Trung tâm Khuyến nông tiếp tục phối hợp với phòng kinh tế huyện tổ chức các lớp tập huấn về chăn nuôi để chuyển giao kiến thức về kĩ thuật nuôi, biện pháp phòng trị bệnh giúp người ch[r]
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
1.1.1 Sự cần thiết nghiên cứu 1
1.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Các giả thuyết cần kiểm định và câu hỏi nghiên cứu 3
1.3.1 Các giả thuyết cần kiểm định 3
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Không gian 3
1.4.2 Thời gian 4
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 4
1.5 Lược khảo tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu 4
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
2.1 Phương pháp luận 6
2.1.1 Lý thuyết về nông hộ 6
2.1.2 Khái niệm gà công nghiệp 8
2.1.3 Lý thuyết về hiệu quả sản xuất 9
2.1.4 Một số chỉ tiêu kinh tế 10
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chăn nuôi gà thịt 11
2.2 Phương pháp nghiên cứu 13
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 13
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 13
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 14
Trang 2Chương 3: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 17
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre 18
3.1.1 Vị trí địa lí 18
3.1.2 Địa hình 18
3.1.3 Đất đai 18
3.1.4 Khí hậu, thủy văn 18
3.2 Tình hình kinh tế xã hội của huyện Châu Thành 19
3.2.1 Một số lĩnh vực về xã hội và cơ sở hạ tầng 19
3.2.2 Tình hình kinh tế của địa phương 20
Chương 4: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CHĂN NUÔI GÀ THỊT CÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE 24
4.1 Tình hình chung của các hộ nuôi gà thịt công nghiệp 24
4.1.1 Tổng quát về mẫu điều tra 24
4.1.2 Tình hình chung của các hộ nuôi gà thịt công nghiệp 24
4.2 Phân tích hiệu quả chăn nuôi của hộ nuôi gà thịt công nghiệp 30
4.2.1 Phân tích chi phí nuôi gà 30
4.2.2 Phân tích các chỉ tiêu kinh tế 34
4.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi 36
4.3.1 Phân tích hàm thu nhập 36
4.3.2 Phân tích ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm đến hiệu quả chăn nuôi 39
Chương 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHĂN NUÔI 42
5.1 Những tồn tại, khó khăn 42
5.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả chăn nuôi 42
5.2.1 Con giống 43
5.2.2 Thức ăn 43
5.2.3 Kĩ thuật nuôi 44
5.2.4 Công tác thú y 44
5.2.5 Vốn 45
5.2.6 Thi trường tiêu thụ 45
Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
Trang 36.1 Kết luận 46 6.2 Kiến nghị 47
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Châu Thành 17
Hình 2: Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp 21
Hình 3: Cơ cấu thu nhập của hộ năm 2006 29
Hình 4: Giá bán gà thịt từ năm 2005 – 2007 30
Hình 5: Tỷ trọng các chi phí trong chăn nuôi gà ……… 33
Trang 5DANH MỤC BIỂU BẢNG
Bảng 1: Tình hình chăn nuôi tại Huyện Châu Thành 22
Bảng 2: Số năm tham gia ngành 24
Bảng 3: Tình hình cơ bản của các hộ nuôi gà 25
Bảng 4: Trình độ học vấn của hộ chăn nuôi 25
Bảng 5: Lí do chọn nuôi gà 25
Bảng 6: Tình hình chăn nuôi gà năm 2006 26
Bảng 7: Tỉ lệ tập trung của hộ nuôi gà 27
Bảng 8 : Chi phí nuôi gà lứa cuối năm 2006 31
Bảng 9 : Tỷ trọng chi phí nuôi gà lứa cuối năm 2006 32
Bảng 10: Chi phí nuôi gà lứa cuối năm 2006 34
Bảng 11: Các chỉ tiêu kinh tế lứa cuối năm 2006 35
Bảng 12: Kết quả mô hình hàm thu nhập 37
Bảng 13: Các chỉ tiêu kinh tế khi có dịch cúm 40
Trang 6TÓM TẮT
Chương 1: Trình bày về sự cần thiết nghiên cứu, căn cứ khoa học và thưc tiễn của ngành gà công nghiệp ở nước ta, xác định mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đồng thời lược khảo các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu Chương 2: Trình bày lý thuyết về nông hộ, lý thuyết về hiệu quả sản xuất, một số chỉ tiêu kinh tế đánh giá hiệu quả chăn nuôi, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động chăn nuôi Đồng thời trình bày phương pháp thu thập số liệu từ các nông hộ chăn nuôi gà công nghiệp, các cơ quan ban ngành liên quan; trình bày phương pháp phân tích để làm rõ các mục tiêu nghiên cứu
Chương 3: Trình bày tổng quan về địa bàn nghiên cứu, bao gồm khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội của huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre Chương 4: Phân tích tình chung của các hộ chăn nuôi gà thịt công nghiệp trên địa bàn, phân tích chi phí nuôi gà, phân tích các chỉ tiêu kinh tế phản ánh hiệu quả chăn nuôi, đồng thời phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ nuôi gà, phân tích ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm đến hiệu quả chăn nuôi
Chương 5: Trình bày những tồn tại, khó khăn của các nông hộ nuôi gà công nghiệp trên địa bàn, trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi
Chương 6: Trình bày tóm tắt các kết quả nghiên cứu và một số kiến nghị liên quan đến việc thực hiện các giải pháp phát triển ngành chăn nuôi gà công nghiệp tại huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre
Trang 7CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Sự cần thiết nghiên cứu
Việt Nam là một quốc gia phát triển từ nền kinh tế nông nghiệp Trong những năm qua, chăn nuôi đã trở thành một trong hai ngành sản xuất chính của nông nghiệp Trong chăn nuôi thì chăn nuôi gà là nghề truyền thống của nhân dân ta Nhiều thập kỉ trước đây nghề này chưa mang tính chất hàng hoá, người nông dân nuôi gà để giải quyết nguồn lao động phụ, những người già yếu,… tận dụng sản phẩm thừa, rơi vãi của trồng trọt đồng thời có thêm nguồn thực phẩm cải thiện bữa
ăn hàng ngày Thịt gà là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, thơm ngon và dễ chế biến, nên so với các lọai thịt khác thì thịt gà được ưa chuộng hơn Trứng gà cũng là thực phẩm được nhiều người ưa thích Chất thải của gà dùng làm phân bón, thức ăn nuôi cá Nghề nuôi gà có ưu điểm không cần nhiều vốn để đầu tư giống và thức ăn, song thu hồi vốn nhanh Nghề chăn nuôi gà từng bước được mở rộng từ mô hình sản xuất giản đơn ban đầu Trên cơ sở nghiên cứu và phát triển của khoa học kĩ thuật ngày càng có nhiều giống gà nuôi theo nhiều hình thức khác nhau Cùng với những tiến bộ trong lĩnh vực di truyền, hóa sinh, dinh dưỡng… đã góp phần phát triển chăn nuôi gà mang lại hiệu quả kinh tế cao
