của Cục Thống kê Tiền Giang); trong đó, hộ chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm tỉ lệ cao (64,61%) Điều này làm ảnh hưởng kinh tế đời sống của nhân dân trong huyện Đặc biệt nghề nuôi gà công nghiệp lấy trứng là một trong những nghề phát triển tại Châu Thành tuy số lượng con thấp hơn các huyện khác trong tỉnh như Chợ Gạo Nhưng từ việc nghiên cứu ở một huyện có số lượng không thuộc vào hạng nhiều nhất trong tỉnh để có thể thấy được thiệt hại của hộ nuôi của huyện để từ đó có cái nhìn khái quát hơn về tác động của dịch cúm gia cầm đến hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng của nông hộ khi dịch cúm gia cầm xảy ra trước đây cũng như hiện tại

Chính vì lẽ đó trong luận văn tốt nghiệp của mình tôi quyết định chọn địa

bàn huyện Châu Thành làm vùng nghiên cứu để thực hiện đề tài của mình

Trang 21

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Số liệu sơ cấp: được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp nông hộ chăn nuôi

gà công nghiệp lấy trứng tại các xã trong huyện Châu Thành Những số liệu được thu thập trong các năm từ năm 2004 đến năm 2007

Để đảm bảo mẫu phỏng vấn mang tính phân tầng và đại diện tôi tiến hành phỏng vấn thu thập số liệu sơ cấp tại 50 hộ nuôi gà thuộc 7 xã trong huyện gồm: Bình Đức, Long An, Phước Thạnh, Phú Phong, Tân Hội Đông, Tân Hương, Thạnh Phú Sau đó phân theo hộ nuôi qui mô lớn, qui mô vừa và qui mô nhỏ để phỏng vấn tương đương với % hộ nuôi theo quy mô đó

Các xã được chọn tiến hành thu thập số liệu sơ cấp của đề tài đó là:

+ Xã Bình Đức (ấp Đồng) 1 hộ, đây là hộ duy nhất của xã hiện đang nuôi

gà công nghiệp lấy trứng

+ Xã Long An (ấp Long Thạnh, Long Hưng) 3 hộ, gồm 2 hộ tái đàn sau cúm và 1 hộ không tái đàn Đây là xã chỉ có 3 hộ nuôi gà công nghiệp

+ Xã Phước Thạnh (ấp Phước Thuận, Phước Hòa) 3 hộ hiện đang nuôi theo quy mô vừa

+ Xã Phú Phong (ấp Phú Hòa) 1 hộ, đây là hộ nuôi quy mô lớn nhất huyện Châu Thành trước cũng như sau cúm

+ Xã Tân Hội Đông (ấp Tân Thuận, Tân Hòa, Tân Xuân) 19 hộ, gồm 1 hộ hiện đang nuôi, 18 hộ không tái đàn Qua đó để thấy được thiệt hại nghiêm trọng của hộ chăn nuôi khi đây là xã xuất hiện dịch cúm gia cầm đầu tiên tại Tiền Giang vào cuối năm 2003

+ Xã Tân Hương (ấp Tân Phú, Tân Hòa) 7 hộ, gồm 1 hộ mới nuôi vào năm

2006 và 6 hộ không tái đàn để phản ánh tác hại của dịch cúm khi đây là xã thứ 2 của huyện phát hiện dịch cúm gia cầm do bị lây nguồn bệnh từ Tân Hội Đông + Xã Thạnh Phú (ấp Cây Xanh, Bờ Xe, Xóm Vong)16 hộ hiện đang nuôi, đây là xã có nhiều hộ chăn nuôi gà công nghiệp nhất ở huyện Châu Thành hiện nay

- Số liệu thứ cấp: được thu thập từ những cơ quan, ban ngành có liên quan trong 3 năm 2004, 2005, 2006 Đó là các cơ quan: Sở Nông nghiệp – Phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang, Chi cục thú y Tiền Giang, Phòng Kinh tế huyện Châu

Trang 22

Thành, Phòng Thống kê huyện Châu Thành, Phòng Nông nghiệp huyện Châu

Thành

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu

Mục tiêu 1: Thực trạng chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng tại huyện Châu Thành – tỉnh Tiền Giang cùng những thiệt hại trong chăn nuôi khi dịch cúm gia cầm xảy ra

Sử dụng số liệu thứ cấp và Phương pháp thống kê mô tả

Mục tiêu 2: Phân tích hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng của nông hộ trước và sau khi dịch cúm xảy ra

Phân tích chi phí – lợi ích

Mục tiêu 3: Phân tích cơ cấu thu nhập của nông hộ và hiệu quả sử dụng vốn trong chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng Qua đó phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc tái đàn

Sử dụng phương pháp phân tích ma trận SWOT

Tất cả số liệu trong luận văn được nhập vào từ phần mềm Excel và xử lý trên phần mềm SPSS và Excel

Trang 23

Chương 3

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA HỘ NUÔI

GÀ CÔNG NGHIỆP LẤY TRỨNG TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

3.1 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Châu Thành là cửa ngõ tỉnh Tiền Giang đi Thành phố Hồ Chí Minh

và các tỉnh miền Tây Nam Bộ theo hướng Quốc lộ 1, đồng thời có ĐT864 và tuyến sông Tuyền nối kết các huyện trong tỉnh với Thành phố Mỹ Tho trung tâm kinh tế - văn hóa chính trị của tỉnh

Với vị trí thuận tiện về giao thông thủy bộ và cở hạ tầng bến bãi, điện, nước… đất đai lại phù hợp để bố trí các công trình xây dựng cơ bản nên địa bàn

đã và đang là nơi lý tưởng cho các công ty xí nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Đây sẽ là địa bàn năng động của tỉnh để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa

Vị trí địa lý của huyện được xác định như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Tân Phước

- Phía Nam giáp tỉnh Bến Tre

- Phía Tây giáp huyện Cai Lậy

- Phía Đông giáp huyện Chợ Gạo và Thành phố Mỹ Tho

Tổng diện tích tự nhiên 25.376 ha, chiếm 10,90% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Huyện được chia thành 25 đơn vị hành chánh bao gồm 24 xã và 1 thị trấn, trong đó thị trấn Tân Hiệp và 23 xã thuộc vùng đất liền, còn 1 xã Thới Sơn thuộc

