1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tình hình thực hiện đạo đức công vụ của người cán bộ, công chức ở việt nam

19 59 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 39,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá tình hình thực hiện đạo đức công vụ của người cán bộ, công chức ở việt nam Đánh giá tình hình thực hiện đạo đức công vụ của người cán bộ, công chức ở việt nam Đánh giá tình hình thực hiện đạo đức công vụ của người cán bộ, công chức ở việt nam Đánh giá tình hình thực hiện đạo đức công vụ của người cán bộ, công chức ở việt nam Đánh giá tình hình thực hiện đạo đức công vụ của người cán bộ, công chức ở việt nam Đánh giá tình hình thực hiện đạo đức công vụ của người cán bộ, công chức ở việt nam Đánh giá tình hình thực hiện đạo đức công vụ của người cán bộ, công chức ở việt nam

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Đạo đức công vụ là sự thể hiện đặc thù đạo đức chung của xã hội trong công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trong quá trình quản lý các mặt của đời sống xã hội; đó là những quy tắc chuẩn mực, giá trị được xã hội thừa nhận là tốt đẹp, do quá trình tu dưỡng rèn luyện theo tiêu chuẩn mà có được khi họ thi hành công vụ

Đây là một bộ phận quan trọng để xây dựng và hoàn thiện giá trị kiên định đường lối, trung thành với Tổ quốc, với nhân dân của mỗi dân tộc Ngoài

ra đạo đức công vụ cũng là cơ sở để đánh giá hiện tượng quan liêu, hách dịch, tham nhũng,…

Trong bối cảnh thế giới như hiện nay, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra với

xu thế các đất nước đang ngày càng phát triển hơn thì đạo đức công vụ của những cán bộ, công chức ngày càng được quan tâm hơn, các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế - chính trị đang được hình thành và ngày càng phát triển mạnh mẽ thì vấn đề đạo đức công vụ của người cán bộ, công chức trở thành một vấn đề quan trọng, đang rất được quan tâm

Với những lí do trên, nên em chọn đề tài “Đánh giá tình hình thực hiện đạo đức công vụ của người cán bộ, công chức ở Việt Nam” Kết cấu tiểu luận gồm 3 phần:

- Chương I: Lý luận chung về đạo đức công vụ

- Chương II: Hệ thống hóa các văn bản quy định về đạo đức công vụ

- Chương III: Đánh giá, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện đạo đức công vụ

Trang 3

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ 1.1 Đạo đức công vụ

1.1.1 Khái niệm đạo đạo đức

Đạo: Đường đi, hướng đi, lối làm việc, ăn ở

Đức: Theo Khổng Tử, sống đúng luân thường là có Đức Theo Đạo (Lão tử) tu thân tới mức hiệp nhất với trời đất, an hoà với mọi người là có Đức

Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội,với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của

dư luận xã hội

1.1.2 Quan hệ đạo đức

Quan hệ đạo đức là môt kiểu quan hệ xã hội, là yếu tố tạo nên tính hiện thực của bản chất xã hội của con người Quan hệ đạo đức là hình thức liên hệ giữa các cá nhân với nhau và với xã hội dựa trên ý thức đạo đức và chuẩn mực, lý tưởng đạo đức Khi tuân theo những chuẩn mực, lý tưởng đạo đức, hoạt động của con người thường đụng chạm đến lợi ích của nhau Hoạt động này sẽ dẫn đến sự đáp trả bằng sự đánh giá, nên đã hình thành quan hệ đạo đức

1.1.3 Khái niệm đạo đức công vụ

Công vụ là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do cán bộ, công chức tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước, nhân dân và xã hội Tuy nhiên trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam, do đặc thù về thể chế chính trị nên công vụ còn bao gồm cả hoạt động thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội

Đạo đức công vụ là sự thể hiện đặc thù đạo đức chung của xã hội trong công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trong quá trình quản lý các mặt của đời sống xã hội; đó là những quy tắc chuẩn

