Ðồng thời đối với hầu hết các sản phẩm, những mức giá trực tuyến có thể sẽ phải thấp hơn giá trên các cửa hàng nhằm tạo nên một sự ưu đãi để tạo sự tin tưởng của khách hàng đối [r]
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
TMĐT là hình thức mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua mạng máy tính toàn cầu Việc ứng dụng TMĐT trong việc kinh doanh được thực hiện lần đầu tiên vào những năm 1980, tại Mỹ Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và mạng internet, các website bán hàng là một công cụ kinh doanh không thể thiếu của các doanh nghiệp trên thế giới
Với sự phát triển của Internet, 3G và các thiết bị di động, đặc biệt là smartphone cùng hàng ngàn thẻ ngân hàng phát hành mỗi ngày, TMĐT Việt Nam đang đứng trước thời cơ bùng nổ với doanh thu dự kiến lên đến 4 tỷ USD trong năm 2015 Theo báo cáo chỉ số thương mại điện tử VN 2014 do Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam công bố cho thấy sự chênh lệch lớn về kinh doanh qua website giữa các địa phương Hai địa phương có điểm đứng đầu là Hà Nội với 72,6 điểm, TP.HCM với 72,5 điểm, địa phương cuối cùng là 47,3 điểm Qua thống kê, phần lớn các website TMĐT tập trung tại hai thành phố lớn là TP HCM và TP Hà Nội, 46% các website TMĐT bán hàng tập trung ở Hà Nội, 44% website ở TP HCM, các tỉnh, thành phố còn lại chiếm 10% Và cũng theo báo cáo này, 5 nhóm mặt hàng được kinh doanh nhiều nhất trên các website trực tuyến là: Thời trang (44%); Máy tính và mạng (43%); Quần áo, giày dép, mỹ phẩm (43%); Điện thoại (41%); Hàng điện lạnh, thiết bị gia dụng (25%)
Có thể thấy Hà Nội là một thị trường quan trọng trong việc phát triển loại hình kinh doanh trực tuyến qua website và mặt hàng quan trọng trong kinh doanh trực tuyến là mặt hàng thời trang Nhằm đánh giá được về thực trạng phát triển cũng như những cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp kinh doanh thời trang
trực tuyến qua website tại Hà Nội, tác giả chọn đề tài: “Công cụ website trong bán hàng của các công ty thời trang tại Hà Nội”
Trang 2Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu theo
03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công cụ website trong bán hàng của các công ty Chương 2: Thực trạng ứng dụng công cụ website trong bán hàng của các
công ty thời trang tại Hà Nội
Chương 3: Giải pháp phát triển ứng dụng công cụ website trong bán hàng của
các công ty thời trang tại Hà Nội
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CỤ WEBSITE TRONG BÁN HÀNG CỦA CÁC CÔNG TY
Kinh doanh trực tuyến cũng được phân chia thành kinh doanh bán lẻ và kinh doanh bán buôn “Kinh doanh trực tuyến” được hiểu là hoạt động kinh doanh bán buôn và bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp đến khách hàng dựa trên mạng internet và các phương tiện điện tử Điều này có nghĩa là về mặt hình thức kinh doanh, kinh doanh trực tuyến bao gồm B2B và B2C
Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả ứng dụng công cụ website trong hoạt động kinh doanh trực tuyến của doanh nghiệp gồm có:
- Môi trường chính sách – pháp luật: Môi trường pháp lý là điều kiện để mọi hoạt động kinh doanh diễn ra phù hợp với quy luật kinh tế Đặc biệt là đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến, khác với việc thực hiện trao đổi hàng hóa trực tiếp, người mua – người bán gặp nhau, kinh doanh trực tuyến chủ yếu dựa vào sự tin tưởng của khách hàng với nhà cung cấp và ngược lại Chính vì vậy, cần có sự bảo