+ Khí hậu chia thành 2 mùa rõ rệt:

+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 dương lịch

+ Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 dương lịch năm sau

Trang 24

Lượng mưa biến thiên từ 1.400 - 2.200, tập trung từ tháng 5 đến tháng 11 dương lịch

e) Gió

Có 2 mùa gió chính: gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc

f) Thủy văn

Địa bàn huyện chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều từ biển đông qua

2 con sông chính là sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây

Về vấn đề phân phối nguồn lao động, hiện tại huyện Châu Thành có số người lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 137.580 Huyện hiện có

số người trong độ tuổi có khả năng lao động đang đi học là 12.192 người Tuy nhiên hiện tại huyện cũng có 3.135 người trong độ tuổi lao động hiện không có việc làm và 925 người có trong độ tuổi có khả năng lao động những không làm việc, 925 người trong độ tuổi có khả năng lao động đang làm nội trợ

Trang 25

Thực trạng dân số và lao động hiện nay tại Châu Thành đa phần dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm tỉ lệ lớn 76% dân số và 64,6% lao động

xã hội, do đó huyện hiện đang thực hiện nhiều biện pháp nhằm tác động tích cực hơn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế dân số của khu vực công nghiệp, dịch vụ

3.1.4 Phát tiển kinh tế xã hội

Giá trị sản xuất ngành công nghiệp của huyện Châu Thành hiện tại 3.211.559 triệu đồng, trong đó khu vực có vốn đầu tư trong nước chiếm 67,70%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 32,30% tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp

Ngành nông nghiệp là một trong những thế mạnh của huyện với giá trị sản xuất hàng năm đạt khoảng 1.239.230,9 trong đó trồng trọt là 965.658,5 triệu đồng bao gồm trồng lúa, cây lương thực khác, cây công nghiệp, cây ăn quả, rau đậu gia vị… giá trị sản xuất ngành chăn nuôi là 181.310,3 triệu đồng gồm nuôi gia súc, gia cầm và các loại khác Ngành dịch vụ phục vụ trồng trọt và chăn nuôi

là 92.262,1 triệu đồng Ngành thủy sản hàng năm mang lại cho huyện 40.514,8 triệu đồng chủ yếu từ nuôi trồng, khai thác và các dịch vụ thủy sản

Về vấn đề thu chi ngân sách hàng năm huyện Châu Thành thu khoảng 14.495 triệu đồng gồm thu trên địa bàn huyện, thu trợ cấp từ nguồn ngân sách cấp trên, thu kết dư, thu khác… Bên cạnh đó hàng năm huyện chi khoảng 121.509 triệu đồng gồm chi sự nghiệp kinh tế, chi sụ nghiệp giáo dục y tế văn hóa, chi quản lý hành chính, chi ngân sách xã

Hiện tại toàn huyện Châu Thành có 25 phường xã có điện lưới quốc gia Huyện có 3 trung tâm văn hóa, cả 25 xã phường của huyện đều được phủ sóng

phát thanh, có trạm truyền thanh, truyền hình

3.1.5 Tình hình chăn nuôi gia cầm tại huyện Châu Thành

Năm 2003 toàn tỉnh có 5.801.310 con trong đó có 3.697.300 con gà Riêng huyện Châu Thành có tổng đàn gia cầm là 538.845 con

Năm 2004 đàn gia cầm của toàn tỉnh là 7.229.000 con trong đó gà 2.586.900 con, riêng huyện Châu Thành có 522.000 con gia cầm các loại

Năm 2005 đàn gia cầm của toàn tỉnh là 4.078.340 con trong đó gà là 1.956.686 con, riêng huyện Châu Thành có tổng đàn gia cầm là 399.342 con với đàn gà là 289.006 con

Trang 26

Năm 2006 đàn gia cầm của toàn tỉnh là 4.807.389 con trong đó gà là 2.414.938 con, riêng huyện Châu Thành có 609.055 con gia cầm với số gà là 452.222 con

Tính đến cuối năm 2006, trên toàn tỉnh Tiền Giang ngành chăn nuôi chiếm 20,2% tăng 1,6% so năm 2005 trong cơ cấu ngành nông lâm ngư nghiệp (theo giá trị sản xuất, giá hiện hành)

Trong cơ cấu ngành chăn nuôi gia cầm chiếm 24,37% tăng 13% so năm

2005 Theo kết quả điều tra thống kê của Cục Thống kê thời điểm 01/08/2006 đàn gia cầm toàn tỉnh hiện có: 4.807.389 con, tăng 729.049 con so năm 2005 Trong năm 2007 tỉnh Tiền Giang phấn đấu toàn tỉnh có 4.815.900 con, riêng huyện Châu Thành là 610.300 con

3.2 Tổng quan về tình hình chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng tại huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang trước và sau cúm gia cầm xảy ra

3.2.1 Tình hình chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng trước khi dịch cúm gia

cầm xảy ra

Cùng với cả nước ở huyện Châu Thành của tỉnh Tiền Giang đã xuất hiện dịch cúm trên đàn gia cầm đầu tiên vào cuối năm 2003 Trước thời gian này nghề nuôi gà công nghiệp lấy trứng là một trong những nghề phổ biến tại các xã trong huyện do hiệu quả kinh tế của nó mang lại cao hơn rất nhiều so với các hoạt động khác như làm ruộng, trồng hoa màu hay chăn nuôi heo… Nhiều gia đình đổ xô đầu tư nguồn vốn tích lũy vào chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng, nhiều hộ khác thấy hiệu quả của những người thân quen nên cũng bắt đầu nuôi gà này bằng nguồn vốn tự có hoặc từ nguồn vốn vay ngân hàng để cải thiện kinh tế gia đình hiện tại

