1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hệ thống hóa các văn bản quy định đạo đức công vụ của người cán bộ công chức ở việt nam hiện nay và giải pháp

41 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 194 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống hóa các văn bản quy định đạo đức công vụ của người cán bộ công chức ở việt nam hiện nay và giải pháp Hệ thống hóa các văn bản quy định đạo đức công vụ của người cán bộ công chức ở việt nam hiện nay và giải pháp Hệ thống hóa các văn bản quy định đạo đức công vụ của người cán bộ công chức ở việt nam hiện nay và giải pháp Hệ thống hóa các văn bản quy định đạo đức công vụ của người cán bộ công chức ở việt nam hiện nay và giải pháp Hệ thống hóa các văn bản quy định đạo đức công vụ của người cán bộ công chức ở việt nam hiện nay và giải pháp Hệ thống hóa các văn bản quy định đạo đức công vụ của người cán bộ công chức ở việt nam hiện nay và giải pháp Hệ thống hóa các văn bản quy định đạo đức công vụ của người cán bộ công chức ở việt nam hiện nay và giải pháp

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan bài tiểu luận “Hệ thống hóa các văn bản quy định đạo đức công vụ của người cán bộ công chức ở Việt Nam hiện nay và giải pháp”

là quá trihf nghiên cứu của bản thân Các số liệu,ví dụ và trích dẫn trong bài tiểuluận đảm bảo chính xác, tin cậy và trung thực Em sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệmvới lời cam đoan của mình

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những hổtrợ và sự giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Quađây em xin chân thành cảm ơn iảng viên Th.s khoa quản trị Văn phòngTrường ……… đã tận tình hướng dẫn em những buổi học trên lớp

Bài thu hoạch được thực hiện trong khoảng thời gian rất ngắn Bước đầu

đi vào thực tế, tìm hiểu về lĩnh vực sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, kiếnthức còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ Do vậy không tránh khỏi những thiếu sót

là điều chắc chắn, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu củathầy cô và các bạn để kiến thức của em trong lĩnh vực này hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 2

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2

4 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

6 KẾT CẤU CỦA BÀI TIỂU LUẬN 3

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ 5

1.1 KHÁI NIỆM 5

1.1.1 KHÁI NIỆM CÔNG VỤ 5

1.1.2 KHÁI NIỆM CÁN BỘ 5

1.1.3 KHÁI NIỆM CÔNG CHỨC 5

1.1.4 KHÁI NIỆM ĐẠO ĐỨC 6

1.1.5 ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ CÔNG CHỨC 7

1.1.6 ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ 7

1.2 CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC 7

1.3 VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC TRONG CUỘC SỐNG 9

1.4 YẾU TỐ HÌNH THÀNH NÊN ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC 10

Trang 4

1.5 MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT ĐẠO ĐỨC CÔNG

VỤ 11

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG HÓA CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH VỀ 13

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC VIỆT NAM HIỆN NAY 19

3.1 ĐÁNH GIÁ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CỦA CBCC VIỆT NAM HIỆN NAY 19

3.2 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 23

CHƯƠNG 4 29

NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ HIỆN NAY 29

4.1 NGUYÊN NHÂN 29

4.2 GIẢI PHÁP 32

KẾT LUẬN 37

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đạo đức công vụ là một phạm trù tương đối rộng, bao hàm đạo đức, lốisống, cách xử sự của cán bộ công chức không chỉ trong các mối quan hệ xã hộithông thường mà còn trong phạm vi thực hiện nhiệm vụ công, đó là trong giaodịch hành chính với tổ chức, công dân Có thể nói, đạo đức trong hoạt độngcông vụ của công chức giữ vai trò quyết định trong việc xây dựng một nền hànhchính trong sạch, vững mạnh Để công tác cải cách hành chính thực sự trở thànhđộng lực nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy hành chính Nhànước, việc xây dựng các quy định, quy chế chuẩn về trách nhiệm và đạo đứccông vụ là một việc làm rất cần thiết Đồng thời cần sự vào cuộc của tất cả các

cơ quan, đơn vị, sự quyết liệt của Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và hơn ai hết

là bản thân mỗi cán bộ công chức phải tự rèn luyện, trau dồi và phải tự "vượt lênchính mình"

