Mặt dù hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong thời gian qua gặp không ít khó khăn do giá cả biến động không ngừng, dịch bệnh liên tiếp xảy ra ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế[r]
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Chương 1: Giới thiệu 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Phạm vi không gian 2
1.3.2 Phạm vị thời gian 2
1.3.3 Phạm vi nội dung 2
1.4 Lược khảo tài liệu 2
Chương 2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
2.1 Phương pháp luận 4
2.1.1 Một số vấn đề về lãi suất 4
2.1.2 Các chỉ số đánh giá tác động của lãi suất 8
2.2 Phương pháp nghiên cứu 11
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 11
2.2.2.Phương pháp phân tích 11
Chương 3: Giới thiệu chi nhánh ngân hàng nông nghiệp à phát triển nông thôn quận Cái Răng 13
3.1.Vị trí địa lý và kinh tế xã hôi của quận Cái Răng 13
3.1.1 Vị trí địa lý 13
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 13
3.2 Lịch sử hình thành và phát triển của NNNo & PTNT quận Cái Răng 14
3.3 Chức năng và hoạt động của ngân hàng 15
3.3.1 Chức năng của ngân hàng 15
3.3.2 Hoạt độngkinh doanh của ngân hàng 16
3.4 Cơ cấu tổ chức và chức năng các bộ phận 17
3.5 Đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng 19
Chương 4: Tác động của lãi suất đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn quận Cái Răng 25
Trang 24.1 Tình hình nguồn vốn và tài sản nhạy cảm với lãi suất 25
4.1.1 Tình hình nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất 25
4.1.2 Tình hình tài sản nhạy cảm với lãi suất 31
4.2 Biến động lãi suất của NHNo & PTNT 35
4.2.1 Biến động của lãi suất huy động 35
4.2.2 Biến động của lãi suất cho vay 43
4.3 Tác động của lãi suất đến kết quả kinh doanh 46
4.3.1 Ảnh hưởng của lãi suất đến chi phí 46
4.3.2 Ảnh hưởng của lãi suất đến thu nhập 50
4.3.3 Tác động của lãi suất đến lợi nhuận ngân hàng 53
Chương 5: Các giải pháp hạn chế rủi ro lãi suất và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng 58
5.1 Những vấn đề còn tồn tại của NHNo & PTNT quận Cái Răng 58
5.1.1 Những mặc tích cực 58
5.1.2 Những mặc hạn chế 58
5.1.3 Phương hướng hoạt động 59
5.2 Giải pháp hạn chế rủi ro lãi suất và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng 60
5.2.1 Về hạn chế rủi ro lãi suất 60
5.2.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng 61
Chương 6: Kết luận và kiến nghị 64
6.1 Kết luận 64
6.2 Kiến nghị 65
6.2.1 Kiến nghị đối với NHNo & PTNT TP Cần Thơ 65
6.2.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 65
6.2.3 Kiến nghị đối với chính quyền địa phương 65
Trang 3Danh mục bảng
Trang
Bảng 1: Tóm tắt sự thay đổi của lãi suất đến thu nhập ròng 9
Bảng 2: Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng từ năm 2006 đến quý 1 2009 20
Bảng 3: Các chỉ tiêu khả năng sinh lời 23
Bảng 4: Tình hình nguồn vốn của ngân hàng 26
Bảng 5: Cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng 27
Bảng 6: Nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất 30
Bảng 7: Tình hình tài sản của ngân hàng 33
Bảng 8: Tài sản nhạy cảm với lãi suất 34
Bảng 9: Tình hình nguồn vốn huy động của ngân hàng 37
Bảng 10: Biến động của lãi suất huy động 40
Bảng 11: Tình hình hoạt động tín dụng 43
Bảng 12: Lãi suất cho vay của NHNo & PTNT quận Cái Răng 45
Bảng 13: Chi phí trả lãi của ngân hàng 48
Bảng 14: So sánh tốc độ tăng của vốn huy động và chi phí trả lãi 50
Bảng 15: Thu nhập từ lãi của ngân hàng 51
Bảng 16: So sánh tốc độ tăng của dư nợ và thu nhập từ lãi 53
Bảng 17: Lợi nhuận từ lãi của ngân hàng 54
Bảng 18: Tổng hợp trạng thái nhạy cảm của lãi suất 55
Bảng 19: Một số chỉ tiêu so sánh 57
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của NHNo & PTNT quận Cái Răng 17
Hình 2: Kết quả kinh doanh của ngân hàng 21
Hình 3: Nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất 29
Hình 4: Huy động theo hình thức huy động 36
Hình 5: Lãi suất theo hình thức huy động 41
Hình 6: Biến động lãi suất huy động từ 01/2008 – 03/2009 42
Hình 7: Lãi suất cho vay ngắn hạn từ 01/2008 – 05/2008 45
Hình 8: Tỷ trọng chi phí trả lãi của ngân hàng 49
Hình 9: Tỷ trọng thu nhập từ lãi và ngoài lãi của ngân hàng 52
Hình 10: Cơ cấu lợi nhuận của NHNo & PTNT quận Cái Răng 54
CHƯƠNG 1.
Trang 5GIỚI THIỆU 1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Năm 2008 tình hình khủng hoảng kinh tế xảy ra ở tất cả các nước trên thế giới Nó bắt đầu từ khủng hoảng tài chính của Mỹ và sau đó ảnh hưởng đến tất cả các nước trên thế giới Ở Việt Nam cũng bị tác động mạnh mẻ cụ thể: đối với tốc
độ tăng trưởng kinh tế chậm lại năm 2008 tăng trưởng GDP chỉ có 6,5%, kim ngạch xuất khẩu giảm khoảng 20-21%, hệ thống tài chính ngân hàng gặp nhiều khó khăn như lợi nhuận nhiều ngân hàng giảm xuống và thậm chi thua lỗ; nợ xấu tăng lên, thị trường hàng hóa- dịch vụ giảm do sức cầu giảm cả trong sản xuất và tiêu dùng,…Trước những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, ngay từ đầu năm Chính phủ đưa ra một loạt các giải pháp để ngăn chặn, phòng ngừa nhưng hậu quả khôn lường của “ Cơn bão tài chính” Đến tháng 2/2009 Chính phủ thưc hiện chính sách tiền tệ và tài khóa trong đó có chính sách hỗ trợ lãi suất 4%/năm nhằm kích cầu cho nền kinh tế tăng trưởng
Thành phố Cần Thơ là trung tâm kinh tế của Đồng Bằng Sông Cửu Long,
có vị trí địa lý rất thuận lợi: nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, trên trục giao thương giữa vùng tứ giác Long Xuyên, bán đảo Cà Mau, Đồng Tháp Mười
và thành phố Hồ Chí Minh Năm 2008, GDP của thành phố Cần Thơ đạt gần 14.000 tỉ đồng, tăng hơn 16% so với năm trước, dẫn đầu các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, trong đó khu vực I tăng 3,8%; khu vực II tăng 21,3%; khu vực III tăng 16,8% Quận Cái Răng là một quận trung tâm của TP Cần Thơ, nơi tập trung nhiều dân cư, khu công nghiệp, các công trình văn hóa xã hội,…đây là điều kiện tốt cho quận phát triển hơn nữa Do trên địa bàn có nhiều dự án nên nhu cầu vốn trở nên cấp thiết, vấn đề đặt ra là phải gia tăng thị trường vốn, mở rộng dịch
vụ và các hoạt động cần thiết Tuy nhiên cần phải đảm bảo việc hạn chế rủi ro và tạo ra lợi nhuận, để làm được điều này thì Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Quận Cái Răng luôn cố gắng thực hiện tốt vai trò trung gian tài chính như huy động vốn và cung cấp vốn hiệu quả Để thực hiện tốt nghiệp vụ này thì việc quản trị lãi suất chặt chẽ là một việc làm cấp thiết đối với các cấp lãnh đạo Với mỗi quyết định tăng, giảm lãi suất như thế nào sẽ tác động rất lớn
đến kết quả kinh doanh của Ngân hàng Vì vậy, đề tài “ phân tích tác động của
Trang 6lãi suất đến kết quả kinh doanh của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn quận Cái Răng” là cần thiết.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 2.1 Mục tiêu chung
Phân tích tác động của lãi suất đến chi phí và lợi nhuận của ngân hàng từ năm 2006 – 2008
1.2.1 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích tình hính nguồn vốn và tài sản nhạy cảm với lãi suất
- Phân tích biến động của lãi suất bao gồm lãi suất huy động và cho vay
- Phân tích tác động của lãi suất đến chi phí, doanh thu và lợi nhuận và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng
- Phân tích tình hình tài sản và nguồn vốn
- Phân tích các yếu tố tác động đến lãi suất của Ngân hàng cũng như kết quả hoạt động kinh doanh
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Các nghiên cứu liên quan đến đề tài đã thực hiện trước đây gồm có:
- Luận văn tốt nghiệp Châu Thị Nhãn đề tài “ Quản trị rủi ro lãi suất tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Sóc Trăng” thực hiện vào năm 2006 Tác giả phân tich tình hình nguồn vốn và tài sản nhạy cảm với lãi suất, đánh giá ảnh hưởng của lãi suất đền thu nhập của ngân hàng, dự báo lãi suất trong tương lai
- Tác giả Nguyễn Thị Hương Chầm, năm 2007 Luận văn tốt nghiệp : “tác động của lãi suất đến chi phí và lợi nhuận của ngân hàng ngoại thương chi nhánh
Trang 7tỉnh Kiên Giang” Dùng phương pháp so sánh số tương đối và tuyệt đối và tốc độ tăng bình quân, tác giả phân tích tình hình biến động của lãi suất ảnh hưởng đến chi phí, thu nhập của ngân hàng cả bằng VND và USD, đề xuất các giải pháp hạn chế rủi ro lãi suất để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Trang 8CHƯƠNG 2.
