1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Hành vi của các em hộ gia đình Việt Nam và khả năng phục hồi sau khủng hoảng kinh tế thế giới

7 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 351,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương này giải thích các khái niệm, thuật ngữ: khủng hoảng kinh tế, khả năng phục hồi, thu nhập, chi tiêu và tiết kiệm HGĐ; nghiên cứu đặc điểm và vai trò của HGĐ trong [r]

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN VĂN

1 Lý do nghiên cứu đề tài

Năm 2008 đánh dấu sự khủng hoảng của nền kinh tế toàn cầu, nhiều quốc gia đã

bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ cuộc khủng hoảng đó, trong đó Việt Nam cũng chịu thiệt hại về kinh tế: tăng trưởng chậm khi các thị trường xuất khẩu lớn bị ảnh hưởng, sức mua trong nước giảm Cả giai đoạn 2008-2012, tăng trưởng GDP luôn thấp hơn 7% và ngày càng đi xuống, đến năm 2012 chỉ còn 5,03%, chưa bằng hai phần ba so với mức trước khi khủng hoảng Tuy nhiên, đến năm 2014 kinh tế Việt Nam đã có dấu hiệu ổn định và tăng trưởng trở lại (tăng trưởng GDP xấp xỉ 6%), dẫn đến những hành vi tiết kiệm, chi tiêu và thu nhập của hộ thay đổi theo hướng tích cực

Chi tiêu HGĐ (HGĐ) là một trong những yếu tố có vai trò quan trọng, là nguồn lực lớn đóng góp vào GDP và tăng trưởng kinh tế, tiêu dùng của HGĐ đóng góp khoảng 63% trong GDP năm 2014 (World Bank) Do đó, khi khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra

sẽ có những tác động lớn tới những hành vi chi tiêu, tiết kiệm của khu vực HGĐ Các HGĐ sẽ chi tiêu ít hơn và tiết kiệm nhiều hơn, từ đó sẽ có tác động đến tăng trưởng và khả năng phục hồi của kinh tế

Ở Việt Nam, với đặc trưng là một quốc gia có tỷ lệ người nghèo và người có thu nhập thấp tương đối cao, tài chính vi mô của nước ta còn non trẻ, chưa đáp ứng được hết nhu cầu của người dân, đặc biệt là người nghèo1 Do đó, khi gặp phải những cú sốc thu nhập bất lợi, có thể ảnh hưởng lớn đến đời sống của các HGĐ đặc biệt là những hộ nghèo Để thấy được ảnh hưởng thực tế của các cú sốc thu nhập đến hành vi của HGĐ như thế nào, cơ cấu tiêu dùng của hộ thay đổi ra sao? khả năng khắc phục hậu quả, đối phó để làm giảm tác động sau cú sốc của các HGĐ Việt Nam, Luận văn lựa chọn nghiên

cứu “Hành vi HGĐ Việt Nam và khả năng phục hồi sau khủng hoảng kinh tế” Thông

qua nghiên cứu hành vị tiết kiệm và khả năng phục hồi kinh tế HGĐ giúp cho việc xác định các yếu tố tác động tới những hành vi này của HGĐ Từ đó có thể đưa ra các chính

1 Các tổ chức tài chính vi mô mới chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu của người nghèo, còn lại khoảng 60% vẫn chưa tiếp cận được với dịch vụ này

Trang 2

sách hỗ trợ các HGĐ, cải thiện khả năng tự lực tự cường của các HGĐ khi gặp phải những cú sốc thu nhập bất lợi trong bối cảnh tài chính vi mô hiện nay còn chưa tốt Ngoài

ra, luận văn còn giúp các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách thể đưa ra được các công cụ chính sách hiệu quả sau khi xác định các yếu tố cấu thành và có ảnh hưởng tới tỷ

lệ tiết kiệm, hay tiêu dùng HGĐ để có thể kích cầu nền kinh tế

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn sẽ nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn xác định hành vi tiết kiệm và khả năng phục phục hồi về thu nhập, chi tiêu của HGĐ trong và sau khủng hoảng kinh tế thế giới

Luận văn đi phân tích, đánh giá thực trạng hành vi tiết kiệm, khả năng phục phục hồi về thu nhập, chi tiêu của HGĐ trong và sau khi xảy ra khủng hoảng kinh tế thế giới

Từ đó xem xét khủng hoảng kinh tế có tác động như thế nào đến hành vi tiết kiệm và khả năng phục hồi kinh tế HGĐ

Cuối cùng, luận văn đưa ra một số khuyến nghị chính sách phát triển khu vực HGĐ sau khủng hoảng kinh tế

3 Câu hỏi nghiên cứu

Thứ nhất, sự phục hồi của kinh tế thế giới có ảnh hưởng như thế nào đến hành vi chi tiêu của các HGĐ Việt Nam?