Trong bối cảnh đổi mới, hội nhập quốc tế của đất nước, tiến hành côngcuộc đổi mới đội ngũ cán bộ, công chức của nước ta ngày càng phát triển vềnăng lực trình độ song bên cạnh những thành tựu đạt được cũng nảy sinh nhiềuvấn đề phức tạp thuộc phạm trù đạo đức Qua hơn 70 năm xây dựng và hoànthiện hệ thống pháp luật XHCN ở Việt Nam Trong các quy định về công chức,công vụ nước ta có nhiều quy phạm pháp luật ghi nhận những giá trị, nhữngchuẩn mực đạo đức công chức Chính phủ và chính quyền các cấp, các cơ quan,

tổ chức có thẩm quyền của nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm luật

để tổ chức thực hiện và quản lý sâu rộng hơn, cụ thể hơn trong các hoạt độngcủa nền công vụ hành chính việt Nam Vì vậy, có thể khẳng định, pháp luật vừa

là công cụ hữu hiệu trong việc bảo tồn những giá trị đạo đức truyền thống, vừagóp phần bồi đắp nên những chuẩn mực giá trị mới, hạn chế những vấn đề tiêucực trong nền Hành chính Việt Nam, trong đó có đạo đức cán bộ công chức

Từ những lý do trên và dựa vào các văn bản quy định đạo đức công vụcũng như mong muốn được tìm hiểu sâu rộng hơn về thực trạng, vai trò tầm

Trang 6

quan trọng đạo đức công vụ của người cán bộ công chức, em mạnh dạn chọn đềtài “ Hệ thống hóa các văn bản quy định về đạo đức công vụ của người cán bộcông chức ở Việt Nam hiện nay và đưa ra giải pháp” làm đề tài cho bài tiểu luận

về môn nghi thức nhà nước chuyên ngành quản trị Văn phòng của mình

2 Lịch sử nghiên cứu

Ở nước ta, có khá nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, cácnhà quản lý viết về vấn đề “Đạo đức công vụ” Các công trình đã đề cập đếnnhiều nội dung phong phú như bàn về khái niệm đạo đức công vụ, nội dung, vaitrò, ý nghĩa của đạo đức công vụ Luật công chức 2008 là văn bản pháp luật caonhất kể từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam liên quan đến cán bộ công chức đềcập đến trách nhiệm công vụ, đạo đức công chức

Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu trên chưa phân tích và làm rõ đạo đứccông chức là như thế nào, hệ thống giải pháp cụ thể để giải quyết những mặt hạnchế trong đạo đức thực thi công vụ hiện nay? Do vậy, việc nghiên cứu vấn đềđạo đức công vụ của người cán bộ công chức trong giai đoạn đổi mới hiện nay

có có ý nghĩa lớn về cả lý luận và thực tiễn, hình thành cơ sỡ cho việc địnhhướng và xây dựng các nhóm giải pháp nhẵm nâng cao đạo đức công vụ ở nước

ta hiện nay

3 Mục tiêu nghiên cứu

Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về đạo đức công vụ hệ thống hóa cácvăn bản quy định đạo đức công vụ của người cán bộ công chức và đưa ra giảipháp, bài tiểu luận còn đánh giá thực trạng đạo đức công vụ, đề xuất quan điểmnhằn góp phần đẩy mạnh quá trình cải cách, đổi mới và hội nhập quốc tế ở nước

ta hiện nay

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu hệ thống hóa các văn bản quy định về đạo đức công vụ củangười cán bộ công chức ở nước ta hiện nay

Trang 7

Nêu rõ những quy định về đạo đức công vụ và phân tích thực trạng đạođức công vụ của đội ngũ công chức thời gian qua, từ đó thấy được những hạnchế, yếu kém của nền công vụ nước ta.