Trang 4

mực, giá trị được xã hội thừa nhận là tốt đẹp, do quá trình tu dưỡng rèn luyện theo tiêu chuẩn mà có được khi họ thi hành công vụ

Đạo đức công vụ trong xã hội hiện đại đã trở thành một điều không thể thiếu của một quốc gia phát triển, gắn liền với đạo đức phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức

Nội dung công vụ thể hiện trong các quan hệ:

- Công vụ quan hệ với nhà nước

- Công vụ quan hệ với nhân dân

- Công vụ quan hệ với cấp trên

- Công vụ quan hệ với cấp dưới

- Công vụ quan hệ với đồng nghiệp (cùng cấp)

Đó là những mối quan hệ dựa trên nền tảng lợi ích cá nhân với cá nhân, cá nhân với xã hội

1.1.4 Một số đặc điểm và tính chất của công vụ

- Mục đích của công vụ là phục vụ lợi ích nhà nước, nhân dân và xã hội

- Nội dung hoạt động công vụ bao gồm các hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội trong lãnh đạo, quản lý và tham gia quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời tổ chức cung ứng và phục vụ các nhu cầu chung của xã hội, của nhân dân không vì mục đích lợi nhuận

- Chủ thể thực thi công vụ là cán bộ, công chức

- Hoạt động công vụ không chỉ thuần tuý mang tính quyền lực nhà nước,

mà còn bao gồm cả hoạt động của các tổ chức do nhà nước thành lập để phục vụ các nhu cầu của nhân dân Các hoạt động này đều do cán bộ, công chức nhân danh nhà nước tiến hành Bao gồm các hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước

và các hoạt động của các tổ chức được nhà nước uỷ quyền Ở các nước trên thế giới, khi đề cập đến công vụ, người ta ít nói đến yếu tố quyền lực nhà nước mà thường chỉ nói tới công chức nhân danh pháp luật hoặc nhân danh nhà nước mà thôi Bởi lẽ, pháp luật là công cụ chính, chủ yếu do nhà nước ban hành Ngoài

Trang 5

ra, ở Việt Nam do đặc thù về thể chế chính trị nên hoạt động công vụ còn bao gồm cả hoạt động của cán bộ, công chức trong các cơ quan của Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội

- Công vụ được tiến hành theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được Nhà nước giao và tuân theo pháp luật

- Hoạt động công vụ mang tính thường xuyên, chuyên nghiệp

1.1.5 Mục tiêu của công vụ

- Phục vụ nhà nước

- Phục vụ nhân dân

- Không có mục đích riêng của mình

- Mang tính xã hội cao vì phục vụ nhiều người

- Duy trì an ninh, an toàn trật tự xã hội

- Thúc đẩy tăng trưởng và phát triển

- Không vì lợi nhuận

1.1.6 Các nguồn lực để thực hiện hoạt động công vụ

- Quyền lực nhà nước trao cho, có tính pháp lý

- Sử dụng nguồn ngân sách nhà nước để hoạt động

- Do cán bộ, công chức thực hiện

1.1.7 Cách thức tiến hành hoạt động công vụ

- Hướng đến mục tiêu

- Hệ thống thứ bậc, phân công, phân cấp

-Thủ tục do pháp luật quy định trước

- Công khai

- Bình đẳng

- Khách quan, không thiên vị

- Có sự tham gia của nhân dân

Hoạt động công vụ là một loại hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước Nói đến hoạt động công vụ là nói đến trách nhiệm của cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ nhằm mục tiêu phục vụ người dân và xã

Trang 6

hội Về mặt pháp lý, trách nhiệm của cán bộ, công chức thường được xem xét trong mối quan hệ thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ Do đó, hoạt động công vụ thể hiện trách nhiệm của cán bộ, công chức nhân danh quyền lực công thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định của pháp luật

