1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Tóm lược lịch sử y học cổ truyền Việt Nam

129 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 745,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, hoàng kỳ được dùng làm thuốc bổ khí và còn được dùng để điều trị các loại bệnh thuộc hệ thống tạo keo; vì người ta cho rằng: hoàng kỳ có tác dụng kích thích[r]

Trang 2

16

LỊCH SỬ Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM, TÓM

LƯỢC Y THUẬT CÁC ĐẠI DANH Y VIỆT NAM

Trang 3

17

1 Việt Nam có địa sinh học riêng

Theo nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, thời nguyên đại Trung sinh cách đây 200 triệu năm, dải đất nước ta lúc đầu như mầm xương sống hình chữ S đó là dãy núi Trường Sơn Thời đại Tân sinh cách đây 50 triệu năm là thời kỳ tạo đất bồi đắp; hợp thành lục địa châu Á, có kết cấu địa chất, địa tầng có sông, có núi…

Cuối Thời kỳ Đệ Tam cách đây 10 - 20 triệu năm, châu Á đã có vượn cao cấp Nhiều nhà khảo cổ học Việt Nam đã chứng minh, con người Việt Nam xuất hiện từ thời kỳ Canh Tân Do thời kỳ băng hà kéo dài từ Thủy Canh Tân đến Canh Tân Nhưng ở nước ta nói riêng và ở Đông Nam Á nói chung chỉ có mưa lớn Sau băng hà nước biển tràn lên, kết hợp với khí hậu nhiệt đới gió mùa, tạo điều kiện thuận lợi cho thực vật phát triển, nguồn thức ăn của nhiều loại động vật trong đó có con người Vượn ăn cỏ cây, ăn thịt động vật để sống, đồng thời cũng chọn lọc tự nhiên những động vật và cây cỏ ăn để chữa bệnh Vì vậy, thuốc chữa bệnh được lưu truyền từ thời này sang thời khác, đời này sang đời khác và tồn tại đến nay Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, Y học cổ truyền Việt Nam đã đúc kết được nhiều phương pháp phòng bệnh và chữa bệnh bằng thuốc và không dùng thuốc (châm cứu, day, bấm huyệt…) có hiệu quả Đã phát hiện nhiều vị thuốc quí: quả giun, gừng gió, ý dĩ, xương bồ, kỳ nam, sa nhân, đậu khấu, hương phụ… được lưu truyền đến ngày nay

2 Việt Nam có lịch sử xã hội lâu đời

Việt Nam có nhà nước Văn Lang, từ thời Hồng Bàng năm 2879 - 257 trước Công nguyên; thời đại các Vua Hùng, tổ tiên ta sớm sử dụng thuốc có nguồn gốc thực vật, động vật và khoáng vật để làm thuốc Ngoài ra còn biết sử dụng cả thuốc độc tẩm vào tên, giáo mác để chống giặc ngoại xâm… hiện nay có tượng

và miếu thờ An Kỳ Sinh - Nhà châm cứu Việt Nam đầu tiên tại Trúc Sơn, Yên

Tử, Đông Triều, Quảng Ninh Tượng và miếu thờ Bảo Cô - Nhà nữ châm cứu (thế kỷ thứ III trước công nguyên) Tư liệu trên do Giáo sư thầy thuốc nhân dân Nguyễn Tài Thu -Viện trưởng Viện châm cứu Việt Nam sưu tầm Hơn một thiên niên kỷ, dân tộc Việt Nam dưới ách xâm lược nô dịch và đồng hoá của phong kiến Trung Quốc; các dược liệu quí hiếm đều bị cướp bóc mang về chính quốc Thời kỳ độc lập dưới các triều đại phong kiến (938 - 1884) sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền từ năm 938, nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập

3 Lịch sử Y học cổ truyền Việt Nam

Trang 4

182 chứng bệnh của 10 khoa

Trong tác phẩm “Hồng nghĩa giác tư - y thư”, Ông đã tóm tắt tác dụng của

630 vị thuốc theo biện chứng luận trị Ông được nhân dân tôn là Ông Thánh thuốc nam Năm 1335, Tuệ Tĩnh được mời sang Trung Quốc chữa bệnh cho Vua nhà Minh và bị giữ lại cho đến khi chết

+ Thời kỳ Nhà Hồ (1400 - 1406): châm cứu phát triển Nhà châm cứu nổi tiếng

là Nguyễn Đại Năng đã biên soạn cuốn sách “Châm cứu tiệp hiệu diễn ca”… Thời kỳ đô hộ của giặc Minh Trung Quốc (1047 - 1472): Y học dân tộc bị tổn thất nghiêm trọng

+ Thời kỳ Hậu Lê (1428 - 1788): có bộ luật Hồng Đức, đời Lê Thánh Tông (1460 - 1479) ban hành qui chế làm thuốc Năm 1665, Lê Huyền Tông đã 2 lần

ra lệnh cấm hút thuốc lào; ở Triều đình có Thái y viện, ở các tỉnh có tế sinh đường, ở quân đội có sở lương y Thời kỳ này có đại danh y Hoàng Đôn Hoà Ông là lương y phục vụ trong quân đội nhà Lê, tác phẩm nổi tiếng của Ông là

“Hoạt nhân toát yếu”, Ông được sắc phong của Vua Lê Thánh Tông là "Lương y quốc, Thọ tư dân” Hiện nay nhân dân lập đền thờ Hoàng Đôn Hoà tại quê Ông: thôn Đa Sĩ, xã Kiến Hưng, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây

Đặc biệt trong thời kỳ này có Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (1720 – 1791), quê Văn Xá, Yên Mỹ, Hải Hưng Ông đã tóm lược y lý Y học cổ truyền phương Đông, tổng kết những thành tựu Y học cổ truyền Việt Nam từ trước đến thế kỷ XVIII và đã vận dụng sáng tạo những tinh hoa Y học cổ truyền vào điều kiện thời tiết khí hậu liên quan đến đặc điểm phát bệnh ở nước ta Tác phẩm “Hải Thượng Lãn Ông Y Tông Tâm Lĩnh” là bộ sách đồ sộ gồm 28 tập, 66 quyển, đến nay vẫn được coi là bộ sách bách khoa về Y học cổ truyền Ông đã tổng kết hoàn chỉnh, hệ thống hoá nền Y học truyền thống Việt Nam trên các lĩnh vực; nội khoa, ngoại khoa, sản phụ, nhi khoa và ngũ quan khoa trên phương diện

Trang 5

19

chẩn trị dự phòng từ lý pháp đến phương dược, từ y đức đến y sử, y thuật, đến các lĩnh vực thiên văn, y học và thực trị học Về dược học Lãn Ông đã sưu tầm thêm 300 vị thuốc, tổng hợp thành 2854 bài thuốc kinh nghiệm Nét độc đáo trong biện chứng luận trị Y học cổ truyền của Lãn Ông, đến nay và mãi mãi là kim chỉ nam cho mọi hành động, chẩn trị theo y lý cổ truyền, của các thế hệ thầy thuốc y học dân tộc Việt Nam

- Nội kinh:

Nội kinh là sách viết về biện chứng luận trị các chứng và bệnh thuộc phạm vi nội khoa bệnh học Thông qua các phạm trù kinh điển của Y học cổ truyền Ví dụ: tý chứng, tâm quí, tiêu khát, thoát thư, ngân tiết bệnh để liên hệ với các bệnh danh đã được hiện đại hoá theo quan điểm Y học hiện đại

Từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVIII các đại danh y Việt Nam: Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông trên cơ sở thừa kế tiếp thu Y học phương Đông đã tóm lược trong “Nội kinh yếu chỉ” Lãn Ông chọn lọc những điểm thiết yếu, kinh điển thực tiễn của Y học phương Đông, làm cơ sở cho biện chứng một số bệnh nội khoa học: Y già quan niệm: phân tích tổng hợp lý luận cơ bản học thuyết âm dương ngũ hành, tạng phủ, kinh lạc khí huyết, chẩn đoán mạch học, bệnh lý, pháp trị, phương trị

Y hải cầu nguyên: (Tập 3, 4, 5) nguyên tắc trị liệu, dựa trên những qui luật chung về sinh lý bệnh lý

Huyễn Tẫn phát huy (Tập 6): quan niệm về thuyết thuỷ hoả, mệnh môn hoả, tướng hoả, tiên thiên thuỷ hoả, chân thủy, chân hoả của Hải Thượng

Khôn hóa thái chân (Tập 7): nói về hậu thiên tỳ vị, chức năng tiêu hoá hấp thu hoá giáng, tác dụng của khí huyết, biểu hiện bệnh lý và chẩn trị

Đạo lưu dư vận (Tập 8): biện luận bổ sung những điều về y lý mà y học phương Đông chưa đề cập đến hoặc đề cập chưa rõ ràng

Dược phẩm vị yếu (Tập 10, 11): các vị thuốc phía Bắc và phía Nam được phân loại theo ngũ hành, Ông chọn lọc 150 vị thuốc thiết yếu thực tiễn Việt Nam Lĩnh Nam bản thảo (Tập 12, 13): tên và tác dụng của 496 vị thuốc nam đã thừa kế của đại danh Tuệ Tĩnh Ông bổ sung thêm 305 vị thuốc mới mà Ông đã phát hiện thêm

Ngoại cảm thông trị (Tập 14): đặc điểm, tính chất bệnh ngoại cảm ở Việt Nam và sáng lập các phương thuốc Nam để tự điều trị

Trang 6

Toạ thảo lương mô (Tập 28): chuyên về các bệnh sản khoa

Âu âu tu tri (Tập 29, 33): chuyên về các bệnh nhi khoa

Mộng trung giác đậu (Tập 34, 40): chuyên về các bệnh đậu mùa

Ma chẩn chuẩn thắng (Tập 41, 44) chuyên về bệnh sởi

Tâm đắc thần phương (Tập 45): chọn lọc 70 phương thuốc trong cẩm nang của Phùng Triệu Trương

Hiệu phỏng tân phương (Tập 46): ghi chép 29 phương thuốc do Lãn Ông sáng lập ra

Bách gia trân tăng (Tập 47, 48, 49): ghi chép 600 phương thuốc kinh nghiệm thu lượm trong nhân dân và thừa kế của Bùi Điện Đăng

Hành giản trân nhu (Tập 50, 57): ghi chú 200 phương thuốc chọn lọc trong các bản thảo từ đời trước, chủ yếu là Nam Dược Thần Hiệu của Tuệ Tĩnh (TK XIV)

Y dương án, Y âm án (Tập 59, 60) chép 17 bệnh án chữa khỏi; 12 bệnh án

Nữ công thắng lãm (Tập 64): cách nấu nướng - thực trị học

Thượng kinh kí sự (Tập 65): kể lại hành trình của Ông lên Kinh Đô theo chiếu của nhà Vua, chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán (năm 1782)

Vận khí bí điển (Tập 66): qui luật chuyển dịch của ngũ vận lục khí liên quan đến yếu tố bản tạng và trạng thái thiên thắng của cơ thể con người

- Nội kinh yếu chỉ:

Lãn Ông cho rằng “Nhà y có Nội Kinh cũng như nhà nho có Ngũ Kinh, đó

là lời nói chí lý của thánh hiền, lý lẽ sâu xa về cơ năng huyền bí đều thể hiện tất cả ở trong đó, lời giáo huấn ngày xưa còn để lại sáng tỏ như mặt trời" Theo quan điểm của Tuệ Tĩnh và Lãn Ông thì “Nội Kinh” là bộ sách cổ đề cập đến

Trang 7

21

quan niệm duy vật biện chứng cổ đại, cơ thể con người là một chính thể giữa thiên nhiên; cơ thể sống giống như một vũ trụ thu nhỏ “Nhân thân chi tiểu thiên địa” Thuyết “Thiên nhân tương ứng”: trong vũ trụ bao la có bao nhiêu tinh tú thì trong cơ thể con người có bấy nhiêu vị tinh tú, mọi quy luật diễn biến, biện chứng của bầu thái cực (vũ trụ bao la) cũng đều có thể xảy ra ở trong cơ thể con người Tiếp thu tinh hoa của Nội Kinh; các y gia tiền bối nước ta đã tìm hiểu vận dụng sáng tạo, tiêu biểu là thuyết vận khí bí điển của Hải Thượng Lãn Ông đã quán triệt quan điểm dịch học tinh hoa vào Y học một cách độc đáo và thực tiễn

- Nội dung cụ thể của Nội kinh cương yếu:

Phép dưỡng sinh: luyện tâm, luyện tức, luyện thực, luyện thể, luyện thần Trong biện chứng về phương pháp chữa bệnh toàn diện này có phép luyện ý, luyện chí, luyện thở, luyện thư giãn theo tư thế tĩnh và luyện hình theo tư thế động Đây là một phương pháp tự phòng bệnh và chữa bệnh, có hướng dẫn Nội dung cơ bản của học thuyết âm dương ngũ hành, đó là quan điểm triết học duy vật cổ đại, quy luật mâu thuẫn phổ biến, biện chứng duy vật, giải thích sự vận động, phát triển của thế giới bằng chính sự vận động phát triển của vật chất chứ không phải do thượng đế sinh ra Vận dụng các quy luật phát triển vận động của vật chất trong thiên nhiên, ứng dụng vào sự phát triển cơ quan tạng phủ trong cơ thể con người Học thuyết tạng tượng, học thuyết kinh lạc, các hội chứng tạng phủ được biểu hiện ra ngoài khi bình thường và khi bất thường; chẩn đoán bệnh học và phép tắc điều trị, cuối cùng là học thuyết ngũ vận lục khí

- Kim quỹ yếu lược:

Thực chất là Thương hàn tạp bệnh luận (Trương Trọng Cảnh - đời Hán thế kỷ

II - III sau Công nguyên) Nội dung chủ yếu là quan niệm và giải thích các khái niệm về biện chứng luận trị, mạch chứng, xét mạch và báo trước bệnh tạng phủ, bệnh bách hợp, bệnh hồ hoặc âm dương độc (bệnh trùng sán hoặc tà độc thuộc

âm, thuộc dương) Mạch chứng về ngược tật là các bệnh thuộc miền ngược: sốt rét, sốt xoắn trùng mảnh, sốt phát ban, sốt hồi qui Cách chữa bệnh trúng phong, lịch tiết phong (bệnh sốt ra mồ hôi có màu vàng); cách chữa về chứng huyết tý,

hư lao; cách chữa chứng phế nuy, phế ung khó thở; bệnh ba đồn khí (cơn đau như con lợn chạy lên) Thực chất là dị cảm, rối loạn thần kinh chức năng do stress: chữa bệnh hung tý, tâm thống và đoản khí Cách chữa phúc mãn, hàn sán

và túc thực (nghĩa là cách chữa chứng đầy bụng) chậm tiêu khi ăn; viêm màng não, viêm tinh hoàn (sán khí) bệnh thuộc can kinh; phong hàn tích tụ ở ngũ tạng, bệnh cảm phải gió lạnh không theo lục kinh; nếu trực trúng vào tạng phủ nào thì

Trang 8

22

có triệu chứng của tạng phủ đó Biện chứng về đàm ẩm khái thấu, biện chứng bệnh tiêu khát (đái tháo đường), bệnh lâm - viêm nhiễm đường tiết niệu Thực chất là thủy thũng, phù do nước không hoá thành khí mà đọng lại Thủy khí được chia ra: phong thủy, bi thủy, chính thủy, thạch thủy và hoàng hãn (mồ hôi có màu vàng); tên gọi này dựa vào vị trí nước đọng ở đâu để đặt, cũng tùy theo vị trí mà biện chứng dùng thuốc

Mạch chứng và cách chữa hoàng đản: da vàng, mắt vàng, nước tiểu vàng; biện chứng về thấp nhiệt phạm tỳ ảnh hưởng đến vận hoá chuyển hoá tạng can đởm thận vị Mạch tượng ứng với một số bệnh về tiêu hoá, sinh dục, tiết niệu nguyên do là thấp nhiệt

Mạch chứng và cách chữa kinh quí, thổ lục, hạ huyết, ngực đầy, ứ huyết: nghĩa là biện chứng về nhịp tim, hồi hộp, đánh trống ngực, nôn ra máu, bệnh chảy máu cam và đại tiện ra máu Suy từ kinh mạch để chẩn trị về huyết chứng Mạch chứng và cách chữa bệnh ẩu thổ, uế trọc, hạ lợi: biện chứng về sóng mạch, hình mạch tương ứng để chẩn trị chứng nôn mửa, nôn khan và ỉa chảy Tập Kim quĩ yếu lược là tóm lược những tài liệu quí giá như kho vàng thời Hán được Trương Trọng Cảnh (thế Kỷ II - III sau Công nguyên) tổng kết trong thương hàn tạp bệnh luận hay tạp bệnh luận (những bệnh lý hay gặp ngoài thương hàn)

Điểm đáng chú ý là hầu hết những bài thuốc ở đây đều dùng rất ít vị và dùng liều rất cao, đúng là “quí hồ tinh bất quí hồ đa”

Ví dụ: bài thuốc bạch đầu ông thang chữa chứng thấp nhiệt rót xuống hạ tiêu: Bạch đầu ông 120g, hoàng liên 120g, hoàng bá 120g, tân bì 120g

4 vị thuốc trên thêm nước 7 thăng sắc còn 2 thăng, lọc bỏ bã uống ấm một thang Ví dụ: bài phòng kỷ phục linh thang chữa chứng thủy khí:

Phòng kỷ, quế chi, hoàng kỳ đều 3 lạng, phục linh 6 lạng, cam thảo 2 lạng

5 vị thuốc trên thêm nước 6 thăng sắc còn 2 thăng, chia 3 lần, uống ấm

Ví dụ: bài nhân trần cao thang chữa chứng hoàng đản, chứng vàng da, Nhân trần 6 lạng, chi tử 14 quả, đại hoàng 2 lạng

3 vị trên với nước một đấu, trước sắc nhân trần cạn bớt 6 thăng, cho 2 vị còn lại sắc còn 3 thăng, lọc bỏ bã chia ba lần uống ấm, tiểu tiện sẽ thông lợi, nước tiểu

đỏ xẫm như nước bồ kết Một đêm thì bụng giảm, sắc vàng theo nước tiểu ra hết

Trang 9

23

Ví dụ: theo kinh văn số 293 tâm khí bất túc, thổ huyết, nục huyết tả tâm thang chủ chi (phải dùng bài tả tâm thang để điều trị là chính):

Đại hoàng 2 lạng, hoàng liên 4 lạng, hoàng cầm 1 lạng, 3 vị trên thêm nước

ba thăng, sắc còn 1 thăng uống hết 1 lần

Ví dụ: bài thuốc bổ dưỡng chữa hư lao, chữa bệnh phụ khoa “thận khí hoàn”:

Can địa hoàng 8 lạng, sơn thù 4 lạng, phục linh 3 lạng, phụ tử chế 1 lạng, sơn dược 4 lạng, quế chi 1 lạng, trạch tả 3 lạng, đan bì 3 lạng 8 vị trên tán bột, luyện mật làm viên hoàn to bằng hạt ngô đồng Liều uống: 15 hoàn/lần uống với rượu, lên tới 20 hoàn/lần ngày 2 lần

- Thương hàn luận:

Tập sách về biện chứng luận trị các bệnh truyền nhiễm, nguyên nhân chủ yếu

là phong hàn được viết vào thời đại nhà Hán Theo tài liệu “Cần cứu cổ huấn”,

“Bác thái quần phương” của Trương Trọng Cảnh (thế kỷ II - III sau Công nguyên) dựa trên cơ sở lý luận của “Nội kinh”, Ông đã phát triển một bước về phép tắc của biện chứng luận trị Tài liệu “Thương hàn tạp bệnh luận” bao gồm hai bộ phận: Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược Đây là tập sách đầu tiên chuyên viết về các triệu chứng lâm sàng đã được ứng dụng rộng rãi trong và ngoài nước Trung Quốc Ngoài ra, tập sách còn bổ sung những khiếm khuyết của

“Ngoại kinh” và các tài liệu trước đó Bộ sách chuyên về y học lâm sàng cổ đại, cùng với lý luận y học cổ đại, tác phẩm được đánh giá tương đương với “Nội kinh” Đó là một cống hiến to lớn của Trương Trọng Cảnh đương thời Cùng với Trương Trọng Cảnh là đại danh y Hoa Đà, Ông có trình độ tinh thông về nội, ngoại khoa, phụ khoa, nhi khoa và châm cứu Đặc biệt là trong điều trị ngoại khoa, Ông đạt nhiều thành tựu rất ưu việt Theo tài liệu Hậu Hán thì Hoa Đà là người đầu tiên đề xuất với thế giới ứng dụng phương pháp vô cảm để phẫu thuật phần bụng Ông viết: nếu bệnh tật phát hết ở trong, châm và thuốc đều không có chuyển biến thì chọn rượu mạnh uống cho giảm đau, rạch phần bụng và lưng, cắt

bỏ tích tụ hoặc trường vị có tật, cần phải loại bỏ tận gốc Ra đời trong hoàn cảnh như vậy “Thương hàn luận “là mực thước về phép biện chứng các bệnh thuộc ôn bệnh lệ dịch, bệnh truyền nhiễm cấp tính chủ yếu là do lạnh (phong hàn) Các giai đoạn, các diễn biến theo lục kinh được mô tả đầy đủ, các triệu chứng và phép tắc điều trị Liên hệ YHHĐ là hầu hết các bệnh thuộc chuyên ngành truyền

Trang 10

24

nhiễm, nội khoa bệnh học Người xưa cho rằng: “Học y mà không đọc sách Trọng Cảnh cũng như học nho mà không đọc sách Khổng Tử.”

