- Giai đoạn các chủ thể quan hệ pháp luật thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình : Đây chính là giai đoạn quan trọng và chủ yếu nhất để đưa các quy phạm pháp lu ật vào đời sống thông[r]
Trang 1- Có thái độ tôn trọng pháp luật ,
- Ủng hộ những hành vi thực hiện đúng pháp luật và phê phán những hành vi làm trái quy
định pháp luật
II N ỘI DUNG :
1 Tr ọng tâm:
- Thực hiện pháp luật:
+ Khái niệm thực hiện pháp luật
+ Các giai đoạn, các hình thức thực hiện pháp luật mà chủ thể pháp luật tiến hành
để đưa pháp luật vào đời sống
Trang 2a) Khái ni ệm thực hiện pháp luật, các hình thức và các giai đoạn thực hiện pháp
lu ật
Th ực hiện pháp luật là giai đoạn tiếp theo trong đời sống của một văn bản pháp
luật sau khi được ban hành Nếu như việc xây dựng và ban hành một quy phạm pháp luật hay cả một đạo luật là quá trình mơ hình hĩa các quy tắc xử sự cĩ tính đại diện cho những hành vi phổ biến trong xã hội theo hướng phù hợp với ý chí
của Nhà nước thì thực hiện pháp luật là quá trình cĩ chiều hướng ngược lại, tức là các mơ hình xử sự đã được quy phạm hố bằng quyền lực Nhà nước để áp trở lại như khuơn mẫu, như thước đo các hành vi cụ thể của những cá nhân, tổ chức khi
họ tham gia vào các quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật Vì vậy, cĩ thể coi xây dựng pháp luật là quá trình đưa đời sống vào pháp luật cịn thực hiện pháp
luật là đưa pháp luật trở lại với đời sống
- Các hình thức thực hiện pháp luật
Hành vi hợp pháp của cá nhân, tổ chức rất đa dạng, được thực hiện qua nhiều hình thức Trong các tài liệu khoa học pháp lí hiện nay thường nĩi tới bốn hình
thức thực hiện pháp luật, cụ thể là:
S ử dụng pháp luật: các cá nhân, tổ chức chủ động sử dụng các quyền, tự do của
mình, khơng phụ thuộc vào ý chí của người khác Đây là hình thức thực hiện các quy phạm pháp luật quy định các quyền tự do, dân chủ của cơng dân, các quyền
của tổ chức Ví dụ: cơng dân chủ động sử dụng quyền tự do kinh doanh để tổ chức làm ăn theo quy định của pháp luật
Thi hành pháp lu ật: các cá nhân, tổ chức bằng hành động cụ thể chủ động thực
hiện các nghĩa vụ ( những việc phải làm) theo quy định của pháp luật Đây là hình
thức thực hiện các quy phạm pháp luật quy định các nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức
Ví dụ: cá nhân, tổ chức kinh doanh chủ động thực hiện nghĩa vụ đĩng thuế theo quy định của pháp luật
Tuân th ủ pháp luật: các cá nhân, tổ chức kiềm chế, khơng làm những việc vị
pháp luật cấm Đây là hình thức thực hiện các quy phạm pháp luật cĩ tính chất
cấm đốn Ví dụ: cá nhân, tổ chức khơng kinh doanh những ngành nghề, mặt hàng
bị cấm theo quy định của pháp luật như khơng sản xuất, buơn bán ma tuý, chất gây nghiện thuộc danh mục cấm…
Aùp d ụng pháp luật: các cơ quan, cơng chức nhà nước cĩ thẩm quyền căn cứ vào
pháp luật để ra các quyết định liên quan tới việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ cụ
thể của cá nhân, tổ chức Đây là hình thức thực hiện các quy phạm pháp luật quy định phải cĩ sự tham gia, can thiệp của Nhà nước trong quá trình cá nhân, tổ chức
thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình Ví dụ: cơ quan kế hoạch - đầu tư các cấp
Trang 3phải thực hiện thủ tục đăng kí kinh doanh để họ có thể thực hiện quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật
Trong bốn hình thức thực hiện pháp luật trên thì hình thức sử dụng pháp luật khác với các hình thức con lại ở chỗ: chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thưcï hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình, chứ không
bị ép buộc phải thực hiện
Bản thân chủ thể (cá nhân, tổ chức) thực hiện pháp luật có vai trò rất quan trọng
Giữa các hình thức thực hiện pháp luật có mối liên hệ lôgic phụ thuộc vào sự nhận
thức và hành động của các chủ thể Ví dụ, nếu cá nhân, tổ chức không tự giác thi hành hay tuân thủ pháp luật (tức là không tự giác thực hiện thực hiện các nghĩa vụ, không kiềm chế để không làm những việc bị cấm) thì cơ quan nhà nước sẽ phải áp
dụng các biện pháp can thiệp như xử lí vi phạm, buộc các cá nhân, tổ chức phải
thực hiện đúng các qui định của pháp luật hoặc phải gánh chịu những hậu quả bất
lợivì những vi phạm đó Như vậy, từ những hình thức thực hiện pháp luật không
cần sự tham gia của Nhà nước có thể sẽ dẫn đến những hình thức áp dụng pháp
luật – Nhà nước phải can thiệp để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm
chỉnh Đó chính là đặc trưng về tính quyền lực, tính bắt buộc chung của pháp luật
thể hiện trong quá trình thực hiện pháp luật
-Các giai đoạn thực hiện pháp luật
Thực hiện pháp luật, như trên đã phân tích, là quá trình đưa pháp lụât vào cuộc
sống Qúa trình đó gồm nhiều giai đoạn với sự tham gia của các chủ thể khác nhau (cá nhân, tổ chức bao gồm cả cơ quan nhà nước) và đựơc thực hiện bằng những hình thức khác nhau thông qua các quan hệ pháp luật cụ thể
-Giai đoạn xác lập quan hệ pháp luật
Quan hệ pháp luật là các quan hệ xã hội đựơc điều chỉnh bằng pháp luật Một quan hệ pháp luật được xác lập, thay đổi hay chấm dứt phụ thuộc vào các yếu tố như:
+ Ph ải có quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ xã hội đó ( điều kiện tiên
quyết);
+ Các cá nhân, t ổ chức tham gia quan hệ phải có năng lực chủ thể Năng lực chủ
thể gồm năng lực pháp luật ( khả năng của cá nhân, tổ chức có quyền hoặc nghĩa
vụ theo quy định của Nhà nứơc) và năng lực hành vi (khả năng của cá nhân tổ
chức bằng hành vi của chính mình để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lí)
Trang 4+ Ph ải có sự kiện pháp lí, tức là phải có những sự kiện thực tế mà theo quy định
của pháp luật gắn với sự xác lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật nhất định Sự kiện pháp lí có thể là sự kiện tự nhiên (ví dụ: sự kiện một con người đựơc sinh ra là sự kiện pháp lí vì nó gắn với việc xuất hiện các quan hệ pháp luật mới như quan cha mẹ – con, ông, bà - cháu, quan hệ khai sinh giữa cha mẹ đứa trẻ với
cơ quan nhà nước…); cũng có thể là sự kiện xảy ra theo ý chí của cá nhân, tổ chức (ví dụ: sự kiện đăng ký kết hôn xảy ra theo ý chí của các bên có nguyên vọng, mong muốn kết hôn; sự kiện này làm phát sinh quan hệ pháp luật hôn nhân giữa
sử dụng quyền của mình theo qui định của pháp luật để cùng nhau thoả thuận về
việc làm, ký kết hợp đồng lao động, xác lập quan hệ lao động giữa các bên);
+ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc áp dụng pháp luật để xác lập quan hệ giữa cá nhân, tổ chức với Nhà nước hoặc giữa cá nhân, tổ chức với nhau
