MỞ ĐẦU1. Lý do chọn vấn đề nghiên cứuSau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Vấn đề độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân được củng cố; tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng cường, nhất là trên các địa bàn chiến lược, xung yếu, phức tạp. Công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh được triển khai rộng rãi. Sự phối hợp quốc phòng, an ninh, đối ngoại được chú trọng hơn.Quân đội nhân dân và Công an nhân dân tiếp tục được củng cố, xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, thực sự là lực lượng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; làm tốt vai trò tham mưu, góp phần chủ động phòng ngừa, làm thất bại âm mưu “diễn biến hoà bình”, hoạt động gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; đấu tranh ngăn chặn và xử lý có hiệu quả các hoạt động cơ hội chính trị, các loại tội phạm hình sự, nhất là tội phạm nguy hiểm, có tổ chức, tội phạm ma tuý, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm lợi dụng công nghệ cao, sử dụng vũ khí nóng, chống người thi hành công vụ; tham gia tích cực, có hiệu quả vào các chương trình phát triển kinh tế xã hội, hoạt động cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống và khắc phục thiên tai.Tuy nhiên, một số quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh chưa được triển khai thực hiện kịp thời. Nhận thức về quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân của một số cán bộ, đảng viên trong các ngành, các cấp chưa đầy đủ, sâu sắc, thiếu cảnh giác trước âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch và “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Công tác bảo vệ an ninh trong một số lĩnh vực còn có những thiếu sót; xử lý tình hình phức tạp nảy sinh ở cơ sở có lúc, có nơi còn bị động, tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở một số địa bàn còn diễn biến phức tạp. Việc gắn kết giữa phát triển kinh tế với củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh, đặc biệt là tại các vùng chiến lược, biển, đảo còn chưa chặt chẽ. Công nghiệp quốc phòng, an ninh chưa đáp ứng yêu cầu trang bị cho các lực lượng vũ trang…Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” làm báo cáo thu hoạch môn học.
Trang 1VIỆN XÂY DỰNG ĐẢNG
BÀI THU HOẠCH MÔN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Trang 2MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 3
1 Kinh nghiệm dựng nước, giữ nước của dân tộc ta 3
2 Quan điểm của Học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn vấn đề nghiên cứu
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng vàlãnh đạo, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử vềchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Vấn đề độc lập, chủ quyền, thống nhất, toànvẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hộiđược giữ vững Thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dânđược củng cố; tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng cường, nhất là trên cácđịa bàn chiến lược, xung yếu, phức tạp Công tác giáo dục, bồi dưỡng kiếnthức quốc phòng, an ninh được triển khai rộng rãi Sự phối hợp quốc phòng,
an ninh, đối ngoại được chú trọng hơn
Quân đội nhân dân và Công an nhân dân tiếp tục được củng cố, xâydựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, thực
sự là lực lượng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; làm tốt vai trò thammưu, góp phần chủ động phòng ngừa, làm thất bại âm mưu “diễn biến hoàbình”, hoạt động gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; đấu tranhngăn chặn và xử lý có hiệu quả các hoạt động cơ hội chính trị, các loại tộiphạm hình sự, nhất là tội phạm nguy hiểm, có tổ chức, tội phạm ma tuý, tộiphạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm lợi dụng công nghệ cao, sử dụng vũ khínóng, chống người thi hành công vụ; tham gia tích cực, có hiệu quả vào cácchương trình phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động cứu hộ, cứu nạn, phòng,chống và khắc phục thiên tai
Tuy nhiên, một số quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về nhiệm vụquốc phòng, an ninh chưa được triển khai thực hiện kịp thời Nhận thức vềquốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân của một số cán bộ, đảng viên trongcác ngành, các cấp chưa đầy đủ, sâu sắc, thiếu cảnh giác trước âm mưu “diễnbiến hoà bình” của các thế lực thù địch và “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”trong nội bộ Công tác bảo vệ an ninh trong một số lĩnh vực còn có những
Trang 4thiếu sót; xử lý tình hình phức tạp nảy sinh ở cơ sở có lúc, có nơi còn bị động,tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở một
số địa bàn còn diễn biến phức tạp Việc gắn kết giữa phát triển kinh tế vớicủng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh, đặc biệt là tại các vùngchiến lược, biển, đảo còn chưa chặt chẽ Công nghiệp quốc phòng, an ninhchưa đáp ứng yêu cầu trang bị cho các lực lượng vũ trang…
Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” làm báo cáo thu hoạch môn học.