Từ hoạt động này kinh tế gia đình khá lên nhanh chóng, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt Do đó các hộ chăn nuôi không ngừng mở rộng quy mô chăn nuôi sau mỗi lứa nuôi Ban đầu nuôi nhỏ từ 200 đến 500 con, sau mỗi lứa nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao cũng như do hoạt động chăn nuôi gà công nghiệp đang rất phổ biến, vì thế giá trứng giảm đi rõ rệt trong khi chi phí thức ăn, thuốc thú y lại tăng lên rất nhiều đòi hỏi người chăn nuôi cần phải mở rộng quy mô nuôi Tại lứa nuôi cuối cùng của huyện Châu Thành trước khi xảy ra dịch cúm gia cầm số lượng nuôi tại các hộ như sau:

Trang 27

Bảng 3: Tỉ lệ hộ nuôi thuộc các qui mô trước cúm tại huyện Châu Thành

Qui mô nhỏ Từ 200 đến dưới 3.000 con 32

Qui mô vừa Từ 3.000 đến dưới 5.000 con 36

Nguồn: Điều tra trực tiếp năm 2007 tại huyện Châu Thành

Qua đó có thể thấy rằng trong 50 hộ điều tra ngẫu nhiên hiện có 48 hộ có nuôi trước cúm Trong đó hộ nuôi quy mô từ 200 con đến dưới 3.000 con chiếm

tỉ lệ 32%, hộ nuôi từ 3.000 con đến dưới 5.000 con chiếm tỉ lệ 36%, hộ nuôi qui

mô lớn có số lượng gà nuôi từ 5.000 con trở lên chiếm tỉ lệ 32% Trong đó trước cúm, hộ có số lượng gà công nghiệp lấy trứng nhỏ nhất là 1.000 con và hộ có số lượng lớn nhất là 58.000 con Như vậy có thể kết luận rằng trước khi cúm gia cầm xảy ra đa phần hộ nuôi gà công nghiệp ở Tiền Giang chăn nuôi với qui vừa

vì nó phù hợp với điều kiện gia đình cũng như những nguồn lực mà nông hộ hiện

có như vốn, lao động…

Do trước khi dịch cúm gia cầm xảy ra các hộ đều chăn nuôi theo hướng tự phát với mục tiêu chính là phát triển kinh tế gia đình, do vậy trước khi dịch cúm xảy ra huyện Châu Thành cũng như tỉnh Tiền Giang chỉ quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của nông hộ trong huyện mà không quản lý số lượng cụ thể ở từng hộ nuôi

3.2.2 Tình hình nuôi gà công nghiệp lấy trứng ở Châu Thành Tiền Giang sau dịch cúm gia cầm xảy ra

Ở Tiền Giang tính đến nay đã xảy ra 3 đợt dịch cúm Sau 3 đợt dịch cúm này số lượng chăn nuôi của các hộ nuôi cũng như số hộ nuôi đã giảm đi rõ rệt vì

đa phần hộ chăn nuôi bị thiếu vốn để tái đàn và sợ cúm nữa sẽ bị thiệt hại lớn trong chăn nuôi Do đó tùy năng lực tài chính hiện có của hộ cũng như các nguồn lực khác mà hộ quyết định nuôi với số lượng phù hợp

Về quy mô chăn nuôi hiện nay của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang đã ban hành quyết định số 27/2006/QĐ – UBND về việc quản lý hoạt động chăn nuôi, giết mổ, mua bán, vận chuyển động vật, sản phẩm động vật, sản phẩm động vật

và ấp trứng gia cầm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang

Trang 28

Cơ sở chăn nuôi gồm chăn nuôi tập trung qui mô lớn, chăn nuôi tập trung

qui mô vừa, chăn nuôi qui mô nhỏ, chăn nuôi hộ gia đình và điểm trung chuyển

động vật, cụ thể với gia cầm như sau:

+ Chăn nuôi tập trung qui mô lớn: thường xuyên có số gia cầm từ 10.000

con trở lên

+ Chăn nuôi tập trung qui mô vừa: thường xuyên có số gia cầm từ 2.000

con đến dưới 10.000 con

+ Chăn nuôi tập trung qui mô nhỏ: thường xuyên có số lượng gia cầm từ

200 con đến dưới 2.000 con

+ Chăn nuôi hộ gia đình có số lượng gia cầm nhỏ hớn số lượng chăn nuôi

qui mô nhỏ

Trong bài nghiên cứu này, tôi chỉ phân tích hiệu quả chăn nuôi ở hộ chăn

nuôi tập trung công nghiệp dạng qui mô lớn, vừa và nhỏ Trong đó hộ nuôi qui

mô lớn chiếm tỉ lệ 8%, hộ nuôi qui mô vừa chiếm 52%, hộ nuôi qui mô nhỏ

chiếm 40% Qua 25 hộ phỏng vấn ngẫu nhiên có số lượng nuôi như sau:

Bảng 4: Số lượng gà nuôi của những hộ hiện đang nuôi

Nguồn: Điều tra trực tiếp năm 2007 tại huyện ChâuThành

Có 23/50 hộ tái đàn sau cúm chiếm tỉ lệ 46% trong tổng số hộ nuôi trước

cúm với số lượng gà nuôi giảm đi rõ rệt Qua đó có thể thấy số lượng gà công

nghiệp lấy trứng của của huyện Châu Thành giảm đi đáng kể sau khi dịch cúm

xảy ra và gây thiệt hại cho hộ nuôi trong huyện Trong đó có 2 hộ mới bắt đầu

nuôi sau cúm chiếm tỉ lệ 4% với số lượng từ 500 con đến 1.000 con Qua đó có

thể thấy các hộ khi bắt đầu nuôi gà nên nuôi với số lượng nhỏ để tích lũy kinh

nghiệm dần nhằm hạn chế những rủi ro trong chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng

vì đây là ngành chăn nuôi yêu cầu nguồn vốn đầu tư ban đầu rất lớn so với nguồn

lực của nông hộ Hiện nay số vốn đầu tư ban đầu bao gồm chi phí chuồng trại và

con giống để hộ có thể chăn nuôi 1.000 con gà hậu bị khoảng hơn 100.000.000

Trang 29

đồng Với hình thức sản xuất dạng nông hộ ta có thể thấy đây là nguồn vốn đầu

tư ban đầu rất lớn với nông hộ

Do những thiệt hại nặng nề trong dịch cúm tại Tiền Giang do đó hiện nay

số lượng gà trong hộ đã giảm đi rõ rệt Trong đó hộ nuôi có số lượng lớn nhất là 34.000 con, như vậy trung bình số lượng nuôi trong mỗi hộ nuôi là 4.280 con, trong khi trước khi dịch cúm xảy ra trung bình mỗi hộ nuôi khoảng 5.000 con