Ví dụ: Uỷ ban nhân dân xã, phường xác lập quan hệ pháp luật hôn nhân giữa hai người nam, nữ có nguyện vọng kết hôn bằng việc cấp giấy công nhận đăng kí kết hôn Đây là kết quả của quá trình áp dụng pháp luật của Uỷ ban nhân dân xã, phường sau khi đã tiến hành các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật như
kiểm tra giấy tờ liên quan đến nhân thân của người nộp giấy đăng kí kết hôn, kiểm tra không có khiếu nại, tố cáo về việc vi phạm điều kiện kết hôn…
- Giai đoạn các chủ thể quan hệ pháp luật thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình: Đây chính là giai đoạn quan trọng và chủ yếu nhất để đưa các quy phạm pháp luật vào đời sống thông qua các hành vi hợp pháp của các chủ thể Trong rất nhiều trường hợp thực tế, nếu các chủ thể thực hiện đầy đủ, đúng đắn các quyền, nghĩa vụ của mình thì đây cũng là giai đoạn kết thúc của quá trình thực hiện pháp
luật
- Giai đoạn xử lí vi phạm pháp luật, giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể của quan h ệ pháp luật, đây không phải là giai đoạn bắt buộc phải có trong mọi quá
trình thực hiện pháp luật mà chỉ trong những trường hợp của các chủ thể không
thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình hoặc khi phát sinh những sự kiện pháp lí nhất định Để đảm bảo cho pháp luật đựơc thực hiện đúng, để khôi phục các quyền, tự do bị xâm phạm, các chủ thể của quan hệ pháp luật có thể sử dụng nhiều biện pháp, hình thức do pháp luật quy định để giải quyết như thương lượng, dàn xếp với nhau; thông qua người thứ ba để hoà giải các tranh chấp theo phương
Trang 5thức thoả thuận; yêu cầu cơ quan nhà nứơc có thẩm quyền giải quyết Trong trường hợp cuối cùng, khi nhà nứơc can thiệp cũng tức là bắt đầu một quá trình
thực hiện pháp luật mới – quá trình áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nứơc có
thực hiện hoặc pháp luật bị vi phạm
Vi ph ạm pháp luật có các dấu hiệu cơ bản:
- Là hành vi trái pháp luật, hành vi xác định của con người cụ thể (nếu là tổ chức
vi phạm pháp luật thì cũng phải thông qua hành vi của người đại diện cho tổ chức đó)
- Năng lực trách nhiệm pháp lí của chủ thể hành vi trái pháp luật
- Lỗi của chủ thể hành vi trái pháp luật Lỗi thể hiện thái độ của chủ quan của
chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra
Lỗi có thể là lỗi cố ý ( chủ thể nhận thức rõ tính nguy hiểm của hành vi và hậu quả
do hành vi đó gây ra nhưng mong muốn hoặc cố ý để cho hậu quả xảy ra); hoặc là
lỗi vô ý do quá tự tin ( nên không ngăn chặn được hậu quả xảy ra) lỗi vô ý do cẩu
thả ( chủ thể, do cẩu thả nên không nhận thức được hậu quả nguy hiểm của hành vi
mặc dù có thể và cần phải nhận thức được)
Nếu thiếu một trong ba dấu hiệu cơ bản này thì sẽ không có vi phạm pháp luật
Ví dụ: Nếu một người mới chỉ có suy nghĩ chống đối hay lẫn tránh pháp luật nhưng chưa thể hiện thành hành vi thì chưa thể bị coi là vi phạm pháp luật Một người có hành vi trái pháp luật nhưng không có năng lực trách nhiệm pháp lí ( Ví
dụ: Một người bị mất trí ) thì hành vi đó cũng không phải là vi phạm pháp luật
Thậm chí, nếu một người có đầy đủ năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện hành vi trái pháp luật nhưng không có lỗi thì trong đại đa số trường hợp hành vi đó cũng