2 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu kinh nghiệm dựng nước, giữ nước của dân tộc
ta, quan điểm của Học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ
Tổ quốc, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ Tổ quốc trongtình hình hiện nay Đồng thời thống nhất nhận thức để thực hiện các giải phápnhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Qua đó mỗi cá nhân cùng toànĐảng, toàn dân, toàn quân, hệ thống chính trị nhất quán thực hiện tốt nhiệm
vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình hiện nay
3 Kết cấu của bài thu hoạch
Ngoài mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung bao gồm 4mục: (1) Kinh nghiệm dựng nước, giữ nước của dân tộc ta; (2) Quan điểm củaHọc thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc; (3) Quanđiểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ Tổ quốc từ năm 1986 đến trướcĐại hội XII (4) Mục tiêu và giải pháp bảo vệ Tổ quốc của Đảng CSVN trongtình hình mới
Trang 5NỘI DUNG
1 Kinh nghiệm dựng nước, giữ nước của dân tộc ta
Phát huy truyền thống quý báu của ông cha trong công cuộc dựng nước
và giữ nước Nhiều kinh nghiệm quý báu đã được đúc kết, kết tinh thành sứcmạnh dân tộc Có thể nêu ra một số kinh nghiệm chủ yếu sau:
- Quyết tâm bảo vệ toàn vẹn cương vực lãnh thổ, chủ quyền quốc gia
và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Đây là điều thiêng liêng nhất, bất khả
xâm phạm, không ai có quyền mang đi đánh đổi hoặc để rơi vào tay kẻ thù
Sự kiện lịch sử năm 179 trước CN, cuộc kháng chiến chống quân xâm lượcnhà Triệu bị thất bại, nước ta liên tục bị các triều đại phong kiến phương Bắc
từ nhà Triệu, Hán, Lương nhà Tuỳ, Đường đô hộ (từ năm 179 tr CN đến năm938) Đây là thời kỳ thử thách hết sức nguy hiểm đối với sự mất còn của dântộc ta Nhưng cũng chính trong thời gian mất nước, nhân dân ta đã nêu caotinh thần bất khuất, kiên cường và bền bỉ, đấu tranh bảo tồn cuộc sống, giữgìn nền văn hoá dân tộc và quyết đứng lên đấu tranh giành lại độc lập dân tộc.Bám chặt vào làng xã, đoàn kết đùm bọc lẫn nhau, nhân dân ta đã đấu tranh
có hiệu quả chống lại chính sách nô dịch và đồng hoá của kẻ thù Quyết tâmbảo vệ Tổ quốc được thể hiện rõ trong bài thơ của Lý Thường Kiệt: “Namquốc sơn hà Nam đế cư; Tiệt nhiên định phận tại thiên thư; Như hà nghịch lỗlai xâm phạm; Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư” Trong Hịch tướng sỹ, TrầnQuốc Tuấn đã lên án gay gắt tội không chú ý đến việc giữ gìn quốc thể: “Naycác ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biếtthẹn Làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạcthái thường để đãi yến ngụy xứ mà không biết căm ; chẳng những thân takiếp này bị chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu cònlưu, mà thanh danh các người cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận” Khi căn dặn sứ thần sang nhà Minh đòi đất, Vua lê thánh Tông đã chỉ rõ:
“Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên
Trang 6quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứsang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian Nếu ngươi dám đem mộtthước, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc thì tội phải tru di”.