Trong những năm gần đây, cúm gia cầm bùng phát và trở thành đại dịch có tác động tiêu cực đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp trong nước, khu vực và thế giới Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, bà con nông dân đang gặp rất nhiều khó khăn về đời sống do gia cầm và thủy cầm không tiêu thụ được, do bị tiêu hủy không phù hợp gây tác động xấu đến tình hình kinh tế xã hội và môi trường; nhiều nông dân bị mất trắng và lâm vào cùng cực Trong khi đó chính quyền địa phương và các nhà hoạch định chính sách chưa đưa ra được giải pháp hữu hiệu nhằm khắc phục hậu quả do dịch cúm gia cầm gây ra vì thiếu luận cứ khoa học kinh tế Điều đó làm ảnh hưởng đến tâm lí của các hộ nuôi gia cầm, thủy cầm không dám mở rộng qui mô sản xuất, thậm chí còn thu hẹp qui mô sản xuất hay chuyển đổi mô hình sản xuất Vậy dịch
Trang 8cúm gia cầm đã ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi của nông hộ nuôi gia cầm như thế nào? Đây là lí do em chọn đề tài “Phân tích hiệu quả chăn nuôi của hộ nuôi gà thịt công nghiệp tại huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre”
1.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn
Ngành chăn nuôi gà ở nước ta có từ xa xưa, và cho đến ngày nay vẫn còn mang tính cá thể, với qui mô đa số là sản xuất nhỏ trong các hộ gia đình để đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong gia đình và tăng thu nhập Phương thức chăn nuôi chủ yếu, đặc biệt ở vùng nông thôn vẫn là chăn nuôi thả để tận dụng thức ăn sẵn có trong thiên nhiên, thực phẩm dư thừa trong sinh hoạt, cùng những kinh nghiệm chăn nuôi cổ truyền với mức đầu tư thấp Vì vậy, sản lượng thịt trứng gà sản xuất hàng năm tính bình quân trên đầu người vẫn còn thấp Từ giữa thế kỉ 20 trở lại đây, nhờ có những thành tựu khoa học phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực như di truyền, hóa sinh, dinh dưỡng, phòng bệnh, quản lí…đã được ứng dụng có hiệu quả vào thực tế ngành chăn nuôi gà ở nước ta
Trước năm 1975, ở một số lớn thành phố lớn chỉ mới hình thành những xí nghiệp nhỏ và áp dụng phương pháp chăn nuôi theo lối công nghiệp Những sản phẩm làm ra chủ yếu phục vụ cho tiêu thụ nội địa và một phần rất nhỏ cho xuất khẩu Ngành chăn nuôi gà thực sự phát triển với qui mô vừa và tương đối lớn trong những năm gần đây, bằng việc hợp tác với những công ty gia cầm lớn trong khu vực
để đẩy mạnh sản xuất, phục vụ nhu cầu nội địa và xuất khẩu Bên cạnh đó chúng ta cũng tiếp thu những phương pháp chăn nuôi tiến bộ, sử dụng các loại thức ăn công nghiệp, thức ăn bổ sung, và nhiều biện pháp phòng ngừa dịch bệnh,…đã góp phần
mở rộng sản xuất, làm cho năng suất sản phẩm ngày càng tăng cao, sản phẩm an toàn Các hộ gia đình chăn nuôi gà tăng thêm nguồn thu nhập Phát triển chăn nuôi
gà còn góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, nhất là những
người lao động ở những nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển
Ở Việt Nam, nhìn lại quá khứ và hiện tại, nghề nuôi gà đã phát triển rất nhanh, cùng với nhiều chính sách khuyến khích của nhà nước như cho vay vốn, cung cấp giống, thức ăn, thuốc thú y và tiêu thụ sản phẩm, nghề nuôi gà đã phát triển trên cả 3 lĩnh vực quốc doanh, tập thể và hộ gia đình Và kết quả là đã sản xuất được một
Trang 9khối lượng sản phẩm lớn Điều đáng nói hơn là nhiều hộ nông dân nhờ chăn nuôi gà
mà đời sống khá hơn, ổn định hơn Đây chính là xu hướng xóa đói giảm nghèo mà Đảng và Nhà nước ta đang cố gắng thực hiện và có thành công bước đầu
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích hiệu quả chăn nuôi của hộ nuôi gà thịt công nghiệp tại huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre để tìm ra giải pháp hữu hiệu góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích tình hình chung của các hộ nuôi gà thịt công nghiệp
- Phân tích hiệu quả chăn nuôi của các hộ nuôi gà thịt công nghiệp
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi
- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi của hộ nuôi gà thịt công nghiệp
1.3 CÁC GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 1.3.1 Các giả thuyết cần kiểm định
Giả sử các loại chi phí như chi phí chuồng trại, giống, thức ăn, máy móc dụng
cụ, thuốc thú y, lao động nhà, điện nước ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ 1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Tình hình chăn nuôi của các hộ nuôi gà thịt công nghiệp như thế nào?
- Hiệu quả chăn nuôi của các hộ nuôi gà thịt công nghiêp ra sao?
- Cúm gia cầm và các nhân tố khác ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả chăn nuôi của các hộ nuôi gà thịt công nghiệp trong huyện?
- Địa phương có các biện pháp gì để nâng cao hiệu quả chăn nuôi?
Trang 101.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các nông hộ nuôi gà thịt công nghiệp tại huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre
1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
- Mai Van Nam, 2003; “Economic inefficiency and its determinants in the pig industry in south Vietnam”, UPLB, the Philipines; phương pháp hàm lợi nhuận chuẩn hóa (normalized profit function), và hàm probit được sử dụng trong nghiên cứu; kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố thể chế và chính sách có tác động đến hiệu quả sản xuất và tiêu thụ ngành hàng heo thịt ở Việt Nam (Đông và Tây Nam Bộ)
- Luu Thanh Duc Hai, 2003; “The organization of the liberalized rice market in Vietnam”, RUG, the Netherlands; phương pháp phân tích SCP và kênh thi trường (marketing channels) được sử dụng trong nghiên cứu; kết quả nghiên cứu cho thấy
tự do hóa thi trường và tư thương đóng vai trò tích cực trong tiêu thụ sản phẩm lúa gạo ở đồng bằng Sông Cửu Long