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Một số vấn đề về lãi suất
a Khái niệm về lãi suất
Lãi suất là tỷ lệ phần trăm của tổng số tiền phải trả so với số vốn gốc đã đi vay trong một khoảng thời gian nhất định
Thực chất của lãi suất là số tiền mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và lợi tức người cho vay có được đối với khoản tiền
dư thừa trong khoản thời gian nhất định
Lãi suất là giá cả của sản phẩm ngân hàng, nên có tác động trực tiếp đến giá trị tài sản có và tài sản nợ của ngân hàng Mọi sự thay đổi của lãi suất đều có thể tác động đến việc tăng giảm thu nhập, chi phí và lợi nhuận của ngân hàng Nếu thu nhập từ lãi không lớn hơn chi phí về lãi thì ngân hàng sẽ gặp rủi ro về lãi suất
b Ý nghĩa của lãi suất
Việc điều hành cơ chế theo lãi suất cơ bản, lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng vừa bị chi phối bởi yếu tố thị trường, vừa chịu sự tác động từ những can thiệp của NHNN trong việc qui định và thay đổi các loại lãi suất Mặc dù vẫn còn
sự tồn tại của các biện pháp hành chính từ phía NHNN trong việc điều hành lãi suất nhưng không đáng kể Và khi lãi suất là do thị trường quyết định, các lực lượng thị trường sẽ tác động làm cho lãi suất thay đổi thường xuyên và khó dự đoán Khi lãi suất thị trường thay đổi liên tục trong thời gian vừa qua, cùng với hàng loạt những thay đổi trong việc ấn định lãi suất cơ bản thì chắc chắn rằng những nguồn thu chính từ danh mục cho vay và đầu tư chứng khoán cũng như chi phí trả lãi đối với tiền gửi và các nguồn vay của ngân hàng đều bị tác động Những thay đổi này có thể tác động tiêu cực tới lợi nhuận ngân hàng: làm tăng chi phí nguồn vốn, giảm thu nhập từ tài sản, hạ thấp giá trị vốn chủ sở hữu của ngân hàng Vì vậy, sự biến động của lãi suất tác động đến toàn bộ hoạt động và nguồn thu nhập cuối cùng của ngân hàng Điều này khiến cho các ngân hàng phải đối mặt thực sự với nguy cơ rủi ro lãi suất, nếu không có sự quan tâm thích đáng đến việc quản lý rủi ro lãi suất, không dự đoán được xu hướng biến động của lãi
Trang 9suất thì các ngân hàng có thể bị thiệt hại nặng nề từ loại rủi ro này, thậm chí đẩy ngân hàng vào tình trạng mất khả năng thanh toán, dẫn đến phá sản Cho nên lãi suất trở thành trọng tâm chú ý đối với các ngân hàng nói chung và NHNo & PTNT chi nhánh quận Cái Răng nói riêng nhằm xác định trạng thái nhạy cảm về lãi suất của ngân hàng, từ thực trạng rủi ro lãi suất của ngân hàng sẽ có những biện pháp thích hợp nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng tiêu cực của loại rủi ro này.
c Tác dụng của lãi suất
Lãi suất đóng vai trò quan trọng trong thị trường tài chính cũng như tác động đến sản xuất kinh doanh Lãi suất là đòn bẩy và là công cụ quản lý vĩ mô được ngân hàng Nhà Nước sử dụng để thực hiện chính sách tiền tệ - tín dụng và các chính sách kinh tế tài chính khác
Lãi suất luôn có tác dụng hai mặt:
- Lãi suất thấp: Khuyến khích cho vay vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhưng có tác dụng ngược lại người dân không thích tiết kiệm, người ta muốn dùng tiền đi đầu tư nhiều hơn là gửi tiết kiệm, vì vậy nguồn vốn tín dụng bị hạn chế
- Lãi suất cao: Có tác dụng khuyến khích người ta gửi tiết kiệm nhiều hơn
là đầu tư vào sản xuất kinh doanh Do đó làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn do áp lực lãi suất quá cao và ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
c Phân loại lãi suất
- Lãi suất danh nghĩa là lãi suất mà người cho vay không tín đến sự biến
động của giá trị tiền tệ
- Lãi suất thực là lãi suất sau khi trừ đi sự biến động của giá trị tiền tệ như là
Trang 10Lợi nhuận bình quân > Lãi suất cho vay > Lãi suất tiền gửi > Tỷ lệ lạm phát.
Theo Thông tư số 01/TTNH1 về hướng dẫn thực hiện Nghị định của Chính phủ về chính sách cho vay hộ sản xuất để phát triển Nông - lâm - ngư - nghiệp và kinh tế nông thôn có quy định về lãi suất như sau:
+ Các Tổ chức tín dụng cho vay hộ sản xuất theo cơ chế lãi suất linh hoạt, bảo đảm hiệu quả kinh doanh của các Tổ chức tín dụng và được người vay chấp nhận
+ Các Tổ chức tín dụng cho vay bằng nguồn vốn huy động, mức cho vay bình quân cao hơn mức huy động bình quân, chênh lệch giữa lãi suất đi vay và lãi suất cho vay phải bảo đảm chi phí hợp lý cho hoạt động của Tổ chức tín dụng, nộp thuế, bù đắp rủi ro và có tích luỹ trong khung lãi suất do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam công bố
Lãi suất cho vay = Lãi suất đi vay + Chi phí hợp lý + Bù đắp rủi ro
+Thuế phải nộp + Tích luỹ.
Các Tổ chức tín dụng cho vay bằng nguồn vốn tài trợ của Nhà nước để phát triển kinh tế Nông nghiệp và Nông thôn được hưởng tỷ lệ phí theo quy định Mức lãi suất cho vay bằng nguồn vốn này do Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam công bố, sau khi có ý kiến chỉ đạo của Chính phủ
Đối với khách hàng thuộc diện cho vay ưu đãi (Khách hàng vay vốn thuộc vùng núi cao, hải đảo, vùng dân tộc ít người) được giảm 30% mức lãi suất cùng loại
Trường hợp khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn, khách hàng vay phải chịu lãi suất phạt quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất cho vay cùng loại
- Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng cho nhau vay nhằm giải quyết nhu cầu vốn ngắn hạn trên các thị trường tiền tệ
d Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
• Ảnh hưởng của chính sách nhà nước như thuế và chi tiêu của chính phủ
- Chính sách thuế: Thuế tác động đến lãi suất cunag như các loại hàng hóa khác thông qua chính sách tiền tệ ( dự trữ bắt buộc) nhằm kiểm soát
Trang 11lượng cung tiền, kiểm soát lạm phát, nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định nên chính ách tiền tệ tác động mạnh mẻ đối với lãi suất Như chính sách thắt chặt tiền tệ của Chính phủ vào năm 2008 ngân hàng Nhà Nước tăng lãi suất tái chiết khấu giảm bớt khối lượng cung tiền cho các tổ chức tín dụng, buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất huy động của mình
để đáp ứng nhu cầu hoạt động tín dụng cảu ngân hàng
- Chính sách chi tiêu của chính phủ: Vấn đề quan trọng là bội chi Ngân sách làm cho cầu quỹ cho vay tăng lên tác động làm cho lãi suất tăng lên Để giải quyết vấn đề bội chi Chính phủ thường phát hành các giấy tờ có giá như trái phiếu Lượng trái phiếu tăng lên làm cho giá trị thực sự của trái phiếu giảm từ đó làm cho lãi suất tăng lên
• Ảnh hưởng của lạm phát
Khi lạm phát tăng lên làm cho lương cung tiền của các ngân hàng giảm lại
vì người dân không có xu hướng gửi tiền vào ngân hàng vì tỷ lệ lạm phát tăng quá cao nếu gửi tiền vào ngân hàng thì họ sẽ bị lỗ vì lãi suất tiền gửi thấp hơn tỷ
lệ lạm phát Do đó gây ra áp lực buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất huy động lên Nhưng trái lại, Về phía cầu tín dụng thì lại có xu hướng đi vay nhiều hơn để gia tăng sản xuất vì tỷ lệ lạm phát cao hơn mức lãi suất cho vay vì vậyc ũng có tác dụng làm tăng mức lãi suất lên cao hơn
• Ảnh hưởng của cung- cầu quỹ cho vay
Cung quỹ cho vay bao gồm: các khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán của tất cả các cá nhân và tổ chức kinh tế
Cầu quỹ cho vay bao gồm: nhu cầu vốn của các cá nhân, tổ chức kinh tế nhằm mục đích kinh doanh, tiêu dùng, bù đắp phần vốn thiếu hụt,
Như vậy khi cung quỹ cho vay tăng lên thì lãi suất có xu hướng giảm và ngược lại khi cung quỹ cho vay giảm thì lãi suất có xu hướng tăng lên
• Ảnh hưởng của rủi ro và kỳ hạn
Rủi ro tác động cùng chiều với lãi suất khi rủi ro tăng cũng đồng nghĩa với lãi suất tăng lên Vì vậy rủi ro càng cao thì lãi suất càng cao Ví dụ như lãi suất trái phiếu chính phủ thấp hơn lãi suất của tất cả các giấy tờ có giá còn lại bởi vì trái phiếu Chính phủ rất ít rủi ro
Trang 12Kỳ hạn sẽ tác động cùng chiều với lãi suất như kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao, bởi vì thời hạnc àng dài thì sẽ gặp nhiều rủi ro như rủi ro thanh khoản, rủi ro lạm phát, )
• Ảnh hưởng các yếu tố khác
Hiện nay, thì sự phát triển của mạng lưới ngân hàng ngày càng tăng lên vì vậy mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng trở nên gây gắt hơn Sự cạnh tranh về cung cấp các sản phẩm dịc vụ, công nghệ góp phần làm giảm chi phí quản lý cho ngân hàng,… làm cho lãi suất giảm xuống Bên cạnh đó còn có các yếu tố khác như sụ biến động của tình hình kinh tế tài chính thế giới cũng làm cho lãi suất biến đổi theo
2.1.2 CÁC CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT
a Các chỉ số phản ánh rủi ro lãi suất
Mô hình định giá lại trong đo lường rủi ro lãi suất của ngân hàng.