- Lo giữ nước từ khi nước chưa nguy Sau chiến thắng Bạch Đằng, đã
mở ra một kỉ nguyên độc lập, tự chủ của dân tộc Các triều đại phong kiến đãchú trọng chăm lo xây dựng đất nước, thực hiện giữ nước từ khi nước chưanguy Điển hình là vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long Trongchiếu dời đô, Lý Công Uẩn viết “Thành Đại La ở giữa khu vực đất trời, có thếrồng cuộn hổ ngồi, giữa ở nam, bắc, đông, tây, tiện hình thế núi sông sautrước, Làm như thế cốt để mưu việc lớn, chọn chỗ ở giữa làm kế cho concháu muôn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân…” Rời đô về ThăngLong, không chỉ nhằm xây dựng kinh đô là trung tâm chính trị, kinh tế, vănhóa mà đó là tầm nhìn bảo vệ đất nước của Lý Công Uẩn Năm 1075, biếttin nhà Tống chuẩn bị phát binh xâm lược Đại Việt Nhà Lý đã dùng biệnpháp “tiên phát chế nhân”, đưa quân đánh sang Ung Châu, Khâm Châu vàLiêm Châu, phá chuẩn bị tiến công của giặc Kế thừa tư tưởng của tiền nhân,nhà Trần đã nhận thức sâu sắc mối đe dọa từ bên ngoài, do đó rất chăm loviệc phòng bị đất nước Tinh thần chủ động phòng giữ đất nước được thể hiệntrong thơ của Thái sư Trần Quang Khải: “…Thái bình tu chí lực; Vạn cổ thửgiang san” (Thái bình nên gắng sức; non nước mới ngàn thu) Tinh thần đóđược thể hiện trong ở “giảng võ đường”, “trường đua”, và diễn tập để nângcao sức chiến đấu cho quân đội và tinh thần cảnh giác của nhân dân
-“Khoan thư sức dân” coi đó là kế sách lâu dài để giữ nước Nhân dân
ta vốn có lòng yêu nước nồng nàn, và nhiều bậc hiền nhân đã quy tụ lòng dânthành “thế trận” vững chắc, tạo nên sức mạnh tổng hợp giữ gìn non sông.Thời nhà Trần đã “khoan thư sức dân” coi đó là kế sách lâu dài để trị nước, đãthực hiện “Chúng chí thành thành”, xây dựng thành lũy của lòng dân Đã tạođược bức trường thành vững chắc nhất trong lòng dân để giúp triều đình balần đánh bại quân Nguyên, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Trong binh pháp của
Trang 7Trần Quốc Tuấn đều chỉ rõ: lòng dân không chia, cả nước chung sức chốnggiặc là nền tảng cho xây dựng lực lượng vũ trang thời nhà Trần Mặt khác,ông còn thấy rõ vai trò của nhân dân đối với sự phát triển tài năng của nhữnganh hùng xuất chúng Theo ông, những vị anh hùng làm nên nghiệp lớn là dựavào sự giúp đỡ của nhân dân, bởi họ cũng từ nhân dân mà ra Thời nhà Hậu
Lê, Nguyễn Trãi nhà quân sự, chính trị lỗi lạc của dân tộc đã có tư tưởng sâusắc về vai trò của nhân dân Ông nói: “Mến người có nhân là dân, mà chởthuyền và lật thuyền cũng là dân”; “Việc thành bại của Nhà nước và nỗi vuihay buồn của nhân dân, những việc ấy đều có liên quan đến nhau rất lớn”.Đúng vậy, dựng nước và giữ nước là của dân, do dân, vì dân, nghĩa là dân làchủ thể hoạt động của mọi lĩnh vực khinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa…Tưtưởng đó của Nguyễn Trãi được rút ra từ thực tiễn cuộc sống lao động, sảnxuất của người dân và từ kinh nghiệm “hưng vong”, thành bại của các thời đạitrước và đặc biệt đã đánh giá đúng vai trò vị trí của “lòng dân”, “thế trận lòngdân” trong lịch sử giữ nước của dân tộc Do đó, Ông và Lê Lợi đã động viênnhân dân cả nước tiến hành khởi nghĩa vũ trang và phát triển thành chiếntranh giải phóng, đồng thời coi đó là kế sách để xây dựng đất nước
- Kết hợp chặt chẽ “Kiến quốc” với “Thủ quốc” Bước vào thời kỳ độc
lập tự chủ, nhiều nhà nước phong kiến Việt Nam đã luôn thực hiện “dựngnước đi đôi với giữ nước”, coi đó là quy luật sinh tồn của dân tộc Vào thờinhà Lý, thế nước Đại Việt khá vững mạnh là do công cuộc “kiến quốc” kếthợp chặt chẽ với “thủ quốc”, trong đó điển hình là chính sách “ngụ binh ưnông” Xây dựng quân đội gắn liền với “tam nông” (nông nghiệp, nông dân,nông thôn) dưới thời nhà Lý, nhà Trần, Hậu Lê, nhà Tây Sơn là một phươngthức kết hợp kinh tế với quốc phòng rất hiệu quả Chính vì lẽ đó, quốc gia độclập, thống nhất, có nền kinh tế và văn hóa… ngày càng phát triển ngang hàngvới các nước trong khu vực Ông cha ta đã thực hiện tốt kết hợp “kiến quốc”với “thủ quốc”, để xây dựng “quốc phú, binh cường, nội yên, ngoại tĩnh”