- Piyaluk Chutubtim, 2001; “Guidelines for conducting ẽtnded cost-benefit ânlysis ò Damprojects in Thailan”, EEPSEA, Chương trình kinh tế môi trường Đông Nam Á; phương pháp phân tích chi phí lợi ích (CBA) được sử dụng trong nghiên cứu; kết quả nghiên cứu cho thấy chính sách trợ giá đầu vào như điện, thủy lợi phí,…, có tác động tích cực đến nông dân, đặc biệt nông dân có thu nhập thấp, nhưng có tác động xấu đến xây dựng và hoạt động của hệ thống thủy nông trong vùng nghiên cứu
- Mai Văn Nam, 2004; “Thị trường nông sản và các giải pháp phát triển sản xuất
và tiêu thụ nông sản hàng hóa ở đồng bằng Sông Cửu Long: Trường hợp sản phẩm heo ở Cần Thơ”, VNRP, chương trình nghiên cứu Việt Nam – Hà Lan; phương pháp phân tích SCP và mô hình Probit được sử dụng trong nghiên cứu; kết quả nghiên
Trang 11cứu cho thấy chăn nuôi heo ở qui mô nhỏ hộ gia đình có hiệu quả thấp hơn qui mô lớn tập trung và các yếu tố đầu vào như con giống, thức ăn, chế biến sản phẩm và các thể chế chính sách có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
- Nguyễn Trung Cang, 2004; “Giải pháp đưa kinh tế hộ trồng lúa Đồng Tháp Mười vươn lên giàu có”, VNRP, chương trình nghiên cứu Việt Nam – Hà Lan; phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) và so sánh kinh tế hộ theo qui mô diện tích được sử dụng trong nghiên cứu; kết quả nghiên cứu cho thấy thể chế cính sách đóng vai trò tích cực trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và tăng hiệu quả sản xuất, đặc biệt đối với trang trại và kinh tế hộ có qui mô diện tích lớn
- Nguyễn Thanh Phương, Lê Xuân Sinh, Nguyễn Thanh Toàn, 2004; “Nghiên cứu luận cứ khoa học phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở vùng nông thôn – ngập
lũ đồng bằng Sông Cửu Long nhằm cải thiện đời sống nông hộ và tăng cường sự hợp tác của nông dân”; phương pháp phân tích chi phí – lợi ích (CBA) và so sánh
mô hình sản xuất được sử dụng trong nghiên cứu cho thấy mô hình lúa - cá có hiệu quả và phù hợp trong điều kiện ngập lũ ở đông bằng Sông Cửu Long
- Phước Minh Hiệp và nhóm nghiên cứu, 2005; “Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tín dụng và xác định nhu cầu vốn của nông hộ trong quá trinh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn tỉnh Trà Vinh”; phương pháp phân tích chi phí – lợi ích (CBA), mô hình probit và so sánh mô hình sản xuất được sử dụng dụng và yếu
tố thể chế chính sách ảnh hương chủ yếu đến quá trình chuyển dịch trong nghiên cứu
Trang 12CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Lý thuyết về nông hộ
2.1.1.1 Khái niệm nông hộ
Nông hộ là những hộ nông dân làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
và dịch vụ hoặc làm kết hợp nhiều ngành nghề, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh Nông hộ tiến hành sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp để phục vụ cuộc sống và được gọi là kinh tế hộ gia đình
Kinh tế hộ gia đình là loại hình sản xuất có hiệu quả nhất về kinh tế xã hội, tồn tại và phát triển lâu dài và có vị trí quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp, nông thôn Kinh tế hộ gia đình phát triển tạo ra sản lượng hàng hóa đa dạng, có chất lượng, có giá trị ngày càng cao, góp phần tăng thu nhập cho người nông dân, cải thiện mọi mặt đời sống, cung cấp sản phẩm cho công nghiệp và xuất khẩu Đồng thời, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế được thực hiên ngay từ kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ luôn gắn liền và chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố
và điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi địa phương, mỗi vùng lãnh thổ Sự khác nhau về đất đai, khí hậu, môi trường sinh thái cũng như về dân cư dân tộc, trình độ sản xuất và tập quán sinh sống giữa các vùng vừa tạo ra tính đa dạng trong kinh tế nông hộ đồng thời cũng tạo ra những nét khác biệt và đặc thù về cả qui
mô, cấu trúc lẫn phương thức và trình độ phát triển
Trong điều kiện sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường, sự phát triển kinh
tế nông hộ giữa các vùng kinh tế - sinh thái có sự tương tác và giao thoa lẫn nhau Song, việc tăng cường khai thác các tiềm năng, thế mạnh và điều kiện đặc thù của mỗi vùng kinh tế nông hộ được Nhà nước khuyến khích và phát triển
Trang 132.1.1.2 Đặc trưng của nông hộ
Nông hộ là một đơn vị kinh tế xã hội khá đặc biệt Có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lí, sử dụng các yếu tố sản xuất; có sự thống nhất giữa các quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, sử dụng và tiêu dùng
Về mặt sở hữu của nông hộ: đó là sở hữu chung, trong đó các thành viên có
sự bình đẳng trong việc sở hữu quản lí và sử dụng tài sản
Nông hộ dựa trên một cơ sở kinh tế chung là mỗi thành viên đều có nghĩa
vụ và trách nhiệm, đều có ý thức đóng góp làm tăng quỹ thu nhập của hộ đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mỗi thành viên
Nông hộ là một đơn vị kinh tế vừa sản xuất vừa tiêu dùng Đơn vị tiêu dùng của hộ xét cả khía cạnh tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho cá nhân của hộ, nó ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất của hộ và của xã hội nói chung
Xem xét cơ cấu sản xuất của nông hộ cũng như các yếu tố bên trong của nông hộ như đất đai, lao động, vốn, công cụ sản xuất, để thấy được đặc trưng kinh
tế của nông hộ trong nông thôn nước ta
a Đất đai:
Đặc trưng nổi bật của các nông hộ của nước ta hiện nay là có qui mô canh tác nhỏ bé Qui mô đất canh tác bình quân của một nông hộ ở miền Bắc là 0,48 ha, Duyên hải miền Trung là 0,40 ha đến 0,60 ha và ở Đồng bằng sông Cửu Long là 0,60 ha đến 1,00 ha Điều đáng quan tâm là qui mô đất canh tác của nông hộ có xu hướng giảm dần do tác động của các nhân tố: số dân nông thôn tăng lên; quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, với việc phát triển các ngành giao thông, thương mại, dịch vụ và các ngành phi nông nghiệp khác đã lấy đi đất nông nghiệp
Về sở hữu đất đai: Nông hộ không có quyền sở hữu đất đai mà chỉ có quyền
sử dụng, quyền chuyển nhượng, quyền thừa kế và quyền thế chấp quyền sử dụng đất đai