Khe hở nhạy cảm lãi suất GAP (Chênh lệch tài sản và nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất ).(Interest- rate sensitive gap management)
GAP = RSA – RSL
Trong đó RSA( Rate sensitive assets) : Tài sản nhạy cảm với lãi suất
RSL(Rate sensitive liabities) : Nguồn vốn nhạy cảm lãi suất
hay GAP = TSNC – NVNC
Trong đó: Tính nhạy cảm của một tài sản có hoặc tài sản nợ được đo lương thông qua lợi nhuận hoặc chi phí tương ứng với sự biến động của lãi suất
TSNC: Tài sản nhạy cảm với lãi suất là các loại tài sản mà trong đó thu
nhập về lãi suất sẽ thay đổi trong một khoảng thời gian nhất định khi lãi suất thay đổi Tức là, tài sản có thể định giá lại khi lãi suất thay đổi Đó là các khoản cho vay và đầu tư ngắn hạn
NVNC: Nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất là các khoản nợ mà trong đó chi
phí lãi suất sẽ thay đổi trong thời gian nhất định khi lãi suất thay đổi Đây là những loại nguồn vốn mà lãi suất được điều chỉnh theo điều kiện thị trường Đó
là các khoản tiền gửi không kỳ hạn, các khoản vay ngắn hạn…
- GAP > 0 Ngân hàng nhạy cảm về tài sản có Khi lãi suất tăng, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng sẽ tăng vì thu từ lãi trên tài sản sẽ tăng nhiều hơn
Trang 13chi phí trả lãi cho vốn huy động, nếu các yếu tố khác không đổi, thu nhập lãi của ngân hàng sẽ tăng lên Ngược lại, lãi suất giảm thu nhập lãi của ngân hàng sẽ giảm.
- GAP < 0 Ngân hàng nhạy cảm về tài sản nợ Khi lãi suất tăng, làm giảm thu nhập lãi cận biên của ngân hàng vì chi phí cho những khoản nợ nhạy cảm lãi suất sẽ tăng nhiều hơn mức tăng thêm trong lãi thu về từ những tài sản có nhạy cảm lãi suất của ngân hàng Sự sụt giảm lãi suất sẽ làm tăng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và có thể tạo ra lợi nhuận cao hơn, vì chi phí lãi trả cho vốn huy động sẽ giảm nhiều hơn lãi thu về bị giảm
- GAP = 0 tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được bảo vệ dù lãi suất thay đổi theo hướng nào, tuy nhiên nó không loại trừ được hoàn toàn rủi ro lãi suất vì lãi suất tài sản và lãi suất của các khoản nợ không ràng buộc chặt chẽ với nhau
Sự thay đổi thu nhập ròng từ lãi suất ΔTN (khi lãi suất biến động Δi )
ΔTN = TSNC × Δi – NVNC × Δi = GAP × Δi
Theo mô hình trên có thể thấy rằng, khi tài sản và nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất của ngân hàng có sự chênh lệch, ngân hàng luôn đứng trước nguy cơ rủi ro lãi suất khi lãi suất biến động
Ảnh hưởng của sự thay đổi lãi suất đến thu nhập ròng của ngân hàng được tóm tắt như sau:
Bảng 1: TÓM TẮT SỰ THAY ĐỔI CỦA LÃI SUẤT ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU
NHẬP RÒNG
Trang 14ngân hàng và những nhà định chế trong việc phòng ngừa rủi ro lãi suất Hiện nay,
mô hình định giá lại đang được áp dụng ở Mỹ Quỹ dự trữ Liên bang Hoa Kỳ yêu cầu các ngân hàng phải báo cáo định kỳ hàng quí chênh lệch giữa tài sản nợ và tài sản có theo các kỳ hạn khác nhau
b Các công thức tính lãi suất
Công thức tính lãi suất đơn như sau:
R = V.r.t
Trong đó: R là lãi suất đơn
V là giá trị vốn gốc
r là lãi suất tính theo năm
t là thời hạn cho vay tính theo năm
Lãi suất kép: hay còn gọi là lãi nhập vốn, là lãi phát sinh và được tính
toán trên số vốn gốc cộng với số lãi kỳ trước nhập vào vốn gốc
Công thức tính như sau:
L = V(1+r)t
Trong đó: L là lãi suất kép
V là giá trị của vốn gốc
r là lãi suất tính theo năm
t là thời gian cho vay tính bằng năm
Lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa: Lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa nói lên mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ lệ lạm phát
Mối quan hệ giữa lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa còn có liên quan đến tỷ lệ trượt giá do lạm phát làm tăng giá cả trên thị trường
Công thức tính như sau:
Trang 152.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Các số liệu dùng đề phân tích trong đề tài là số liệu thứ cấp, được thu thập từ bảng báo cáo kết quả kinh doanh, biểu lãi suất huy động và cho vay, bảng cân đối tài khoản tổng hợp và cân đối tài khoản chi tiết của ngân hàng qua 4 năm 2005, 2006,
2007 và 2008, các văn bản pháp qui, định hướng phát triển của ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh quận Cái Răng Ngoài ra, có một số số liệu
về thông tin thị trường được thu thập trên các tạp chí ngân hàng, tạp chí tiền tệ và sách báo có liên quan đến đề tài phân tích
2.2.2 Phương pháp phân tích
Để hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp phân tích số liệu chủ yếu sau:
Mục tiêu 1: Phân tích tình hình nguồn vốn và tài sản nhạy cảm với lãi
suất cảu ngân hàng từ năm 2006 đến quý 1 năm 2009 Sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp so sánh số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị số của
kỳ phân tích với kỳ gốc của chỉ tiêu kinh tế
Δy = y1 – y0Trong đó:
y0 : chỉ tiêu năm trước
y1 : chỉ tiêu năm sau
Δy : là phần chênh lệch tăng, giảm của các chỉ tiêu kinh tế
+ Phương pháp so sánh bằng số tương đối: là kết quả của phép chia giữa
trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế
y1
Δy =
Trong đó: y0 : chỉ tiêu năm trước
y1 : chỉ tiêu năm sau
Δy : biểu hiện tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế
y0
× 100 - 100%
Trang 16Xem xét tình hình tài sản nhạy cảm và nguồn vốn nhạy cảm của ngân hàng
có biến động không, nếu có thì biến động như thế nào Tù đó có đánh giá chung
về tình hình tài sản và nguồn vốn nhạy cảm và nguyên nhân biến động của nó
Mục tiêu 2: Phân tích biến động của lãi suất huy động và cho vay.
Dùng phương pháp so sánh tương đối và tuyệt đối, đánh giá tình hình biến động và mức độ biến động và sau đó xác định nguyên nhân tạo ra sự biến động đó
Mục tiêu 3: Phân tích tác động của lãi suất đến kết quả kinh doanh và đề ra
các giải pháp
- Phương pháp so sánh tuyệt đối và tương đối
- Phương pháp tính tốc độ tăng bình quân
) (
GAP = TSNC - NVNC
Từ kết quả của GAP ta có thể xác định được trạng thái nhạy cảm lãi suất của Ngân hàng ( nếu có ) Bên cạnh giá trị GAP, tính thêm các chỉ số: hệ số chênh lệch lãi, hệ số nhạy cảm, hệ số độ lệch Từ các giá trị tính được ta có thể kết luận về mức độ rủi ro lãi suất của Ngân hàng
CHƯƠNG 3.