vệ và thẩm định của các cơ quan chức năng để đảm bảo giao dịch diễn ra an toàn
và hợp pháp
- Sự hiểu biết của người tiêu dùng: Nhu cầu của khách hàng rất đa dạng, đặc biệt đối với mặt hàng thời trang, khi mà tiêu chí về giá có thể được bỏ qua nếu khách hàng gặp những sản phẩm đẹp – độc – lạ Theo nghiên cứu hành vi người
Trang 3tiêu dùng, khách hàng sẽ có khuynh hướng mua các mặt hàng chưa có nhu cầu hiện tại trên mạng hơn là các mặt hàng để sử dụng ngay Do đó, website càng có sự đa dạng về số lượng và chủng loại hàng hóa thì càng nhận được sự quan tâm của khách hàng và khả năng bán hàng cao hơn
- Sự phát triển của hạ tầng CNTT, phương tiện thanh toán: Vấn đề quan trọng trong kinh doanh đó là thanh toán giữa người mua – người bán Đối với hình thức kinh doanh trực tuyến, không chỉ riêng các doanh nghiệp thời trang, tất cả các doanh nghiệp đều chịu ảnh hưởng nghiêm trọng khi hạ tầng CNTT không đảm bảo yêu cầu Nếu trước đây, hình thức kinh doanh trực tuyến chỉ dùng hình thức thanh toán phổ biến là COD (trả tiền khi nhận hàng) thì nay, các doanh nghiệp đã có thể tích hợp nhiều chức năng, nhiều cách thức thanh toán khi khách hàng lựa chọn sử dụng dịch vụ của công ty mình Điều này cũng một phần nhờ có sự hỗ trợ to lớn bởi các ngân hàng, tổ chức phát hành thẻ, tạo điều kiện để khách hàng chắc chắn
về đơn hàng mình đặt cũng như việc doanh nghiệp kiểm soát được lượng hàng hóa thực tế tồn kho
- Sự phát triển của hệ thống logistics (kho vận, bến bãi): Một trong những yếu
tố có ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng trong một giao dịch đó là thời gian giao hàng Đặc biệt, với tâm lý háo hức được sử dụng một bộ đồ thời trang mới, người tiêu dùng sẽ luôn đặt yêu cầu thời gian giao hàng phải ngắn hơn nữa đối với nhà cung cấp Để đáp ứng yêu cầu này, cần có hạ tầng cơ sở về logistics phát triển, đảm bảo việc giao thương hàng hóa được thực hiện nhanh chóng, thuận tiện, giúp các nhà cung cấp rút ngắn thời gian giao hàng
- Đầu tư cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp : Ngay từ bước đầu, khi doanh nghiệp thiết kế xây dựng website bán hàng đã cần phải xác định lộ trình phát triển, đối tượng khách hàng chủ yếu hướng đến để có những lựa chọn cho phù hợp Để tạo được hệ thống hoạt động ổn định, thu hút người tiêu dùng, các công ty thời trang kinh doanh trực tuyến cần một nền tảng website tốt, đảm bảo đăng tải đúng
Trang 4nhất về sản phẩm của doanh nghiệp Do đặc thù sản phẩm, yếu tố màu sắc và thẩm
mỹ được đặt lên ưu tiên hàng đầu khi thiết kế website Để làm được điều này, công
ty thời trang cần tìm kiếm những đối tác cung ứng hạ tầng CNTT tốt và thường xuyên duy trì câp nhật tình hình của website Làm được điều này, ngoài chi phí đầu
tư về hạ tầng thiết bị phần cứng rất tốt thì doanh nghiệp cũng cần tìm hiểu nâng cấp phần mềm quản trị hệ thống từ kho vận, nhân sự, đơn hàng
- Cách thức mô tả về sản phẩm thời trang của doanh nghiệp: Doanh nghiệp cần sử dụng những hình thức đặc biệt để mô tả sản phẩm của mình Với cách này, sản phẩm của doanh nghiệp dễ dàng được tìm kiếm trên mạng và đưa ra một số ít các website để khách hàng trọn lựa Doanh nghiệp cũng có thể quảng cáo cho các sản phẩm và dịch vụ bằng sự kết hợp của nhiều hình thức khác nhau mà khách hàng có thể sẽ áp dụng khi tìm kiếm các loại sản phẩm của mình với điều kiện là những hình thức đó sẽ xuất hiện thường trực trên các trang web mà doanh nghiệp yêu cầu những phương tiện tìm kiếm đó liệt kê lên