Trang 8- Thực hiện “cử quốc nghênh địch”, phát huy sức mạnh của cả nước
để đánh giặc, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt Ngay từ buổi bình
minh của lịch sử, nước ta đã phải chống lại những đội quân xâm lược hùngmạnh đến từ phương Bắc để bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ của quốc gia
Để đánh bại kẻ thù xâm lược, các triều đại phong kiến Việt Nam đã huy độngsức mạnh của nhân dân cả nước đánh giặc, thực hiện “cử quốc nghênh địch” Mỗi người dân là một người lính, đánh giặc theo cương vị, chức trách củamình tạo ra thế trận chiến tranh nhân dân liên hoàn, vững chắc làm cho địchrơi vào trạng thái bị động, lúng túng và bị sa lầy) Thời nhà Tiền Lê, khi nhàTống phát binh xâm lược nước ta (năm 981), Lê Hoàn đã dựa vào sức mạnhtoàn dân để tổ chức kháng chiến, xây dựng hệ thống trận địa để chặn hướngtiến công và đánh bại chúng Thời nhà Lý, tư tưởng “cử quốc nghênh địch”được thể hiện rõ trong cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ 2 (năm1075-1077) Thời nhà Trần, đất nước ta đã phải 3 lần kháng chiến chống giặcNguyên - Mông (năm 1258, 1285,1288), tư tưởng “cử quốc nghênh địch” lạiphát triển lên một tầm cao mới làm cho kẻ địch luôn bị động đối phó Dựavào sức mạnh cả nước để đánh giặc, đồng thời rất chú trọng xây dựng lựclượng vũ trang làm nòng cốt Thời nhà Lý, nhà Trần, Hậu Lê, nhà Tây Sơn đãxây dựng nhiều thứ quân và chú trọng chất lượng hơn số lượng
- Thực hiện “bang giao hòa hiếu”, ngăn chặn “họa binh đao” cho đất nước Khát vọng hòa bình luôn là ước mơ cháy bỏng trong tâm khảm của mỗi
người dân Đại Việt Khát vọng đó được thể hiện rất rõ trong quá trình giữnước và dựng nước của các triều đại phong kiến Việt Nam Khi đất nước bịxâm lăng, mỗi người dân phải cầm vũ khí để tự vệ, nhưng vẫn thực hiện tưtưởng “không đuổi cùng diệt tận những kẻ bại trận”, “mưu phạt công tâm”,đánh vào lòng người để muôn đời dập tắt chiến tranh Khi đất nước hòa bìnhthì thực hiện “bang giao hòa hiếu” để giữ yên bờ cõi và cuộc sống thanh bìnhcho muôn dân Tinh thần hòa hiếu để bảo vệ Tổ quốc được thế hiện khá đầy
đủ trong chủ trương của Lê Lợi, Nguyễn Trãi: “Nghĩ về kế lâu dài của nhànước; Tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh; Sửa hòa hiếu cho hai nước; dập tắtmuôn đời chiến tranh”
Trang 92 Quan điểm của Học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về bảo vệ Tổ quốc
Thời đại Mác-Ăng ghen, Tổ quốc xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên
ý tưởng khoa học và nó trở thành hiện thực năm 1917 khi cách mạng thángMười Nga thành công Kế thừa và phát triển tư tưởng của Mác-Ăng ghen, Lênin đã khẳng định: Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một đòi hỏi kháchquan của chủ nghĩa xã hội V.I.Lênin chỉ rõ, thắng lợi của chủ nghĩa xã hộitrước tiên ở một nước hoặc một số nước, làm cho giai cấp tư sản lo sợ cho sốphận của chủ nghĩa tư bản, cho đặc quyền kinh tế và chính trị của chúng,chúng tìm mọi biện pháp để tiêu diệt chủ nghĩa xã hội Do vậy, giai cấp côngnhân và nhân dân lao động phải tiến hành chiến tranh bảo vệ tổ quốc xã hộichủ nghĩa, đó là hợp lý và chính nghĩa V.I.Lênin khẳng định: “Từ ngày 25tháng 10 năm 1917, chúng ta là những người bảo vệ Tổ quốc… bảo vệ chủnghĩa xã hội với tính cách là Tổ quốc” Vì vậy, Người tuyên bố: “Chúng tatán thành bảo vệ Tổ quốc, nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang
đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” Cống hiếnquan trọng của V.I.Lênin là ở chỗ, lần đầu tiên ông đã trình bày một cách hệthống học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Học thuyết bảo vệ Tổquốc xã hội chủ nghĩa bao hàm những vấn đề cốt lõi nhất về mục tiêu, nhiệm
vụ, phương thức, lực lượng và sức mạnh bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, mốiquan hệ giữa bảo vệ với xây dựng tổ quốc… V.I.Lênin chỉ rõ nhiệm vụ bảo
vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải tiến hành ngay khi giai cấp vô sản giànhđược chính quyền, kéo dài đến hết thời kỳ quá độ, cho đến khi không còn
sự phản kháng của giai cấp tư sản Người khẳng định: Không cầm vũ khíbảo vệ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, thì chúng ta không thể tồn tạiđược Giai cấp thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bịtrị Nhưng giai cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ khôngnhững có khả năng lật đổ bọn bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huyđộng hết thảy để bảo vệ lấy mình
Trang 10Xuất phát từ quan điểm cho rằng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hộichủ nghĩa là hoạt động tự giác của giai cấp công nhân và nhân dân lao động,V.I.Lênin khẳng định Đảng Cộng sản là người lãnh đạo công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Như vậy, một nhiệm vụ cơ bản, trọngyếu của giai cấp công nhân và nhân dân lao động sau khi giành được chínhquyền nhà nươc là cùng với sự nghiệp xây dựng đất nước phải bảo vệ Tổquốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được, làm thấtbại mọi âm mưu và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch cả bên trong
và bên ngoài
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc Kế thừa tinh hoa củadân tộc, vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về bảo vệ Tổquốc xã hội chủ nghĩa vào tình hình thực tiễn của cách mạng Việt Nam Chủtịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu taphải cùng nhau giữ lấy nước” Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương kiên quyếtbảo vệ chính quyền và chủ quyền dân tộc, thực hiện nguyên tắc “dĩ bất biếnứng vạn biến”, hết sức tranh thủ thời gian hòa hoãn xây dựng lực lượng mọimặt cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Người đưa ra hàng loạt các biện pháp xâydựng và củng cố chính quyền cách mạng, tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốchội, thông qua Hiến pháp năm 1946; kiên quyết chống “giặc ngoại xâm, giặcđói, giặc dốt”,…Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946,Người nói: “Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước,nhất định không chịu làm nô lệ Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! ”
Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước ta phải đối phó với cả thùtrong giặc ngoài, nhiều khó khăn chồng chất như “ngàn cân treo trên sợi tóc”,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng ta chủ trương “vừa kháng chiến, vừakiến quốc” Với đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ”, từngbước tạo nên sự chuyển hoá cả về thế, thời và lực để đánh bại thực dân Pháp
xâm lược Trong kháng chiến chống Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng
đinh: Không có gì quý hơn độc lập tự do; Hễ còn một tên xâm lược trên đất
Trang 11nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi Chủ tịch Hồ ChíMinh hết sức coi trọng xây dựng các tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xãhội, xây dựng tinh thần kháng chiến của toàn dân Đồng thời chú trọng xâydựng lực lượng vũ trang nhân dân (bộ đôi chủ lực, bộ đội địa phương, dânquân tự vệ) Tích cực thực hiện các biện pháp ngoại giao, tranh thủ sự đồngtình, ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cách mạng nước ta lúc đó Trongthư trả lời Tổng thống Mỹ R.Nichxơn ngày 25 tháng 8 năm 1969, Chủ tịch