Trang 17GIỚI THIỆU CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN QUẬN CÁI RĂNG
3.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA QUẬN CÁI RĂNG
3.1.1 Vị trí địa lý
Quận Cái Răng cách thành phố Cần Thơ 5 km về phía Nam, có quốc lộ đi qua, với diện tích tự nhiên 6.253,4 ha, dân số là 77.292 người với 14.344 hộ dân Cái Răng nằm tiếp giáp với quận Ninh Kiều, một quận trung tâm của thành phố cần Thơ và nằm trên tuyến đường huyết mạch nối thành phố Cần Thơ về các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau…
Quận Cái Răng đã được xác định là vùng kinh tế trọng điểm của thành phố Cần Thơ trong tương lai Quận Cái Răng được thành lập trực thuộc TP Cần Thơ, gồm 7 đơn vị hành chính cấp phường: Lê Bình, Ba Láng, Thường Thành, Hưng Phú, Hưng Thạnh, Tân Phú, Phú Thứ
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
a) Về kinh tế
Trong xây dưng kêt câu ha tâng đô thi la viêc hoan thiên va nâng câp hê thông giao thông đô thi Trong năm, quân đa triên khai nhiêu dư an phat triên hê thông giao thông, trong đo nôi bât la tiên hanh trang nhưa tuyên đương Trân Hưng Đao nôi dai đên đương Hang Gon (phương Lê Binh), tuyên nôi đương Lê Binh - Phu Thư (giap vơi tinh lô 924), đương tư trung tâm quân đên sông Ba Lang, cung vơi viêc vân đông nhân dân xây dưng va nâng câp cac tuyên giao thông nông thôn kêt hơp vơi cac tuyên đê bao chông lu, Trên cơ sơ sư kêt hơp nhiêu nguôn lưc như nguôn vôn ngân sach cua Trung ương, thanh phô, phat hanh trai phiêu, đăc biêt la huy đông sư đong gop cua nhân dân, quân đa nâng câp, sưa chưa, mơ rông va lam mơi 94,73 km đương giao thông cac loai va thi công hoan thanh đưa vao sư dung 15 cây câu Vơi tông kinh phi trên 36,6 ty đông, trong đo phân đong gop cua nhân dân trên 28,4 ty đông (theo gia cô đinh năm 1994, nêu tinh theo gia thi trương la 200 ty đông), qua hinh thưc hiên hoa mau, đât đai va sưc lao đông, Cai Răng trơ thanh mô hinh đôt pha cua thanh phô vê huy đông sưc dân trong phat triên kêt câu ha tâng
Quân Cai Răng co 02 (Khu công nghiêp Hưng Phu I va Hưng Phu II vơi tông diên tich 576 ha) trong 04 khu công nghiêp cua thanh phô Cân Thơ Hai khu
Trang 18công nghiêp nay đa thu hut 8 dư an đâu tư, vơi tông vôn đăng ky 72 triêu USD Thanh phô Cân Thơ cung xac đinh quy hoach Khu đô thi cang công nghiêp Nam Cân Thơ - Cai Răng vơi hang loat cac hang muc công trinh quan trong như: bênh viên đa khoa, khu tai đinh cư, trung tâm văn hoa, thương mai, du lich,
Quân đa thưc hiên cai cach thu tuc hanh chinh, đưa bô phân tiêp nhân va tra kêt qua hô sơ hanh chinh hoat đông theo mô hinh "môt cưa"; niêm yêt công khai cac thu tuc hanh chinh, thơi gian giai quyêt tưng loai hô sơ, mưc thu phi, lê phi tai cac phong, ban câp quân va uy ban nhân dân cac phương, qua đo tao điêu kiên thuân lơi cho cac nha đâu tư triên khai dư an trên đia ban
+ Hộ nghèo (thuộc đối tượng vay NHCSXH) là 1442 hộ
+ Hộ gia đình ở khu vực nông nghiệp, nông thôn là 14.070 hộ
+ Hộ gia đình ở khu vực nông nghiệp, nông thôn kinh doanh được cấp giấy phép là 50 hộ
3.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHNo&PTNT QUẬN CÁI RĂNG
Theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/03/1998 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ngân hàng Phát triển nông nghiệp Việt Nam được thành lập trong phạm
vi cả nước gồm: ngân hàng Phát triển nông nghiệp Trung ương, 38 chi nhánh Tỉnh và Thành phố, 475 chi nhánh quận với tổng biên chế 36.000 người Ngày 14/11/1990, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 400/CP đổi tên thành Ngân hàng nông nghiệp Viiệt Nam Đến ngày 15/10/1996, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền ký quyết định 280/QĐ – NH5 đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Từ khi được thành lập đến nay NHNo & PTNT quận Cái Răng đã qua bốn lần đổi tên Được thành lập theo nghị định số 53/HĐBT ngày 26 tháng 3 năm
1988 của Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Chính Phủ ), Ngân hàng có tên gọi đầu
Trang 19tiên là Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp quận Châu Thành Đến ngày 14 tháng
11 năm 1990, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp quận Châu Thành được đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp quận Châu Thành theo Quyết định số 400/ HĐBT
Ngày 25 tháng 1 năm 1996, Ngân hàng Nông nghiệp quận Châu Thành được đổi tên thành Ngân hàng Nông Nghiêp và Phát triển nông thôn quận Châu Thành, là một trong 7 chi nhánh của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Cần Thơ, thuộc sự quản lý và điều hành của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Ngân hàng Nông Nghiêp và Phát triển Nông thôn quận Châu Thành có chi nhánh trực thuộc tại chợ Cái Tắc, quận Châu Thành, tỉnh Cần Thơ
Ngày 25 tháng 3 năm 2004, Ngân hàng Nông Nghiêp và Phát triển Nông thôn quận Châu Thành chính thức đổi tên thành Ngân hàng Nông Nghiêp và Phát triển Nông thôn Quận Cái Răng Có trụ sở đặt tại số 106/4, đường Võ Tánh, Quận Cái Răng, thành phố Cần thơ Ngân hàng Nông Nghiêp và Phát triển Nông thôn Quận Cái Răng là một trong 8 chi nhánh của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố Cần Thơ gồm: ngân hàng Nông Nghiêp và Phát triển Nông thôn quận Ninh Kiều, quận Ô Môn, quận Bình Thủy, huyện Phong Điền, huyện Vĩnh Thạnh, huyện Cờ Đỏ và quận Thốt Nốt
Với phương châm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nguồn lực với 3 nội dung chính là nhân lực, công nghệ và tài chính Từ khi chia tách đến nay, mặc dù
có nhiều thay đổi về nhân sự và địa bàn hoạt động nhưng Ngân hàng không ngừng phát triển và đạt nhiều thành tựu đáng kể, giữ vững danh hiệu đơn vị tiên tiến trong thời kỳ mới, góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế của quận ngày càng giàu mạnh
3.3 CHỨC NĂNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
3.3.1 Chức năng của ngân hàng
Ðịa bàn hoạt động của NHNo&PTNT Quận Cái Răng thuộc địa giới quản
lý hành chính của UBND Quận Cái Răng Theo đó Ngân hàng sẽ hỗ trợ vốn cho các ngành nghề sản xuất kinh doanh trong quận, đặc biệt là nông nghiệp, nông thôn, Ngân hàng cho nông dân vay vốn ngắn, trung hạn làm chi phí sản xuất, cải
Trang 20tạo trồng mới, khai thác đất canh tác nông nghiệp, phát triển nông nghiệp nông thôn góp phần cải thiện đời sống nhân dân, đưa kinh tế Quận phát triển.
Ngân hàng đã xác định được đặc điểm khách hàng của mình là hộ nông dân cá thể, hộ kinh tế nhỏ, yêu cấu về vốn không lớn, nên việc cho vay và thu hồi
nợ luôn có những khó khăn nhất định Chính vì thế Ngân hàng đã đề ra những chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm khai thác triệt để các nguồn vốn tiềm ẩn trong dân cư, đặc biệt là các nguồn vốn từ hoạt động đền bù giải tỏa trên địa bàn quận
Các chương trình vay vốn của Ngân hàng chủ yếu hướng vào các thành phần kinh tế thực sự khó khăn, thiếu chi phí sản xuất, kinh doanh phát triển kinh
tế xã hội của quận Nhờ vào những nỗ lực của Ngân hàng cùng với sự phấn đấu
từ bản thân các hộ nông dân, đến nay các phong trào sinh hoạt tổ nhóm được thúc đẩy mạnh mẽ, đã có nhiều hộ nông dân thoát khỏi khó khăn, đói nghèo, vươn lên làm giàu, đời sống được nâng cao, phương tiện sinh hoạt gia đình được cải thiện, bộ mặt nông thôn được đổi mới sâu sắc
Hiện nay, NHNo&PTNT quận Cái Răng đã trở thành người bạn đồng hành thân thiết trong quá trình phát triển kinh tế quận theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa Khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của Ngân hàng trên địa bàn
3.3.2 Hoạt động kinh doanh ngân hàng
Huy động vốn: nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, không
kỳ hạn bằng VNĐ, bằng ngoại tệ của mọi cá nhân và các tổ chức, doanh nghiệp
- Cho vay: cho vay ngắn hạn, trung hạn các thành phần kinh tế ở tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống, trong đó chiếm tỷ trọng cao nhất vẫn là cho vay hộ sản xuất
- Nhận làm dịch vụ thanh toán, chuyển tiền nhanh Western Union cho mọi
cá nhân và các tổ chức có yêu cầu
- Nhận thu tiền mặt và ngân phiếu thanh toán của khách hàng
- Nhận phục vụ việc mở tài khoản của cá nhân, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước
- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán và kinh doanh ngoại tệ
Trang 21- Cho vay các chương trình chỉ định của Chính phủ: cho vay hỗ trợ ngành nông nghiệp.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu
- Mua bán, trao đổi các loại ngoại tệ
- Bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng
- Thu phí bảo hiểm, làm Đại lý bảo hiểm cho Bảo Việt, Groupamar
Lĩnh vực đầu tư chủ yếu.