Trang 14c Nguồn vốn sản xuất
Nguồn vốn tích lũy của các nông hộ chủ yếu là từ trồng trọt và chăn nuôi Nguồn vốn sản xuất của đại bộ phận nông hộ là thấp Phần lớn các nông hộ sản xuất trong tình trạng thiếu vốn Để khắc phục tình trạng thiếu vốn của các nông hộ, Nhà Nước ta có chính sách cho vay vốn Hệ thống tín dụng trong những năm gần đây đã
có sự tiến bộ đáng kể nhưng tình trạng thiếu vốn vẫn diễn ra do các nông hộ còn gặp nhiều khó khăn về thủ tục, thời gian và lãi suất
d Công cụ sản xuất
Công cụ sản xuất được xem như là một trong những nguồn vốn cố định của nông hộ Măc khác, nó phản ánh trình độ trang bị kĩ thuật, những phương tiện sản xuất như là thước đo lường trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
e Cơ cấu sản xuất
Có hộ nặng về cây lương thực chủ yếu là cây lúa Có hộ ngoài cây lúa còn trồng thêm các loại cây rau màu, cây công nhiệp Có hộ vừa trồng trọt, chăn nuôi vừa có ngành nghề Nhìn chung, cơ cấu sản xuất của hộ mang tính chất đặc trưng,
đa dạng
2.1.2 Khái niệm gà công nghiệp
Các giống gà công nghiệp là những giống đã dược cải tiến, chọn lọc thành những giống, những dòng thuần theo hướng chuyên dụng có năng suất cao Từ một số giống gà ban đầu, ngày nay trên thế giới có thêm nhiều giống, nhiều dòng khác nhau
về đặc điểm ngoại hình, năng suất và tên gọi
Các giống gà công nghiệp hiện có trong nước: gà Hybro và BE (chuyên thịt), gà Arbor Acres (chuyên thịt), gà Avian (chuyên thịt), gà ISA vedette (chuyên thịt ),gà Lương Phượng (chuyên thịt)…
Trang 152.1.3 Lí thuyết về hiệu quả sản xuất
Nhà sản xuất kinh doanh thường phải đối mặt với các giới hạn trong việc sử dụng nguồn lực sản xuất Do đó, họ cần phải xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các hoạt động cần thực hiện dựa vào các nguồn lực đó sao cho đạt kết quả cao nhất Để
có hiệu quả thì phải biết cách sử dụng 3 yếu tố; (1) không sử dụng nguồn lực lãng phí, (2) sản xuất với chi phí thấp nhất và (3) sản xuất để đáp ứng nhu cầu con người Trong bất kỳ quá trình sản xuất nào khi tính đến hiệu quả sản xuất thì người sản xuất thường đề cập đến các yếu tố đó là: hiệu quả kinh tế, hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả phân phối
2.1.3.1 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế được dùng như một tiêu chuẩn để xem các tài nguyên được thị trường phân phối như thế nào [theo từ điển thuật ngữ kinh tế học, trang 224 – NXB, từ điển Bách Khoa Hà Nội 2001] Tiêu chí về hiệu quả kinh tế thực ra là giá trị, có nghĩa là khi sự thay đổi làm tăng giá trị thì sự thay đổi đó có hiệu quả và ngược lại sẽ không hiệu quả
2.1.3.2 Hiệu quả kĩ thuật
Hiệu quả kĩ thuật đòi hỏi nhà sản xuất tạo ra một số lượng nhất định xuất phát từ việc sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất Thực ra, hiệu quả kĩ thuật được xem chỉ là một thành phần của hiệu quả kinh tế Bởi vì, để đạt được hiệu quả kinh tế thì trước hết họ phải có hiệu quả kĩ thuật Cụ thể trong trường hợp tối đa hóa lợi nhuận đòi hỏi nhà sản xuất phải sản xuất mức sản lượng tối đa tương ứng với nguồn lực đầu vào nhất định hay nói cách khác hiệu quả kĩ thuật dùng để chỉ sự kết hợp tối
ưu các nguồn lực đầu vào để tạo ra mức sản lượng nhất định
2.1.3.3 Hiệu quả phân phối
Thể hiện mối quan hệ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Nhà sản xuất phải cung cấp những sản phẩm và dịch vụ mà người tiêu dùng cần nhất, hay nói cách khác các nguồn lực phải được phân phối sao cho lợi ích của người sử dụng nó đạt được cao nhất
Trang 16Chi phí chăn nuôi gà được chia ra thành hai loại đó là định phí và biến phí: + Biến phí là loại chi phí khi căn cứ ứng xử của nó biến động thì tính theo tổng số tiền nó thay đổi theo, còn tính theo một căn cứ ứng xử nó lại không thay đổi Biến phí chăn nuôi gà bao gồm chi phí con giống, chi phí thức ăn, chi phí thuốc thú
y, chi phí tiền điện nước, chi phí lao động nhà và các khoản chi phí khác
+ Định phí là loại chi phí mà khi căn cứ ứng xử của nó biến động thì tính theo tổng số tiền nó không thay đổi, còn tính theo một căn cứ ứng xử thì nó sẽ thay đổi Định phí chăn nuôi gà thịt bao gồm: chi phí chuồng trại, chi phí máy móc, thiết
bị và dụng cụ và các khoản chi phí khác
b Doanh thu
Doanh thu là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm, tức là tổng
số tiền mà các hộ chăn nuôi gà thịt nhận được khi bán gà
Trang 17- Tỷ số giữa thu nhập và doanh thu thể hiện trong một đồng doanh thu có bao nhiêu đồng thu nhập, nó phản ảnh mức thu nhập so với doanh thu
- Tỷ số giữa lợi nhuận và chi phí công lao động nhà quy ra tiền, cho biết một đồng chi phí lao động nhà sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
- Tỷ số giữa lợi nhuận và tổng chi phí đã tính công lao động nhà, cho biết một đồng chi phí có tính lao động nhà bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
- Tỷ số giữa lợi nhuận và thu nhập, cho ta biết trong một đồng thu nhập sẽ
có bao nhiêu đồng lợi nhuận
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chăn nuôi gà thịt
2.1.5.1 Giống
Phẩm chất con giống mang tính chất quyết định đến tốc độ tăng trưởng, trọng lượng xuất chồng, phẩm chất thịt và thời gian nuôi,…Do vậy, người chăn nuôi phải lựa chọn con giống thật kĩ lưỡng: con giống sạch bệnh, chất lượng thịt phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng, có như thế mới thõa mãn nhu cầu về mặt kinh tế
2.1.5.2 Thức ăn
Sau phẩm chất con giống, thức ăn là yếu tố quyết định thành công trong chăn nuôi Trong ngành gà công nghiệp, thức ăn được đặc biệt chú ý vì những lí do sau:
- Gà công nghiệp nhốt trong chuồng không thể tự kiếm ăn, mà hoàn toàn phụ thuộc vào tác động của người chăn nuôi
- Kết quả chăn nuôi gà tốt hay xấu, giá thành cao hay thấp đều do thức ăn quyết định Chi phí thức ăn thường chiếm 70% giá thành sản phẩm gà
Trang 18- Nếu cho gà ăn đủ chất, đủ lượng, phù hợp theo con giống, theo lứa tuổi và tính năng sản xuất gà sẽ mau lớn, khỏe mạnh, cho nhiều sản phẩm chất lượng cao Ngược lại, cho gà ăn đói, thiếu chất hay ăn quá nhiều, thừa chất đều hạn chế kết quả nuôi dưỡng, thậm chí bị thiệt hại do bệnh tật, chết chóc