Thứ hai, khả năng phục hồi về thu nhập và chi tiêu của HGĐ sau khủng hoảng kinh tế thế giới?

4 Đối tượng nghiên cứu

Trong luận văn, tác giả quan tâm đến hành vi tiết kiệm và khả năng phục hồi về thu nhập, chi tiêu của HGĐ Việt Nam

Luận văn cũng nghiên cứu những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi tiết kiệm và khả năng phục hồi kinh tế HGĐ Việt Nam sau khủng hoảng

Trang 3

5 Phạm vi nghiên cứu

Trong luận văn, pham vi nghiên cứu là các HGĐ trên lãnh thổ Việt Nam

Thời gian nghiên cứu của luận văn là giai đoạn 2012-2014 Năm 2012 là thời gian Việt Nam vẫn đang chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế và năm 2014 là mốc thời gian kinh tế Việt Nam có dấu hiệu phục hồi

6 Phương pháp nghiên cứu và số liệu

Để nghiên cứu hành vi và khả năng phục hồi kinh tế HGĐ sau khủng hoảng kinh

tế, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Tổng quan tài liệu: Tổng quan các nghiên cứu về hành vi và khả năng phục hồi của

HGĐ sau khủng hoảng kinh tế thế giới; tổng hợp, phân tích số liệu và các kết quả từ các nghiên cứu đã được thực hiện

Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp phân tích thống kê để phân tích xu

hướng, thực trạng hành vi của HGĐ trước và sau khủng hoảng kinh tế thế giới

Phương pháp kinh tế lượng: Sử dụng phân tính hồi quy để đánh giá khả năng phục

hồi của HGĐ sau khủng hoảng kinh tế thế giới

Dữ liệu sử dụng: Luận văn chủ yếu sử dụng số liệu điều tra mức sống dân cư

2012-2014 được điều tra 2 năm một lần của Tổng cục Thống kê để nghiên cứu về các hành vi chi tiếu, tiết kiệm của HGĐ Số liệu mức sống dân cư được điều tra lặp lại khoảng 40% mẫu khảo sát Luận văn sử dụng mẫu điều tra lặp lại để phân tích hà vi và khả năng phục hồi của HGĐ sau khủng hoảng

7 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm ba chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu

Chương này giải thích các khái niệm, thuật ngữ: khủng hoảng kinh tế, khả năng phục hồi, thu nhập, chi tiêu và tiết kiệm HGĐ; nghiên cứu đặc điểm và vai trò của HGĐ trong nền kinh tế; nêu ra một số yếu tố ảnh hưởng tới hành vi tiết kiệm và khả năng phục

Trang 4

hồi kinh tế HGĐ; đưa ra một số nghiên cứu trước về khủng hoảng ảnh hưởng đến hành vi HGĐ trong và ngoài nước; phương pháp ước lượng mô hình nghiên cứu

Chương 2 Thực trạng hành vi và khả năng phục hồi của HGĐ trong và sau khủng hoảng

Chương này trình bày thực trạng về:

- Tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam giai đoạn 2012-2014 bao gồm: Tăng trưởng kinh tế, thương mại, thị trường tài chính, đầu tư FDI, lạm phát và phát triển kinh

tế HGĐ Tính đến năm 2014, kinh tế toàn cầu đang có xu hướng phục hồi rõ nét, tuy nhiên tốc độ còn chậm và không đồng đều giữa các khu vực trên thế giới Tăng trưởng kinh tế Việt Nam cũng có dấu hiệu tăng cao trong năm 2014

- Hành vi tiết kiệm HGĐ trong và sau khủng hoảng, phân tích theo khu vực thành thị nông thôn cho thấy tỷ lệ tiết kiệm của HGĐ có xu hướng gia tăng ở cả khu vực thành thị lẫn nông thôn, những hộ càng giàu thì tỷ lệ tiết kiệm càng cao

