Kết quả phân tích Shift-share cho thấy tổng cầu việc làm toàn nền kinh tế tăng tác động tích cực đến cầu việc làm của từng trình độ. Phân tích Shift-share cũng khẳng định[r]
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu và rộng như hiện nay, thị trường lao động đã và đang có sự thay đổi lớn, mang đến nhiều cơ hội việc làm và những yêu cầu cao hơn đối người lao động nhưng đồng thời cũng tạo ra các thách thức đòi hỏi nguồn nhân lực phải có
kỹ năng cùng với kiến thức chuyên môn Trong khi đó, theo Báo cáo lao động – việc làm Quý II/2016 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố, hiện nay cả nước khoảng 1.12 triệu lao động hiện đang thất nghiệp Đáng chú ý, nếu xét theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, có tới hơn 36.2% số lao động thất nghiệp cả nước là lao động dã qua đào tạo chuyên nghiệp hoặc nghề từ 3 tháng trở lên [2] Điều này đặt ra bài toán định hướng đào tạo nguồn nhân lực sao cho phù hợp với nhu cầu của thị trường
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được xác định là một trong 3 giải pháp đột phá chiến lược để nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững Dự báo NCNL là nội dung rất quan trọng và được quan tâm ở các nền kinh tế thị trường nói chung và ở nước ta hiện nay nói riêng
Dự báo NCNL đã có một lịch sử lâu dài tại nhiều nước và có vai trò rất quan trọng trong việc lập kế hoạch, đặc biệt là việc định hướng về đào ta ̣o - đầu tư dài ha ̣n cho bất kỳ nền kinh tế nà o Viê ̣c đào ta ̣o phù hợp chỉ được phát triển nếu nhu cầu đào ta ̣o được xác
đi ̣nh mô ̣t cách chi ti ết và có độ chính xác nhất định Dự báo NCNL sẽ cung cấp những thông tin cần thiết cho việc xây dựng và ban hành các chính sách phát triển nhân lực, nhất
là những chính sách liên quan đến giáo dục và đào tạo nghề, lao động và việc làm; trong việc giảm thiểu sự chênh lệch cung-cầu nhân lực theo nghề nghiệp, theo các ngành đào tạo trong nền kinh tế cũng như trong từng ngành kinh tế và trong việc góp phần phát triển
và phân bố nguồn nhân lực một cách hiệu quả [3]
Trên thế giới hiện đã hình thành khá nhiều phương pháp dự báo NCNL khác nhau Mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng nhưng quyết định lựa chọn phương pháp nào chủ yếu phụ thuộc vào số liệu thống kê có thể thu thập được và mục tiêu xây dựng mô hình dự báo Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu và dự báo NCNL với
Trang 2quy mô lớn nhỏ khác nhau Tuy nhiên việc dự báo NCNL theo trình độ đào tạo trong toàn nền kinh tế và các ngành kinh tế vẫn chưa được thực hiện và đến nay ở Việt Nam cũng chưa có công trình nghiên cứu nào liên quan đến việc dự báo vấn đề này theo đúng nghĩa
Nhận thấy tính cấp thiết và vai trò quan trọng của việc dự báo NCNL phân theo ngành đào tạo, dưới sự hướng dẫn của PGS TS Đỗ Văn Thành1
tôi đã chọn đề tài “Dự báo cầu
nhân lực Việt Nam theo trình độ đào tạo giai đoạn 2016-2025” để nghiên cứu và làm luận
văn thạc sỹ Phương pháp được sử dụng trong luận văn bao gồm phương pháp hệ số co giãn giữa NCNL (hay số việc làm) và tăng trưởng GDP của toàn nền kinh tế cũng như của các ngành kinh tế; mô hình Multilogit và phương pháp mô phỏng trung bình Raynolt (Raynolt Average Simulation - RAS) Phần mềm công cụ EVIEW được sử dụng để xây dựng các mô hình dự báo NCNL phân theo trình độ đào tạo (hay ngành đào tạo cấp 1) trong các ngành kinh
tế và Microsoft Excel được sử dụng để phân tích các yếu tố tác động đến sự dịch chuyển của lao động phân theo trình độ đào tạo trong các ngành kinh tế (gọi tắt là phân tích Shift-share)
Luận văn gồm 3 chương nội dung Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm về dự báo NCNL sẽ cung cấp những thông tin cơ bản về dự báo NCNL và góc nhìn tổng quan
về công tác dự báo NCNL trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Chương 2: Thực trạng NCNL phân theo trình độ đào tạo ở Việt Nam giai đoạn 1999-2015 sẽ tập trung phân tích cơ cấu NCNL phân theo trình độ đào tạo, năng suất lao động trong toàn nền kinh tế và 3 ngành kinh tế Nông – Lâm – Thủy sản, Công nghiệp – Xây dựng và Dịch vụ Chương 3: Dự báo NCNL Việt Nam theo trình độ đào tạo giai đoạn 2016-2025
sẽ trình bày chi tiết thủ tục dự báo NCNL Việt Nam theo trình độ đào tạo trong 3 ngành kinh tế nêu trên giai đoạn 2016-2025, đặc biệt, chương này còn đi sâu phân tích tìm hiểu nguyên nhân chuyển dịch lao động giữa các ngành và trình độ đào tạo trong nền kinh tế - phân tích Shift-share
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ DỰ BÁO NHU CẦU NHÂN LỰC
1 Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia
Trang 3Chương 1 trước hết sẽ giới thiệu cơ sở lý luận chung về dự báo NCNL, bao gồm thị trường lao động, mục đích và đối tượng sử dụng thông tin dự báo NCNL Chương 1 sau đó cũng trình bày tổng quan kinh nghiệm quốc tế về dự báo NCNL thông qua việc giới thiệu 4 cách tiếp cận dự báo NCNL thường được các nước sử dụng Sau cùng, chương 1 sẽ giới thiệu một số mô hình dự báo NCNL đã được xây dựng ở Việt Nam thời gian qua như mô hình LOTUS và mô hình ILSSA-MS
1.1 Cơ sở lý luận về dự báo nhu cầu nhân lực
Lao động, trong kinh tế học, được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và
là một loại hàng hóa Tương tự mọi hàng hóa và dịch vụ khác, lao động được trao đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động (TTLĐ), đó là nơi diễn ra sự trao đổi hàng hóa sức lao động giữa một bên là những người sở hữu sức lao động và một bên là những người cần thuê sức lao động đó Giá cả của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động Cũng như thị trường hàng hóa, TTLĐ được cấu thành bởi cung, cầu và giá cả sức lao động hay tiền công, tiền lương
Mục đích chính của dự báo nhân lực là để có định hướng về đào t ạo-đầu tư dài ha ̣n cho bất kỳ nền kinh tế nào Trước hết, nếu dự báo việc làm được thực hiện tốt thì sẽ ngăn ngừa và giảm thiểu sự mất cân bằng giữa cung và cầu lao động trong nền kinh tế cũng như trong từng ngành kinh tế Viê ̣c đào ta ̣o phù hợp chỉ được phát triển nếu nhu cầu đào tạo được xác định một cách chi ti ết và có độ chính xác nhất định Dự báo NCNL sẽ cung cấp những thông tin cần thiết cho việc xây dựng và ban hành các chính sách phát triển nhân lực, nhất là những chính sách liên quan đến giáo dục và đào tạo nghề, lao động và việc làm; trong việc giảm thiểu sự chênh lệch cung-cầu nhân lực theo nghề nghiệp, theo các ngành đào tạo trong nền kinh tế cũng như trong từng ngành kinh tế và trong việc góp phần phát triển và phân bố nguồn nhân lực một cách hiệu quả
1.2 Kinh nghiệm dự báo NCNL thế giới
Trang 4Dự báo cung-cầu nhân lực có một li ̣ch sử rất dài và là công cu ̣ rất quan trọng trong viê ̣c lâ ̣p kế hoa ̣ch nguồn nhân lực , đặc biệt là các nước OECD Điểm chung trong công tác dự báo của các nước này là tiếp cận theo 4 cách: Chuỗi thờ i gian ; Tiếp câ ̣n hê ̣ số từ dưới lên; Mô hình dự báo từ trên xuống ; và Tín hiê ̣u thi ̣ trường Mỗi cách tiếp cận đều có những ưu nhược điểm riêng mà các nước sẽ áp dụng linh hoạt tùy vào điều kiện của mình
Phương pháp dự báo việc làm ở Mỹ đã được phát triển bởi Cục Thống kê Lao động (BLS), được thực hiện theo cách tiếp cận từ trên xuống Các bước chính của mô hình bao gồm như sau: Dự báo dân số, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động; Dự báo tổng sản.phẩm quốc gia (GNP) và các hạng mục chính của cầu và thu nhập; Dự báo nhu cầu cuối cùng; ước lượng quan hệ liên ngành (đầu ra – đầu vào), đầu ra theo ngành và việc làm và cuối cùng là Dự báo việc làm theo nghể dựa trên ma trận ngành-nghề nghiệp
Mô hình dự báo cung-cầu nhân lực của Hàn Quốc cũng được xây dựng dựa trên hệ thống dự báo của Bộ Thống kê Lao động Hoa Kỳ (BLS) và được điều chỉnh để phù hợp hơn với điều kiện của Hàn Quốc (VD: hệ thống trường học, dịch vụ quân đội, v.v )
Các dự báo việc làm của Ailen dựa trên các giả định của mô hình kinh tế lượng vĩ
mô của Viện nghiên cứu kinh tế xã hội (ESRI) Mô hình kết hợp dự báo việc làm cho toàn nền kinh tế được phân chia thành 20 ngành với việc phân bổ kết quả dự báo tới mỗi ngành – tỷ trọng (hoặc “tỷ trọng nghề nghiệp) của người lao động làm nghề: nhà quản lý, nhân viên văn phòng, giáo sư, v.v… Đầu ra là dự báo cho toàn nền kinh tế về số người có việc làm theo nghề trong năm Dự báo việc làm đã cung cấp một bức tranh khá chính xác
về mức độ việc làm trong năm 2012 Phương pháp phân tích Shift-share được sử dụng để phân rã các cấu thành của tăng trưởng việc làm của từng nghề nghiệp
Trang 51.3 Một số mô hình dự báo NCNL tại Việt Nam
Một số mô hình dự báo NCNL tại Việt Nam từ trước đến nay có thể kể tên như mô hình LOTUS và mô hình ILSSA-MS Cách tiếp cận sử dụng mô hình cân bằng tổng thể (CGE) để xây dựng là đặc điểm quan trọng nhất của mô hình mô hình LOTUS Mô hình này đến nay không còn được khai thác sử dụng bởi trong mô hình này các chuyên gia đã khắc phục sự thiếu hụt của số liệu Việt Nam bằng cách “mượn” số liệu của nước ngoài và quan trọng hơn đó là Việt Nam thiếu đội ngũ cán bộ đủ năng lực tiếp thu được công nghệ
để có thể duy trì và phát triển mô hình LOTUS Mô hình ILSSA-MS là khung phân tích cân bằng tổng thể và mô phỏng vi mô của nền kinh tế Việt Nam Lý thuyết của mô hình dựa trên lý thuyết kinh tế tân cổ điển, được điều chỉnh cho Việt Nam dựa trên số liệu kinh
tế chi tiết Mô hình có ưu điểm là tạo ra được nhiều kịch bản mô phỏng xảy ra trong thực
tế và ILSSA đã sử dụng trong nhiều đánh giá tác động, cú “sốc” của một số chính sách kinh tế - xã hội đến thị trường lao động Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình là phụ thuộc vào nhiều giả định, đôi khi tính toán những giả định đó gây ra nhiều sai số
CHƯƠNG 2: THỰC TRANG LAO ĐỘNG PHÂN THEO TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1999-2015
Chương 2 trước hết sẽ trình bày số lượng, cơ cấu NCNL giai đoạn 1999-2015 trong toàn nền kinh tế cũng như trong 3 ngành kinh tế Nông – Lâm – Thủy sản (NLTS), Công nghiệp – Xây dựng (CN-XD) và Dịch vụ (DV) Tiếp theo, chương 2 sẽ phân tích, đánh giá thực trạng NSLĐ, cơ cấu NCNL phân theo trình độ đào tạo trong toàn nền kinh
tế và trong 3 ngành kinh tế ở giai đoạn đã nêu
2.1 Cơ cấu NCNL và NSLĐ trong các ngành kinh tế
Số lượng lao động tham gia hoạt động kinh tế (NCNL) trong nền kinh tế và các ngành kinh tế đều có xu hướng tăng lên do dân số trung bình cũng như dân số bước vào tuổi lao động cả nước vẫn tăng hàng năm nhưng có sự khác biệt về xu hướng tăng giữa các ngành Tỷ trọng NCNL của ngành NLTS trong tổng số NCNL của toàn nền kinh tế nằm trong xu hướng giảm dần trong khi tỷ trong NCNL của các ngành CN-XD và DV có
xu hướng tăng dần
Trang 62.2 Cơ cấu NCNL phân theo trình độ đào tạo trong toàn nền kinh tế
Tỷ trọng nhân lực chưa qua đào tạo trong tổng số lao động đang tham gia hoạt động kinh tế (NCNL) liên tục giảm dần và tỷ trọng nhân lực đã qua đào tạo liên tục tăng dần Xét
tỷ trọng trung bình của nhân lực phân theo trình độ đào tạo theo các giai đoạn 5 năm trong nhóm nhân lực đã qua đào tạo, tỷ trọng của nhân lực có trình độ sơ cấp nghề và trình độ cao đẳng tăng nhẹ; tỷ trọng của nhân lực có trình độ trung cấp giảm nhẹ; tỷ trọng nhân lực có trình độ đại học trở lên là tăng nhanh nhất
2.3 Cơ cấu NCNL phân theo trình độ đào tạo trong các ngành kinh tế
Nếu xét NCNL theo ngành của từng trình độ thì thấy rằng, nhân lực chưa qua đào tạo chủ yếu hoạt động trong ngành NLTS và có chung xu hướng giảm với toàn nền kinh tế; nhân lực trình độ sơ cấp nghề hoạt động chủ yếu trong ngành DV và CN-XD, mức tỷ trọng khá ổn định trong những năm gần đây; nhân lực trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học hoạt động chủ yếu trong ngành DV (chiếm từ 69%-81%), tỷ trọng trong ngành này cũng có xu hướng tăng dần
CHƯƠNG 3: DỰ BÁO NCNL VIỆT NAM THEO TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO GIAI ĐOẠN 2016-2025
Chương này sẽ trình bày chi tiết thủ tục và phương pháp dự báo NCNL Việt Nam theo trình độ đào tạo giai đoạn 2016-2025 Sau khi chỉ ra một số kết quả dự báo, chương này còn đi sâu phân tích dịch chuyển tỷ lệ lao động phân theo trình độ đào tạo trong các ngành kinh tế bằng phương pháp phân tích Shift-share và đưa ra một vài khuyến nghị để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
3.1 Các thủ tục dự báo và phương pháp dự báo
Việc dự báo NCNL phân theo trình độ đào tạo (5 trình độ) trong các ngành kinh tế gộp (3 ngành) trong luận văn này sẽ được thực hiện như sau:
1) Dự báo tăng trưởng kinh tế của toàn nền kinh tế và 3 ngành kinh tế gộp: Luận văn này sử dụng kết quả dự báo tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2016-2025 được trình bày trong Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu cấp nhà nước theo hình thức nghị định thư với Liên
bang Nga: “Nghiên cứu phương pháp dự báo trung hạn ở Liên bang Nga và khả năng
Trang 7ứng dụng vào Việt Nam” do PGS TS Đỗ Văn Thành chủ nhiệm Theo đó, tăng trưởng
GDP toàn nền kinh tế và 3 ngành kinh tế gộp được xây dựng dựa trên 2 kịch bản cho trước (tăng trưởng cao và tăng trưởng thấp) Trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ sử dụng kết quả từ kịch bản tăng trưởng cao
2) Dự báo số việc làm (cầu nhân lực) trong toàn nền kinh tế và các ngành kinh tế được thực hiện ược theo Phương pháp hệ số co dãn giữa việc làm và GDP trong toàn nền kinh tế và từng ngành kinh tế
3) Dự báo NCNL phân theo trình độ đào tạo được thực hiện bằng việc sử dụng mô hình Multilogit với các tỷ số odds;
4) Dự báo NCNL phân theo trình độ đào tạo trong các ngành kinh tế gộp được thực hiện bằng việc sử dụng mô hình mô phỏng Raynolt (hay phương pháp RAS)
3.2 Xây dựng mô hình và chương trình dự báo
Mô hình dự báo cho phép dự báo NCNL trong toàn nền kinh tế và trong 3 ngành kinh tế gộp (1), dự báo NCNL phân theo trình độ đào tạo trong toàn nền kinh tế (2) và dự báo NCNL phân theo trình độ đào tạo trong 3 ngành kinh tế gộp Các phương trình dự báo trong mô hình được thực hiện trong môi trường của công cụ thống kê kinh tế EVIEW Từ kết quả (1) và (2), áp dụng phương pháp RAS, tôi đã xây dựng chương trình tin học dự báo NCNL theo 5 trình độ đào tạo trong 3 ngành kinh tế gộp theo thuật toán lặp Sinkhorn được trình bày ở trên được thực hiện bởi công cụ Microsoft Excel
3.3 Kết quả dự báo
Kết quả dự báo cho thấy (1) NCNL trong toàn nền kinh tế cũng như trong 3 ngành kinh tế gộp có xu hướng tăng; (2) mặc dù chiếm tỷ trọng lớn nhất nhưng NCNL chưa qua đào tạo có xu hướng giảm Sau 20 năm, tỷ trọng cầu việc làm đối với nhân lực chưa qua đào tạo giảm tới gần 30 điểm % Điều này cho thấy xu hướng đòi hỏi trình độ đối với nhân lực ngày một tăng, nhất là trong giai đoạn quá trình hội nhập diễn ra sâu và rộng như hiện nay Trong khi đó, NCNL đã qua đào tạo lại có xu hướng tăng, đặc biệt là trình
độ đại học trở lên Giai đoạn 2016-2020, cầu việc làm đối với nhân lực trình độ đại học trở lên tăng đến 5.76 điểm % so với giai đoạn trước đó, thậm chí sang giai đoạn
Trang 82021-2025, mức tăng còn lên đến 12.88 điểm phần % Nhóm sơ cấp nghề và cao đẳng có tỷ trọng tăng chậm, khoảng 1 điểm % cho mỗi giai đoạn Nhóm nhân lực trình độ trung cấp
có tỷ trọng khá ổn định, duy trì khoảng 3.8% Kết quả dự báo NCNL theo 5 trình độ đào tạo trong 3 ngành kinh tế được dùng chủ yếu cho phân tích Shift-share về dịch chuyển tỷ
lệ NCNL phân theo trình độ đào tạo trong các ngành kinh tế
3.4 Phân tích Shift-share về dịch chuyển tỷ lệ NCNL phân theo trình độ đào tạo trong các ngành kinh tế
Luận văn đã áp dụng Phương pháp phân tích Shift-share (SSA) để phân tách và đánh giá hiệu quả của việc chuyển dịch cơ cấu việc làm theo ngành trong tổng thể nền kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu việc làm trong nội bộ ngành SSA tập trung phân tích: (1) Ảnh hưởng quy mô: khi cầu về việc làm của nền kinh tế tăng thì cầu việc làm của từng trình độ đào tạo thay đổi như thế nào? (2) Ảnh hưởng ngành: khi cầu về việc làm của ngành tăng cầu việc làm theo trình độ đào trong từng ngành thay đổi như thế nào? (3) Ảnh hưởng đào tạo: khi cầu về việc làm của ngành và của nền kinh tế tăng thì cầu việc làm của từng trình độ đào tạo thay đổi như thế nào?