Đề xuất một số giải pháp nhằm hoạn thiện hệ thống pháp luật và nâng caođạo đức công vụ của độ ngũ cán bộ công chức nướ ta hiện nay

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Bài tiểu luận chỉ tập trung nghiên cứu trong các văn bản quy phạm phápluật quy định về đạo đức công vụ của cán bộ công chức ở Việt Nam hiện nay

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đạo đức công vụ của người cán bộcông chức trong bộ máy Hành chính nhà nước Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Bài tiểu luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lich sử đồng thời sử dụng các phương pháp cụ thể như:

Phương pháp lịch sử: Xem xét đạo đức công vụ và pháp luật về đạo đứccông vụ theo từng giai đoạn, từng quá trình Từ đó tìm quy luật của sự phát triểncũng như vai trò của đạo đức công vụ và pháp luật về đạo đức công vụ

Phương pháp phân tích tổng hợp: Luận văn kế thừa, tổng kết lại những kếtquả các công trình nghiên cứu về đạo đức công vụ Tuy nhiên đây không phải là

sự sao chép vì đã có sự sắp xếp theo kết cấu khác

Phương pháp so sánh: So sánh đạo đức công vụ với các loại hình đạo đứckhác, so sánh các văn bản quy phạm pháp luật

6 Kết cấu của bài Tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệutham khảo nội dung bài tiểu luận gồm có 3 chương:

Chương 1 Lý luận ching về đạo đức công vụ

Chương 2 Hệ thống hóa các văn bản quy định về đạo đức công vụ của

Trang 8

Chương 3 Đánh giá đạo đức công vụ của người cán bộ, công chức Việt Nam

Chương 4 Nguyên nhân và giải pháp nhằm nâng cao đạo đức công vụ của cán bộ công chức trong nền Hành chính Việt Nam hiện nay

Trang 9

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ

1.1 Khái niệm

1.1.1 Khái niệm Công vụ

Theo quan niệm của PGS.TS Phạm Hồng Thái: “Công vụ là công việc,hoạt động nhà nước chủ yếu do cán bộ, công chức nhà nước thực hiện dưạ trên

cơ sở quyền lực nhà nước và pháp luật, được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước,pháp luật và sử dụng quyền lực đó để thực thi các nhiệm vụ, chức năng của nhànước

Công vụ là toàn bộ hoạt động của công chức trong quản lý xã hội theochức năng được quy định trong pháp luật nhằm mục đích phục vụ nhân dân, xãhội và nhà nước

1.1.2 Khái niệm Cán bộ

Theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 4 Luật CBCC 2008: “Cán bộ

là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chứcdanh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổchức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương(sau cấp đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh(sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sáchnhà nước

1.1.3 Khái niệm Công chức

Theo khoản 2 Điều 4 Luật CBCC 2008: “Công chức là công dân ViệtNam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quancủa Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương,cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà khôngphải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ

Trang 10

chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lậpcủa Đảng cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọichung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngânsách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sựnghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệpcông lập theo quy định của pháp luật.

Như vậy, nghiên cứu đạo đức công vụ là nghiên cứu đạo đức trong thihành công vụ của cán bộ, công chức

1.1.4 Khái niệm đạo đức

Có nhiều khái niệm khác nhau về đạo đức, ta có thể hiểu về đạo đạo đứcvới những khái niệm sau:

Theo từ điển tiếng việt thì từ đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắcđược dư luận, xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối vớinhau và đối với xã hội Theo nghĩa hẹp, đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của conngười do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có”

Đạo đức cũng có thể được hiểu là toàn bộ những “quan niệm, tri thức vàcác trạng thái xúc cảm tâm lý chung của cộng đồng (con người) về các giá trịthiện và ác, lương tâm và trách nhiệm, hạnh phúc và công bằng, vị tha và dũngcảm” được cộng đồng thừa nhận như là những “quy tắc đánh giá, điều chỉnhhành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội”

Đó chính là những tiêu chuẩn để “khen, chê; ủng hộ hay phản đối” các hành vi,cách ứng xử

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quytắc chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của conngười trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thể hiện bởiniềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xãhội

Trang 11

1.1.5 Đạo đức cán bộ công chức

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh ta có thể hiểu: Đạo đức cán bộcông chức là hệ thống các nguyên tắc, quan điểm, quy phạm về lẽ phải, sự côngbằng, về điều thiện, cái ác, cái đúng, cái sai trong đời sống xã hội, đời sống nhànước thể hiện ý chí, tâm tư tình cảm của công chức, nhằm điều chỉnh ý thức,hành vi, cách xử sự của công chức trong hoạt động công vụ, nhiệm vụ, cũng nhưthái độ của hojtrong công vụ