- Thương mại dịch vụ
- Khách sạn, Nhà hàng
- Công nghiệp chế biến Thủy sản, Lương thực thực phẩm
- Nuôi trồng thủy sản
- Sản xuất, kinh doanh, thương mại…
3.4 CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ CHỨC NĂNG CÁC BỘ PHẬN
Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT quận Cái Răng.
a) Ban Giám đốc
Gồm một Giám đốc và hai Phó Giám đốc phụ trách chung
Giám đốc: là người điều hành mọi hoạt động của Ngân hàng cũng là người quyết định cuối cùng trong kinh doanh Phân công nhiệm vụ cho từng bộ phận và nhận thông tin phản hồi từ các phòng ban Có quyền quyết định bổ
Giám đốc
BP Tổ chức hành chính
BP Kiểm soát Phó giám đốc
BP Kinh doanh BP Kế hoạch
P Kế toán
-BP Kho quỹ BP Kế toán
Phó Giám đốc
P kinh doanh
Trang 22nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, nâng lương hoặc trừ lương cán bộ công nhân viên trong đơn vị mình.
Phó Giám đốc: có trách nhiệm hỗ trợ giám đốc trong việc điều hành mọi hoạt động của Ngân hàng Giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình điều hành chi nhánh mà giám đốc giao cho, là người thay mặt Giám đốc giải quyết công việc khi Giám đốc đi vắng theo sự ủy quyền của Giám đốc
Trưởng phòng: chịu trách nhiệm về các công việc phân công cán bộ tín dụng, phụ trách địa bàn và khách hàng, kiểm tra đôn đốc cán bộ tín dụng thực hiện đầy đủ quy chế cho vay của NHNo&PTNT Việt Nam và Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam
Kiểm soát nội dung thẩm định của cán bộ tín dụng, tiến hành tái thẩm định
hồ sơ vay vốn, gia hạn nợ gốc, lãi, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc, lãi và ghi ý kiến của mình trên các hồ sơ cho vay đã quyết định Đưa ra các chiến lược và kế hoạch kinh doanh phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chi nhánh trên
cơ sở tổng hợp các ý kiến, đề xuất của các nhân viên
Cán bộ tín dụng: có nhiệm vụ tiếp đơn xin vay của khách hàng, xem xét, thẩm định, giải ngân hồ sơ vay, thu lãi vay, thu nợ, kiểm tra, đánh giá việc sử dụng vốn vay của khách hàng có đúng mục đích không, có quyền đề nghị thu hồi vốn nếu xét thấy khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, đôn đốc khách hàng trả nợ khi đến hạn, thu hồi nợ quá hạn Đề xuất các chiến lược và kế hoạch kinh doanh phù hợp cho cấp trên dựa trên tình hình kinh tế cụ thể của từng địa bàn phụ trách
c) Phòng Kế toán
Gồm một trưởng phòng và các kế toán viên
Trang 23+ Kiểm tra doanh mục hồ sơ pháp lý, hồ sơ vay vốn.
+ Hướng dẫn khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng
+ Nhận tiền chuyển đi theo nhu cầu của khách hàng
- Bộ phận kho quỹ: bộ phận kho quỹ có trách nhiệm với bộ phận kế toán điều chỉnh số liệu (nếu có sai sót) đồng thời giải ngân bằng tiền mặt cho khách hàng vay những món lớn theo qui định của Ngân hàng, tổ chức quản lý tài sản của đơn vị
d) Bộ phận Kiểm soát.
Kiểm tra giám sát việc chấp hành các chủ trương, chính sách của Nhà nước và điều lệ hoạt động của Ngân hàng về kinh doanh và tài chính đảm bảo an toàn
e) Bộ phận Tổ chức hành chính
Bộ phận này không có chức năng kinh doanh mà có trách nhiệm tham mưu cho Ban Giám đốc trong việc điều hành hoạt động của chi nhánh, đề xuất thực hiện các công việc liên quan đến công tác nhân sự và các công việc khác như: cung cấp phương tiện, cơ sở vật chất, máy móc, trang thiết bị, văn thư, giữ gìn bảo vệ an ninh trật tự cho ngân hàng
3.5 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG QUA 3 NĂM (2006-2008)
Mặt dù hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong thời gian qua gặp không ít khó khăn do giá cả biến động không ngừng, dịch bệnh liên tiếp xảy ra ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của người dân trên địa bàn, từ đó có tác động tiêu cực đến công tác huy động vốn và cả quá trình thu nợ của Ngân hàng, nhưng nhờ sự phấn đấu của tập thể cán bộ công nhân viên, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng vẫn đạt được những bước tiến đáng kể
Trang 24Bảng 2 : KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TỪ NĂM 2006 ĐẾN QUÝ 1 2009
Đvt: Triệu đồng
(Nguồn phòng kinh doanh)
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 Quý 1 2008 Quý 1 2009 2007/2006 2008/2007 Quý 1-2009/2008
Trang 255.000 10.000 15.000 20.000 25.000
Thời gian
Doanh thu Chi phí Lợi nhuận
Hình 2: KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG
a) Về doanh thu.
Thu nhập của Ngân hàng luôn tăng trong những năm qua Năm 2006 đạt 20.467 triệu đồng, sang năm 2007 là 22.735 triệu đồng, tăng 2.268 triệu đồng tương đương 11,08% Ðến năm 2008 thu nhập của Ngân hàng là 28.758 triệu đồng so với năm 2007 thì thu nhập tăng trưởng 26,49% Thu nhập tăng lên qua các năm là do Ngân hàng luôn chú trọng thực hiện tốt hoạt động tín dụng về mặt
số lượng lẫn chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của dân cư trên địa bàn và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ ngân hàng
Thu từ hoạt động tín dụng từ 2006 đến 2008 luôn tăng: năm 2007 tăng 4,89% so với năm 2006, năm 2008 tăng 18,1% so năm 2007 và chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu nhập của Ngân hàng: năm 2006 chiếm trên 99% sang năm
2007 thu từ hoạt động tín dụng chiếm 93,75% trên tổng thu nhập, năm 2008 chiếm 87,6%, đây là một tỷ trọng rất lớn, chứng tỏ hoạt động của Ngân hàng chủ yếu là cho vay, sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng chưa được biết đến nhiều Theo chiến lược chung của các NHTM Việt Nam, Ngân hàng đang cố gắng giảm dần
tỷ trọng thu từ hoạt động tín dụng, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ khác Sang
2009 tỷ trọng thu từ tín dụng của Ngân hàng trong tổng thu giảm còn 80,5% Thu
từ dịch vụ tăng mạnh chiếm trên 7% tổng thu Hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng cũng tăng trưởng nhưng còn chiếm tỷ trọng thấp Nguyên nhân là
do từ đầu năm 2008 đến nay Ngân hàng hạn chế cho vay hộ mới nên dư nợ cho vay giảm và chỉ cho vay lại ngắn hạn lãi suất thấp hơn cho vay trung hạn
Trang 262007 Do hoạt động tín dụng của Ngân hàng tăng nên kéo theo việc tăng chi phí của ngân hàng, Ngân hàng tập trung huy động vốn để đáp ứng nhu cầu vốn vay cho khách hàng nên phải tăng lãi suất tiền gửi để thu hút vốn nhàn rỗi trong xã hội qua nhiều hình thức: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiết kiệm có kỳ hạn, tiết kiệm hưởng lãi suất bậc thang, tiết kiệm dự thưởng… Việc tập trung huy động vốn đã là tăng chi phí trả lãi của Ngân hàng.
Chi phí hoạt động của ngân hàng tăng cao trong năm 2008, tăng 743,8%
so với năm 2007 là do trong năm này Quỹ chi lương của Ngân hàng tăng do lương cơ bản của Nhà nước tăng, Ngân hàng có thêm nhân viên mới Bên cạnh quỹ lương tăng chi phí bảo toàn, bảo hiểm tiền gửi cho khách hàng tăng cao vì theo qui định từ năm 2007 Ngân hàng phải mua bảo hiểm cho tiền gửi của khách hàng Với chính sách tập trung huy động vốn đã là tăng lượng tiền gửi dẫn đến chi phí bảo hiểm bảo toàn tiền gửi tăng theo NHNN liên tục tăng lãi suất cơ bản
từ 8,25%/năm lên 8,5%/năm, 12%/năm rồi đến 14%/năm Từ đó làm cho lãi suất thị trường tăng nhanh chóng và luôn giữ ở mức cao, Ngân hàng muốn huy động được vốn phải tăng lãi suất, dẫn đến chi phí trả lãi tăng mạnh
c) Về lợi nhuận.
Ngân hàng hoạt động có hiệu quả nên lợi nhuận của Ngân hàng luôn là một số dương Tuy nhiên, Ta thấy lợi nhuận của Ngân hàng có xu hướng giảm rõ rệt, nếu năm 2007 lợi nhuận giảm 356 triệu đồng tương đương 4,85% thì sang năm 2008 lợi nhuận của ngân hàng đã giảm 4.892 triệu đồng tức là giảm khoảng 70,11% so với 2007 Năm 2008 lợi nhuận của Ngân hàng tiếp tục giảm do nguyên nhân do hoạt động tín dụng không còn đem lại lợi nhuận cao như trước đây, chênh lệch lãi suất đầu ra – đầu vào ngày càng bị rút ngắn Để huy động được vốn Ngân hàng phải có lãi suất huy động ngày càng cao, trong khi lãi suất
Trang 27cho vay thì không thể tăng quá cao vì người đi vay chủ yếu là nông dân, hộ sản xuất nhỏ không thể tiếp cận vốn khi lãi suất quá cao Từ đó, hoạt động tín dụng tại Ngân hàng đạt lợi nhuận thấp, thậm chí lỗ đối với một số món vay cũ với lãi suất cho vay thấp hơn mức lãi suất huy động vốn hiện tại.