Kết quả phân tích Shift-share cho thấy tổng cầu việc làm tăng tác động tích cực đến cầu việc làm của từng trình độ Phân tích Shift-share cũng một lần nữa khẳng định rằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có tác động tích cực đến cầu việc làm, phù hợp với mục tiêu xu thế phát triển chung Giáo dục đại học và sau đại học tỏ ra ưu thế hơn hẳn so với các trình độ khác với ảnh hưởng đào tạo ngày càng tăng trong khi chất lượng giáo dục trung cấp còn nhiều bất cập khi không đem lại hiệu quả Ảnh hưởng phần dư hay ảnh hưởng của các yếu tố khác đến cầu việc làm khá lớn cho thấy cầu về việc làm còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như chính sách, thể chế, khu vực thành thị hay nông thôn…
Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra 7 đề xuất về để phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế, hạn chế tình trạng lãng phí nguồn nhân lực khi sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm hoặc làm những ngành/nghề không đúng với trình độ đào tạo Trong đó,
Trang 9quan trọng nhất là đẩy mạnh công tác dự báo cung-cầu nhân lực, tiến hành thu thập dữ liệu và phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác dự báo
KẾT LUẬN
Luận văn đã nêu ra thực trạng NCNL phân theo trình độ đào tạo ở Việt Nam giai đoạn 1999-2015 Luận văn cũng đã giới thiệu kinh nghiệm quốc tế về dự báo NCNL bằng cách giới thiệu 4 cách tiếp cận thường được các nước sử dụng Sau đó, luận văn cũng giới thiệu tóm lược về công tác dự báo NCNL tại một số nước OECD Qua đó, có thể thấy rằng, mô hình BLS của Mỹ với phương pháp tiếp cận từ trên xuống có lịch sử lâu đời và được nhiều nước áp dụng một cách linh hoạt, điển hình là Hàn Quốc Trong khi đó, phương pháp phân tích Shift-share do Fabricant (Mỹ) xây dựng được Ailen áp dụng trong phân tích chuyển dịch việc làm lại có nhiều điểm ưu việt Tiếp theo, luận văn cũng giới thiệu một số mô hình dự báo NCNL tại Việt Nam từ trước đến nay, điển hình là
mô hình LOTUS và mô hình ILSSA-MS Mỗi mô hình đều có ưu điểm riêng nhưng đều mắc phải khó khăn liên quan đến số liệu
Để xây dựng mô hình dự báo, luận văn đã đưa ra một kịch bản kinh tế về tăng trưởng GDP, sau đó sử dụng phương pháp hệ số co giãn giữa việc làm và GDP, sử dụng
mô hình Multilogit và mô hình mô phỏng trung bình Raynolt (RAS) Tiếp theo đó, phương pháp phân tích Shift-share được ứng dụng để phân tích chuyển dịch cơ cấu lao động Kết quả phân tích Shift-share cho thấy tổng cầu việc làm toàn nền kinh tế tăng tác động tích cực đến cầu việc làm của từng trình độ Phân tích Shift-share cũng khẳng định rằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có tác động tích cực đến cầu việc làm, phù hợp với mục tiêu xu thế phát triển chung Giáo dục đại học và sau đại học tỏ ra ưu thế hơn hẳn so với các trình độ khác với ảnh hưởng đào tạo ngày càng tăng Ảnh hưởng phần dư hay ảnh hưởng của các yếu tố khác đến cầu việc làm khá lớn cho thấy cầu về việc làm còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như chính sách, thể chế, khu vực thành thị hay nông thôn…
Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra 7 đề xuất về để phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
Trang 10kinh tế, hạn chế tình trạng lãng phí nguồn nhân lực khi sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm hoặc làm những ngành/nghề không đúng với trình độ đào tạo Trong đó, quan trọng nhất là đẩy mạnh công tác dự báo cung-cầu nhân lực, tiến hành thu thập dữ liệu và phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác dự báo
Do dự báo được xây dựng dựa trên 1 kịch bản cho trước về tăng trưởng kinh tế, các chính sách và đặc biệt là những thay đổi trong môi trường kinh tế quốc tế có thể ảnh hưởng mạnh tới các giả định và kết quả dự báo NCNL cũng sẽ bị sai lệch Đây là bản chất của dự báo kinh tế Do vậy, việc thực hành dự báo thường xuyên là cần thiết vì nó cung cấp kết quả dự báo cho những gì đang diễn ra nếu như xu hướng là liên tục, và vì vậy, dự báo sẽ cung cấp luận cứ để điều chỉnh tác động của việc thay đổi chính sách hoặc các thay đổi khác trong môi trường kinh tế
Hoàn toàn có thể áp dụng phương pháp dự báo được trình bày trong luận văn để
dự báo NCNL phân theo nghề làm việc trong các ngành kinh tế Để dự báo NCNL phân theo ngành đào tạo hoặc phân theo nghề trong các ngành kinh tế ở mức sâu và chi tiết hơn, vấn đề khó khăn không nằm ở phương pháp mà nằm ở dữ liệu Làm thế nào để có dữ liệu
đủ chi tiết theo các ngành đào tạo/ngành kinh tế và đủ dài (ít nhất từ năm 1999 trở lại đây)
để phục vụ cho dự báo là vấn đề không đơn giản