3.3 Tổng quan về hộ chăn nuôi gà công nghiệp

Để phân tích nguồn lực nông hộ ta tiến hành phân tích các yếu tố sau:

Bảng 5: Nguồn lực nông hộ

CHỈ TIÊU ĐVT

NHỎ NHẤT

LỚN NHẤT

TRUNG BÌNH

Số người trong độ tuổi lao động người 1 8 2,86

Số người đi làm nhận tiền

Nguồn: Điều tra trực tiếp năm 2007 tại huyện Châu Thành

Các hộ chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng có hộ không làm nông nghiệp vì

họ không có diện tích đất sản xuất nông nghiệp nhưng cũng có hộ có diện tích đất sản xuất nông nghiệp khá khoảng 14,5 công (1 công = 1000m2) Như vậy trung bình mỗi hộ có diện tích đất sản xuất nông nghiệp khoảng 4,21 công, có thể thấy rằng ngoài chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng đa phần các hộ đều có sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên do hạn chế về diện tích đất canh tác nên nông hộ huyện Châu Thành luôn cố gắng tìm một nghề phụ để cải thiện kinh tế gia đình Đây là một trong những lý do để nghề nuôi gà công nghiệp đã và đang phát triển tại huyện Châu Thành

Các chủ hộ nuôi gà công nghiệp có người còn rất trẻ 33 tuổi và lớn nhất là

70 tuổi, nếu tính trung bình những người nuôi gà khoảng độ tuổi 48,64 tuổi, đây

Trang 30

là những người trong độ tuổi trung bình, có khả năng sản xuất nông nghiệp rất tốt

do đã có quá trình tích luỹ kinh nghiệm Trong đó hộ có số nhân khẩu ít nhất là 2 người, nhiều nhất là 10 người, trung bình mỗi hộ có khoảng 4,31 người Như vậy trung bình các gia đình ở các hộ điều tra có số nhân khẩu khá ít Trong đó số người có đi làm nhận tiền lương tiền công trung bình trong các hộ khoảng 0,54 người, số người tham gia sản xuất nông nghiệp trung bình khoảng 2,12 người và

số người tham gia ngành nghề sản xuất kinh doanh dịch vụ cho gia đình khoảng 0,2 người Như vậy ngoài lao động nông nghiệp, trong các hộ cũng có một bộ phận thành phần tham gia các hoạt động khác trong xã hội

Về kinh nghiệm chăn nuôi, các hộ đã học hỏi kinh nghiệm chăn nuôi từ những người đã và đang chăn nuôi gà công nghiệp, trong đó có hộ mới nuôi sau cúm nên kinh nghiệm chỉ có 1 năm Tuy nhiên cũng có hộ đã nuôi gà công nghiệp từ rất lâu với 18,5 năm kinh nghiệm trong nghề chăn nuôi gà công nghiệp Điều này chứng tỏ một điều nghề nuôi gà công nghiệp lấy trứng đã hình thành từ rất sớm tại huyện Châu Thành Như vậy trung bình số năm kinh nghiệm mỗi hộ chăn nuôi là 7,30 năm kinh nghiệm Đây là một thuận lợi cho các hộ nuôi gà công nghiệp vì qua quá trình chăn nuôi các hộ nuôi đã dần dần tích lũy kinh nghiệm từng bước trở thành những người chăn nuôi với trình độ kiến thức về nghề nghiệp vững vàng, có khả năng ứng phó với những nguy cơ dịch bệnh để hạn chế tối thiểu thiệt hại xảy ra trên đàn gà đang nuôi

Ngoài ra trình độ học vấn là một yếu tố quan trọng trong công việc, nó có ý nghĩa hết sức quan trọng trong mọi ngành sản xuất Trong đó trình độ học vấn của người nuôi gà công nghiệp lấy trứng ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang như sau:

Trang 31

Bảng 6: Trình độ văn hoá của các chủ trại nuôi gà công nghiệp

TRÌNH ĐỘ VĂN HOÁ

SỐ CHỦ TRẠI TƯƠNG ỨNG

VỚI TRÌNH ĐỘ (người)

TỈ LỆ (%)

Nguồn: Điều tra trực tiếp năm 2007 tại huyện Châu Thành

Như vậy các chủ trại nuôi gà công nghiệp lấy trứng của huyện Châu Thành

có trình độ văn hoá khá cao Đây là một thuận lợi rất lớn vì chủ trại sẽ có khả

năng nhanh chóng tiếp thu những kĩ thuật mới trong chăn nuôi

3.4 Giống gà nuôi

Con giống là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng trong chăn nuôi

Nó quyết định năng suất, chất lượng của sản phẩm chăn nuôi Đặc biệt trong nuôi

gà công nghiệp lấy trứng sản phẩm chính là trứng nên người chăn nuôi rất chú

trọng đến con giống trong chăn nuôi Đó là những con giống đảm bảo yêu cầu

đặt ra như sạch bệnh, cho trứng say, phù hợp điều kiện thời tiết tại địa phương

Trước tình hình dịch bệnh phát triển mạnh mẽ trong thời gian quan làm thiệt hại

đến lợi ích người chăn nuôi hiện nay 100% hộ nuôi gà công nghiệp đều quan tâm

đến con giống sạch bệnh Do đó tất cả hộ chăn nuôi đều mua con giống đều mua

con giống từ các trại giống, đa phần nông hộ trong huyện mua con giống từ trại

giống của công ty C.P.Việt Nam (thuộc tập đoàn Charoen Pokphand của Thái

Lan) Hộ nuôi qui mô nhỏ và vừa thông qua các đại lý thức ăn đặt con giống, sau

đó các đại lý này liên hệ với trại giống để đặt con giống trong vòng khoảng 0,5

tháng để cung cấp con giống cho người chăn nuôi còn hộ nuôi qui mô lớn thường

đặt con giống trực tiếp từ trại giống Người chăn nuôi có thể mua con giống hậu

bị hoặc con giống từ lúc gà vài ngày tuổi tùy theo điều kiện nguồn lực cơ sở chăn

nuôi của nông hộ Nông hộ huyện Châu Thành nuôi các giống gà sau:

Trang 32

% so với tổng

hộ nuôi

Số hộ Nuôi

% so với tổng hộ nuôi

Nguồn: Điều tra trực tiếp năm 2007 tại huyện ChâuThành

Đây là những giống nuôi khi hộ nuôi mà theo hộ chăn nuôi hiện nay đánh

giá có những phẩm chất chung sau: ít bệnh, dễ nuôi, cho trứng say, trứng dễ bán,

năng suất đẻ cao Cụ thể như sau:

Bảng 8: Tiêu chí chọn giống nuôi

TIÊU CHÍ CON GIỐNG SỐ Ý KIẾN

% Ý KIẾN CHỌN TIÊU CHÍ NÀY (%)

Nguồn: Điều tra trực tiếp năm 2007 tại huyện Châu Thành

3.5 Các yếu đầu vào trong chăn nuôi

Trong chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng yếu tố đầu vào quan trọng nhất là

con giống Theo sự đánh giá của người chăn nuôi mặc dù để có con giống họ

phải đặt trước khoảng 0,5 tháng nhưng theo họ đó là vấn đề rất dễ dàng vì họ chỉ

cần báo số lượng cần mua thì sẽ có được đủ số lượng con giống họ cần cũng như

chất lượng con giống không có gì lo ngại Đặc biệt nhất con giống trong chăn

nuôi thường không có lẫn gà trống

Ngoài ra thức ăn, thuốc thú y, hay các công cụ dụng cụ phục vụ, trang thiết

bị phục vụ chăn nuôi như máng ăn, máng uống hay núm uống, lồng sắt trong

chăn nuôi cũng rất dễ mua

Trang 33

Tuy nhiên hiện nay giá các yếu tố đầu vào trong chăn nuôi đã tăng khá cao

so với trước đây Có thể so sánh một số yếu tố đầu vào cụ thể như sau để thấy tình hình biến động các yếu tố đầu vào trong chăn nuôi

Bảng 9: So sánh một vài yếu tố đầu vào trong chăn nuôi CHỈ TIÊU

Nguồn: Điều tra trực tiếp năm 2007 tại huyện Châu Thành

Qua đó có thể thấy so với thời điểm cuối năm 2003 đầu năm 2004 các chi phí cố định cũng như biến đổi trong chăn nuôi gà hiện nay đã tăng rất cao từ 10,77% đến 50% Vì thế yêu cầu đặt ra là giá sản phẩm đầu ra phải tăng theo để đảm người chăn nuôi thu được lợi nhuận trong chăn nuôi Có như thể mới đảm bảo sự phát triển bền vững của nghề chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng hiện nay nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp thực phẩm cho con người

3.6 Đặc điểm giống nuôi

Đây là những giống dễ nuôi đặc biệt giống Isabrown là giống nuôi phổ biến tại huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang cũng như ở miền Nam có tỉ lệ nuôi sống cao, thích hợp điều kiện tự nhiên khu vực nuôi, thường bắt đầu cho trứng ở tuần tuổi thứ 19 đến tuần tuổi 78 Tuy nhiên tùy theo đặc điểm thị trường như giá trứng cao trong khi đã trừ các chi phí thức ăn, thuốc thú y, điện, nước… mà vẫn

có lãi người chăn nuôi có thể tiếp tục duy trì đàn gà nuôi cho đến khi họ thấy không còn hiệu quả họ bắt đầu bán gà loại Thông thường thời gian nuôi một đàn

gà thường kéo dài từ 18 đến 24 tháng nếu bắt đầu nuôi từ gà con, hoặc từ 14 đến

15 tháng nếu bắt gà hậu bị về khoảng nuôi từ 10 đến 25 ngày gà có thể cho trứng Trung bình mỗi gà mái đầu kỳ đẻ khoảng 320,6 quả với mỗi quả có khối lượng

bình quân khoảng 20,112g

3.7 Đặc điểm chuồng trại

Trước khi có dịch cúm gia cầm xuất hiện 100% hộ trong huyện nuôi ở hình thức trại hở Chuồng trại dạng thô sơ thường các trại tre lá là chủ yếu, kiểu chuồng dạng sạp tre… Cơ sở vật chất của trại cũng còn thô sơ, ngoài các máng

Trang 34

ăn, máng uống trại chỉ có hệ thống đèn chiếu sáng cho gà và dụng cụ phun xịt nước cho gà tuy nhiên đa số sử dụng thủ công dạng bình xịt tay

Hiện tại các trại nuôi đã được nông hộ đầu tư xây dựng kiên cố trong đó toàn huyện có 100% hộ nuôi theo kiểu trại hở Chuồng nuôi cho gà cho trứng là các dạng lồng: mỗi lồng 1,2m2, gồm 3 ô, mỗi ô có thể nuôi được khoảng 3 đến 4 con Khi nuôi lồng 100% hộ đều sử dụng máng ăn dài treo ngoài lồng, còn máng uống dạng núm, các máng ăn và máng uống sẽ được bố trí theo dạng máng ăn ở trên, máng uống ở dưới Về cơ sở vật chất của trại nuôi hiện tại có 20% trại có sử dụng chụp sưởi ấm, 80% trại nuôi có vỉ hứng trứng, có 68% trại có sử dụng cân, 48% trại có bình đong, 92% trại có hệ thống phun nước, 84% trại có đồ bảo hộ lao động, 100% trại có đèn sưởi, chiếu sáng, 88% trại có hệ thống làm mát bằng quạt, có 32% trại có hệ thống làm mát bằng hơi nước

Các trại nuôi sử dụng các chất độn chuồng gồm các loại như trấu, mạt cưa, vôi… Nhiệt độ trong chuồng thường khoảng 25 – 300 C, ẩm độ khoảng 80% Chế