- Tùy theo từng giai đoạn phát triển của đàn gà mà nhu cầu về dinh dưỡng
sẽ khác nhau Thức ăn phải đảm bảo đầy đủ và cân đối giữa các chất đạm, khoáng, thô, sơ Do vậy, người chăn nuôi phải biết tính toán, tận dụng mọi khả năng, mọi phương pháp sử dụng thức ăn có hiệu quả nhất để phấn đấu hạ giá thành
2.1.5.3 Nước uống
Nước uống cần thiết cho cuộc sống và quá trình trao đổi chất của gà Do vậy nước uống phải sạch, không chứa vi khuẩn gây bệnh, mát vào mùa nóng và ấm vào mùa lạnh, phải được thay mới thường xuyên, không để gà uống nước dơ, chua
2.1.5.4 Thuốc thú y
Là một trong những nhân tố giúp giảm tỉ lệ hao hụt của đàn gà, giúp gà tăng sức đề kháng, phòng ngừa bệnh
2.1.5.5 Ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm
Ánh sáng cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà Chiếu sáng có
ý nghĩa quan trọng đối với gà con, giai đoạn 2 tuần đầu duy trì chiếu sáng 24/24 để
gà sinh trưởng nhanh
Gà con rất nhạy cảm với nhiệt độ Nếu thay đổi nhiệt độ đột ngột sẽ làm cho gà giảm sức đề kháng, dễ chết Độ ẩm và nhiệt độ trong chuồng gà thường có liên quan với nhau và ảnh hưởng đến sức khỏe gà
2.1.5.6 Chuồng trại
Chuồng trại không những ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà mà còn giúp người chăn nuôi phân đàn và đảm bảo nuôi có kĩ thuật Do vậy chuồng phải thông thoáng tự nhiên, mái chuồng nên làm bằng những vật liệu cách nhiệt tốt
để chống nóng Nền chuồng cao ráo dễ vệ sinh và thoát nước, chất độn chuồng phải khô, sạch, dễ hút ẩm như trấu, dăm bào, rơm khô Đảm bảo chuồng tránh mưa tạt gió lùa Trước khi nhập gà về phải vệ sinh và sát trùng chuồng sạch sẽ
Trang 192.1.5.7 Cách thức chăm sóc
Để hạn chế dịch bệnh cũng như giảm tỉ lệ hao hụt, người chăn nuôi phải thường xuyên theo dõi và tiêm phòng vacxin đúng ngày, đúng liều lượng, đúng qui cách, vệ sinh chuồng trại, phun thuốc sát trùng, hàng ngày phải rửa máng ăn uống, tùy theo từng giai đoạn phát triển của gà mà có cách chăm sóc cho phù hợp
2.1.5.8 Các dịch bệnh
Dịch bệnh là một trong những mối đe dọa của người chăn nuôi gà Để phòng bệnh và hạn chế dịch bệnh thì người chăn nuôi phải lựa chọn nguồn thức ăn đảm bảo chất lượng, lựa chọn con giống tốt, thuốc thú y tốt, xây dựng chuồng trại hợp lý, cách chăm sóc nuôi dưỡng, môi trường xung quanh… Các bệnh thường gặp trong chăn nuôi gà là Gumboro, Newcastle, tụ huyết trùng, CRD(viêm đường hô hấp mãn tính)…
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Châu Thành là huyện có phong trào nuôi gà công nghiệp mạnh nhất tỉnh Bến Tre
và cũng là huyện có số hộ chăn nuôi gà chịu ảnh hưởng nặng nề của các đợt cúm gia cầm vừa qua Vì vậy đề tài này chọn Châu Thành làm vùng nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu sơ cấp: được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 30 hộ nuôi gà công nghiệp tại huyện Châu Thành Các hộ được chọn phỏng vấn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng Cụ thể, trong huyện Châu Thành chọn ra 2 xã là Quới Sơn và
An Khánh, vì 2 xã này có số hộ nuôi gà công nghiệp nhiều nên số liệu mang tính đại diện cao Trong đó, Quới Sơn có số hộ nuôi rất nhiều nên chọn 26 mẫu (chiếm 86,67%), 4 mẫu còn lại là ở xã An Khánh (chiếm 13,33%)
Trang 20 Tình hình tiêu thụ sản phẩm gà thịt: giá bán, thương lái, phương thức thanh toán, thuận lợi và khó khăn trong tiêu thụ
Một số đề xuất của nông hộ
Số liệu thứ cấp: được thu thập từ các báo cáo kinh tế của phòng kinh tế, niên giám thống kê – phòng thống kê huyện Châu Thành, và các thông tin từ sách, báo, internet…
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
2.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả
Thống kê mô tả được sử dụng trong nghiên cứu nhằm mô tả tình hình chung của các hộ nuôi gà thịt
- Thống kê mô tả là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày
số liệu được ứng dụng vào lĩnh vực kinh tế và thông tin được thu nhập trong điều kiện không chắc chắn
- Bước đầu tiên để mô tả là tìm hiểu về đặc tính phân phối của một số liệu thô và lập bảng phân phối tần số
- Tần số là số lần xuất hiện của một quan sát, tần số của một tổ là số quan sát rơi vào giới hạn của tổ đó
- Cách tính cột tần số tích luỹ: Tần số tích lũy của tổ thứ nhất chính là tần
số của nó, tần số của tổ thứ hai bao gồm tần số của tổ thứ nhất và cả tần số của tổ thứ hai, tần số của tổ thứ ba là tần số của tổ thứ hai và thứ ba hoặc là tần số của chính nó và tần số của cả hai tổ thứ nhất và thứ hai:
- Bảng thống kê: là hình thức trình bày số liệu thống kê và thông tin đã thu thập làm cơ sở để phân tích và kết luận, cũng là bảng trình bày kết quả nghiên cứu, nhờ đó mà các nhà quản trị có thể nhận xét tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.2.3.2 Hàm thu nhập
Việc thiết lập hàm thu nhập được lập trên cơ sở của hàm hồi quy tuyến tính Mục đích của hàm thu nhập là nhằm tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của người chăn nuôi Từ đó biết được các nhân tố nào làm tăng hay giảm thu nhập để có thể phát huy những yếu tố tích cực sao cho nuôi gà có hiệu quả hơn
Trang 21Phương trình hồi quy có dạng:
Y= αo + α1X1 + α 2X2 + …+ α kXk Trong đó:
Y: Thu nhập (biến phụ thuộc)
Xi: Các biến độc lập (i=1, 2, …, k), bao gồm:
• Chi phí con giống
• Chi phí thức ăn
• Chi phí thú y
• Chi phí tiền điện nước
• Chi phí lao động nhà
• Chi phí chuồng trại
• Chi phí máy móc, thiết bị và dụng cụ và chi phí hao hụt Các tham số α o, α 1, …, α k được tính toán bằng phần mềm SPSS
Từ bảng kết quả ANOVA các hệ số được giải thích như sau:
+ R: hệ số tương quan bội, nói lên mối quan hệ chặt chẽ giữa biến phụ thuộc Y và các biến độc lập X R càng lớn mối quan hệ càng chặt chẽ
+ Hệ số xác định (R2 – R square) chỉ ra tỷ lệ biến động của biến phụ thuộc
Y được giải thích bởi các biến độc lập X
+ Adjusted R square: Hệ số xác định đã được điều chỉnh dùng để trắc nghiệm xem có nên thêm vào một biến độc lập nữa không Khi thêm vào một biến
mà R2 tăng lên thì chúng ta quyết định thêm biến đó vào phương trình hồi quy