Theo nghĩa hẹp: thương hàn là cảm phải khí hàn lãnh mà sinh ra bệnh

Theo nghĩa rộng: là bao gồm cảm phải các khí phong hàn, thử thấp nghĩa là một bệnh do ngoại cảm gây ra Ngoài ra theo nạn kinh thương hàn có 5 cách: thử

và trúng phong, thương hàn, thấp ôn, nhiệt bệnh và ôn bệnh mùa xuân Thử là bệnh mùa hạ, bệnh ngược là sốt rét, bệnh lỵ là bệnh của mùa thu, hàn khí là bệnh

do mùa đông đều thuộc phạm trù “thương hàn” Như vậy “Thương hàn luận” không phải chỉ biện chứng một loại cảm hàn mà còn biện chứng hàng trăm thứ bệnh từ đó mà ra

Nội dung của “Thương hàn luận” bao gồm hai giai đoạn lớn:

Giai đoạn 1: dương chứng“chính khí tồn nội tà bất khả can” Nếu phát bệnh thì tà khí mạnh mẽ, chính khí đầy đủ; giao tranh giữa tà khí và chính khí, giữa tác nhân gây bệnh và sức đề kháng cơ thể, được mô tả về bệnh chứng lâm sàng theo

Có thể liên hệ: bệnh lý hội chứng thái dương bệnh, là phản ứng chính khí với

tà khí ở phần bì phu niêm mạc; thái dương là phản ứng chính khí với tà khí ở phần ngực và sườn; dương minh bệnh ở phần dạ dày, ruột, thái âm bệnh là phản ứng chính tà ở phần tiêu hoá, mật, tụy, can, đởm Thiếu âm bệnh là biểu hiện ở

hệ tuần hoàn; bệnh quyết âm là hệ thống thần kinh là thể dịch

Trang 11

25

Trong biện chứng lục kinh có 397 phép và 113 phương, tùy bệnh chứng biến hoá và sức đề kháng của cơ thể mà “xem mạch chứng biết tà khí phạm vào đâu, rồi tùy chứng mà chữa”

Biện chứng “Thương hàn luận” càng đọc càng hiểu thêm sâu kinh phương biến hoá tựa rồng, sử dụng cảm thấy linh thông thần kỳ

Liên hệ với YHHĐ, ngoài bệnh cảm mạo thì các thời kỳ của bệnh truyền nhiễm thường bao gồm: giai đoạn ủ bệnh (thời kỳ viêm họng khởi phát), giai đoạn toàn phát triệu chứng rầm rộ, hàn nhiệt vãng lai, biểu lý đồng bệnh nếu không được điều trị bệnh tà chuyển vào lý sẽ có hội chứng: lý thực hàn hoặc lý thực nhiệt Giai đoạn hồi phục, nếu được điều trị kịp thời bệnh qua khỏi; nếu không được điều trị, sức đề kháng cơ thể giảm sút sẽ xuất hiện các biến chứng có thể có thoát dương, vong dương hoặc âm hư dẫn đến vong âm Thoát dương, vong dương là choáng trụy mạch, âm hư sinh nội nhiệt, vong âm là rối loạn nước - điện giải

Theo Hải Thượng Lãn Ông: chứng bệnh sẽ hiện lên lung tung, kỳ hình quái dạng, khó mà mệnh danh; cần phải nắm vững cha của khí là dương, mẹ của huyết

là âm; chữa khí, chữa huyết không qua khỏi phải chữa vào âm, vào dương, biết

vu âm trung cứu dương, bổ dương tiếp âm, bổ âm tiếp dương, bổ hoả trong thủy Liên hệ YHHĐ là điều chỉnh chức năng nội tiết trong đó có tuyến yên và thượng thận để duy trì nước, điện giải, hoạt động bình thường của tim mạch, hô hấp “âm bình dương bế tinh thần nại trị” Đa số bài thuốc được dùng trong thương hàn luận là tinh giản, ít vị, liều lượng vừa phải

Ví dụ:

Bài ma hoàng thang điều trị chứng “thái dương trúng thương hàn”:

Ma hoàng 12g, cam thảo 6g, quế chi 8g, hạnh nhân 12g

Bài quế chi thang điều trị triệu chứng “thái dương trúng phong”:

Quế chi 12g, chích thảo 8g, bạch thược 12g, đại táo 12g, sinh khương 12g Thanh thượng tiêu thực nhiệt dùng bài “tả tâm thang”:

Hoàng liên 12g, hoàng cầm 12g, đại hoàng 12g, phụ tử chế 12g

Chứng thiếu dương bệnh dùng bài “tiểu sài hồ” hoặc “đại sài hồ”

Tiểu sài hồ: sài hồ, hoàng cầm, đẳng sâm, đại táo, bán hạ, cam thảo, sinh khương

Đại sài hồ: thay sâm bằng thược bỏ cam thảo thêm đại hoàng, chỉ thực đều 12g

Trang 12

26

Chứng dương minh phải dùng bài tiểu thừa khí, đại thừa khí thang:

Tiểu thừa khí: đại hoàng 16g, hậu phác 8g, chỉ thực 8g

Đại thừa khí là tiểu thừa khí thang gia thêm mang tiêu 12g tăng tác dụng nhuyễn kiên

Chứng thái âm (tỳ, phế) phải trọng dụng tứ nghịch thang:

Phụ tử 12g, chích thảo 8g, can khương 12g

Có khi hàn quyết thì phải dùng can khương, phụ tử đều phải dùng liều cao từ

Biện chứng luận trị kinh lạc

Biện chứng luận trị du huyệt và biện chứng luận trị về các phương pháp châm cứu

Ví dụ: nạn thần thánh công sảo: giải thích về 4 bước khám bệnh gọi là tứ chẩn

Vọng nhi tri chi vị chi thần (nghĩa là nhìn người): thần sắc, hình thể, rêu lưỡi mắt mà biết được bệnh là bậc thần

Văn nhi tri chi vị chi thánh: nghe tiếng nói hơi thở, tiếng ho, ợ nấc, âm sắc, đại tiện mà biết được bệnh là bậc thánh hiền

Trang 13

27

Vấn nhi tri chi vị chi công: hỏi về quá trình phát bệnh, yếu tố ảnh hưởng và quá trình chữa trị: ăn ngủ, đại tiểu tiện, hỏi về mồ hôi kinh nguyệt mà biết được bệnh là bậc thổ công

Thiết nhi tri chi vị chi sảo là sờ nắn, khám mạch mà biết được bệnh là bậc kỹ năng kỹ sảo Cách giải thích này cũng thống nhất như quan điểm Hải Thượng Lãn Ông (thế kỷ XVIII) (về mạch học): mạch là gợn sóng của khí huyết, các bộ mạch thốn khẩu, phản ánh trung thành tình trạng của bệnh tật ở các cơ quan tạng phủ liên quan nhưng khốn thay, về mặt cảm giác, xúc giác nhiều vẻ khác nhau do lao động tay cầm cày, cầm cuốc hoặc cầm bút, cầm gươm khó có thể xúc chẩn đúng như tình trạng thực tế của sóng mạch; bởi vậy mạch phải kết hợp với chứng, nhất là những bệnh lý phức tạp thì đôi khi mạch không rõ ràng nên phải

bỏ mạch lấy chứng hoặc có lúc bỏ chứng lấy mạch Tuy nhiên, thông dụng nhất

là kết hợp giữa chứng và mạch

Hải Thượng Lãn Ông biện chứng về hư thực: phàm là bệnh lâu ngày không khỏi, người bệnh gày yếu, da xanh, sắc nhợt, người già tuổi cao, phụ nữ sau đẻ, trẻ con thường thể chất thuộc hư chứng sẽ có mạch hư, nếu có thực là hư chung hiệp thực, còn thực chứng là người trẻ béo khoẻ mới mắc thường là mạch thực, nếu có hư tức là bản thực tiêu hư

Chúng tôi cho rằng: những vấn đề cần làm sáng tỏ trong nạn kinh, chính là hệ thống lý luận âm dương, tạng phủ, kinh lạc, về thuốc (dược học) và một loạt biện chứng luận trị bệnh học sau này Phương pháp chẩn đoán của Y học cổ truyền phương Đông là khách quan khoa học bởi những thành công trong chẩn trị bệnh

học đã góp phần dự phòng và điều trị có kết quả nhiều bệnh nan y

4 Nét độc đáo của Hải Thượng Lãn Ông thông qua biện chứng luận trị bệnh nan y

Điểm nổi bật trong các tài liệu Y học cổ truyền Trung Hoa là sự kết hợp chặt chẽ logic giữa Y học hiện đại và Y học cổ truyền Trung Hoa

Trên cơ sở tóm lược những thành tựu của các ngành khoa học hiện đại kết hợp với những tinh hoa của nền Y học cổ truyền Việt Nam, thông qua một số thư tịch Y Dược học cổ truyền Việt Nam bằng chữ Hán, chữ Nôm mà Bộ môn YHCT- Bệnh viện 103- HVQY còn lưu giữ: Nam dược thần hiệu và Hồng nghĩa giác tư y thư (Tuệ Tĩnh, thế kỷ XIV)

Trang 14

28

Hoạt nhân toát yếu (Hoàng Đôn Hoà, thế kỷ XVI), Hải Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh gồm 28 tập, 66 quyển nay còn 55 quyển (Lê Hữu Trác, thế kỷ XVIII)

Nét độc đáo về lý luận Y học cổ truyền Việt Nam qua thư tịch Hán Nôm: Tuệ Tĩnh trong “Nam dược thần hiệu”: Ông đã tiếp thu y lý Y học cổ truyền phương Đông và Y học cổ truyền Trung Hoa kết hợp với tổng kết kinh nghiệm dân gian sắp đặt nguồn gốc để phân loại thuốc cổ truyền mang bản sắc riêng Việt Nam Ông thu lượm 533 vị thuốc và chia thành 23 loại: loại cỏ mọc hoang (nguyên thảo bộ thư thảo bộ) 62 vị, loại cỏ dây leo (đằng thảo bộ) 17 vị, loại cỏ mọc ở nước (thủy thảo bộ) 6 vị, loại quả (quả bộ) 47 vị, loại cây (mộc bộ) 42 vị, loài sâu

bọ (trùng bộ) 32 vị, loại có vảy (lân bộ ) 40 vị, loại cá (ngư bộ) 34 vị, loại có mai (giáp bộ) 6 vị, loại không vảy (giới bộ) 13 vị, loài chim (cầm loại) 39 vị, loài chim nước (thuỷ điểu) 12 vị, loại gia súc (lục súc) 26 vị, loại thú rừng (sơn thú bộ) 36 vị, các thứ nước (thuỷ bộ) 9 vị, các thứ đất (thổ bộ) 14 vị, loại ngũ kim (kim bộ) 11 vị, loại đá (thạch bộ) 7 vị, loại chất mặn (lỗ bộ) 4 vị, loại thuốc về người (nhân bộ) 6 vị và 35 vị thuốc lượm lặt thêm Hiện nay, phân loại thuốc (dược vật) Y học cổ truyền của bộ môn YHCT - Bệnh viện 103 - Học viện Quân

y là dựa theo nguồn gốc: động vật, nguồn gốc thực vật, nguồn gốc khoáng vật và chủ yếu là phân loại theo biện chứng luận trị, nhưng trong diễn giải khi giảng dạy vẫn tham khảo cách phân loại độc đáo mang bản sắc Việt Nam của Tuệ Tĩnh Phương pháp luận trong chẩn trị đều có những nét riêng dễ hiểu “Quan hình sát sắc biện nguyên do, âm nhược dương cường phát ngạnh nhu, nhược thị thương hàn song túc lãnh, yêu tri hữu nhiệt đỗ bi cầu, tỷ lạnh tiên tri thị chẩn đậu, nhĩ lãnh ưng tri phong nhiệt chứng, hôn nhân giai nhiệt thị thương hàn, thượng nhiệt hạ lương thương thực bệnh”

Từ những diễn biến phức tạp giữa một bên là tác nhân gây bệnh “hàn tà” một bên là phản ứng của hàng rào phòng ngự, thông qua sự chuyển hoá lục kinh trong biện chứng thương hàn luận, Trương Trọng Cảnh (thế kỷ II - III sau Công nguyên), Ông đã vận dụng sáng tạo cách xét bệnh ở bệnh nhi: âm nhược tóc cứng, dương cường tóc mềm, hai chân lạnh mình nóng là thương hàn, mũi lạnh, người nóng là bệnh sởi đậu… Từ khái quát thuốc về khí theo giới “nam bất thiểu trần bì, nữ bất phi hương phụ” nay đã trở thành những cương lĩnh dùng thuốc rất Việt Nam

Lê Hữu Trác trong “Hải Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh”, bộ sách đồ sộ chẳng những đã Việt hoá hệ thống lý luận Y học cổ truyền phương Đông và Y

Trang 15

29

học cổ truyền Trung Hoa mà còn chắt lọc những tinh hoa kết hợp với truyền thống Y học dân gian Việt Nam, khái quát nâng cao y lý mang bản sắc dân tộc Việt Nam Cách chẩn bệnh quy về hư, thực theo Lãn Ông: trạng thái cơ thể hư thường do: tuổi già, bệnh lâu ngày; người gầy da xanh, phụ nữ mới đẻ, trẻ nhỏ thường là lý hư, mạch hư; trái lại người trẻ, lúc bệnh mới mắc thường là thực chứng; mạch thực mà hư hay đi với hàn thuộc âm, thực hay đi với nhiệt thuộc dương

Như vậy, từ đơn giản hậu thế đã hiểu được những vấn đề khó và phức tạp trong biện chứng “âm dương” Cách chữa bệnh theo Lãn Ông: phàm người trẻ trọng dụng thuốc chữa “khí huyết” (bổ khí hành khí, bổ huyết hành huyết) “ trị phong tiên trị huyết, huyết hành phong tự diệt” có nghĩa là không đánh giặc mà giặc tự lui;“ huyết vi khí chi mẫu, khí vi huyết chi soái” có nghĩa là khí huyết đều

là 2 phạm trù, đều là cơ sở vật chất nuôi dưỡng tạng phủ duy trì sự sống

Lãn Ông đã khái quát cao độ quá trình chuyển hoá phức tạp của khí huyết bằng văn Nôm, văn Việt :“ ngũ cốc tức đồ ăn thức uống vào vị, tinh khí tràn đầy đưa lên tỳ, tỳ vận hoá đưa lên phế và phế tiêu đi bách mạch” Phế chủ khí, tâm chủ huyết, tâm là quân chủ, tâm chủ chi quan, nếu tâm suy thì thập nhị quân đều nguy, tuy nhiên “ dĩ thực vi tiên” mà tỳ vị hậu thiên chi bản, thận vi tiên thiên chi bản, “ tỳ vị là kho lương, kho lương ấy mà cạn thì muôn quân tan rã, nhưng tỳ vị lại là nồi cơm trên bếp lửa của thận hoả, thận chủ mệnh môn tướng hoả Nét độc đáo của Lãn Ông là hình tượng hoá hoạt động sống của cơ thể con người tựa hồ như đèn kéo quân quanh ngọn lửa (lửa là mệnh môn hoả, thận hoả)

Trong “Đạo lưu dư vận” Lãn Ông đã truyền lại cho hậu thế phong cách lý luận Y học cổ truyền Việt Nam “chữa bệnh nhẹ, người trẻ phải trọng dụng khí huyết, chữa trọng bệnh, tuổi già phải trọng dụng thuốc âm dương, bởi cha của khí

là dương, mẹ của huyết là âm, phải biết bổ âm tiếp dương, bổ dương tiếp âm, hoặc âm dương cùng bổ”; biết được lẽ này chữa bệnh nghìn người không sai một, đổi chết lấy sống dễ dàng như trở bàn tay, không biết được lẽ này chữa bệnh khác nào như leo cây tìm cá vậy Nhiều bệnh nặng phàm là các triệu chứng giả hiện lên lung tung, kì hình, quái dạng khó mà mệnh danh, nếu biết bổ âm tiếp dương (vụ âm trung cứu dương) thì các triệu chứng giả biến đi như tuyết tan ngói

vỡ, các chứng thực của bệnh hiện lên không tìm mà tự thấy Một số dẫn liệu thông qua thư tịch chữ Hán, chữ Nôm của các Y gia tiền bối, nhất là của Hải Thượng Lãn Ông trong lĩnh vực y lý, biện chứng luận trị Y Dược học cổ truyền Việt Nam đã được Ông Việt hoá rất độc đáo, đặc sắc và sáng tạo đến bất ngờ Y

Trang 16

30

đức, y lý, y thuật của Ông luôn là kim chỉ nam cho Y giới YHCT xưa, nay và mãi mãi được phát huy trong khám bệnh, chẩn trị và dự phòng bằng phương pháp luận YHCT Việt Nam, góp phần bảo vệ sức khoẻ cộng đồng

THUỐC YHCT CÓ TÁC DỤNG TRÊN MIỄN DỊCH

+ Tự thân ổn định (trung hòa các dị nguyên)

+ Cố định các dị nguyên (vô hiệu hóa)

+ Dự phòng các bệnh truyền nhiễm, cảm nhiễm

Theo Von Pirquet (1929 - 1974), phản ứng miễn dịch bao gồm: choáng phản

vệ loại bỏ protein lạ, mày đay nổi mẩn cố định các dị nguyên ở vùng viêm không cho lan rộng ra toàn thân; nhưng do quá mức (thái quá) mà cơ thể không những không tự bảo vệ được mình mà còn gây ra rối loạn chức năng các tổ chức

cơ quan trong cơ thể

Quan điểm YHCT, theo Tần Vạn Chương và Nại Duy Lập (Thượng Hải, 1988):

“Tà chi sở tấu, kỳ khí tất hư Chính khí tồn nội, tà bất khả can”

Nghĩa là tác nhân gây bệnh ở da, cơ sẽ làm tổn thương sức đề kháng của cơ thể, và ngược lại sức đề kháng tốt thì tác nhân gây bệnh không thể xâm phạm vào

da, cơ của cơ thể được

2 Nội dung

2.1 Mối liên hệ giữa dược lý, miễn dịch với lý luận YHCT:

Lý luận hư, thực, vệ khí, can tỳ của Trung y với quan điểm miễn dịch học hiện đại có nhiều điểm gần nhau Hai nguyên tắc điều trị lớn của Trung y là phù

Trang 17

31

chính và trừ tà có sự tương quan mật thiết với miễn dịch trị liệu Chính hư lấy phù chính là chủ; tà thực lấy trừ tà làm chủ; hư thực kiêm hiệp tức là kết hợp cả phù chính và trừ tà Phù chính là nâng cao sức đề kháng; trừ tà là đuổi tác nhân gây bệnh ra ngoài cơ thể hoặc tiêu trừ tác nhân gây bệnh Thông qua tác dụng phù chính với trừ tà để điều hòa sự ổn định và tăng cường chức năng miễn dịch bảo vệ cơ thể đạt được mục đích bài trừ và khống chế bệnh tà

+ Hư chứng: là chỉ chính khí bất túc, cơ thể phát sinh phản ứng miễn dịch quá mạnh như bệnh miễn dịch tự thân (luput ban đỏ), cũng có thể là chức năng miễn dịch của cơ thể quá suy giảm mà mất đi phản ứng miễn dịch đối với kháng nguyên hoặc giảm khả năng chống viêm nhiễm

Đối với các chứng bệnh, đa phần phải dùng thuốc phù chính để điều trị Thuốc phù chính đa phần có tác dụng tăng cường chức năng miễn dịch của cơ thể

+ Thực chứng: là chỉ tà khí hữu dư nên phải dùng phương pháp trừ tà để điều trị, tức là phải trọng dụng các thuốc: thanh nhiệt - giải độc, thuốc hoạt huyết - hóa ứ và thuốc trừ phong thấp Các loại thuốc này đa phần có tác dụng ức chế chức năng miễn dịch của cơ thể hoặc là vừa ức chế vừa hỗ trợ, tức là ngoài ức chế miễn dịch còn có tác dụng tăng cường miễn dịch

+ Phù chính - trừ tà: là nguyên tắc điều trị quan trọng của Y học cổ truyền, cũng là phương pháp cơ bản để giải quyết mâu thuẫn giữa chính và tà Sự liên quan chặt chẽ giữa phù chính - trừ tà với miễn dịch liệu pháp góp phần nâng cao hiệu quả điều trị một số bệnh tự thân miễn dịch như: luput ban đỏ, xơ cứng bì, ngân tiết bệnh và nham chứng

Có nhiều báo cáo tổng kết nghiên cứu: thuốc bổ ích khí - huyết đa phần có tác dụng tăng cường miễn dịch; thuốc điều hòa âm - dương đa phần có tác dụng điều tiết miễn dịch; thuốc sơ phong - thanh nhiệt - lợi thấp đa phần có tác dụng tiêu viêm, thoái mẫn ; thuốc tiêu viêm - hóa ứ đa phần có tác dụng ức chế miễn dịch

2.2 Tác dụng điều tiết miễn dịch của thuốc phù chính:

+ Trung y cho rằng “hư tắc bổ” Nhưng hư chứng có suy giảm chức năng miễn dịch hay không? Có một số người cho rằng: phù chính có thể là tiền đề cho tăng cường công năng miễn dịch Bệnh luput ban đỏ chủ yếu liên quan với thận

hư tiên thiên bản tạng bất túc ?

Tần Vạn Lập nghiên cứu về bản chất của bệnh đã phát hiện đa số bệnh nhân

bị luput ban đỏ có biểu hiện triệu chứng thận hư Sau khi Ông cho những bệnh

Trang 18

ở mức độ khác nhau Sau khi điều trị bằng thuốc phù chính thì hầu hết các bệnh nhân qua kiểm tra xét nghiệm và lâm sàng, đều thấy các chỉ tiêu miễn dịch được cải thiện, bệnh ổn định

Theo nghiên cứu của Y viện Hiệp Hoà - Bắc Kinh, điều trị bệnh viêm da - cơ cấp tính bằng “thanh doanh giải độc thang gia giảm” và điều trị viêm da - cơ mãn tính bằng “bổ trung ích khí gia giảm” kết hợp với kích tố và điều trị hỗ trợ khác Trong tổng số 27 bệnh nhân, thấy kết quả tốt 24, không kết quả và tử vong 3 (vì

có kết hợp với nham chứng)

Những nghiên cứu của các địa phương trên đã chứng minh các vị thuốc bổ ích khí - huyết có tác dụng tăng cường chức năng miễn dịch (nhân sâm, bạch truật, tử hà sa, ngũ gia bì, hà thủ ô )

Theo Lưu Minh Nhuệ (Tạp chí Trung y, 1995), nghiên cứu điều chế thuốc từ hoàng kỳ để điều trị bệnh vẩy nến thể thông thường, dùng hoàng kỳ chế (gồm: hoàng kỳ sắc, cao hoàng kỳ và hoàng kỳ dạng tiêm) để điều trị 204 bệnh nhân bị bệnh vẩy nến thể thông thường, thấy kết quả: khỏi hoàn toàn 47 (20,6%), khỏi cơ bản 62 (30,4%), tiến triển tốt 94 (44,6%), không kết quả 9 (4,4%); tổng số bệnh nhân có tỷ lệ tốt là 95,6% Theo dõi các chỉ tiêu miễn dịch trước và sau điều trị bằng thuốc “hoàng kỳ chế tễ” thấy ở những bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến thể thông thường, đều có tác dụng tăng cường miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào Trong những năm gần đây, hoàng kỳ được dùng làm thuốc bổ khí và còn được dùng để điều trị các loại bệnh thuộc hệ thống tạo keo; vì người ta cho rằng: hoàng kỳ có tác dụng kích thích các trung tâm miễn dịch của cơ thể

Tất cả những nghiên cứu trên, một mặt là ứng dụng sự điều tiết miễn dịch của thuốc phù chính - trừ tà; mặt khác là nghiên cứu dược lý học và miễn dịch để

Trang 19

33

phát hiện khả năng kích thích và điều tiết chuyển hoá tế bào limpho trên thực nghiệm Y học cổ truyền Trung Hoa đã nghiên cứu và chọn được 4 phương thuốc bổ:

Bổ khí: “tứ quân tử thang”

Bổ huyết: “tứ vật thang”

Bổ âm: “lục vị địa hoàng hoàn”

Bổ dương: “sâm phụ thang”

Người ta đã chứng minh và kết luận bốn bài thuốc trên có khả năng xúc tiến chuyển hóa limpho bào, kích thích phản ứng miễn dịch tế bào và hình thành kháng thể

Thực tiễn lâm sàng đã chứng minh: các loại bệnh thuộc hư chứng dù ở các mức độ khác nhau, đều có suy giảm chức năng miễn dịch rõ rệt Vì vậy, khi dùng các phương thuốc phù chính để bổ dưỡng đã thu được hiệu quả nhất định

2.3 Tác dụng điều tiết miễn dịch của thuốc trừ tà:

Theo Y học cổ truyền: tà thực lấy trừ tà là chủ để điều trị, tức là khu trừ bệnh

tà, khôi phục lại sự cân bằng của cơ thể mà đạt hiệu quả điều trị Trong những năm gần đây, những công trình nghiên cứu đã phát hiện nhiều loại thuốc trừ tà

có khả năng điều chỉnh chức năng miễn dịch của cơ thể

Thuốc trừ tà thường dùng là các nhóm thuốc: hoạt huyết - hóa ứ; thanh nhiệt

- giải độc; thuốc trừ thấp

Các nghiên cứu cho thấy: đại bộ phận các thuốc hoạt huyết - hóa ứ có tác dụng ức chế phản ứng miễn dịch bệnh lý của cơ thể; đối với một số bệnh tự thân miễn dịch và phản ứng biến thái thì có hiệu quả rất tốt Một số tư liệu đã chứng minh: một số thuốc hoạt huyết - hóa ứ có tác dụng tăng cường công năng miễn dịch cơ thể Những năm trước đây người ta chỉ chú ý đến tính kháng khuẩn, kháng siêu vi khuẩn của thuốc thanh nhiệt - giải độc, thì ngày nay người ta đã phát hiện ra nhiều loại thuốc thanh nhiệt - giải độc có tác dụng tăng cường công năng miễn dịch của cơ thể Tuy nhiên, cũng có một số thuốc thanh nhiệt - giải độc lại có tác dụng ức chế miễn dịch Ngoài ra nhiều loại thuốc sơ phong - trừ thấp có tác dụng tiêu viêm thoái mẫn

2.3.1 Tác dụng ức chế miễn dịch của thuốc trừ tà:

+ Trong những năm gần đây, bằng kết hợp Trung - Tây y, các nghiên cứu ứng dụng một số thuốc trừ tà để điều trị bệnh tự thân miễn dịch và bệnh biến thái phản ứng tính trạng thái quá mẫn cảm gây phản ứng quá mẫn đã thu được kết quả

Trang 20

34

tốt Y học hiện đại cho rằng: sở dĩ bệnh tự thân miễn dịch và phản ứng biến thái tính bệnh tật là do kích thích của kháng nguyên đã phát sinh phản ứng miễn dịch quá mẫn, gây nên một loạt các biến đổi chức năng trong cơ thể

Quan sát lâm sàng và thực nghiệm, người ta thấy một số thuốc trừ tà có tác dụng ức chế các phản ứng quá mẫn, tuy ở mức độ khác nhau nhưng đều đạt kết quả điều trị tốt

+ Học viện Y1 - Thượng Hải chọn mặt bệnh luput ban đỏ để nghiên cứu tác dụng của thuốc “hoạt huyết - hóa ứ là chủ”