độ chiếu sáng thay đổi theo tuổi gà

Chuẩn bị chuồng trại trước khi thả gà: trước khi đưa đàn gà mới vào nuôi

hộ nuôi thường làm các công việc như: vệ sinh, tẩy uế chuồng trại và thiết bị chăn nuôi nhằm tiêu diệt mầm bệnh Nếu trại có sử dụng chất độn chuồng, hộ sẽ chuẩn bị chất độn chuồng nhằm đảm bảo có đủ chất độn chuống khi bắt gà về nuôi Bên cạnh đó hộ sẽ sửa chữa tu bổ chuồng trại, thiết bị và điều chỉnh sao cho phù hợp với số lượng gà mới

3.8 Nguồn vốn trong chăn nuôi

Vốn là một yếu tố quan trọng bậc nhất trong mọi quá trình sản xuất kinh doanh Trong mọi hoạt động đều cần có nguồn vốn nhất định tương ứng với loại hình sản xuất cũng như quy mô sản xuất Trong chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng thường cần nguồn vốn ban đầu rất lớn để đầu tư mua con giống, trang thiết

bị, công cụ dụng cụ, xây dựng chuồng trại Theo đó các hộ căn cứ theo quy mô nuôi của mình và số vốn hiện có để vay mượn thêm số tiền cần thiết, đa phần hộ chăn nuôi vay tại Ngân hàng nông nghiệp - Phát triển nông thôn huyện Châu Thành hay tại các chi nhánh của nó Trước dịch cúm có 14/25 hộ có vay vốn Ngân hàng chiếm tỉ lệ 56% Hiện nay có 19/25 hộ vay vốn Ngân hàng chiếm tỉ lệ 76% so với hộ nuôi

Trang 35

Bảng 10: Nguồn vốn nông hộ vay ngân hàng

THỜI

NHỎ NHẤT

LỚN NHẤT

TRUNG BÌNH

Nguồn: Điều tra trực tiếp năm 2007 tại huyện Châu Thành

Do chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng cần nguồn vốn đầu tư ban đầu khá lớn nên nguồn lực vốn của nông hộ thường không đủ để đầu tư ban đầu khi bắt đầu nuôi một đàn gà Do đó các hộ thường vay vốn ngân hàng để hỗ trợ nguồn vốn vốn có ở gia đình Thông thường số tiền vay của hộ ít nhất từ 15 triệu đến

300 triệu, trong đó đa phần hộ sử dụng tất cả nguồn vốn này để chăn nuôi gà, với lãi suất vay ngân hàng từ 1 đến 1,22% tùy theo thời điểm và số tiền vay của nông

hộ Với mỗi con gà vốn đầu tư ban đầu đến lúc cho trứng khoảng 100.000 đến 120.000 đồng Khi gà cho trứng, khoảng 3 đến 5 ngày người chăn nuôi sẽ bán trứng 1 lần Số tiền bán trứng này vừa là doanh thu vừa là vốn đầu tư để người chăn nuôi tiếp tục mua các yếu tố đầu vào như thức ăn hay thuốc thú y cho gà

3.9 Nguyên nhân nuôi

Theo ý kiến các hộ nuôi có 12% ý hiến hộ cho rằng địa phương có khuyến khích nuôi gà công nghiệp lấy trứng nhưng theo họ yếu tố chính để họ chăn nuôi

gà công nghiệp do họ thấy những người thân quen nuôi có hiệu quả kinh tế cao nên họ bắt đầu nuôi Bên cạnh vấn đề ít đất nên sản xuất nông nghiệp không có

cơ hội để cải thiện thu nhập gia đình trong điều kiện giá nông sản không cao và

Trang 36

năng suất bấp bênh, phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu, do đó hộ quyết định nuôi gà công nghiệp Với tính chất loại gà có thể nuôi trong khu vực xung quanh nhà nên có thể tận dụng lao động để chăm sóc đàn gà Khác với các loại gia lấy thịt hay nuôi gia súc khác, việc gà cho trứng trong một thời gian dài là một thuận lợi cho hộ chăn nuôi Vì thu nhập từ nuôi gà công nghiệp lấy trứng phụ thuộc vào

số lượng trứng và giá trứng Do thời gian cho trứng kéo dài nên người chăn nuôi hoàn toàn có thể tin tưởng, hy vọng vào việc tăng giá trứng trong một vài tuần tiếp theo Do đó không tạo tâm lý chán nản cho người chăn nuôi Ngoài sản phẩm chính là trứng, người nuôi gà công nghiệp còn có một nguồn thu phụ khác

đó là chất thải trong chăn nuôi gà, chất thải này có thể tận dụng để làm thức ăn cho cá nuôi hoặc bón cho cây trồng, ngoài ra cũng có thể bán cho những người khác để họ trồng các loại cây ăn quả khác, việc bán chất thải ở họ chăn nuôi của huyện Châu Thành thực hiện rất dễ dàng vì trong huyện và các huyện xung quanh có nhu cầu mua chất thải để bón cho các loại cây ăn quả rất nhiều

3.10 Kỹ thuật trong chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng ở nông hộ huyện Châu Thành

Để bắt đầu một hoạt động sản xuất đòi hỏi phải có kỹ thuật, đặc biệt nuôi gà công nghiệp lấy trứng đòi hỏi phải có kỹ thuật chăm sóc, chăn nuôi đúng đắn để giảm tối thiểu lượng gà hao hụt cũng như những thiệt hại trong chăn nuôi, vì lượng vốn đầu tư trên mỗi gà nuôi khá lớn Trong đó, có 86% hộ nuôi học kinh học kinh nghiệm của những người đã chăn nuôi trước đó Đây là những kinh nghiệm quan trọng vì những hộ nuôi trước đã chăn nuôi nên có kinh nghiệm từ thực tế rất bổ ích Bên cạnh đó có 18% hộ học thêm từ hướng dẫn của cơ quan thú y và cũng có 10% hộ chăn nuôi học thêm kinh nghiệm từ sách báo, các chương trình truyền hình hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi Ngoài ra có 10% hộ học kinh nghiệm chăn nuôi từ nguồn khác, đó là từ công ty thức ăn gia súc, từ tài liệu gửi kèm của trại giống khi bán gà con cho người chăn nuôi, riêng đối với hộ nuôi quy mô lớn, do tính chất sản xuất phức tạp nên hiện tại có 1 trại trong huyện có thuê kỹ sư chăn nuôi thú y để hướng dẫn kĩ thuật cho chăn nuôi cho đàn gà nuôi của mình