vẫn không phải là vi phạm pháp luật Ví dụ: Người gây thiệt hại về tài sản, sức khoẻ cho người khác do phải phòng vệ chính đáng hoặc trong tình thế cấp thiết ( thiên tai, hoả hoạn)
Trách nhi ệm pháp lí được xem xét dưới hai góc độ:
Trang 6- Là trách nhiệm, nghĩa vụ được giao cho cá nhân, tổ chức thực hiện Đây là nghĩa tích cực, ví dụ: “ Các cơ quan văn hoá, thông tin đại chúng có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến rộng rãi ở trong nước và nước ngoài các giá trị di sản văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, góp phần nâng cao ý thức bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá trong nhân dân” ( Điều 11, Luật Di sản văn hoá)
- Là trách nhiệm của chủ thể vi phạm pháp luật phải thực hiện các nghĩa vụ và gánh chịu hậu quả bất lợi do bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước
Trong bài này, trách nhiệm pháp lí được đề cập tới theo góc độ thứ hai, trách nhiệm pháp lí gắn liền với vi phạm pháp luật và các biện pháp cưỡng chế nhà nước
M ục đích của việc xác lập ( thừơng gọi là truy cứu) trách nhiệm pháp lí đối với
chủ thể vi phạm pháp luật là để nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển đúng hướng điều chỉnh của pháp luật, góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, giáo dục, cải tạo bản thân người vi phạm
Tu ỳ theo tính chất của vi phạm pháp luật thường xác định các loại trách nhiệm
pháp lí khác nhau:
Trách nhi ệm hình sự ( đối với người có hành vi phạm tội) Phạm tội là hành vi vi
phạm pháp luật nghiêm trọng nhất nên trách nhiệm hình sự cũng là trách nhiệm nghiêm khắc nhất và chỉ do một cơ quan duy nhất xem xét, quyết định áp dụng, đó
Trách nhi ệm kỉ luật là trách nhiệm do cơ quan, tổ chức áp dụng đối với với cán
bộ, công chức, viên chức của mình do vi phạm các quy định về kỉ luật lao động và công vụ nhà nước với các hình thức: cảnh cáo, hạ bậc lương, chuyển công tác khác, buộc thôi việc…
III PHƯƠNG PHÁP :
Thuyết trình, vấn đáp, thảo luận nhóm, tạo tình huống, trực quan,…
IV PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:
- Tranh, ảnh, sơ đồ, giấy khổ to
Trang 7thể làm ra pháp luật và dùng pháp luật làm phương tiện quản lí xã hội sẽ làm gì để bảo đảm quá trình đưa pháp luật vào đời sống xã hội đạt hiệu quả và xử lí các vi phạm pháp luật nảy sinh như thế nào?Đó là nộidung bài 2
Ph ần làm việc của Thầy và Trò N ội dung chính của bài học
HS nêu được các nội dung cơ bản:
- Khái niệm thực hiện pháp luật
- Thực hiện pháp luật là quá trình thường xuyên
trong cuộc sống của các cá nhân, tổ chức, cơ
Khái ni ệm thực hiện pháp luật
GV yêu cầu HS đọc 2 tình huống ở đoạn Cùng
1 Khái ni ệm , các hình thức và các giai đoạn thực hiện pháp luật
a) Khái ni ệm thực hiện pháp luật
Th ực hiện pháp luật là quá trình hoạt động
có m ục đích làm cho những quy định của
Trang 8quan sát trong SGK, sau đó hướng dẫn HS khai
thác vấn đề bằng cách đưa ra các câu hỏi sau:
- Trong tình huống 1: Chi tiết nào trong tình
huống thể hiện hành động thực hiện Luật Giao
thông đường bộ một cáh có ý thức (tự giác), có
mục đích? Sự tự giác đã đem lại tác dụng như
thực hiện đúng pháp luật cho 3 thanh niên)
Từ những câu trả lời của HS, GV tổng kết và đi
đến khái niệm trong SGK
GV giảng mở rộng:
Thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp của cá
nhân, cơ quan, tổ chức Vậy, Thế nào là hành vi
hợp pháp ?