- Sử dụng chính sách định giá cạnh tranh: Nơi nào trên Internet hỗ trợ khách hàng so sánh giá của những mặt hàng cùng loại thì những mặt hàng có giá thấp nhất sẽ bán chạy nhất Ðồng thời đối với hầu hết các sản phẩm, những mức giá trực tuyến có thể sẽ phải thấp hơn giá trên các cửa hàng nhằm tạo nên một sự ưu đãi để tạo sự tin tưởng của khách hàng đối với các nhà bán lẻ trên mạng, một phần do thiếu đi sự gặp gỡ giữa các cá nhân trong các giao dịch, và bù lại việc khách hàng không thể mang hàng về cho mình Như vậy, với mặt hàng thời trang, các công ty cần chú trọng vào những sản phẩm chuyên biệt của mình và xác định giá cạnh tranh
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG CỤ WEBSITE TRONG BÁN HÀNG CỦA CÁC CÔNG TY THỜI TRANG
TẠI HÀ NỘI
Trang 5Về khung pháp luật kinh doanh, ngày 26 tháng 11 năm 2014, Quốc hội thông qua hai luật mới: Luật đầu tư số 67/2014/QH13 và Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, hai luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2015 Về pháp luật chuyên ngành lĩnh vực TMĐT, ngày 05 tháng 12 năm 2014, Bộ Công Thương
đã ban hành Thông tư số 47/2014/TTBCT quy định về quản lý website TMĐT Với sự ra đời của hai luật trên và Thông tư số 47/2014/TT-BCT, năm 2014 là năm đánh dấu nhiều thay đổi về khung pháp lý cho hoạt động TMĐT của Việt Nam
Để đánh giá rõ hơn về thực trạng hoạt động và hiệu quả hoạt động của các công
ty thời trang kinh doanh trực tuyến tại Hà Nội, tác giả đã sử dụng điều tra chọn mẫu
và khảo sát tại 10 công ty thời trang kinh doanh trực tuyến tại Hà Nội Do hạn chế của tác giả trong việc tiếp cận các công ty lớn, nên 80% số doanh nghiệp được khảo sát kinh doanh đa dạng các mặt hàng trên website
Đánh giá về kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cho thấy: hoạt động bán hàng trên website của các công ty thời trang ở mức tương đối thấp, tỷ trọng doanh thu đóng góp chỉ chiếm 1/7 tổng doanh thu bán hàng của doanh nghiệp Và cũng theo kết quả khảo sát: số lượng khách truy cập vào website của các công ty trung bình là 300 lượt/ngày, nhưng chỉ có 35 khách trong số đó sử dụng dịch vụ mua hàng trên website và thời gian truy cập trung bình là 15 phút/khách
Thực tế, việc xây dựng website không quá khó nhưng kinh phí duy trì, nâng cấp và mở rộng các tính năng của website rất tốn kém Ví dụ muốn lưu trữ và quản
lý dữ liệu âm thanh, hình ảnh trên website cần được tải trên sever đủ lớn về dung lượng, đặc biệt tùy vào mỗi một máy chủ (hosting) mà công ty thuê để sử dụng, sẽ giới hạn số lượng khách hàng truy cập cùng lúc Với doanh nghiệp ít đầu tư cho mảng website, tình trạng website của doanh nghiệp hay bị “treo” (thuật ngữ chuyên ngành là “lag”, “buzz”) hoặc hình ảnh sơ sài Chưa kể đến các tính năng về bảo mật, cá nhân hóa truy cập hoặc tính năng truy cập trên điện thoại, yêu cầu chi phí
Trang 6lớn, khiến các doanh nghiệp cũng ngại đầu tư
Kết quả ứng dụng công cụ website bán hàng của các công ty thời trang kinh doanh trực tuyến tại Hà Nội
Đối tượng khách hàng và mức độ chi tiêu của khách hàng thông qua các website bán hàng thời trang có sự phân hóa khá rõ rệt theo độ tuổi Đối tượng khách hàng chính được khảo sát thuộc ba nhóm lứa tuổi: dưới 19 tuổi; từ 20 – 29 tuổi; từ 30 – 39 tuổi
Nhìn chung ở độ tuổi từ 30 – 39 tuổi, tỷ lệ khách hàng tham gia mua sắm mặt hàng thời trang đạt tỷ lệ cao nhất với giá trị mua hàng ở mức cao nhất Đây là nhóm đối tượng đã có thu nhập và cuộc sống tương đối ổn định, bên cạnh đó, do áp lực thời gian của công việc và cuộc sống gia đình, ở độ tuổi này, khách hàng ít có thời gian dành riêng cho việc mua sắm và làm đẹp Nhóm đối tượng tiếp theo có tỷ