Tư tưởng quan điểm về đạo đức công chức là cơ sở nên tảng để xây dựngmột nền đạo đức công vụ phục vụ nhân dân của công chức Những tư tưởng,quan điểm đó là cơ sở để thể chế hóa thành pháp luật

1.1.6 Đạo đức công vụ

Đạo đức công vụ ở Việt Nam được hình thành trên cơ sở nền tảng củaquan điểm: “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” Nhân dân làchủ, cán bộ công

Đạo đức công vụ là hệ thống các nguyên tắc, các quy tắc, hành vi, xử sựnhằm điều chỉnh thái độ, hành vi, chức trách, bổn phận, nghĩa vụ của cán bộ,công chức trong hoạt động công vụ Do đó, đạo đức công vụ phải được chẩn hóathành pháp luật và phải đào tạo, giáo dục công chức ngấm sâu vào quá trình thựcthi của họ những ý niệm, khái niệm và cách thức xử lý Đạo đức công vụ ở ViệtNam được xây dựng trên nền tảng triết lý nhà nước là của dân, do dân, vì dân

1.2 Các giai đoạn hình thành đạo đức công vụ của công chức

Trang 12

hành động và cuối cùng được chuẩn hóa thành quy tắc, quy chế và pháp luật củanhà nước.

Đạo đức công vụ là sản phẩm tất yếu của quá trình hình thành và pháttriển của các mô hình nhà nước với con người cụ thể làm việc cho nhà nước.Mỗi một hình thái xã hội gắn liền với một hình thái nhà nước, những giá trị cốtlõi của hoạt động bởi những con người của nhà nước cũng sẽ thay đổi và cùngvới sự thay đổi của giá trị ,những hành vi, cách ứng xử và quan hệ để đạt đếnchuẩn mực của các giá trị đó cũng thay đổi ( dựa vào các chuẩn mực đạo đức xãhội để điều chỉnh các hoạt động của công chức)

Giai đoạn pháp luật hóa

Giá trị cốt lõi của công vụ được thê chế hóa, pháp luật hóa thành luật, đạoluật, những điều lệ, những quy tắc, quy chế, những thủ tục bắt buộc về nhữngchuẩn mực giá trị đạo đức và hành vi ứng xử của công chức

Hầu hết ở các nước từ chậm phát triển, đang phát triển hay phát triển đềudần dần đưa ra những giá trị về chuẩn mực đạo đức công vụ và luật hóa nó lênthành luật, đạo luật…mang tính pháp lý

Giai đoạn tự giác

Là giai đoạn công chức tự nguyện làm, muốn làm không cần nhắc nhở,không chịu sự thúc ép từ bên ngoài;

Là quá trình phát triển từ tự phát đến chuẩn hóa bằng pháp luật và pháttriển đến tự giác Việc hướng đến mục đích cuối là sự tự giác trong việc thựchiện các hành vi đạo đức mang một ý nghĩa rất quan trọng vì những lý do sau;

Không thể luật hóa mọi hành vi;

Pháp luật về đạo dức công vụ luôn trễ hơn so với hiện thực xã hội;

Khó có thể kiểm soát mọi hoạt động của công chức bằng pháp luật vì tính

đa dạng và hoàn thiện của hoạt động công vụ

Trang 13

1.3 Vai trò của đạo đức trong cuộc sống

Điều chỉnh hành vi

Sự điều chỉnh hành vi thông qua chuẩn mực đạo đức mang tính tự giáchơn so với điều chỉnh bằng pháp luật, chính trị mang yếu tố cưỡng bức, bắtbuộc Cùng với những chuẩn mực giá trị đạo đức để mọi người cùng hướng đến

sẽ bảo đảm cho sự tồn tại, vận động và phát triển dựa trên sự hài hòa của cácnhóm lợi ích

Chức năng giáo dục

Ngay khi sinh ra con người đã được đặt trong một môi trường của các mốiquan hệ ứng xử, giao tiếp, những chuẩn mực tốt-xấu, thiện-ác Con ng là sảnphẩm của chính con người và do đó khi họ tạo ra những chuẩn mực của xã hội,gia đình, cộng đồng thì chính những giá trị chuẩn mực đó sẽ tác động đến chính

họ Vì thế ngay từ nhỏ con người được uốn nắn theo chuẩn mực đạo đức (tronggia đình, nhà trường, xã hội) Nếu cá nhân con người cụ thể cùng nhận thứcđúng, hướng đến những chuẩn mực chung của xã hội thì các chuẩn mực của xãhội (đạo đức) sẽ ko ngừng được củng cố.Và ngược lại, những chuẩn mực của xãhội (trước đó) đã bị mai một đi thậm chí có thể biến mất nếu ko đc cá nhân chấpnhận và củng cố