Hành vi hợp pháp là hành vi không trái, không
vượt quá phạm vi các quy định của pháp luật
mà phù hợp với các quy định của pháp luật, có
lợi cho Nhà nước, xã hội và công dân :
-Làm những việc mà pháp luật cho phép làm
-Làm những việc mà pháp luật quy định phải
làm
-Không làm những việc mà pháp luật cấm
Trong hệ thống pháp luật của quốc gia, có rất
nhiều loại quy phạm pháp luật khác nhau, với
Trang 9không làm những điều mà pháp luật cấm
Các hình th ức thực hiện pháp luật
GV kẻ bảng: Các hình thức thực hiện pháp luật
Chia lớp thành 4 nhóm, đánh số thứ tự và phân
công nhiệm vụ từng nhóm tương ứng với thứ tự
các hình thức thực hiện pháp luật trong SGK
Yêu cầu mỗi nhóm trong thời gian thảo luận 3
phút phải nêu ra nội dung và ví dụ minh hoạ
cho hình thức thực hiện mà mình được giao
Sau đó, lần lượt các nhóm lên điền vào bảng do
Ví dụ : Công dân A gửi đơn khiếu nại Giám
đốc Công ty khi bị kỷ luật cảnh cáo nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi
phạm
Trong trường hợp này, công dân A đã sử dụng
quyền khiếu nại của mình theo quy định của
pháp luật, tức là công dân A sử dụng pháp luật
Đặc điểm của hình thức sử dụng pháp luật :
Chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không
thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo
ý chí của mình mà không bị ép buộc phải thực
hiện
+ Thi hành pháp luật (xử sự tích cực)
Ví dụ : Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ xây
dựng hệ thống kết cấu hạ tầng thu gom và xử lý
chất thải theo tiêu chuẩn môi trường Đây là
việc làm của cơ sở sản xuất, kinh doanh chủ
động thực hiện công việc mà mình phải làm
theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật Bảo vệ
b) Các hình th ức thực hiện pháp luật
- S ử dụng pháp luật : Các cá nhân, tổ chức sử
dụng đúng đắn các quyền của mình , làm
những gì mà pháp luật cho phép làm
Trang 10môi trường năm 2005 Thông qua việc làm này,
cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã thi hành
pháp luật về bảo vệ môi trường
+ Tuân thủ pháp luật (xử sự thụ động)
Ví dụ : Không tự tiện chặt cây phá rừng ; không
săn bắt động vật quý hiếm ; không khai thác,
đánh bắt cá ở sông, ở biển bằng phương tiện,
công cụ có tính huỷ diệt (ví dụ : mìn, chất
nổ, )
+ Áp dụng pháp luật
Thứ nhất, cơ quan, công chức nhà nước có
thẩm quyền ban hành các quyết định cụ thể
Ví dụ : Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết
định về điều chuyển cán bộ từ Sở Giáo dục và
Đào tạo sang Sở Văn hoá - Thông tin Trong
trường hợp này, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh
đã áp dụng pháp luật về cán bộ, công chức
Thứ hai, cơ quan nhà nước ra quyết định xử lý
người vi phạm pháp luật hoặc giải quyết tranh
chấp giữa các cá nhân, tổ chức
Ví dụ : Toà án ra quyết định tuyên phạt cải tạo
không giam giữ và yêu cầu bồi thường thiệt hại
người đốt rừng, phá rừng trái phép ; Cảnh sát
giao thông xử phạt người không đội mũ bảo
hiểm là 100.000 đồng
Để khắc sâu kiến thức, phát triển tư duy HS,
GV yêu cầu các em phân tích điểm giống nhau
và khác nhau giữa 4 hình thức thực hiện pháp
luật
GV lưu ý:
+ Giống nhau: Đều là những hoạt động có mục
đích nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống, trở
- Áp d ụng pháp luật : Các cơ quan, công chức
nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào pháp luật
để ra các quyết định làm phát sinh, chấm dứt
hoặc thay đổi việc thực hiện các quyền , nghĩa
vụ cụ thể của cá nhân, tổ chức
Trang 11+ Khác nhau: Trong hình thức sử dụng pháp
luật thì chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình chứ không bị ép buộc
xe gắn máy và có thể đi xe đạp (không bắt buộc
phải đi xe gắn máy)
Yêu cầu quan trọng của phần này là HS phải
thấy rõ được rằng pháp luật có được thực hiện hay không, pháp luật có đi vào cuộc sống hay không trước tiên và chủ yếu là do mỗi cá nhân,
tổ chức có chủ động, tự giác thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật hay không
Ti ết 2:
Các giai đoạn thực hiện pháp luật
GV đặt câu hỏi:
- Theo em, quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng
xuất hiện khi nào?