Bảng 3: CÁC CHỈ TIÊU KHẢ NĂNG SINH LỜI
( Nguồn phòng kinh doanh)
Chỉ số ROA: Hệ số này phản ánh 1% tài sản đem lại bao nhiêu % lợi nhuận Năm 2006 1 % tài sản đem lại 4,17% lợi nhuận, năm 2007 chỉ số này giảm, 1% tài sản chỉ đem lại 3,93% lợi nhuận Năm 2008 là giảm càng mạnh hơn 1% tài sản đem lại 1,1 % lợi nhuận Chỉ số này có xu hướng giảm vì thế tài sản của ngân hàng không sinh lợi nhiều Trong năm 2008 tổng tài sản tăng lên nhưng lợi nhuận không tăng lên vì có chi phí lớn Quý 1 năm 2009 thì chỉ số này có gia tăng nhưng không nhiều Vì vậy tài sản của ngân hàng mang lại lợi nhuận có xu hướng tăng lên
Hệ số doanh lợi ROS: chỉ số này phản ánh 1% thu nhập sẽ mang lại bao nhiêu % lợi nhuận Cụ thể: Năm 2006 1% thu nhập sẽ mang lại 35,83% lợi nhuận cho Ngân hàng, năm 2007 giảm xuống 1% doanh thu mang lại 30,69% lợi nhuận Năm 2008 chỉ tiêu này còn rất nhỏ chỉ có 7,25 % nghĩa là 1% doanh thu chỉ mang lại 7,25 % lợi nhuận Nguyên nhân là do Ngân hàng thiếu vốn vào quý 3 năm 2008 lãi suất huy động tăng cao nên chi phí trả lãi tăng lên rất nhiều Quý 1 năm 2009 thì chỉ số này đã tăng lên chứng tỏa thu nhập của ngân hàng mnag lợi nhuận nhiều hơn
Tổng chi phí trên tổng thu nhập: Phản ánh 1% thu nhập phải bỏ bao nhiêu
% chi phí Năm 2006 1% thu nhập thì phải tốn hết 64,17 % chi phí, năm 2007 là 1% thu nhập sẽ có 69,31 % chi phí, năm 2008 1% thu nhập có 92,75% chi phí và
Trang 28lợi nhuận còn lại là 7,25 % Chí phí ngân hàng ngày càng cao sẽ không tốt vì lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm xuống, hoạt động của ngân hàng không có hiệu quả cao Chi phí trong ngân hàng phải chịu chủ yếu là lãi suất huy động vốn nên chỉ cần lãi suất này tăng lên thì chi phí tăng lên ngay lập tức Những tháng đầu năm
2009 thì chi phí của ngân hàng đã sụt giảm so với năm 2008 Chi phí giảm sẽ làm tăng lợi nhuận cho ngân hàng
Nhìn chung, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng luôn có lợi nhuận, nhưng
do tình hình thị trường có nhiều biến động nên kết quả kinh doanh của Ngân hàng có khuynh hướng đi xuống Để có thể đứng vững trong xu thế hội nhập, đảm bảo thực hiện tốt chức năng của Ngân hàng trong việc thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của địa phương, góp phần thay đổi bộ mặt
đô thị mới, đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế….Ngân hàng cần phải phấn đấu không ngừng để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của đơn vị
Trang 29a Tình hình nguồn vốn của ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành kinh doanh, bất kì doanh nghiệp nào cũng cần phải có một lượng vốn nhất định: bao gồm vốn cố định, vốn lưu động và các loại vốn chuyên dụng khác Vốn là yếu tố rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế, nên bất kỳ một tổ chức nào muốn hoạt động tốt đem lại kết quả kinh tế cao thì điều trước tiên là phải có nguồn vốn dồi dào Khi các thành phần kinh tế bị thiếu vốn hoạt động, họ đến ngân hàng xin vay và ngân hàng hoạt động chủ yếu là cung cấp vốn tín dụng cho các tổ chức kinh
tế khi có nhu cầu về vốn Vì vậy, một ngân hàng muốn đứng vững trên thương trường thì điều kiện trước tiên là nguồn vốn của ngân hàng phải đủ lớn mới đảm bảo cho hoạt động tín dụng được thuận lợi, kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế Trong quá trình hoạt động, ngân hàng phải mở rộng, nâng cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hoá các hình thức huy động để thu hút lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư hay các doanh nghiệp để phân phối lại những nơi cần vốn để sản xuất kinh doanh Nguồn vốn hoạt động của ngân hàng tăng trưởng vừa tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng mở rộng đầu tư tín dụng, vừa đáp ứng nhu cầu vay vốn của các thành phần kinh tế và dân cư
Để hiểu rõ hơn về tình hình nguồn vốn của NHNo&PTNT chi nhánh quận Cái Răng được hình thành chủ yếu từ nguồn nào, biến động qua các năm ra sao,
cơ cấu thay đổi như thế nào, chúng ta cùng xem xét bảng 4
Tổng nguồn vốn của ngân hàng qua các năm có sự biến động tăng lên trong năm 2007 và tiếp tục tăng đến năm 2008 Năm 2006, tổng nguồn vốn của ngân hàng giảm là do nguồn vốn điều chuyển của ngân hàng giảm nhanh chóng, và bắt đầu từ năm này ngân hàng không còn tiếp nhận nguồn vốn tài trợ ủy thác đầu tư nữa Sang năm 2007, nguồn vốn điều chuyển mà ngân hàng tiếp nhận tiếp tục
Trang 30giảm nhưng do hoạt động huy động vốn trong năm này đạt hiệu quả cao, tốc độ tăng trưởng của vốn huy động nhanh hơn tốc độ giảm của nguồn vốn điều chuyển nên tổng nguồn vốn của ngân hàng vẫn tăng so với năm 2006
Bảng 4 : TÌNH HÌNH NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG
Đvt: Triệu đồng
(Nguồn phòng kinh doanh)
Tiếp tục thành công năm 2007 hoạt động huy vốn của ngân hàng trong năm 2008 đạt hiệu quả rất cao đạt 191.498 triệu đồng tăng 19.523 triệu đồng tương ứng 11,35% so với năm 2007, nên tổng nguồn vốn của ngân hàng trong năm 2008 có xu hướng sẽ cao hơn năm 2007 Sở dĩ hoạt động huy động vốn của Ngân hàng tăng cao trong năm 2008 là do Ngân hàng liên tục tăng lãi suất huy động theo sự biến động của lãi suất thị trường và luôn đưa ra nhiều kỳ hạn huy động hấp dẫn: huy động không kỳ hạn, có kỳ hạn 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng nên hoạt động huy động vốn đạt hiệu quả cao
Để hiểu rõ hơn về tình hình nguồn vốn của Ngân hàng, ta đi vào phân tích
tỷ trọng từng khoản mục nguồn vốn trong tổng nguồn vốn NHNo&PTNT quận Cái Răng có cơ cấu vốn như sau: xem bảng 5
Trong cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng thì vốn huy động chiếm tỷ trọng cao nhất và liên tục tăng qua các năm Vốn huy động chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong tổng nguồn vốn của ngân hàng: năm 2005 chiếm 77%, năm 2006 chiếm 83,73%, năm 2007 chiếm 93,47%, đến năm 2008 vốn huy động chiếm 97,78% tổng nguồn vốn của ngân hàng, quý 1 năm 2009 là chiếm 92,75% Nguyên nhân là do công tác huy động vốn luôn được ngân hàng quan tâm và đây
là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt trong hoạt động của chi nhánh
Chỉ tiêu
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Quý 1 2008
Qúy 1 2009
2007/2006 2008/2007
Vốn huy
động 151.984 171.975 191.498 127.157 164.568 19.991 13,15 19.523 11,35 Vốn điều
Trang 31Bảng 5: CƠ CẤU NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG
1 Vốn huy động 88,73 93,47 97,78 95,78 92,75
(Nguồn: phòng kinh doanh)
Mặc dù, 2008 tỷ lệ lạm phát tăng cao, giá cả hàng hóa đồng loạt tăng, giá vàng tăng kỷ lục vào thời điểm cuối năm và không ổn định đã ảnh hưởng đến việc khách hàng gửi tiền tại ngân hàng, khách hàng rút tiền để kinh doanh vàng
Do dịch cúm gia cầm ảnh hưởng đến việc sản xuất, giá cả hàng hóa lên xuống thất thường, nông sản được mùa mất giá của tác động xấu đến đời sống của nông dân và hộ kinh doanh nhỏ Điều này đã ảnh hưởng đến việc huy động vốn của chi nhánh Tuy nhiên, với uy tín cao, chất lượng dịch vụ tốt, lãi suất huy động hợp
lý, đảm bảo tính an toàn cho khách hàng gửi tiền nên đã tạo được lòng tin của người dân trên địa bàn gửi tiền vào Bên cạnh đó, ngân hàng luôn đưa ra nhiều hình thức huy động mới lãi suất hấp dẫn với các kỳ hạn đa dạng từ 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng… tiết kiệm lĩnh lãi trước, tiết kiệm dự thưởng trúng vàng, trúng xe, ngân hàng cũng đã chủ động đưa ra chính sách lãi suất linh hoạt đối với các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm.…đã làm tăng lượng vốn huy động của ngân hàng qua các năm
Quý 1 năm 2009 nguồn vốn huy động có xu hướng tăng lên so với quý 1 năm 2008 Nguyên nhân vào năm 2009 do lãi suất huy động vẫn còn cao so với quý 1 năm 2008, với chính sách kích cầu của Chính phủ vào đầu tháng 2 giúp người dân đầu tư vào sản xuất nhiều hơn vì thế nhu cầu vay vốn tăng lên để đáp ứng nhu cầu đó thì ngân hàng phải chú trọng hơn nửa trong công tác huy động Hơn nửa, nguồn vốn huy động từ việc bồi thường giải tỏa diễn ra sôi động, đời sống kinh tế của người dân tăng lên Những nguyên nhân này làm cho nguồn vốn huy động tăng lên
Nguồn vốn tài trợ ủy thác đầu tư của ngân hàng chiếm tỷ trọng rất thấp
Từ năm 2006 trở đi ngân hàng không còn nhận vốn tài trợ ủy thác đầu tư nữa
Trang 32Nguyên nhân là do nguồn vốn này là do Chính phủ Đan Mạch tài trợ cho tỉnh Hậu Giang cũ nhằm hỗ trợ cho các lò sấy trong chương trình phát triển công nghệ sau thu hoạch của Hậu Giang Sau khi chia tách quận thì nguồn vốn này đã chuyển về cho NHNo&PTNT quận Châu Thành quản lý, nên trong cơ cấu vốn của NHNo&PTNT quận Cái Răng không còn có sự góp mặt của nguồn vốn tài trợ ủy thác đầu tư.