Thông qua giáo dục đạo đức, các cá nhân tiếp thu các giá trị đạo đức xãhội, hình thành phẩm chất đạo đức cá nhân

Chức năng nhận thức

Sự nhận thức của đạo đức có đặc điểm:

Hành động đạo đức gắn liền sau nhận thức giá trị đạo đức.Và đa số trườnghợp có sự hòa quyện ý thức đạo đức với hành động đạo đức

Nhận thức của đạo đức là quá trình vừa hướng ngoại vừa hướng nội.Nhận thức hướng ngoại :lấy nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội làm đốitượng nhận thức, chuyển hóa thành ý thức, phẩm chất đạo đức cá nhân

Trang 14

Nhận thức hướn nội: sự tự đánh giá về thái độ, hành vi của bản thân sovới nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội, từ đó hình thành các quan điểm,nguyên tắc sống cho mình.

Nhận thức đạo đức đưa lại tri thức đạo đức,ý thức đạo đức Các cá nhânnhờ tri thức đạo đức, ý thức đạo đức xã hội đã nhân thức trở thành đạo đức cánhân Cá nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng giá trị đạo đức xã hội trởthành cơ sở để cá nhân điều chỉnh hành vi, thực hiện đạo đức

1.4 Yếu tố hình thành nên đạo đức công vụ của công chức

Thứ nhất, Đạo đức công vụ trước hết được hình thành từ đạo đức cá nhân

Hai là,công chức cũng là triển khai tổ chức thực hiện , đưa những “chân

giá trị “của pháp luật vào đời sống

Ba là, công chức là công dân và do đó cũng phải tuân thủ các quy định

chung của pháp luật dù bất cứ ở vị trí nào Đạo đức công vụ được hình thành từkhía cạnh đạo đức xã hội của công chức

Đạo đức xã hội là chuẩn mực của các giá trị của từng giai đoạn phát triểncủa xã hội và gắn liền với các hình thái xã hội khác nhau

Hiện nay, đạo đức xã hội đang có những sự thay đổi, sự thay đổi đó theo

2 hương tích cưc và xấu đi

Đạo đức xã hội là tác nhân chi phối đến quá trình và kết quả thực thi công

vụ Có thể theo 2 chiều hướng tích cực và tiêu cực:

Trang 15

Tích cực: Một xã hội được hình thành từ lâu đời với văn hóa đậm đà bảnsắc và tri thức cao thì không bất cứ hoạt động nào của xã hội ấy cũng đều cóhiệu quả tốt, trong đó có hoạt động thực thi công vụ như: Giải quyết công việcnhanh chóng, chính sác, hợp lòng dân, vừa ý cấp trên, thái độ phục vụ hòa nhã,niềm nở…

Tiêu cực: Ngược lại một xã hội kém văn minh, đạo đức xã hội bị tha hóa,con người trong xã hội ấy bị biến chất, ý thức kém thì kết quả là toàn bộ hoạtđộng trong xã hội ấy không thể đạt được hiệu quả cao, trong đó hoạt động thựcthi công vụ cũng chịu sự ảnh hưởng không tốt của do xã hôi ấy đem lại Một sốbiểu hiện cụ thể: hách dịch, quan liêu, cán bộ công chức thoái hóa biến chất…

Đạo đức nghề nghiệp của công chức

Đạo đức nghề nghiệp đối với công chức là đạo đức của việc cung cấp cácdịch vụ công Mọi hoạt động của công chức có ảnh hưởng rất nhiều đến xã hội,nhân dân có thể theo hướng tích cực hoặc tiêu cực nhà nước đang xây dựngchuẩn mực đạo đức nghề nghiệp nói chung và chuẩn mực nghề nghiệp của cácloại công việc mà công chức đảm nhận