lệ tham gia mua hàng thời trang trực tuyến và giá trị mua hàng cao là nhóm khách hàng trong độ tuổi từ 20 – 29 tuổi Đây là nhóm khách hàng trẻ tuổi, đối tượng tiềm năng trong tương lai Nhóm khách hàng này chủ yếu là những người mới đi làm và là nhóm đối tượng dành nhiều thời gian tiếp xúc với internet Cuối cùng là nhóm khách hàng ở độ tuổi dưới 19 tuổi, ở độ tuổi này tính tự chủ tài chính thấp do
đó, khả năng tham gia các giao dịch cũng bị hạn chế
Mặc dù đã có tỷ lệ khách hàng tham gia khá cao, nhưng thực tế giá trị mua hàng thời trang trực tuyến ở các lứa tuổi nhìn chung còn rất thấp Mức chi tiêu phổ biến ở mức 100.000 – 500.000 VND Điều này chịu sự chi phối bởi tình trạng của nền kinh tế nói chung Theo đánh giá của Zalora, khoản tiền của người Việt dành cho thời trang, quần áo chỉ bằng ¼ so với Zalora Singapore, cũng tương ứng với mức thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam kém nhiều lần mức thu nhập bình quân đầu người của Singapore
Việt Nam là nước đông dân thứ 14 trên thế giới, thứ 8 Châu Á và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, trong đó dân số khu vực thành thị chiếm 33% Trong đó, tỷ
lệ dân số có sử dụng Internet là 39%, số lượng thuê bao di động trên 130 triệu thuê
Trang 7bao (1 người Việt Nam trung bình có 1,45 thẻ SIM điện thoại), 36% dân số có sử dụng internet qua nền tảng di động
Là một thị trường với 40% dân số trong độ tuổi dân số vàng, theo thống kê của WeAreSocial, Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ dân số mua hàng trực tuyến trên thiết bị di động ở mức trung bình trên thế giới và khá cao so với các quốc gia trong khu vực Và nếu xét theo các hình thức mua sắm trực tuyến, có thể thấy ứng dụng mobile và diễn đàn mạng xã hội đang có sự tăng trưởng nhanh chóng trong năm
2014
Thêm vào đó, mức độ mua sắm thời trang trực tuyến của khách hàng thường
ở mức 2 – 3 tháng/lần và 2 – 3 giờ/tháng Điều này cho thấy, hiện còn một số vướng mắc, trở ngại khiến khách hàng chưa thực sự tin tưởng và sử dụng thường xuyên hơn dịch vụ mua sắm thời trang trực tuyến
Qua đó có thể thấy, các công ty thời trang kinh doanh trực tuyến tại Hà Nội đã nhanh chóng cập nhật ứng dụng công cụ website trong bán hàng và công cụ website trong bán hàng của các công ty thời trang kinh doanh trực tuyến tại Hà Nội nhanh chóng được người tiêu dùng tiếp nhận và hưởng ứng
Tuy nhiên, một số điểm yếu còn tồn tại như: Áp lực cạnh tranh về vốn và công nghệ; Chưa có được lòng tin của khách hàng đối với việc sử dụng website; Khâu vận chuyển hàng hóa chưa đáp ứng được yêu cầu
Nguyên nhân của những hạn chế trên: Nhận thức của doanh nghiệp về công cụ website trong bán hàng còn thấp; Doanh nghiệp chưa có biện pháp giám sát và quản lý chất lượng phù hợp; Đầu tư cho phát triển ứng dụng website của doanh nghiệp còn hạn chế; Doanh nghiệp chưa xây dựng được thương hiệu thời trang mạnh, chưa gia tăng chuỗi giá trị trong ngành thời trang
CHƯƠNG 3
Trang 8PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ỨNG DỤNG WEBSITE TRONG BÁN HÀNG CỦA CÁC
CÔNG TY THỜI TRANG TẠI HÀ NỘI
Ngày 11 tháng 5 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 689/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển thương mại điện tử (TMĐT) quốc gia giai đoạn 2014 – 2020 Quyết định 689/QĐ-TTg với mục tiêu chung nhằm xây dựng các hạ tầng cơ bản và triển khai các giải pháp, hoạt động hỗ trợ phát triển lĩnh vực TMĐT ở Việt Nam, đưa TMĐT trở thành hoạt động phổ biến, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bên cạnh đó, năm 2014 cũng là năm chứng kiến một số sự kiện quan trọng của TMĐT Việt Nam điển hình như ngày 5 tháng 12 năm 2014, Bộ Công Thương