Trang 7

Chương 2

HỆ THỐNG HÓA CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ

Cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là sự ra đời của hệ thống pháp luật mới Với bản chất nhà nước của dân, do dân và vì dân, những giá trị đạo đức nghề nghiệp hướng tới xây dựng một nền công vụ mới, phục vụ nhân dân được chú trọng, hình thành và phát triển trên nền tư tưởng đạo đức mới, pháp luật mới Trong hệ thống pháp luật mới đã xuất hiện và ngày càng hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật về công chức, công vụ Nhiều nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức mới của xã hội mới được thể chế hóa thành những quy phạm pháp luật cho chuẩn mực hành vi của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu xây dựng nền công vụ mới, gắn với nhà nước của dân, do dân và vì dân

Quyền lực nhà nước liên quan trực tiếp đến nền công vụ, được phản ánh qua một trong những nội dung cốt yếu của nền công vụ, đó là đội ngũ cán bộ, công chức Bất kỳ nhà nước nào cũng phải định ra những chuẩn mực đạo đức trong nền công vụ của mình Ngoài những nội dung chuẩn mực mà nhiều quốc gia sử dụng tương tự như nhau, thì tuỳ theo đặc điểm văn hoá, tâm lý xã hội mỗi quốc gia lại có những chuẩn mực đạo đức đặc thù riêng trong nền công vụ của mình

- Ngay từ năm 1950, trong điều kiện khó khăn, gian khổ của công cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành Quy chế công chức Việt Nam Với văn bản này có thể nói, đây là lần đầu tiên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành một hệ thống các quy phạm pháp luật khá hoàn chỉnh, làm cơ sở pháp lý cho việc xây dựng đội ngũ công chức cách mạng Việt Nam Trong đó, nội dung về công chức và đạo đức công vụ đã được thể hiện rất rõ: “Công chức Việt Nam là những công dân giữ một nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính quyền nhân dân…Công chức

Trang 8

Việt Nam phải đem tất cả sức lực và tâm trí, theo đúng đường lối của Chính phủ

và nhằm lợi ích của nhân dân mà làm việc”

+ Điều 2 của Quy chế quy định: “Công chức Việt Nam phải phục vụ nhân dân, trung thành với Chính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và tránh làm những việc có hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt động của

bộ máy nhà nước Công chức Việt Nam phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”

+ Từ những quy định trên có thể thấy, ngay trong Quy chế công chức đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Nhà nước ta đã nêu lên những chuẩn mực đạo đức - pháp lý rất quan trọng đối với công chức nhà nước Lần đầu tiên những giá trị đạo đức truyền thống: cần, kiệm, liêm, chính được thể chế hoá thành những giá trị chuẩn mực pháp lý đối với công chức Việt Nam Điều này có ý nghĩa quan trọng và vượt qua thời gian, đến nay những quy định này vẫn còn nguyên giá trị

- Kế thừa và phát huy những quy định pháp luật về công chức và đạo đức công vụ và nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng và kiện toàn đội ngũ công chức trong tình hình mới, Hiến pháp năm 1980 quy định tại Điều 8: “Tất cả các cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa Nghiêm cấm mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”

+ Như vậy, với quy định của Hiến pháp 1980, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Nhà nước ta đã ban hành những chuẩn mực về đạo đức -pháp lý cho công chức và cơ quan nhà nước trong đạo luật gốc, đạo luật cơ bản

có hiệu lực pháp lý cao nhất

- Hiến pháp 1992 tại Điều 8 cũng quy định: “Các cơ quan nhà nước, cán

bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên

hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân;

Trang 9

kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng”

+ Như vậy với quy định này, Hiến pháp 1992 đã kế thừa Hiến pháp 1980 nhưng đồng thời phát triển thêm lên để không ngừng hoàn thiện những nguyên tắc, những quy định đối với đạo đức công vụ và các chuẩn mực pháp lý cho công chức nhà nước

- Căn cứ vào Hiến pháp 1992, để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực và tận tụy phục vụ nhân dân, trung thành với Tổ quốc, Nhà nước ta đã ban hành Luật cán bộ, công chức năm 2008, trong đó, những chuẩn mực đạo đức - pháp lý được thể hiện một cách tập trung

và rất cụ thể ở các quy định về nghĩa vụ của công chức, như: trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo

vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia; tôn trọng nhân dân, tận tâm phục vụ nhân dân; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