Bên cạnh vốn huy động, thì ngân hàng còn nhận sự hỗ trợ vốn từ ngân hàng cấp trên thông qua hoạt động điều chuyển vốn Năm 2006 ngân hàng tiếp nhận 11.414 triệu đồng vốn điều chuyển, tương đương 6,67% trong cơ cấu vốn Năm 2007, vốn điều chuyển của ngân hàng là 5.033 triệu đồng, chiếm 2,73% tổng nguồn vốn Đến năm 2008 ngân hàng đã tự cân đối được vốn và không còn tiếp nhận vốn điều chuyển từ ngân hàng cấp trên giảm so với tỷ trọng 100% của năm 2007
Thành phần cuối cùng trong cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng là vốn và quỹ Do NHNo&PTNT quận Cái Răng là ngân hàng chi nhánh nên không được quản lý tài khoản vốn chủ sở hữu riêng, do đó nguồn vốn và quỹ của ngân hàng được hình thành từ phần chênh lệch giữa thu nhập - chi phí và quỹ khen thưởng hàng năm của ngân hàng Nguồn vốn và quỹ của ngân hàng chiếm từ 2,22% đến 4,60% trong tổng nguồn vốn, và có sự tăng giảm khác nhau qua từng năm Cụ thể năm 2007 thì lại giảm 904 triệu đồng so với năm 2006, và trong năm 2008 giảm 2.842 triệu đồng, quý 1 2009 giảm 2.842 triệu đồng so cùng kỳ năm trước Nguyên nhân là do thành phần vốn này chịu sự ảnh hưởng của kết quả kinh doanh trong năm của ngân hàng, nên có sự biến động theo sự biến động của lợi nhuận mà ngân hàng đạt được qua các năm
b Phân tích nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất
Nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất là các khoản nợ mà trong đó chi phí trả lãi sẽ thay đổi trong thời gian nhất định khi lãi suất thị trường thay đổi Trong cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng thì các khoản vốn nhạy cảm với lãi suất chủ yếu là các loại vốn huy động ngắn hạn: đó là các khoản tiền gửi không kỳ hạn của các
tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn, các loại giấy tờ có giá ngắn hạn và vốn vay ngân hàng Hội sở… Vốn điều chuyển cũng được xem là nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất, bởi vì khi lãi suất thị trường thay đổi, thì tuỳ theo tình hình
Trang 33kinh tế xã hội mà Ngân hàng Nhà nước có những chính sách tài khoá và tiền tệ khác nhau Khi đó Ngân hàng Nhà nước sẽ thay đổi lãi suất chiết khấu, lãi suất đầu vào đối với các ngân hàng thương mại Chẳng hạn ngân hàng Sacombank Việt Nam cho các chi nhánh của mình vay thì khoản vay này cũng sẽ phụ thuộc
và biến động theo mức thay đổi của lãi suất thị trường
Với sự linh hoạt trong công tác huy động vốn, trong những năm qua chi nhánh đã có nhiều biện pháp tích cực trong huy động để thu hút vốn nhàn rỗi trong nhân dân bằng nhiều hình thức như: huy động tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn,… Thường xuyên thông tin và khuyến khích các cá nhân, các tổ chức, doanh nghiệp mở tài khoản tiền gửi và thanh toán qua ngân hàng Từ đó đã tập trung và thu hút được nguồn vốn ngày càng tăng để đầu tư cho vay phát triển kinh tế địa phương
Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất và nguồn vốn không nhạy cảm với lãi suất (nguồn vốn với lãi suất cố định, hay thời gian dài) Nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất bao gồm vốn huy động ngắn hạn (tiền gửi thanh toán, chứng từ có giá, tiền gửi tiết kiệm) và nguồn vốn điều chuyển từ hội sở Xem bảng 6
Ta thấy nguồn vốn nhạy cảm của ngân hàng có nhiều biến động nhưng có
xu hướng tăng lên Năm 2007 nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất tăng lên 5,05% so với năm 2006, tiếp tục sang năm 2008 nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất có sự tăng trưởng đột ngột là 187.426 triệu đồng tương ứng 20,8% cao nhất trong 4 năm
0 20000 40000 60000 80000 100000 120000 140000 160000 180000 200000
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Quý 1 năm
2008 Quý 1 2009
Thời gian Triệ u đồng
Hình 3: NGUỒN VỐN NHẠY CẢM VỚI LÃI SUẤT
Trang 34Chú thích: TCKT: tổ chức kinh tế; TCTD: Tổ chức tín dụng GTCG: giấy tờ có giá.
TK KKH: tiết kiệm không kỳ hạn TK bậc thang: tiết kiệm bậc thang.
TK CKH: tiết kiệm có kỳ hạn KBNN: Kho bạc Nhà nước
Chỉ tiêu
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Quý 1 2008
Quý 1 2009
1 Vốn huy động ngắn hạn 126.194 139.525 173.878 122.028 158.429 13.331 10,56 34.353 24,62 36.401 29,83
Trang 35Năm 2007 nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất của ngân hàng tăng lên so với năm 2006 bởi vì năm 2007 nguồn vốn huy động của ngân hàng có mức tăng trưởng tốt trong đó vốn huy động nắng hạn tăng 10,56% vì thế ngân hàng đã chủ động được nguồn vốn của mình không cần phải sử dụng vốn điều chuyển từ hội sở nên nguồn vốn điều chuyển giảm xuống Mức độ tăng của nguồn vốn huy động cao hơn so với mức độ tăng của nguồn vốn điều chuyển nên nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất 2007 tăng so với năm 2006.
Năm 2008 nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất tiếp tục tăng lên do công tác huy động vốn của ngân hàng càng có hiệu quả hơn cho nên ngân hàng đã chủ động được nguồn vốn của mình không còn sử dụng nguồn vốn điều chuyển từ cấp trên xuống Nguồn vốn huy động tăng lên là do năm 2008 lãi suất huy động vốn không ngừng biến động với mức tăng của lãi suất cao đặc biệt là nguồn vốn huy động ngắn hạn có khi mức lãi suất còn cao hơn nguồn vốn dài hạn nên người dân thích gửi tiền vào ngân hàng hơn Đồng thời, với chiến lược tăng nguồn vốn huy động ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu cho vay ngắn hạn để hạn chế về rủi ro lãi suất giảm Chính vì vậy nguồn vốn huy động của ngân hàng tăng cao nên làm cho nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất tăng lên theo
Những tháng đầu năm 2009 nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất cũng có xu hướng tăng lên so với năm 2008 Do sự gia tăng của nguồn vốn huy động ngắn hạn mà trong đó sự gia tăng nhiều nhất là sự tăng của tiền gửi tiết kiệm Loại tiền gửi nhỏ hơn 12 tháng luôn chiếm tỷ trọng cao vì loại tiền gửi này đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân mà vẫn mang lại mức lợi nhuận
4.1.2 Tình hình tài sản nhạy cảm với lãi suất
a Tình hình tài sản của ngân hàng
Tình hình biến động tài sản của ngân hàng qua việc phân bố vốn cho từng loại tài sản của ngân hàng cho thấy được khả năng sử dụng vốn của ngân hàng như
dự trữ tiền mặt, đầu tư chứng khoán, cho vay và các tài sản khác Và xem xét quả trình phân bố trong từng giai đoạn có hợp lý hay không từ đó đề ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản
Quản lý tài sản của ngân hàng là việc chuyển hoá nguồn vốn tín dụng thành tiền mặt và tài sản sinh lời, tức là việc phân chia vốn giữa tiền mặt, tín
Trang 36dụng, đầu tư, chứng khoán và các tài sản khác Các loại tài sản tại NHNo & PTNT chi nhánh quận Cái Răng có cơ cấu tài sản như sau: Xem bảng 7.