+ Standar error: Sai số cả phương trình
+ SS (Sum of Square): Tổng bình phương
+ SSR (Regression Sum of Square): Tổng bình phương hồi quy: là đại lượng biến động của Y được giải thích bởi đường hồi quy
+ SSE (Error Sum of Square): Phần biến động còn lại (còn gọi là số dư): là đại lượng biến động tổng gộp của các nguồn biến động do các nhân tố khác gây ra
mà không hiện diện trong mô hình hồi quy và phần biến động ngẫu nhiên
+ SST (Total Sum of Square): Tổng biến động của Y
SST = SSR + SSE
Trang 22SSR càng lớn, mô hình hồi quy càng có độ tin cậy cao trong việc giải thích biến động của Y
+ MS (mean square): Trung bình bình phương
+ Tỷ số F = MRS/MSE dùng để so sánh với F trong bảng phân phối F với mức ý nghĩa α Thông thường dùng để kiểm định mức ý nghĩa của mô hình hồi quy,
F càng lớn mô hình hồi quy càng có ý nghĩa khi đó Sig F càng nhỏ Thay vì tra bảng F, Sig F cho ta kết luận ngay mô hình hồi quy có ý nghĩa khi Sig F nhỏ hơn mức ý nghĩa α nào đó và giá trị Sig F cũng là cơ sở quyết định bác bỏ hay chấp nhận giả thuyết H0 trong kiểm định Nói chung, F càng lớn khả năng bác bỏ H0 càng cao
- Sig F < α cho biết mô hình có ý nghĩa
- Mức α được sử dụng trong mô hình này là 10% (α = 0,1)
Trang 23CHƯƠNG 3
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Huyện Châu Thành nằm kề thành phố Mỹ Tho và thị xã Bến Tre, giao thông thủy bộ đều thuận lợi nên có điều kiện giao lưu kinh tế xã hội với bên ngoài.Châu Thành có điều kiện vừa phát triển nông nghiệp vừa phát triển du lịch vườn bởi Châu Thành có đất đai mầu mỡ, kênh rạch chằng chịt với những cảnh quan miệt vườn xanh tươi, vườn trái cây bốn mùa trĩu quả
Hình 1: BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN CHÂU THÀNH
Trang 243.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre
3.1.1 Vị trí địa lí
Bến Tre là tỉnh nằm ở hạ lưu sông Cửu Long, được bồi đắp do phù sa của 4 nhánh sông là sông Mỹ Tho, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên Các nhánh sông này chia Bến Tre thành 3 cù lao lớn là cù lao An Hóa, cù lao Bảo và cù lao Minh Bến Tre có 8 huyện, thị là Giồng Trôm, Thạnh Phú, Ba Tri,Bình Đại, Châu Thành, Mỏ Cày, Chợ Lách và thi xã Bến Tre Trong đó huyện Châu Thành nằm ở đầu trên cù lao Bảo và cù lao An Hóa, cách thị xã Bến Tre 9km về hướng Tây Bắc
- Phía Đông giáp huyện Bình Đại
- Phía Tây giáp sông Tiền, sông Hàm Luông và huyện Chợ Lách
- Phía Nam giáp sông Hàm Luông và thị xã Bến Tre
- Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang có con sông Tiền làm ranh giới
3.1.2 Địa hình
Địa hình bằng phẳng, rải rác có những cồn cát xen kẽ với ruộng vườn, hệ thống kênh rạch chằng chịt thuận lợi giao thông đường thủy ra biển đông và đến các tỉnh miền Tây Nam Bộ
3.1.3 Đất đai
Huyện Châu Thành có diện tích đất tự nhiên là 23.993,98 ha, trong đó:
Diện tích đất nông nghiệp là 16.667,96 ha
Diện tích đất chuyên dùng (dùng để xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi) là 457,96 ha
Diện tích đất khu dân cư là 985,01 ha
Diện tích đất chưa sử dụng là 6,64 ha
Diện tích đất có mặt nước sông ngòi là 4877,27 ha
Huyện không có đất lâm nghiệp
3.1.4 Khí hậu, thủy văn
Khí hậu: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, các tháng còn lại là khô Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26oC – 27OC, lượng mua trung bình hàng năm từ 1.250 mm đến 1.500 mm
Trang 25Thủy văn: thường bị ngập vào mùa nước lũ và có nước mặn xâm chiếm, tuy thời gian không lâu nhưng ảnh hưởng bất lợi đến những vùng trồng cây ăn quả của huyện
3.2 Tình hình kinh tế xã hội của huyện Châu Thành
3.2.1 Một số lĩnh vực về xã hội và cơ sở hạ tầng
3.2.1.1 Dân số
Huyện Châu Thành có 22 xã và một thị trấn với dân số là 171.156 người, trong đó nữ là 88.718 người chiếm 51,83%, phần lớn dân số tập trung ở nông thôn Mật độ dân số của địa phương là 744 người/km2 là cao so với các huyện khác trong tỉnh Thành phần dân tộc của huyện chủ yếu là dân tộc Kinh, một số ít dân tộc Hoa
3.2.1.2 Giáo dục, y tế và văn hóa
3.2.1.3 Cơ sở hạ tầng
Đẩy mạnh công tác nhựa hóa nông thôn, mở rộng các tuyến đường trọng điểm của huyện nhằm thu hút các nhà đầu tư vào các khu công nghiệp của huyện
Trang 26Thực hiện chương trình điện khí hóa nông thôn Công trình cấp điện cho các khu dân cư của huyện Đầu tư lắp đặt hệ thống đường ống cáp nước để nâng cao
tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch của huyện
Thủy lợi: Trong những năm qua, hệ thống thủy lợi được tập trung đầu tư hàng trăm triệu đồng cho hệ thống kênh mương, gia cố hệ thống đê bao, hệ thống ngăn mặn, hệ thống công trình để phục vụ cho nhu cầu sản xuất, tưới tiêu và nhu cầu sử dụng của người dân Thường xuyên theo dõi tình hình sạt lở ở các bờ sông và một số tuyến đê bao vùng xung yếu nhằm đảm bảo an toàn cho vùng dân cư nơi sạt
lở
3.2.2 Tình hình kinh tế của địa phương
Trên lĩnh vực kinh tế, huyện Châu Thành tiếp tục phát triển với nhiều thắng lợi, các chỉ tiêu chủ yếu năm 2006 đều đạt Thu nhập bình quân đầu người từ 7,79 triệu đồng năm 2005 tăng lên 8,97 triệu đồng năm 2006
3.2.2.1 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong năm đạt 524 tỷ đồng, đạt 108% kế hoạch năm 2006, tăng 17,8% so với năm 2005 Trong đó doanh nghiệp Nhà nước đạt 415 tỷ đồng, tăng 12,93%, doanh nghiệp nước ngoài đạt 3,9 tỷ đồng, doanh nghiệp tư nhân đạt 125 tỷ đồng, tăng 33,65% Kim ngạch xuất khẩu đạt 20.425.000 USD
Hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng cả về qui mô và số lượng Các sản phẩm chủ yếu: chế biến thủy hải sản, kết tinh đường, bánh kẹo, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, thêu ren,…đều tăng Toàn huyện có 887 cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với vốn đầu tư gần 230 tỷ đồng, đã giải quyết việc làm cho 2500 lao động Làng nghề An Hiệp được Sở Công nghiệp công nhận đạt tiêu chí làng nghề Khu công nghiệp Giao Long đã có 11 doanh nghiệp đăng kí đầu tư, 1 doanh nghiệp đi vào hoạt động Cụm công nghiệp An Hiệp đã giải phóng mặt bằng giai đoạn 3, bàn giao mặt bằng cho 2 doanh nghiệp, đã cổ phần nhà máy đường An Hiệp Nhiều cơ sở sản xuất đang khảo sát xây dựng nhà xưởng ở khu công nghiệp An Hóa