+ Luật cán bộ, công chức cũng quy định: trong khi thi hành công vụ, cán

bộ, công chức có nghĩa vụ thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; có ý thức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước; chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; chấp hành quyết định của cấp trên

+ Đối với cán bộ, công chức là người đứng đầu thì còn phải thực hiện các nghĩa vụ như: chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm

về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức; tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, quan liêu, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và

Trang 10

chịu trách nhiệm về để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hoá công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân

+ Với việc ban hành Luật cán bộ, công chức, chế định công chức và đạo đức công vụ đã có bước phát triển và hoàn thiện mới, góp phần xác lập các chuẩn mực đạo đức - pháp lý cho cán bộ, công chức Việt Nam trong tiến trình xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh

- Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 cũng có những quy định phản ánh những nội dung về chuẩn mực công chức, công vụ, trong đó xác định cụ thể cán bộ, công chức là một trong những đối tượng là người có chức vụ, quyền hạn Xác định tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn này để tham ô, hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức Những hành vi tham nhũng được xác định là: tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa; nhận hối lộ; lợi dụng chức quyền để đưa hối lộ, môi giới hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa

- Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005 quy định trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí như: thực hiện công vụ được giao đúng quy định của pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; sử dụng tiền, tài sản nhà nước được giao đúng mục đích, định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; tham gia giám sát, đề xuất các biện pháp, giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong cơ quan, tổ chức và trong lĩnh vực công tác được phân công, kịp thời phát hiện, tố cáo, ngăn chặn và

xử lý hành vi gây lãng phí theo thẩm quyền Ngoài ra Luật cũng quy định cán

bộ, công chức có hành vi vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất,

Trang 11

mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức như: khiển trách; cảnh cáo buộc thôi việc

Chuẩn mực đạo đức của cán bộ, công chức cũng được quy định trong thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan khi thực thi công vụ Trong quan hệ giải quyết công việc với công dân, tổ chức, cán bộ, công chức phải làm việc đúng thẩm quyền, không được quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà Cán bộ, công chức không tiếp nhận và giải quyết công việc của công dân, tổ chức tại nhà riêng Cán bộ, công chức phải có trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác và bí mật nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, tổ chức theo quy định của pháp luật Trong hoạt động ở doanh nghiệp nhà nước và thực hiện dân chủ ở xã cũng có những văn bản quy phạm pháp luật quy định chuẩn mực đạo đức cán bộ, công chức, viên chức khi thi hành công vụ

Các chuẩn mực về công chức và đạo đức công vụ đã được nhà nước ban hành dưới các hình thức văn bản quy phạm pháp luật Từ những nội dung cơ bản này, Chính phủ và chính quyền các cấp, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức thực hiện và quản lý sâu rộng hơn, cụ thể hơn trong các hoạt động của nền công vụ Đó là các quy định pháp luật về xây dựng cơ chế tuyển dụng và bổ nhiệm cán bộ, công chức một cách minh bạch; những quy định nhằm tăng cường tính minh bạch thông qua việc công khai và giám sát đối với tài sản và trách nhiệm cá nhân, hoặc các quy định nhằm nâng cao đạo đức công vụ, hạn chế tiêu cực như sách nhiễu, vòi vĩnh, hối lộ

- Quyết định số 11/QĐ-BTCCBCP ngày 05/12/1998 của Bộ Nội vụ về việc ban hành quy chế đánh giá công chức hàng năm đã quy định lối sống, đạo đức là một trong 8 nội dung làm căn cứ để đánh giá, xếp loại công chức

- Những năm gần đây, Chính phủ và Bộ Nội vụ đã ban hành các văn bản nhằm xây dựng chuẩn mức xử sự của CBCC đó là:

Ngày đăng: 11/01/2021, 10:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w