Ta thấy, qui mô tổng tài sản của ngân hàng có sự thay đổi khác nhau qua từng năm, tổng tài sản của ngân hàng giảm trong năm 2006 và bắt đầu tăng từ năm 2007, sang năm 2008 qui mô tổng tài sản của ngân hàng có xu hướng tăng, tổng kết tổng tài sản của ngân hàng đã vượt qui mô năm 2007
Trong tổng tài sản của ngân hàng, tài khoản sinh lời là những khoản sử dụng vốn mang lại thu nhập cho ngân hàng như cho vay khách hàng, đầu tư vào chứng khoán… Cụ thể khoản mục này năm 2006 là 143.332 triệu đồng, chiếm 83,68% tổng tài sản Năm 2007 ngân hàng có 149.887 triệu đồng, chiếm 81,5% Bước sang năm 2008, tổng tài sản sinh lời là 153.673 triệu đồng, chiếm 78,55% tổng tài sản Đây là khoản mục chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, chính
nó đã làm ảnh hưởng đến thu nhập của ngân hàng qua các năm Trong tổng tài sản sinh lời thì các khoản cho vay khách hàng luôn chiếm tỷ trọng cao, khoảng 97%, do đó sự thay đổi của hoạt động cho vay quyết định đến sự biến động của tài sản sinh lời Vì vậy, tài sản sinh lời giảm trong năm 2006 và tăng lại trong năm 2007 theo sự biến động của hoạt động tín dụng tại ngân hàng
Tổng tài sản sinh lợi của ngân hàng tiếp tục gia tăng vào quý đầu năm
2009 trong đó gia tăng nhiều nhất là sự gia tăng của tài sản có khả năng sinh lời bao gồm đầu tư chứng khoán và cho vay Trong đó, cho vay quý 1 năm 2009 tăng lên do chính sách hỗ trợ lãi suất 4% của Chính phủ làm người dân có xu hướng tăng vốn sản xuất nhiều hơn
Tài sản không sinh lời bao gồm tiền mặt tại quỹ, các khoản phải thu, các khoản chênh lệch nợ thanh toán liên hàng, các khoản mua sắm tài sản cố định và các tài sản có khác của ngân hàng… Nhìn chung tổng tài sản sinh lời từ năm
2006 đến năm 2007 của ngân hàng không có sự biến động lớn Nhưng sang năm
2008, do ngân hàng đầu tư nhiều vào trang thiết bị để phục vụ hoạt động và từng bước xây dựng nên một ngân hàng hiện đại nên tài sản cố định của ngân hàng tăng
Trang 37Bảng 7: TÌNH HÌNH TÀI SẢN CỦA NGÂN HÀNG
Trang 38Tiền mặt tài quỹ của ngân hàng liên tục tăng là do tình hình kinh tế trên địa bàn ngày càng sôi động nên hoạt động thanh toán qua ngân hàng phát triển, xuất phát từ nhu cầu giao dịch của khách hàng với ngân hàng ngày càng cao nên ngân hàng cần có lượng tiền mặt tại quỹ cao để đáp ứng yêu cầu thanh toán của khách hàng Từ đó cho ta thấy khả năng thanh khoản của ngân hàng rất là cao.
b Phân tích tài sản nhạy cảm với lãi suất
Bảng 8: TÀI SẢN NHẠY CẢM VỚI LÃI SUẤT
Đvt: Triệu đồng
( Nguồn phòng kinh doanh 2006, 2007, 2008)
Tài sản nhạy cảm với lãi suất là những khoản có thời hạn ngắn thông thường với kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng,…Kỳ hạn càng ngắn thì càng nhạy cảm với lãi suất càng cao, tức là khi lãi suất thay đổi thì thu nhập của ngân hàng sẽ biến động theo Trong bảng kết cấu tài sản thì khoản mục cho vay ngắn hạn và đầu tư chứng khoán ngắn hạn là hai khoản mục có độ nhạy cảm rất cao
Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có kỳ hạn từ 12 tháng trở xuống Năm
2006 dư nợ cho vay ngắn hạn có xu hướng giảm xuống bởi vì ngân hàng thực hiện chiến lược đầu tư sang dịch vụ nhiều hơn, một phần do nhu cầu về tín dụng của người dân giảm sút đặc biệt là đối với hộ sản xuất nông nghiệp giảm là vì người nông dân gặp nhiều yếu tố bất lợi như: dịch bệnh H5N1, giá cả các mặt hàng nông sản rất bấp bênh
- Sang năm 2007 cho vay ngắn hạn của ngân hàng có xu hướng tăng tình hình kinh tế ổn định người dân có nhu cầu vốn cao để phát triển kinh tế các nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất và cá nhân đều tăng lên Bên cạnh
đó thì tình hình dịch bệnh đã được kiểm soát nên nhu cầu vốn để tái sản xuất gia tăng
Chỉ tiêu
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Quý 1 2008
Trang 39- Năm 2008 thì cho vay ngắn hạn tiếp tục gia tăng lên Trong bối cảnh tình hình lạm phát ngày càng tăng và chính sách kiềm chế sự gia tăng này đã tác động đến lãi suất của ngân cũng như những chính sách cho vay Ngân hàng hạn chế cho vay trung và dài hạn cho nên các khoản vay chủ yếu là ngắn hạn Nó đã làm cho cho dư nợ ngắn hạn của ngân hàng tăng lên nhanh.
- Vào quý đầu năm 2009 thì cho vay ngắn hạn tiếp tục gia tăng lên so với năm 2008 Nguyên nhân lãi suất cơ bản sụt giảm xuống chỉ còn 7% và lãi suất cho vay chỉ còn 0,875%/ tháng, nếu có hỗ trợ lãi suất 4%/ năm thì người vay chỉ đóng mức lãi suất 6,5%/năm tương đương với 0,542% Ngoài ra, do nền kinh tế ổn định trở lại nên người dân cũng gia tăng sản xuất nhiều hơn
Chứng khoán là một loại hình mang lại lợi nhuận cho ngân hàng cùng với
mứ độ rủi ro của nó Chủ yếu là đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn Chính phủ loại hình đầu tư này mang lại tính thanh khoản cao cho ngân hàng và độ rủi ro ít hơn nên tỷ suất sinh lời thật sự không cao nên đầu tư cho loại hình này chiếm tỷ trọng không cao trong tổng vốn của ngân hàng Đầu tư chứng khoán có nhiều biến động nhưng không đáng kể giảm vào năm 2007 là do ngân hàng thanh toán một phần chứng khoán ngắn hạn đáo Như vậy ngân hàng luôn chú trọng tài sản của mình ở trạng thái thanh khoản để đáp ứng nhu cầu thanh toán khi cần có thể chuyển đổi những tài sản này với chi phí thấp nhất
4.2 Biến động của lãi suất của NHNo & PTNT quận Cái Răng
4.2.1 Biến động của lãi suất huy động vốn
a Tình hình huy động vốn của ngân hàng
Trong điều kiện như hiện nay, môi trường cạnh tranh giữa các Ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt, đòi hỏi các Ngân hàng phải xây dựng được chiến lược lãi suất phù hợp thì mới có thể đáp ứng nhu cầu huy động vốn của mình Trong quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Quận Cái Răng cũng đã gặp không ít khó khăn trong việc huy động vốn Tuy nhiên, trong những năm gần đây tình hình huy động vốn của Ngân hàng có chiều hướng tăng lên Có được như vậy là vì nền kinh tế ngày càng phát triển, số tiền nhàn rỗi trong dân cư ngày càng tăng, các doanh nghiệp ngày càng có nhiều nhu cầu gởi tiền vào Ngân hàng với mục đích thanh toán thông qua hệ thống Ngân hàng mà độ an toàn cao và chi phí thấp…
Trang 40Bên cạnh đó, trong quá trình hoạt động Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Quận Cái Răng đã không ngừng nâng cao uy tín của mình nên đã tạo được lòng tin cho khách hàng, làm cho việc huy động vốn của Ngân hàng ngày càng thuận lợi hơn Để thực hiện tốt công tác huy động vốn Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh quận Cái Răng đã huy động vốn dưới các hình thức như: nhận tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn
từ các tổ chức kinh tế và dân cư, huy động vốn thông qua các giấy tờ có giá như phát hành kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi Chính vì thế đã góp phần làm tăng nguồn vốn huy động của chi nhánh trong những năm gần đây Chi nhánh ngân hàng chủ động khai thác nguồn vốn này nên nguồn vốn huy động của chi nhánh trong thời gian qua tăng trưởng qua các năm thể hiện ở bảng số 9
Vốn huy động theo hình thức bao gồm tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm Tình hình vốn huy động theo hình thức cho vay của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh quận Cái Răng thể hiện qua biểu đồ sau:
0 20000 40000 60000 80000 100000
Triệu đồng
Tiền gửi TT của các TCKT Tiền gửi TK
Phát hành GTCG TỔNG VỐN HUY ĐỘNG
H ình 4: HUY ĐỘNG THEO HÌNH THỨC HUY ĐỘNG
Tiền gửi thanh toán
Tiền gửi thanh toán không kỳ hạn là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi tiền vào
có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không cần phải báo cho Ngân hàng và Ngân hàng phải thỏa mãn nhu cầu đó của khách hàng Năm 2007 giảm về tuyệt đối là 5.896 triệu đồng và tương đối giảm 11,21%, năm 2008 loại tiền gửi này huy động được 50.400 triệu đồng tăng 73,11% Tiền gửi thanh toán có mức lãi suất thấp do đó sụ tăng hay giảm đều phụ thuộc vào lãi suất tăng lên hay giảm xuống Bên cạnh đó thì người dân còn e ngại, chưa làm quen với việc gửi tiền vào ngân hàng với số tiền nhỏ, lẻ mà phần lớn họ thích mua vàng để cất giữ