Hồ Chí Minh một lần nữa tiếp tục khẳng định: Nhân dân Việt Nam rất yêuchuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự.Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng không sợ hy sinh gian khổ, đểbảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình
Học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xãhội chủ nghĩa bao gồm một hệ thống các quan điểm về tính tất yếu, nhiệm vụ
và nội dung bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cùng với các biện pháp trongxây dựng, củng cố quốc phòng, …để có thể đánh thắng thù trong, giặc ngoài,bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ Tổ quốc từ năm 1986 đến trước Đại hội XII
Sau khi hoàn thành sự nghiệp giải phóng Tổ quốc, thực hiện thống nhấtnước nhà, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân cả nước tiến vào giai đoạn cáchmạng mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Kế thừa quan điểmbảo vệ Tổ quốc của Đại hội lần thứ IV, V của Đảng, Đại hội lần thứ VI (15-18/12/1986, đánh dấu công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnhđạo) chỉ rõ: “Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, phát huy sức mạnh tổnghợp của đất nước và xã hội, quyết đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoạinhiều mặt, đồng thời có kế hoạch đối phó thắng lợi với mọi tình huống do
kẻ thù gây ra Chúng ta phải thấu suốt và thực hiện đúng quan điểm: toàndân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc; toàn quân bảo vệ Tổ quốc vàxây dựng đất nước…”
Trang 12Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (24 - 27/6/1991) chỉrõ: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc;bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội,quyền làm chủ của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu và hành động của cácthế lực đế quốc, phản động phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thườngxuyên của toàn dân Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; quốcphòng, an ninh với kinh tế trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Xâydựng lực lượng vũ trang nhân dân với số quân thường trực thích hợp theohướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; với lực lượng dự
bị động viên, dân quân tự vệ hùng hậu, có sức chiến đấu cao Phát triển đườnglối và nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân trong hoàn cảnh mới…”
Đại hội lần thứ VIII (28/6 - 01/7/1996) của Đảng Cộng sản Việt Namxác định: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội,chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc” Để thực hiệnnhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn coi trọng sự nghiệp quốc phòng, anninh, và chỉ rõ: Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thốngchính trị, từng bước tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước,xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dângắn với nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân; nâng cao chấtlượng các lực lượng vũ trang, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toànvẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xãhội chủ nghĩa; ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động gây mất
ổn định chính trị xã hội, xâm phạm độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, gâytổn hại cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; ngăn chặn có hiệu quả
và nghiêm trị mọi loại tội phạm, bảo đảm tốt trật tự, an toàn xã hội Kết hợpchặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Kết hợp quốcphòng, an ninh với kinh tế Gắn chặt nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ anninh, hai mặt có mối quan hệ khăng khít trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa