1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Cảm thức về biển đảo trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975

5 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 623,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong văn học giai đoạn này, các nhà thơ, nhà văn khi viết về biển, đảo cũng có ý thức gắn với cuộc sống lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân.. Bài thơ cũng thể hiện n[r]

Trang 1

C

CẢM THỨC BIỂN ĐẢO TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 – 1975

NGUYỄN THỊ PHI NGA Tóm tắt

Đất nước Việt Nam trải dài trên hơn 3200 km bờ biển với hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ Biển đảo đem lại nhiều nguồn lợi về kinh tế, giao thông song cũng là cả một thử thách trong li ̃nh vực an ninh, quốc phòng của đất nước Trong cuộc sống của nhân dân, biển đảo đóng vai trò rất lớn Có lẽ bởi từ ngàn đời gắn bó với biển nên trong tâm thức người Việt, biển từ lâu đã trở thành một cái gì rất quen thuộc, thậm chí là một nỗi trăn trở Đã từ lâu, đề tài về biển đảo đã được nhiều nhà văn, nhà thơ khai thác như một sự khẳng định về chủ quyền và lãnh thổ, đã tạo nên một cảm thức biển đảo trong lịch sử văn học Việt Nam.

Từ khóa: Biển đảo, cảm thức, cảm thức biển đảo

Abstract

Vietnam country stretches over more than 3,200 km of coastline with thousands of islands and islets Marine and islands bring plenty of economic and traffic resources, but they also are challenges in the field of security and defense of the country In the life of people, marine and islands play a very big role Perhaps because of having thousands of years with the sea so in the consciousness of Vietnamese people, sea has become familiar, even that is a concern Since long time ago, the theme of Marine and island has been exploited by many writers, poets and considered as a confirmation about sovereignty and territory Those have created emotional awareness in the history and litarature.

Keywords: Marine and island, emational awareness, emotional awareness of Marine and island

ác tác giả văn học Việt Nam từ xa xưa

đã viết về biển, đảo dưới nhiều khía cạnh khác nhau Điều đó làm

nên một cảm thức biển đảo trong suốt chiều dài

lịch sử văn học Đúng như lời bộc bạch của nhà

thơ Anh Ngọc: “…những suy tư và cảm xúc về

Biển và Đảo, về Trường Sa và Hoàng Sa… đã

luôn là đề tài thường trực của các nhà thơ, nhà

văn Việt Nam Và đó cũng chẳng gì khác hơn là

tiếng lòng thường trực của người Việt Nam

ta…”(1) Ta thấy, biển và đảo khi thì được coi

như những đối tượng trữ tình, khi thì là cái cớ

để khẳng định ý thức chủ quyền và lãnh thổ của

người dân Việt; khi thì là đối tượng khai thác để

xây dựng đời sống mới, khi lại là niềm tự hào về

vẻ đẹp của quê hương, đất nước; khi thì là một

người bạn, khi lại là mối hiểm nguy

luôn rình rập… Tất cả luôn được biểu hiện trong các tác phẩm văn học qua các thời kì với những mức độ khác nhau

Đến giai đoạn 1945 -1975, văn học chủ yếu tập trung thực hiện những nhiệm vụ chính trị lớn lao nên dòng văn học viết về biển đảo có phần bị chìm lấp hơn so với những đề tài mang tính nổi trội như đấu tranh giải phóng dân tộc, cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân, hướng về đại chúng công nông binh v.v… Song không thể phủ nhận rằng đề tài biển đảo vẫn được các văn nghệ sĩ tiếp tục sáng tạo để tiếp nối dòng cảm xúc chưa bao giờ vơi cạn của người dân Việt về biển đảo Nhưng nhìn tổng quan thì các tác phẩm văn học viết về biển đảo giai đoạn này xuất hiện khá rời rạc,

lẻ tẻ chứ không thành một trào lưu văn học

Trang 2

về biển đảo như giai đoạn sau 1975 Nội dung

của các tác phẩm chủ yếu tập trung vào một

số khuynh hướng sau:

1 Biển đảo như một đối tượng trữ tình

trong thơ

Cũng như nhiều mảng đề tài khác trong cuộc sống có khả năng trở thành nguồn cảm

hứng sáng tác, đề tài biển đảo cũng được các

nghệ sĩ giai đoạn này quan tâm miêu tả Biển

đảo trở thành đối tượng trữ tình trong rất

nhiều bài thơ như Biển (1957) của Hoàng

Trung Thông, Biển (1962) của Xuân Diệu, Đảo

(1970) của Văn Cao, … Đặc điểm chung của

những sáng tác này là các nghệ sĩ đều coi biển,

đảo như là đối tượng để giãi bày xúc cảm của

chủ thể trữ tình Chính vì thế, các nhà thơ đã

miêu tả vẻ đẹp của biển đảo với một tình yêu

và lòng tự hào sâu sắc về quê hương

Nếunhưtrongbàithơ Biển của HoàngTrung

Thông, nhà thơ bộc bạch một cách thẳng thắn

tình yêu của mình với biển vì những lí do rất

đơn sơ, bình dị:

Tôi yêu biển những ngày biển lặng Nước trong xanh in bóng trời trong Cánh buồm nhỏ chơi vơi như cánh mộng Chở tôi đi dưới mặt trời hồng

thì trong bài thơ Biển của mình, nhà thơ

Xuân Diệu lại ngợi ca vẻ đẹp của biển thông

qua việc miêu tả tình yêu đầu đời say đắm của

cặp tình nhân - biển và bờ:

Anh không xứng là biển xanh Nhưng cũng xin làm bể biếc

Để hát mãi bên gành Một tình chung không hết,

Để những khi bọt tung trắng xóa

Và gió về bay tỏa nơi nơi Như hôn mãi ngàn năm không thỏa, Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi!

Ta cảm nhận được tình yêu lứa đôi hòa quyện trong tình yêu thiên nhiên Đất nước

đang rung lên trong trái tim người thi sĩ đa cảm

này Ta cũng hiểu vì sao bài thơ này được

đánh giá « là một trong những bài thơ hay nhất

về biển gắn với tình yêu lứa đôi ».

Khác với hai thi sĩ trên, Văn Cao viết về biển đảo rất ngắn gọn nhưng đầy rung cảm về vẻ đẹp tự nhiên của nó:

Đảo chìm Xanh biển Đáy sâu khỏa nắng Chân trưa

Ngàn đáy sâu tới đáy không cùng

(Đảo - 1970)

2 Biển, đảo gắn liền với công cuộc lao động, dựng xây đời sống mới của nhân dân

Do hoàn cảnh đặc biệt của giai đoạn lịch sử này mà trong những năm 1945 – 1965, cùng lúc nhân dân ta vừa phải chiến đấu chống giặc Mỹ

ở miền Nam, vừa xây dựng cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc Trong văn học giai đoạn này, các nhà thơ, nhà văn khi viết về biển, đảo cũng có ý thức gắn với cuộc sống lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Ta thấy

rõ điều này trong Người coi đèn biển (1957) của Văn Cao, Đoàn thuyền đánh cá (1958) của Huy Cận, Tiếng sóng (1960) của Tế Hanh…

Đọc Đoàn thuyền đánh cá, ta cảm nhận

được niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ Huy Cận khi được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của quê hương, đất nước Bài thơ cũng thể hiện niềm tin yêu vào cuộc sống mới của những người dân hàng ngày vươn khơi bám biển

Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi…

Bằng sự liên tưởng và tưởng tượng phong phú, Huy Cận đã khắc họa nhiều hình ảnh đẹp, tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ đối với đất nước và cuộc sống xây dựng đang mỗi ngày một đi lên

Còn Tế Hanh trong bài thơ Tiếng sóng đã

Trang 3

viết về quê hương bằng cả lòng yêu thương

trìu mến :

Nơi rất thực và cũng là rất mộng Của đời tôi yêu biển tự bao giờ Trong giấc ngủ vẫn nghe tiếng sóng Như tiếng lòng, giục giã những lời thơ…

Mảnh đất đó trở nên yêu thương, gắn bó hơn bởi có:

Những con người bình thường và vi ̃ đại Những cuộc đời không tuổi không tên Xây cái sống nơi đầu gành cuối bãi Đôi tay trần chống chọi với thiên nhiên.