- Khả năng phục hồi của hộ trong và sau khủng hoảng về thu nhập, chi tiêu và cơ cấu chi tiêu của HGĐ Hộ càng giàu thì tốc độ tăng thu nhập càng thấp Cơ cấu chi tiêu HGĐ phù hợp với lý thuyết, khi thu nhập tăng thì chi tiêu cho ăn uống và đồ dùng thiết yếu giảm, chi tiêu cho giáo dục và y tế sẽ tăng Tuy nhiên, các hộ nghèo thường chi ít hơn cho giáo dục và y tế cả về độ lớn tuyệt đối cũng như tương đối

- Một số yếu tố tác động đến hành vi và khả năng phục hồi kinh tế hộ như: Nhân khẩu bình quân, tỷ lệ phụ thuộc, tỷ lệ lao động đang làm việc, tỷ lệ nữ giới; Giới tính, dân tộc, học vấn, tình trạng việc làm của chủ hộ

Trang 5

Chương 3 Mô hình phân tích hành vi và khả năng phục hồi kinh tế HGĐ sau khủng hoảng

Chương này sẽ xây dựng và ước lượng các mô hình đánh giá tác động của một số yếu tố đến hành vi tiết kiệm và khả năng phục hồi kinh tế HGĐ sau khủng hoảng bao gồm:

Mô hình 1: Phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố đến hành vi tiết kiệm của hộ

- Khi thu nhập của HGĐ càng cao thì tỷ lệ tiết kiệm của hộ càng tăng, chênh lệch

tỷ lệ tiết kiệm giữa các nhóm già và nghèo càng lớn

- Người dân đang có kỳ vọng về sự phục hồi kinh tế tốt hơn trong năm 2014 so với năm 2012 Thu nhập bình quân năm 2014 lớn hơn 2012 nhưng các nhóm đều có xu hướng tiết kiệm giảm theo thời gian, do đó các nhóm đều gia tăng tỷ lệ chi tiêu trong hiện tại

Mô hình 2: Phân tích một số yếu tố đến khả năng phục hồi của hộ sau khủng hoảng,

đo lường trên hai tiêu chí là thu nhập và chi tiêu HGĐ

- So với trong khủng hoảng thì sau khủng hoảng thu nhập và chi tiêu của hộ nghèo

có tốc độ tăng cao hơn hộ giàu, hộ càng giàu thì tốc độ tăng thu nhập và chi tiêu bình quân hộ càng thấp, điều này cho thấy rằng hộ nghèo có khả năng phục hồi sau khủng hoảng tốt hơn hộ giàu

- Trong năm 2014 cũng cho thấy sự phục hồi kinh tế các HGĐ sau khủng hoảng khi tốc độ tăng thu nhập và chi tiêu bình quân năm 2014 của các nhóm lớn hơn năm

2012

Kết luận và khuyến nghị

Phần này đưa ra những kết luận chính trong bài và đề xuất các chính sách đề làm giảm thiểu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến người dân, tăng khả năng hồi phục kinh tế HGĐ sau khủng hoảng

8 Các kết luận thu được

Trang 6

Hành vi tiết kiệm của HGĐ có xu hướng thay đổi theo thời gian, tỷ lệ tiết kiệm của hộ có xu hướng gia tăng ở cả khu vực thành thị lẫn nông thôn

Khả năng phục hồi kinh tế HGĐ trong năm 2014 tốt hơn so với năm 2012 Thu nhập bình quân đầu người năm 2014 tăng đáng kể so với năm 2012 và nó diễn ra khá đều

ở tất cả các nhóm thu nhập

Cơ cấu chi tiêu hiện nay của các HGĐ Việt Nam, chi tiêu cho ăn uống quá cao (chiếm trên 50% tổng chi tiêu trong năm 2012), trong khi tỷ trọng chi tiêu cho y tế và giáo dục lại rất thấp Tuy nhiên khi kinh tế phục hồi, các HGĐ Việt Nam có giảm tỷ trọng chi tiêu cho ăn uống xuống nhưng tỷ trọng chi tiêu cho y tế và giáo dục gần như không có sự thay đổi đáng kể nào so với trong khủng hoảng, các hộ giai đình chỉ chủ yếu tăng tiêu dùng ở mặt hàng ngoài ăn uống và hàng lâu bền Đây mới chỉ là cái lợi trước mắt, để có cái nhìn lâu dài thì cần ưu tiên chi tiêu cho y tế và giáo dục Vì vậy, nhà nước nên có những chính sách khuyến khích người dân đầu tư nhiều hơn cho y tế và giáo dục thay vì đi mua sắm đồ dùng Để làm được như vậy, nhà nước cần: tăng cường đầu tư, phát triển vốn nhân lực Đây không chỉ đơn thuần là đầu tư tiền bạc, thời gian cho giáo dục, đào tạo mà còn phải tạo ra sự công bằng tương đối trong các cơ hội giáo dục đối với mọi người dân, thực hiện công bằng về các cơ hội được giáo dục vào đào tạo

Về hành vi tiết kiệm của HGĐ: có sự khác biệt về tỷ lệ tiết kiệm giữa các nhóm thu nhập là khá lớn Chênh lệch tỷ lệ tiết kiệm giữa nhóm giàu nhất và nghèo nhất lên tới hơn

2 lần và có chiều hướng tăng lên theo thời gian Do đó, đây có thể là yếu tố làm gia tăng bất bình đẳng thu nhập trong tương lai Như vậy, nhà nước cần quan tâm nhiều hơn đến vấn đề này để có những chính sách làm giảm bất bình đẳng thu nhập Một số khuyến nghị như sau: (1) Nhà nước có thể thông qua các công cụ có thể sử dụng để tái phân phối thu nhập ở đây nên tập trung vào khía cạnh tài sản như thuế thừa kế, thuế đầu tư, thuế tài sản Tuy nhiên, cũng cần thiết kế hệ thống thuế sao cho không triệt tiêu động lực làm giàu của những người giàu Như vậy, sẽ làm tăng thu nhập của người nghèo và kích thích người nghèo tiêu dùng nhiều hơn (2) Hình thành một tầng lớp trung lưu rộng lớn trong xã hội Tất nhiên, giảm nghèo hay tăng trung lưu thực chất cũng chỉ là một vấn đề Việc đặt mục

Trang 7

tiêu tạo ra lớp trung lưu rộng lớn sẽ khuyến khích người nghèo làm giàu nhiều hơn đồng thời tăng chi tiêu HGĐ, do người giàu thương chi tiêu nhiều hơn người nghèo

Theo khu vực, ở thành thị tỷ lệ tiết kiệm luôn thấp hơn khu vực nông thôn Trong năm 2012 tỷ lệ tiết kiệm của khu vực thành thị thấp hơn khu vực nông thôn Theo thời gian, tỷ lệ tiết kiệm của hộ có xu hướng gia tăng ở cả khu vực thành thị lẫn nông thôn, có thể thấy các HGĐ vẫn chưa thật sự kỳ vọng tốt vào nền kinh tế sau khủng hoảng, họ vẫn gia tăng tiết kiệm để dự phòng cho tương lai Do đó, nhà nước nên có những chính sách khuyến khích tiêu dùng ở hiện tại để kích cầu nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Các chính sách đó quan trọng nhất là phải tạo được nhiềm tin cho người tiêu dùng, có các chính sách để khuyến khích các xu hướng tiêu dùng mới mang tính ổn định, bền vững

Có thể ví dụ như vấn đề tăng lương tối thiểu cũng là một chính sách hay để kích thích tiêu dùng mà nhà nước nên quan tâm

Về khả năng phục hồi kinh tế HGĐ: cùng với sự phục hồi của nền kinh tế trong năm 2014 thì kinh tế HGĐ ở Việt Nam trong năm 2014 cũng có sự phục hồi rõ rệt Thu nhập và chi tiêu của hộ nghèo có tốc độ tăng cao hơn hộ giàu, điều này cho thấy rằng hộ nghèo có khả năng phục hồi sau khủng hoảng tốt hơn hộ giàu Như vậy, nó cũng có tác động làm giảm khoảng cách giàu nghèo trong xã hội Do đó, nhà nước cần có những chính sách để duy trì và làm giảm khoảng cách thu nhập giữa người giàu và người nghèo

Cụ thể, nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến các chế độ an sinh xã hội, phúc lợi cho người dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, để giảm thiểu những cú sốc từ bên ngoài Ngoài ra, nhà nước nên quy hoạch lại hoạt động đầu tư của mình, tập trung đầu tư vào những khu vực nông thôn và miền núi, tạo công ăn việc làm cho lao động nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

9 Hạn chế của luận văn

Luận văn nghiên cứu hành vi và khả năng phục hồi kinh tế trong giai đoạn 2012 –

2014 là khoảng thời gian tương đối ngắn, trong khoảng thời gian này tuy kinh tế Việt Nam đã có dấu hiệu phục hồi với tốc độ GDP tăng đều nhưng cũng chưa thật rõ ràng Đây là một hạn chế đối với kết quả nghiên cứu

Ngày đăng: 11/01/2021, 02:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w