HS trả lời
GV nhận xét, kết luận: Quyền và nghĩa vụ của
vợ và chồng chỉ xuất hiện sau khi quan hệ hôn nhân được xác lập Khi ấy, xuất hiện quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng (giai đoạn 1 của quá trình thực hiện pháp luật)
Trang 12GV nhận xét, kết luận: Sau khi quan hệ hôn
nhân được xác lập, vợ chồng thực hiện quyền
và nghĩa vụ của mình (giai đoạn 2 của quá trình
thực hiện pháp luật) theo quy định tại chương
III – Quan hệ giữa vợ và chồng của Luật Hôn
nhân và Gia đình năm 2000
GV lưu ý:
Hai giai đoạn của quá trình thực hiện pháp luật
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: giai đoạn 1
là tiền đề của giai đoạn 2, giai đoạn 2 là hệ quả
phát sinh tất yếu từ giai đoạn 1 Quá trình thực
hiện pháp luật bắt buộc phải trải qua hai giai
đoạn Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp còn
xuất hiện giai đoạn 3 - giai đoạn không bắt
buộc Nó chỉ xuất hiện khi cá nhân, tổ chức vi
phạm pháp luật và cơ quan nhà nước có thẩm
quyền sẽ can thiệp bằng cách ra quyết định
GV sử dụng ví dụ trong SGK và yêu cầu HS
chỉ ra biểu hiện cụ thể của từng dấu hiệu của
hành vi vi phạm trong ví dụ đó
c) Các giai đoạn thực hiện pháp luật
- Giai đoạn 1 : Giữa các cá nhân, tổ chức hình thành m ột quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh (gọi là quan hệ pháp luật)
- Giai đoạn 2 : Cá nhân, tổ chức tham gia quan h ệ pháp luật thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
Trang 13GV giảng:
Các dấu hiệu vi phạm pháp luật:
°Thứ nhất: Là hành vi trái pháp luật
+ Hành động cụ thể: Bạn A chưa đến tuổi được
phép tự điều khiển xe mô tô mà đã lái xe đi trên
đường và hai bố con bạn A đều đi xe ngược
chiều quy định; Cơ sở sản xuất, kinh doanh thải
chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi
trường vào đất, nguồn nước ; nhập cảnh, quá
cảnh động vật, thực vật chưa qua kiểm dịch;…
+ Không hành động: Người kinh doanh không
nộp thuế cho Nhà nước (trái với pháp luật về
thuế); Người có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật không giải quyết đơn thư khiếu nại, tố
cáo của công dân ;
°Thứ hai: Do người có năng lực trách nhiệm
pháp lí thực hiện
GV có thể yêu cầu HS giải thích rõ: Thế nào là
năng lực trách nhiệm pháp lí? Những người nào
đủ và không đủ năng lực trách nhiệm pháp lí ?
GV giảng:
Năng lực trách nhiệm pháp lý : Khả năng của
người đã đạt độ tuổi nhất định theo quy định
của pháp luật, có thể nhận thức và điều khiển
được hành vi của mình, tự quyết định cách xử
sự cho đúng pháp luật và chịu trách nhiệm độc
lập về hành vi của mình
Năng lực trách nhiệm pháp lý của con người
phụ thuộc vào độ tuổi, tình trạng sức khoẻ - tâm
lý (có bị bệnh về tâm lý làm mất hoặc hạn chế
khả năng nhận thức về hành vi của mình hay
không) Có những hành vi mặc dù là trái pháp
luật nhưng do một người mất khả năng nhận
thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của
mình thực hiện thì không bị coi là vi phạm
những việc không được làm theo quy định
của pháp luật hoặc không hành động – không làm những việc phải làm theo quy định của pháp luật
+ Hành vi đó xâm phạm, gây thiệt hại cho