Qua bài thơ, ta thấy được tấm lòng của một người con xa quê hương nhưng trong lòng

chưa bao giờ nguôi tiếng sóng quê hương Đó

còn là niềm tự hào của nhà thơ đối với quê

hương, là niềm tin lớn lao vào sức mạnh của

nhân dân trong công cuộc kháng chiến ở miền

Nam và dựng xây đời sống mới trên miền Bắc

3 Biển, đảo như một ý thức mạnh mẽ về chủ

quyền và lãnh thổ

Có thể nói đây là khuynh hướng nội dung được văn nghệ sĩ quan tâm và viết nhiều nhất

trong những năm cuối của giai đoạn văn học

này Có lẽ bởi vì trong những năm 1965 - 1975,

nhân dân cả nước đang phải gồng mình để đấu

tranh chống Mỹ bằng tất cả quyết tâm và sức

lực; đấu tranh để dành độc lập, tự do, để bảo

vệ chủ quyền lãnh thổ Trong số những cuộc đấu

tranh ấy, có nhiều cuộc đấu tranh gắn liền với

việc giành giữ biển, đảo như một phần máu thịt

thiêng liêng của Tổ quốc Ta dễ thấy biển, đảo

trở thành đề tài quan trọng trong một loạt sáng

tác (thơ, truyện, kí và tiểu thuyết) ra đời từ

1965 đến 1975

Ở mảng thơ, phải kể đến sáng tác của các

nhà thơ: Hải Bằng với Cồn Cỏ (1965), Xuân

Thiêm với Cô gái Bạch Long Vỹ (1972), Tô Thùy

Yên với Trường Sa hành (1974), … Điểm chung

của các sáng tác này là cùng tái hiện lại hiện

thực chiến tranh ác liệt chống lại kẻ xâm lược

gắn liền với ý thức sâu sắc về chủ quyền biển

đảo Những vần thơ sau đây viết về đảo Cồn Cỏ

nhưng không chỉ là đảo mà chính là một phần của Tổ quốc:

… Đi đến một màu xanh

Đi ra ngoài đảo nhỏ Trước bếp trời nhen lửa

Đi dưới màu lá tranh

Đi qua từng hang đá

Đá, biển, trời, cây xanh Xanh từ làn sóng bủa Nghe Tổ quốc trở mình Vẫy tay chào Cồn Cỏ!

(Cồn Cỏ - Hải Bằng) Còn đây là nỗi đau đớn, căm giận khi biển, đảo quê hương bị quân Trung Quốc chiếm đóng:

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển Vầng khói chim đen thảng thốt quần Kinh động đất trời như cháy đảo

Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân

Ai hét trong lòng ta mỗi lúc Như người bị bức tử canh khuya

Xé toang từng mảng đời tê điếng

Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê

(Trường sa hành – Tô Thùy Yên) Những ai là người dân Việt, dù đứng ở phía nào, khi đất đai Tổ quốc bị giày xéo cũng dễ dàng đồng cảm với nỗi lòng của người lính trong bài thơ này

Với Cô gái Bạch Long Vỹ, Xuân Thiêm lại làm

rung động người đọc bằng việc kể về một mối tình dang dở, người con gái hy sinh trong chiến đấu, người con trai còn sống vẫn bền gan giữ đảo Chất tình ca và hùng ca đan xen nhau tạo nên những câu thơ đậm chất trữ tình bi tráng:

Sao ngủ mãi thế em Gối đầu lên bờ cát Sao chẳng nói nữa em Hay mải nghe sóng hát?

Trang 4

Cây hoài vẫn còn đó Giặc Mỹ giết em rồi

Có nghe cành nức nở Cùng gió gào em ơi…

Ở mảng văn xuôi, đặc biệt là truyện, kí và tiểu thuyết giai đoạn này có nhiều tác phẩm về

biển đảo xuất hiện, khắc họa thêm tinh thần

yêu nước, chiến đấu và bảo vệ chủ quyền biển

đảo của Tổ quốc Chu Cẩm Phong có tập truyện

kí Mặt biển, mặt trận (1972) với những tác

phẩm kí tiêu biểu như Mặt biển, mặt trận; Gió

lộng từ Cửa Đại … khắc họa cuộc chiến đấu anh

hùng của nhân dân làng chài ven biển vùng Cù

Lao Chàm, vùng Cửa Đại… chống lại giặc Mỹ

để bảo vệ từng thước biển Đây là đoạn kết thúc

trong bài ký Mặt biển, mặt trận:

“Như thế đó, những người dân làng biển này

đã biến mặt biển thành mặt trận Mỗi người đều

trở thành một chiến sĩ xuất sắc Họ chiến đấu

rất say sưa Họ chiến đấu bằng vũ khí Họ chiến

đấu bằng sự thông minh Họ chiến đấu bằng sự

có mặt thường xuyên trên mặt biển Họ chiến

đấu bằng tiếng cười và bằng những câu pha trò,

hài hước Ngày và đêm, họ đã dành lại từ trong

tay giặc từng thước lưới, từng sải nước, từng

chiếc thúng Dưới những rừng dương cháy trụi,

trên bãi cát nóng bỏng, cuộc sống chiến đấu vẫn

sinh sôi nảy nở

Họ là người chiến thắng

Biển ở đâu cũng thơ mộng và hùng tráng

Nhưng có lúc nào, có biển nào thơ mộng và hùng tráng bằng biển của chúng ta lúc này, khi

mặt biển là mặt trận?” (2, tr.19)

Ở mảng kí, không thể không nhắc đến các

tác phẩm như Cồn Cỏ anh hùng (1966) của

Nguyễn Khải, Chúng tôi ở Cồn Cỏ (1966) của Hồ

Phương, Ác liệt Côn Đảo (1969-1975) của Bùi

Văn Toản… Các tác phẩm này đều kịp thời phản

ánh cuộc chiến đấu ác liệt nơi “tuyến lửa”

chống lại kẻ thù xâm lược để bảo vệ biển đảo

quê hương Qua đó thể hiện tinh thần yêu

nước của quân và dân ta trong cuộc chiến

không cân sức với kẻ thù

Ở thể loại truyện ngắn, phải nhắc đến

Nguyễn Thị Ngọc Hải với Ốc biển và Nguyễn Khắc Phục với Tiếng nói của biển… in trong tập Tiếng nói của biển do Nhà xuất bản Văn

nghệ Hải Phòng ấn hành năm 1972 Những tác giả này đều tập trung khắc họa cuộc sống chiến đấu, lao động của những người dân trên vùng biển phía Bắc với bao nhiệm vụ nằng nề, chồng chất: vừa tiếp tế đường biển cho miền Nam, vừa đấu tranh chống lại giặc Mỹ và xây dựng cuộc sống mới XHCN trên miền Bắc Cam

go, nặng nề là thế, vậy mà những người dân biển vẫn can đảm, anh hùng, chiến đấu và lao động bằng niềm vui và niềm tin chiến thắng

Họ chính là điểm tựa vững chắc cho chiến thắng cuối cùng sau này của dân tộc

Ở thể loại tiểu thuyết, có thể kể đến một số tác phẩm về đề tài biển đảo gắn liền với các tên tuổi lớn của văn học Việt Nam sau này như

Ra đảo (1970) của Nguyễn Khải; Bão biển (1969)

của Chu Văn, Cửa biển (1961) của Nguyên

Hồng…

Nhìn chung, đề tài biển đảo trong văn học giai đoạn 1945 – 1975 xuất hiện ở hầu hết các thể loại văn học Nhưng có lẽ kết tinh thành tựu hơn cả vẫn là mảng văn xuôi với các sáng tác gắn liền với ý thức chủ quyền biển đảo của dân tộc Điều này cho thấy, đối với người dân Việt Nam nói chung, các văn nghệ sĩ nói riêng, biển đảo luôn là một niềm trăn trở và thực sự thiêng liêng

N.T.P.N

(Ths, Khoa Viết văn - Báo chí)

Tài liệu tham khảo

1 Anh Ngọc (1988), Về bài thơ “Hai tiếng Trường

Sa”, Báo Quân đội nhân dân, số ra ngày 5/3/1988.

2 Chu Cẩm Phong (1972), Mặt biển, mặt trận

(tập kí và truyện ngắn), Nxb Giải Phóng, Hà Nội.

Ngày nhận bài: 21 - 10 - 2015 Ngày phản biện, đánh giá: 8 - 6 - 2016 Ngày chấp nhận đăng: 28 - 6 - 2016

Ngày đăng: 10/01/2021, 08:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w