1.5 Mục đích của việc xây dựng pháp luật Đạo đức công vụ

Tạo sự thống nhất trong thực thi công vụ Đưa ra những nguyên tắcchuẩn mực để tổ chức , công chức có thể dựa vào đó tiến hành cắc hoạt động

Xác định cụ thể rõ rang những hành vi ứng xử được chấp nhận

Khuyến khích chuẩn mực hành vi cao của công chức khi thực thi côngviệc vượt cao hơn quy định (mang tính tối thiểu) ngăn chặn những hành vi ứng

xử không đạo đức

Pháp lý hóa quyền nghĩa vụ và trách nhiệm của công chức

Cung cấp những định hướng cho công chức khi phải xử lý các vấn đề khókhăn 1 cách có đạo đức

Trang 16

Cung cấp 1 chuẩn mực để các thành viên các bên liên quan (tổ chức,công dân ) đánh giá cách ứng xử, quan hệ, giao tiếp và điều đó gia tăng niềm tincủa công chúng với tổ chức cung cấp dịch vụ cho họ.

Căn cứ pháp lý để phán xét các hành vi của công chức và xử lý vi phạm

Trang 17

Chương 2

HỆ THỐNG HÓA CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH VỀ

ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ

Ở nước ta, đạo đức công vụ là một khái niệm không mới Năm 1946, để

cổ vũ phong trào thi đua ái quốc và và xây dựng đời sống mới, Bác Hồ viết bài

"Cần, Kiệm, Liêm, Chính", đã chỉ rõ: "Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng

của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc" Bác đã có bài viết quan trọng

trên báo Nhân dân ra ngày 03/02/1969, đúng vào dịp kỷ niệm 39 năm thành lậpĐảng với nhan đề: "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân"

đã đặt ra những yêu cầu về đạo đức, phẩm chất đối với người cán bộ, đảng viên

và còn nhắc lại trong Di chúc của Người năm 1969: "Đảng ta là một Đảng cầmquyền Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng,thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư"

Quyền lực nhà nước liên quan trực tiếp đến nền công vụ, được phản ánhqua một trong những nội dung cốt yếu của nền công vụ, đó là đội ngũ cán bộ,công chức Bất kỳ nhà nước nào cũng phải định ra những chuẩn mực đạo đứctrong nền công vụ của mình Ngoài những nội dung chuẩn mực mà nhiều quốcgia sử dụng tương tự như nhau, thì tuỳ theo đặc điểm văn hoá, tâm lý xã hội mỗi quốc gia lại có những chuẩn mực đạo đức đặc thù riêng trong nền công vụcủa mình

Chuẩn mực đạo đức công vụ của cán bộ, công chức Việt Nam được Chủtịch Hồ Chí Minh, Nhà nước và nền công vụ nước ta coi là “cái nền”, “cái gốc”của đội ngũ cán bộ, công chức và được gói gọn trong 4 chữ “cần”, “kiệm”,

“liêm”, “chính”, suy rộng ra là “nhân, nghĩa, liêm, trí, dũng, tín”

Ngay từ năm 1950, trong điều kiện khó khăn, gian khổ của công cuộckháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 banhành Quy chế công chức Việt Nam Với văn bản này có thể nói, đây là lần đầutiên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành một hệ thống các quy

Trang 18

phạm pháp luật khá hoàn chỉnh, làm cơ sở pháp lý cho việc xây dựng đội ngũcông chức cách mạng Việt Nam.

Trong đó, tại Lời nói đầu, nội dung về công chức và đạo đức công vụ đãđược thể hiện rất rõ: “Công chức Việt Nam là những công dân giữ một nhiệm vụtrong bộ máy nhà nước của chính quyền nhân dân…Công chức Việt Nam phảiđem tất cả sức lực và tâm trí, theo đúng đường lối của Chính phủ và nhằm lợiích của nhân dân mà làm việc”

Kế thừa và phát huy những quy định pháp luật về công chức và đạo đứccông vụ và nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng và kiện toàn đội ngũ công chứctrong tình hình mới, Hiến pháp năm 1980 quy định tại Điều 8: “Tất cả các cơquan nhà nước và nhân viên nhà nước phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân,liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhândân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa Nghiêm cấm mọi biểu hiện quan liêu,hách dịch, cửa quyền.”