đã ban hành Thông tư số 47/2014/TT-BCT quy định về quản lý website thương mại điện tử; đồng thời tổ chức thành công Ngày mua sắm trực tuyến 2014, đây là
sự kiện lần đầu tiên được triển khai nhằm tạo cơ hội, hỗ trợ, thúc đẩy TMĐT đến gần với doanh nghiệp và người dân Với những qui định pháp luật này, cơ quan quản lý đã tạo được hành lang pháp lý quản lý hoạt động kinh doanh trên các website TMĐT, bao gồm việc phân định trách nhiệm quản lý với các website chuyên ngành; hoạt động kinh doanh hàng hóa hạn chế kinh doanh hoặc hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện trên website TMĐT; quản lý hoạt động kinh doanh TMĐT trên các mạng xã hội
UBND TP Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 893/QĐ-UBND về việc phê duyệt chương trình ứng dụng TMĐT nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn năm 2015 Định hướng này cho thấy, Hà Nội đã nhận thấy tiềm năng khai thác của mảng kinh doanh trực tuyến trong thị trường bán lẻ, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các giải pháp tăng cường công cụ website trong bán hàng của các công ty
Trang 9thời trang kinh doanh trực tuyến tại Hà Nội:
- Thiết kế website và các ứng dụng tiện ích cho người dùng: Đối với website
kinh doanh thời trang, ban quản trị website cần chú ý website cần mang tính trực giác và cấu trúc tiện lợi, giúp khách hàng nhìn và cảm nhận một cách tốt nhất Do
đó, cần có thanh công cụ và các “nút bấm”/”đường dẫn” ở những vị trí dễ nhận biết trên website Bên cạnh đó, để khách hàng dễ dàng tìm được mặt hàng mình mong muốn, cần thiết kế chức năng tìm kiếm trên website gắn với catalogue trực tuyến Bên cạnh đó, cập nhật website đầy đủ chức năng tạo điều kiện cho khách hàng cảm giác như mua sắm trực tiếp Với website đầy đủ chức năng, cũng hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện tốt công tác quản trị website
- Phát triến website bán hàng trên các nền tảng công nghệ đa dạng
- Tăng cường hoạt động marketing và tích hợp các công cụ bán hàng trực tuyến Ngoài việc thực hiện marketing về doanh nghiệp, các công ty cần tích hợp với các công cụ bán hàng như SEO Người ta ước tính có khoảng 70% các cuộc giao dịch trực tuyến xuất phát từ một trang web tìm kiếm nào đó Do đó, để tăng hiệu quả kinh doanh, các công ty thời trang cần đảm bảo website của mình nằm trong danh sách 1 – 3 kết quả tìm kiếm đầu tiên Bên cạnh đó, ban quản trị website cần thường xuyên kiểm tra, giám sát để đảm bảo thông tin trên website phản ánh đúng về các sản phẩm công ty cung cấp: mẫu mã, màu sắc, kích cỡ, chất liệu
Để tạo điều kiện thực hiện đồng bộ các giải pháp, tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau:
- Với Bộ Công Thương: Xây dựng kết cấu hạ tầng cho TMĐT nói chung; Hoàn thiện môi trường pháp lý; Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ; Đảm bảo an toàn cho các giao dịch TMĐT
- Với NHNN và hệ thống NHTM Việt Nam: Xây dựng hệ thống thanh toán TMĐT quốc gia; Xây dựng hệ thống thanh toán mạng an toàn; Có chính sách khuyến khích mở rộng kinh doanh dịch vụ NHĐT
Trang 10- Với hệ thống giáo dục đại học: Đào tạo nguồn nhân lực cho TMĐT nói chung; Đào tạo nhân lực ngành kinh doanh thời trang; Nâng cao nhận thức về
TMĐT