Trang 27Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đi đôi với việc hạ giá thành, giảm chi phí sản xuất tạo cạnh tranh trên thị trường, đồng thời giải quyết một số lao động địa phương
3.2.2.2 Nông nghiệp
a Trồng trọt
Trong sản xuất nông nghiệp, trồng trọt là ngành chủ yếu chiếm 81,10% giá trị sản xuất nông nghiệp Trong cơ cấu diện tích đất nông nghiệp thì diện tích cây ăn quả là 9.344,60 ha, so với cùng kì đạt 102,17%, tăng 198,60 ha, phát triển khá ổn định Do ảnh hưởng của bão số 9 vừa qua có khoảng 20% diện tích cây ăn trái bị gãy đổ, ước thiệt hại 54,5 tỷ đồng Diện tích dừa là 5.065,60 ha, so với cùng kì đạt 100,83%, tình hình cây dừa phát triển khá ổn định, do giá cả dừa trái khá cao, chi phí đầu tư thấp, bà con có lãi Diện tích lúa là 1.717,97 ha, giảm so với cùng kì là do
bà con chuyển đổi diện tích lúa kém hiệu quả sang cây hoa màu, lương thực và trồng cây ăn trái hiệu quả cao Diện tích cây màu là 538,93 ha
Hình 2: CƠ CẤU DIỆN TÍCH ĐẤT NÔNG NGHIỆP
Giá cả nông sản khá cao, tạo điều kiện cho người nông dân đầu tư mạnh vào sản xuất nông nghiệp Các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mô hình trồng xen cây ca cao trong vườn dừa, vườn cây ăn trái được Nhà nước quan tâm và đầu tư thực hiện Hiện nay toàn huyện đã tập hợp được 42 câu lạc bộ trồng cây ca cao với
Trang 281890 nông dân tham gia, trồng mới 600 ha, nâng diện tích toàn huyện là 1.674 ha Đến nay huyện đã có 4.834 ha đất nông nghiệp đạt giá trị 50 triệu/ha
b Chăn nuôi
Chăn nuôi là một trong hai ngành chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp của huyện Trong năm 2006 chăn nuôi đạt tỷ trọng 18,45% trong giá trị sản xuất nông nghiệp
Bảng 1: TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH
Đơn vị tính: con
Chênh lệch
Tuyệt đối Tương đối (%)
ở địa phương lắng xuống nên số lượng đàn gia cầm tăng mạnh so với năm 2005 là 58.266 con (tăng 18,80%)
Nhìn chung, trong năm qua đàn gia súc phát triển khá ổn định do giá thịt luôn ở mức cao và đầu ra ổn định, tạo cho người chăn nuôi an tâm Đàn gia cầm không những được khôi phục trở lại sau những đợt cúm mà còn đang ở xu hướng gia tăng
Trang 29số xã như: Quới Sơn một hộ 3 lồng, Tân Thạch hai hộ 8 lồng và Phú Túc ba hộ 5 lồng [Báo cáo kinh tế - xã hội huyện Châu Thành, năm 2006]
3.2.2.3 Dịch vụ du lịch
Tận dụng cảnh quan miệt vườn quanh năm xanh tươi với mùa nào trái cây
ấy và cảnh sông nước hữu tình, các xã ven sông Tiền cùng các cù lao trên sông đang phát triển du lịch xanh Hiện nay, toàn huyện có 25 điểm du lịch sinh thái tập trung
ở các xã ven sông Tiền như: Quới Sơn, Tân Thạch, An Khánh, Phú Túc, Tiên Thủy… và 29 cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch Trong năm huyện đón nhận 335.000 lượt khách, doanh thu 14 tỷ đồng, tăng 16,63% so với năm
2005 Những kết quả ban đầu trong vài năm gần đây đang mở ra nhiều hứa hẹn về khả năng thu hút du khách của huyện [Báo cáo kinh tế - xã hội huyện Châu Thành, năm 2006]
Trang 30CHƯƠNG 4
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CHĂN NUÔI GÀ THỊT CÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE 4.1 TÌNH HÌNH CHUNG CỦA CÁC HỘ NUÔI GÀ THỊT CÔNG NGHIỆP 4.1.1 Tổng quát về mẫu điều tra
Các mẫu số liệu sử dụng trong đề tài được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp nông hộ nuôi gà thịt công nghiệp của huyện Châu Thành Qua cuộc điều tra thu được tất cả 30 mẫu Trong đó 26 mẫu ở xã Quới Sơn, chiếm 86,37%; 4 mẫu ở xã An Khánh, chiếm 13,33% Vì 2 xã này có số hộ nuôi gà thịt công nghiệp nhiều nên số liệu mang tính đại diện cao
4.1.2 Tình hình chung của các hộ nuôi gà thịt công nghiệp
Theo kết quả điều tra, người chăn nuôi tham gia ngành dưới 5 năm chiếm 33,3%;
từ 5 đến 10 năm chiếm 53,3% và trên 10 năm chiếm 13,3%
Bảng 2: SỐ NĂM THAM GIA NGÀNH
Nguồn số liệu điều tra năm 2007
Điều này cho thấy các hộ nuôi có khá nhiều kinh nghiệm Và trong những năm gần đây số hộ tham gia ngành ngày càng tăng, vì hoạt động chăn nuôi tại địa phương đang được khuyến khích, hơn nữa nuôi gà tận dụng được lao động nhà mà hiệu quả mang lại cũng khá cao
Tỉ lệ chủ hộ là nam chiếm 86,7%; chủ hộ là nữ chiếm 13,3% Và độ tuổi bình quân là 41,67 tuổi, trong đó cao nhất là 57 tuổi và thấp nhất là 27 tuổi
Trang 31Bảng 3: TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA CÁC HỘ NUÔI GÀ
Nguồn số liệu điều tra năm 2007
Trình độ học vấn của người chăn nuôi trên địa bàn tương đối thấp Cụ thể, trung
học phổ thông chiếm 13,3%; trung học cơ sở chiếm 66,7% và tiểu học chiếm 20,0%
Bảng 4: TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN CỦA HỘ CHĂN NUÔI
Nguồn số liệu điều tra năm 2007
Với trình độ học vấn như trên thì ít nhiều gì cũng ảnh hưởng đến việc hạn chế
cập nhật thông tin và áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất của nông hộ
Bảng 5: LÍ DO CHỌN NUÔI GÀ
Nguồn số liệu điều tra năm 2007
Trang 32Có nhiều lí do để người chăn nuôi chọn nuôi gà , trong đó lí do không cần nhiều
lao động được người chăn nuôi đồng tình nhiều nhất chiếm 40%, vì trong hoạt động
này với qui mô vừa và nhỏ người chăn nuôi chỉ sử dụng lao động nhà Có 23,3% số
hộ nuôi theo xu hướng thị trường, tức là họ thấy những người lân cận nuôi gà mang
lại nguồn thu khá cao nên học hỏi và nuôi theo Có 20,0% số hộ nuôi cho rằng nuôi
gà không mất nhiều thời gian, nếu đi làm thuê thì mỗi ngày phải mất 8 giờ còn nuôi
gà với số lượng khoảng 500 con mỗi ngày chỉ mất từ 3 đến 4 giờ chăm sóc, thời
gian còn lại họ có thể làm việc khác Có 13,3% trong số các hộ nuôi cho rằng họ
chọn nuôi gà vì dễ nuôi, dễ chăm sóc, đây là ý kiến của các hộ nuôi từng trải có
nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi gà
Bảng 6: TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI GÀ NĂM 2006
Thời gian nuôi bình quân/lứa Ngày 52 75 62,37
Trọng lượng xuất chuồng bình
quân
Nguồn số liệu điều tra năm 2007
Theo kết quả điều tra cho thấy:
Số lứa gà nuôi bình quân năm 2006 là 7,17 lứa, cao nhất là 12 lứa và thấp nhất là
3 lứa, tức là có hộ nuôi khoảng 3 đến 4 tuần nhập gà về một lần, cũng có hộ nuôi khi
xuất chuồng xong ngưng khoảng 1 tháng mới nhập gà về, và vào mùa lạnh (tháng
11, tháng 12) hàng năm họ sẽ ngưng không nuôi vì nuôi vào mùa này tỉ lệ hao hụt
cao do gà con rất nhạy cảm với sự thay đổi của nhiệt độ
Thời gian nuôi bình quân mỗi lứa là 62,37 ngày, cao nhất là 75 ngày và thấp
nhất là 52 ngày Theo người chăn nuôi thì thời gian xuất chuồng thích hợp nhất là
Trang 33khoảng 2 tháng, sỡ dĩ kéo dài hơn 2 tháng là do không bằng về giá bán hoặc do thương lái chậm đến khi trên thị trường gà đang ứ đọng
Trọng lượng xuất chuồng bình quân là 1,58 kg/con, trong đó thấp nhất là 1,4 kg/con và cao nhất là 2,1 kg/con, và đây cũng là trọng lượng chênh lệch giữa gà trống và gà mái
Nguồn số liệu điều tra năm 2007
Qua bảng tỉ lệ tập trung của hộ nuôi gà ta thấy phần lớn các hộ trên địa bàn chăn nuôi với qui mô vừa và nhỏ Cụ thể, số con bình quân mỗi lứa từ 500 đến 1000 con chiếm 80% Trên 1000 con chiếm 10% và dưới 1000 con cũng chiếm 10% Mặc dù chăn nuôi gà tận dụng được lao động nhà và mang lại lợi nhuận khá cao nhưng mấy năm gần đây cúm gia cầm diễn biến phức tạp nên đa số các hộ nuôi không dám mở rộng qui mô nhằm tận dụng hiệu quả theo qui mô
Hầu hết các hộ đều chọn nuôi giống gà Lương Phượng Đó là giống gà của công
ty con giống Miền Nam Người chăn nuôi đặt mua con giống thông qua các đại lí thức ăn chiếm 90%, số còn lại là đến tận trung tâm con giống mua Theo người chăn nuôi, giống gà Lương Phượng có năng suất khá cao và phù hợp với điều kiện của địa phương, đặc biệt là từ tháng 8 năm 2006 con giống gà này đã được công ty con giống tiêm ngừa vacxin chống cúm H5N1 nên người chăn nuôi cũng an tâm hơn
Trang 34Theo kết quả điều tra có 63,3% số hộ chăn nuôi có tham gia các lớp tập huấn về chăn nuôi do trung tâm khuyến nông tỉnh phối hợp với phòng kinh tế huyện tổ chức,
số còn lại là chăn nuôi theo kinh nghiệm bản thân và học hỏi từ người thân bạn bè Trong chăn nuôi gà, người chăn nuôi sẽ tận dụng phân gà để nuôi cá và làm phân bón Tuy nhiên cũng có 26,7% số hộ nuôi chưa tận dụng hết phân gà, để phân chảy lan ra kênh rạch làm ô nhiễm nguồn nước
Về chuồng trại: Theo kết quả điều tra có 60% các hộ nuôi xây dựng chuồng sàn ngang mương, số còn lại xây chuồng trệt có vách ngăn Có 53,3% số hộ bố trí máng
ăn máng uống xen kẽ, 33,3% số hộ bố trí máng ăn ở trên máng uống ở dưới và số còn lại là bố trí máng ăn theo chiều ngang máng uống theo chiều dọc
Về thức ăn và nước uống: Nguồn nước được sử dụng trong chăn nuôi là nước sông được khử trùng Thức ăn là thức ăn công nghiệp đậm đặc, dễ mua Người chăn nuôi muốn mua chỉ cần gọi điện đến đại lí thức ăn thì thức ăn sẽ được chở đến tận nhà, chi phí vận chuyển thức ăn được tính luôn vào giá mỗi bao thức ăn Trong quá trình nuôi, người chăn nuôi còn được hỗ trợ tư vấn kĩ thuật nuôi cũng như biện pháp phòng trị bệnh từ nhân viên đại lí thức ăn, thuốc thú y
Về nguồn vốn chăn nuôi: Theo kết quả điều tra có 30% số hộ nuôi sử dụng nguồn vốn tự có của gia đình, 70% là sử dụng vốn vay Điều này cho thấy đa số các
hộ nuôi chưa chủ động được nguồn vốn trong chăn nuôi Hơn nữa, sau các đợt cúm gia cầm, nhiều hộ nuôi bị mất vốn, không có khả năng thanh toán các khoản nợ ngân hàng nên ngân hàng không cho vay với mục đích chăn nuôi gà, mà chỉ cho vay với hình thức thế chấp quyền sử dụng đất để chăm sóc cây trồng Điều này gây khó khăn cho các hộ nuôi trong việc mở rộng qui mô
Về cơ cấu thu nhập: Hiên nay cơ cấu thu nhập chính của hộ vẫn là trồng trọt, chiếm 39,74% với những lọai cây ăn trái đang được ưa chuộng trên thị trường như: bưởi da xanh, bưởi 5 roi, nhãn xuồng, măng cụt, chôm chôm, cam,…Nguồn thu từ gia cầm chiếm 38,18% Đây là hai nguồn thu chính của hộ
Trang 35Hình 3: CƠ CẤU THU NHẬP CỦA HỘ NĂM 2006
Hầu hết các hộ nuôi gà đều tận dụng phân gà để nuôi cá, nhờ đó mà hộ có thêm nguồn thu từ thủy sản chiếm 7,02% trong tổng thu nhập Ngoài ra người chăn nuôi còn có các khoản thu khác như buôn bán nhỏ, làm thuê… chiếm 15,06%
Theo kết quả điều tra thì 100% các hộ nuôi gà đều bán cho thương lái trong và ngoài tỉnh, không có hợp đồng bao tiêu sản phẩm Phương thức thanh toán bằng tiền mặt chiếm 63,3%, số còn lại là vừa tiền mặt vừa bán chịu Nếu bán chịu thì thời hạn trả là từ 7 đến 15 ngày Khi cần bán, người chăn nuôi gọi điện cho thương lái và họ
sẽ đến tận nhà mua gà Ở địa phương chưa có sự liên kết giữa người chăn nuôi với các cơ sở giết mổ, chưa có doanh nghiệp đầu tư kinh doanh cơ sở giết mổ gắn với cơ
sở chế biến thịt gia cầm bằng dây chuyền công nghiệp với khả năng chế biến hay bảo quản trữ đông qui mô lớn
Giá bán qua các năm có xu hướng ngày càng tăng Cụ thể, năm 2005 giá bán bình quân là 18.620 đồng/kg, năm 2006 giá bán bình quân là 21.980 đồng/kg và những tháng đầu năm 2007 giá bán bình quân tăng nhẹ là 22.170 đồng/kg Mức giá tăng không cao do gần đây lượng gà Mĩ đông lạnh giá rẻ nhập vào Việt Nam ngày càng tăng (Gà nhập từ Mĩ có giá rẻ là do người Mĩ chuộng phần ức gà, còn phần thân và cánh dư ra được xuất khẩu với giá rẻ)
Trang 3621,980 22,170
16,000 17,000 18,000 19,000 20,000 21,000 22,000 23,000
Về tình hình cúm gia cầm tại địa phương: Theo kết quả điều tra, có 63,3% số hộ nuôi gà từ lúc nuôi đến nay có gà bị cúm Thời gian có dịch cúm ở địa phương là cuối năm 2003, một số thời điểm ở năm 2004 và năm 2005 Khi dịch cúm mới bùng phát ở một số tỉnh, thành khác thì hộ nuôi vẫn bán được gà cho thương lái nhưng với giá thấp từ 9000 đồng đến 14.500 đồng Tại thời điểm dịch cúm bùng phát ở địa phương thì gà sẽ bị tiêu hủy với mức hỗ trợ 2000 đồng/con đối với gà nhỏ, từ 5000 đồng đến 7000 đồng mỗi con đối với gà lớn
Theo kết quả điều tra, có 73,3% các hộ nuôi gà không dám mở rộng qui mô nuôi
mà nguyên nhân chính là do không đủ vốn và do hậu quả của dịch cúm gia cầm để lại; 26,7% số hộ còn lại có ý định mở rộng qui mô nuôi, đây cũng cính là những hộ chủ động được nguồn vốn trong chăn nuôi