Như vậy, với quy định của Hiến pháp 1980, lần đầu tiên trong lịch sử lậphiến Việt Nam, Nhà nước ta đã ban hành những chuẩn mực về đạo đức - pháp lýcho công chức và cơ quan nhà nước trong đạo luật gốc, đạo luật cơ bản có hiệulực pháp lý cao nhất

Hiến pháp 1992 tại Điều 8 cũng quy định: “Các cơ quan nhà nước, cán

bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên

hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân;kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, thamnhũng”

Với quy định này, Hiến pháp 1992 đã kế thừa Hiến pháp 1980 nhưngđồng thời phát triển thêm lên để không ngừng hoàn thiện những nguyên tắc,những quy định hiến định đối với đạo đức công vụ và các chuẩn mực pháp lýcho công chức nhà nước

Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2003),

Trang 19

05/12/1998 của Bộ Nội vụ về việc ban hành quy chế đánh giá công chức hàngnăm đã quy định lối sống, đạo đức, Quy chế thực hiện dân chủ trong cơ quan(ban hành theo Nghị định 71/CP của Chính phủ năm 1998).

Căn cứ vào Hiến pháp 1992, để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cóphẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực và tận tụy phục vụ nhân dân, trungthành với Tổ quốc, Nhà nước ta đã ban hành Luật cán bộ, công chức, trong đó,những chuẩn mực đạo đức - pháp lý được thể hiện một cách tập trung và rất cụthể ở các quy định về nghĩa vụ của công chức, như: trung thành với Đảng Cộngsản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự

Tổ quốc và lợi ích quốc gia; tôn trọng nhân dân, tận tâm phục vụ nhân dân; liên

hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân;chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và phápluật của Nhà nước

Luật cán bộ, công chức cũng quy định: trong khi thi hành công vụ, cán bộ,công chức có nghĩa vụ thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quảthực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; có ý thức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấphành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩmquyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;bảo vệ bí mật nhà nước; chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ;giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệuquả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; chấp hành quyết định của cấp trên.Đối với cán bộ, công chức là người đứng đầu thì còn phải thực hiện các nghĩa vụnhư: chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kếtquả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việcthi hành công vụ của cán bộ, công chức; tổ chức thực hiện các biện pháp phòng,chống tham nhũng, quan liêu, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu tráchnhiệm về để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơnvị; tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hoá công sởtrong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức

Trang 20

thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu,hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân

Với việc Luật Cán bộ, công chức năm 2008, chế định công chức và đạođức công vụ đã có bước phát triển và hoàn thiện mới, góp phần xác lập cácchuẩn mực đạo đức - pháp lý cho cán bộ, công chức Việt Nam trong tiến trìnhxây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 cũng có những quy định phảnánh những nội dung về chuẩn mực công chức, công vụ, trong đó xác định cụ thểcán bộ, công chức là một trong những đối tượng là người có chức vụ, quyềnhạn Xác định tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợidụng chức vụ, quyền hạn này để tham ô, hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vìđộng cơ vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân, xâmphạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức Những hành vi tham nhũngđược xác định là: tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa; nhận hối lộ; lợi dụng chứcquyền để đưa hối lộ, môi giới hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng tráiphép tài sản xã hội chủ nghĩa

Để đảm bảo các nguyên tắc về chuẩn mực đạo đức trong hoạt động công

vụ của cán bộ, công chức và nhằm chống lãng phí, thực hành tiết kiệm ngânsách nhà nước, Luật Tực hành tiết kiệm, chống lãng phí Luật Thực hành tiếtkiệm, chống lãng phí năm 2013 quy định trách nhiệm của cán bộ, công chứctrong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí như: thực hiện công vụ được giaođúng quy định của pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, bảo đảmthực hành tiết kiệm, chống lãng phí; sử dụng tiền, tài sản nhà nước được giaođúng mục đích, định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩmquyền ban hành; tham gia giám sát, đề xuất các biện pháp, giải pháp thực hànhtiết kiệm, chống lãng phí trong cơ quan, tổ chức và trong lĩnh vực công tác đượcphân công, kịp thời phát hiện, tố cáo, ngăn chặn và xử lý hành vi gây lãng phítheo thẩm quyền Ngoài ra Luật cũng quy định cán bộ, công chức có hành vi vi

Ngày đăng: 11/01/2021, 10:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w