Ngoài ra để nâng cao kinh nghiệm trong chăn nuôi, người chăn nuôi cũng thường xuyên tham gia các buổi tập huấn về kỹ thuật chăn nuôi do các công ty

Trang 37

thức ăn kết hợp với đại lý thức ăn cũng như Phòng nông nghiệp tổ chức tập huấn

về kỹ thuật chăn nuôi cho người chăn nuôi Trong đó có 42 hộ chăn nuôi có tham gia tập huấn chiếm 84% trong tổng số hộ nuôi Cán bộ tập huấn là các cán bộ thú

y, nhân viên công ty thuốc thú y, thức ăn gia súc Trong đó mức độ hữu ích về buổi tập huấn được đánh giá như sau:

Nếu đánh giá theo thang điểm 1 là không tốt dần đến 10 là rất tốt: qua buổi tập huấn những người chăn nuôi thu được kiến thức chăn nuôi mới trung bình khoảng 8,81, qua các buổi tập huấn họ có thể biết thêm những phương pháp để chăm sóc đàn gà tốt hơn cũng như những biện pháp phòng chống dịch bệnh khi

mà ngày càng có nhiều loại bệnh mới đang đe dọa đàn gà Riêng về tài liệu tập huấn được người chăn nuôi đánh giá rất cao với mức 10, còn mức độcán bộ dạy

dễ hiểu cũng được đánh giá rất cao ở mức 9,19 Sau những buổi tập huấn, các hộ chăn nuôi sẽ áp dụng kỹ thuật mới tiếp thu được cho đàn gà của mình, với mức

độ áp dụng thực tế khoảng 6,48% Ngoài ra các buổi tập huấn cũng là cơ hội tốt

để những người chăn nuôi gặp gỡ, trao đổi và chia sẻ nghiệm với nhau, nếu đánh giá theo thang điểm được 9,19%

3.11 Tình hình tiêu thụ trứng trong chăn nuôi

Hộ chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng sau khi thu gom trứng khoảng 3 đến

5 ngày sẽ bán trứng một lần Trứng thu được sẽ đựng trong vỉ để trứng không bị

vỡ Những vỉ chứa trứng thường hộ sẽ tự mua ½ số lượng vỉ cần thiết, ½ còn lại

sẽ do đại lý tiêu thụ cung cấp hoặc cũng có trường hợp đại lý thu gom cho mượn toàn bộ số vỉ đựng Hộ chăn nuôi thường bán trứng cho đại lý cung cấp thức ăn, riêng trường hợp hộ nuôi qui mô lớn, số trứng mỗi lần bán rất nhiều nên hộ nuôi thường bán cho những cơ sở thu gom trứng ở thành phố Hồ Chí Minh mà không thông qua các đại lý như các cơ sở chăn nuôi qui mô nhỏ và vừa Việc tiêu thụ trứng rất dễ dàng vì các hộ chăn nuôi đều được các đại lý hoặc nhà thu gom bao tiêu sản phẩm, giá trứng gà sẽ được trả theo thời điểm, dù giá cao hay thấp hộ nuôi vẫn bán được trứng Các hộ nuôi không phải tốn chi phí gì trong trong việc bán trứng vì giá mà nông hộ nhận được đã được cơ sở thu gom trả sau khi đã trừ các chi phí vận chuyển và chi phí kiểm dịch Hiện nay các hộ nuôi nếu bán trứng cho các đại lý thức ăn ở Chợ Gạo, Mỹ Tho hoặc ở Long An tùy theo địa điểm của mình nhằm đảm bảo sự thuận tiện trong tiêu thụ, các đại lý sẽ chở thức ăn

Trang 38

đến hộ chăn nuôi và lấy trứng mang về Thường các hộ nuôi có thể nhận tiền bất

cứ thời điểm nào hộ cần, còn đại lý thu gom mỗi tháng sẽ quyết toán 1 lần về chi phí thức ăn và tiền bán trứng của hộ nuôi Nếu số tiền bán trứng cao hơn chi phí thức ăn, hộ nuôi sẽ nhận phần tiền dư này, ngược lại chi phí đó sẽ được ghi nợ và khấu trừ vào tháng sau, trong đó mỗi bao thức ăn nợ sẽ chịu thêm số tiền 2.000 đồng/bao/tháng Còn hộ nuôi lớn, nhà thu gom trả tiền cho hộ sau khi đã trừ các chi phí vận chuyển là 50 đồng/trứng và chi phí kiểm dịch là 2 đồng/trứng Đa số

hộ nuôi gà đều không ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi với người bao tiêu trứng, mà chỉ có những thỏa thuận bằng lời với nhau Trước khi dịch cúm xảy ra và hiện nay 100% hộ nuôi đều không ký hợp đồng tiêu thụ trứng Còn gà loại sau mỗi lứa sẽ được bán cho các thương lái trong tỉnh và ngoài tỉnh Khi có nhu cầu bán gà loại chủ trại sẽ liên hệ với thương lái, hiện nay 100% thương lái đều trả tiền ngay sau khi bắt gà cho hộ nuôi, còn trước khi có dịch cúm thường khoảng 3 – 7 ngày hộ nuôi mới nhận được tiền gà loại

3.12 Hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng của nông hộ huyện Châu Thành

3.12.1 Một số chỉ tiêu liên quan đến hiệu quả nuôi trước và sau cúm

Trong chăn nuôi gà công ngiệp trước nhất phải có chuồng trại, trang thiết bị phục vụ cho chăn nuôi như máng ăn, núm uống, thau uống, moteur, bình xịt… ngoài ra tùy điều kiện hộ nuôi có thể trang bị thêm một số thiết bị như chụp sưởi

ấm, hệ thống làm mát bằng quạt, hệ thống làm mát bằng hơi nước…

Bảng 11: Chi phí cố định trong chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng

trước và sau cúm

ĐVT: 1000 đồng/con

THỜI ĐIỂM NHỎ NHẤT LỚN NHẤT TRUNG BÌNH

ĐỘ LỆCH CHUẨN

Nguồn: Điều tra trực tiếp năm 2007 tại huyện Châu Thành

Qua bảng số liệu trên có thể thấy chi phí cố định sau cúm đã tăng 68,27%

so với thời điểm trước khi có dịch cúm

Chi phí lao động là một yếu tố quan trọng trong bất kỳ một ngành sản xuất kinh doanh nào Riêng trong ngành nuôi gà công nghiệp lấy trứng đòi hỏi phải có

Trang 39

lao động để chăm sóc gà như đổ thức ăn, nước uống, phun xịt nước cho gà khi nhiệt độ không khí cao, thu nhặt trứng, vệ sinh chuồng trại…Tùy tình hình nguồn lực lao động của hộ nuôi cũng như số lượng gà nuôi hộ nuôi sẽ quyết định thuê lao hay không thuê lao động chăm sóc cho đàn gà của mình

Bảng 12: Chi phí lao động mỗi con trong nuôi gà công nghiệp

ĐVT: đồng/con

THỜI ĐIỂM NHỎ NHẤT LỚN NHẤT TRUNG BÌNH

ĐỘ LỆCH CHUẨN

Nguồn: Điều tra trực tiếp năm 2007 tại huyện Châu Thành

Ngoài ra, các chi phí biến đổi là chi phí lớn nhất trong nuôi gà công nghiệp lấy trứng đặc biệt là chi phí thức ăn chiếm tỉ lệ lớn nhất Bên cạnh đó chi phí con giống, thuốc thú y cũng là những chi phí khá lớn tiếp theo Ngoài ra còn các chi phí khác như chất độn chuồng, lãi vay, mua vỉ đựng trứng …

Trang 40

Bảng 13: Các loại chi phí biến đổi khác trước và sau cúm

ĐVT: đồng/con

CHỈ TIÊU THỜI ĐIỂM NHỎ

NHẤT

LỚN NHẤT

TRUNG BÌNH

ĐỘ LỆCH CHUẨN

Trước cúm 4.500 36.000 20.420,00 12.854,70Con giống

Sau cúm 12.000 72.000 53.784,00 24.307,40Trước cúm 136.360 303.729 234.470,92 44.381,50Thức ăn

Sau cúm 214.200 343.750 263.427,28 43.250,46Trước cúm 2.500 18.000 11.242,56 4.101,54Thuốc thú y

Sau cúm 305.004 450.779 361.280,79 34.594,97

Nguồn: Điều tra trực tiếp năm 2007 tại huyện Châu Thành

Hiện tại mức giá của các yếu tố đầu vào đã tăng cao thời điểm trước khi dịch cúm xảy ra, làm tổng chi phí tính trên mỗi con cũng tăng 21,37% Như vậy

để đảm bảo mang lại lợi nhuận cho người chăn nuôi đòi hỏi các sản phẩm chăn nuôi cũng tăng theo đặc biệt giá trứng vì trứng là phẩm chính trong nuôi gà công nghiệp lấy trứng

Ngày đăng: 11/01/2021, 12:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Văn Dược, Đào Tất Thắng, Đoàn Ngọc Quế, Lê Thị Minh Tuyết, Phạm Thị Phụng, Nguyễn Khắc Hùng, Nguyễn Anh Hoa, Huỳnh Đức Lộng, Nguyễn Bảo Linh, Lê Đình Trực, Huỳnh Lợi, Bùi Văn Trường, Võ Thị Thu Vân (2004). Kế toán quản trị, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán quản trị
Tác giả: Phạm Văn Dược, Đào Tất Thắng, Đoàn Ngọc Quế, Lê Thị Minh Tuyết, Phạm Thị Phụng, Nguyễn Khắc Hùng, Nguyễn Anh Hoa, Huỳnh Đức Lộng, Nguyễn Bảo Linh, Lê Đình Trực, Huỳnh Lợi, Bùi Văn Trường, Võ Thị Thu Vân
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2004
2. Phan Văn Kiệt (2005), “Chuyên nghiệp hóa chăn nuôi gia cầm”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn (số 6), 12-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên nghiệp hóa chăn nuôi gia cầm”, "Thời báo Kinh tế Sài Gòn
Tác giả: Phan Văn Kiệt
Năm: 2005
3. Nguyễn Phú Son, Huỳnh Trường Huy, Trần Thụy Ái Đông (2004), Giáo trình kinh tế sản xuất, Trường đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế sản xuất
Tác giả: Nguyễn Phú Son, Huỳnh Trường Huy, Trần Thụy Ái Đông
Năm: 2004
4. Trần Võ Hùng Sơn, Lê Ngọc Uyển, Trần Nguyễn Minh Ái, Phạm Khánh Nam, Phùng Thanh Bình, Trương Đăng Thụy (2003), Nhập môn phân tích lợi ích – chi phí, NXB Đại học quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn phân tích lợi ích – chi phí
Tác giả: Trần Võ Hùng Sơn, Lê Ngọc Uyển, Trần Nguyễn Minh Ái, Phạm Khánh Nam, Phùng Thanh Bình, Trương Đăng Thụy
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia TP.HCM
Năm: 2003
5. Vũ Đình Thắng (2006). Giáo trình kinh tế nông nghiệp, NXB Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Đình Thắng (2006). "Giáo trình kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Vũ Đình Thắng
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội
Năm: 2006
6. Võ Bá Thọ (1996), Kỹ thuật nuôi gà công nghiệp, NXB Nông nghiệp TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi gà công nghiệp
Tác giả: Võ Bá Thọ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp TP.HCM
Năm: 1996
7. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2002), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
8. Vũ Quang Việt (2004), “Lạm phát ở Việt Nam”, Thời báo kinh tế Sài Gòn (số 33), 42 - 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạm phát ở Việt Nam”, "Thời báo kinh tế Sài Gòn
Tác giả: Vũ Quang Việt
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w