- Cẩm Hồng Phương dùng bài thuốc hoạt huyết - hóa ứ (gồm: đại hoàng, hồng hoa, xích thược, bạch thược, tần cửu, hoàng tinh, cam thảo) để điều trị luput ban đỏ Dựa vào chỉ tiêu miễn dịch trước và sau điều trị, tác giả kết luận thuốc hoạt huyết- hóa ứ có tác dụng ức chế phản ứng quá mẫn

- Tần Vạn Chương lấy dịch chiết của xích thược, hoàng đằng dưới dạng thuốc tiêm và dùng thuốc hoạt huyết - hóa ứ điều trị luput ban đỏ, quan sát điều trị đến khi bệnh ổn định thấy các chỉ tiêu miễn dịch của nó đều được cải thiện Đồng thời trải qua hàng chục năm nghiên cứu kết hợp dùng vị thuốc “lôi công đằng chế tễ” (chế phẩm từ cây rau má) để điều trị luput ban đỏ, tác giả nhận thấy

tỷ lệ khỏi cao (79,4  91%), các triệu chứng phát sốt, đau khớp, tổn thương da đều được cải thiện; các tổn thương nội tạng đều có chuyển biến tốt Các xét nghiệm hệ thống máu, anbumin niệu, chức năng gan và thận đều được cải thiện tốt, tốc độ máu lắng hạ thấp; Các chỉ tiêu miễn dịch tế bào, globulin miễn dịch, chức năng tế bào limpho đều có chuyển biến tốt Tác giả rút ra kết luận: lôi công đằng có tác dụng chống viêm, điều tiết công năng miễn dịch Những nghiên cứu của Viện Y1 - Thiên Tân đã ứng dụng thuốc thanh nhiệt - giải độc: kim ngân hoa, liên kiều, bản lam căn (rễ của thanh đại diệp - lá chàm mèo - cây bọ mắm), nhưng thanh đại diệp là chính để ức chế phản ứng quá mẫn trong điều trị bệnh luput ban đỏ, có hiệu quả rõ rệt

+ Học viện Trung y - Quảng Châu dùng bài “thanh ôn bại độc ẩm” để điều trị bệnh viêm da - thần kinh cũng thu được kết quả tốt Thuốc thanh nhiệt - giải độc không những có tác dụng kháng khuẩn, kháng bệnh độc cảm nhiễm mà còn có thể ức chế phản ứng quá mẫn, tiêu trừ phức hợp miễn dịch, từ đó ức chế có hiệu quả các phản ứng miễn dịch

Trang 21

35

2.3.2 Tác dụng tăng cường miễn dịch của thuốc trừ tà:

+ Căn cứ vào nghiên cứu thực nghiệm các hội chứng "thực chứng" người ta nhận thấy một số thuốc hoạt huyết - hóa ứ và thanh nhiệt - giải độc có tác dụng tăng cường miễn dịch: số lượng bạch cầu tăng cao, xúc tiến bạch cầu khổng lồ tăng thực bào, xúc tiến tăng chuyển hóa tế bào limpho, hình thành các IL2(Interlerkill2), và hình thành kháng thể Thông qua sử dụng một số thuốc điều trị trên lâm sàng nhiều tác giả đã thu được kết quả nhất định Tổng hợp các báo cáo phát hiện phương thuốc “bạch hổ thang” có tác dụng xúc tiến chức năng thực bào của đại thực bào tương đối tốt

Bài “quế chi gia truật thang” có tác dụng ức chế quá mẫn, trung hòa kháng nguyên và sản sinh kháng thể

Thực nghiệm còn chứng minh, bài thuốc “bài nùng thang” và “bài nùng tán” đều có tác dụng ức chế rõ đối với bạch cầu đa nhân Kết quả thực nghiệm trên chuột cống cho thấy 2 phương thuốc trên đều có tác dụng ức chế và xúc tiến dòng bạch cầu đa nhân, tác dụng này phụ thuộc vào loại thuốc và nồng độ thuốc; bài thuốc “tiểu thanh long thang” có tác dụng ức chế globulin E miễn dịch (IgE),

+ Những báo cáo lâm sàng về tác dụng tăng cường miễn dịch của thuốc trừ tà ngày càng nhiều, nhưng thực nghiệm chưa được đầy đủ Tuy nhiên, người ta cũng thống nhất kết luận thuốc phù chính và trừ tà đều có tác dụng điều tiết miễn dịch Trên lâm sàng thường dùng kết hợp cả hai phương pháp này để điều trị bệnh ngoài da

- Theo báo cáo của Vương Đức Tuệ, phối hợp thuốc phù chính - trừ tà với lôi công đằng (tích tuyết thảo) để điều trị 36 bệnh nhân vẩy nến (ngân tiết bệnh) thấy có hiệu quả khá mỹ mãn Trong điều trị, tác giả đã chọn dùng lôi công đằng kết hợp với biện chứng luận trị, lựa chọn một số thuốc phù chính - trừ tà để tổ chức phương thuốc:

Trang 22

36

- Một số vị thuốc thường dùng để trừ tà: thổ phục linh, bạch hoa xà thiệt thảo,

tử thảo, hoàng liên, hoàng cầm, sơn đậu căn, long quí, ô tiêu xà, chích ngô công, cương tàm, kim ngân hoa, khổ sâm, xuyên khung, đan sâm, nga truật, đại hoàng

và thuyền y Một số vị thuốc thường dùng để phù chính: đẳng sâm, hoàng kỳ, hà thủ ô, sinh địa, xích bạch thược, bạch truật, phục linh, hồng táo, hoàng tinh, sơn dược, biển đậu, thích ngũ gia bì, hoàng kỳ thích (hoàng kỳ gai)

- Theo báo cáo của Tôn Khánh Quí: dùng các thuốc thanh nhiệt - giải độc, hoạt huyết - hóa ứ và bổ dưỡng khí - huyết kết hợp với quế chi tạo thành “quế thanh thang” đã điều trị khỏi cho 9 bệnh nhân vẩy nến thể mụn mủ

Phương thuốc:

Tất cả những báo cáo dẫn liệu trên chứng tỏ thuốc phù chính - trừ tà dùng để điều trị đều liên quan mật thiết đến vấn đề miễn dịch, hoặc là ức chế hoặc là tăng cường hay là điều hòa miễn dịch Chính vì vậy sử dụng các thuốc này đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ trong điều trị lâm sàng

PHÂN LOẠI THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN THEO

BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ VÀ TÁC DỤNG KHÁNG KHUẨN CỦA THUỐC THẢO MỘC

Trang 23

37

theo biện chứng luận trị Dựa trên tác dụng thực tế lâm sàng, thuốc thảo mộc được chia ra nhiều loại, mỗi loại có thể điều trị 1 hay nhiều triệu chứng hoặc là 1 hội chứng, trái lại nhiều hội chứng bệnh cũng có thể qui về 1 loại thuốc

1.2 Phân loại thuốc thảo mộc theo biện chứng luận trị:

+ Thuốc giải biểu là nhóm thuốc có tác dụng giải tán biểu tà, sơ phong thấu chẩn, tiêu thũng, còn gọi là thuốc phát hãn vì nó làm cho ra mồ hôi, đưa tác nhân gây bệnh ra ngoài bằng đường mồ hôi Nhóm này gồm 2 loại: cay mát (tân lương) và cay ấm (tân ôn)

Các vị thuốc giải biểu thường được trọng dụng:

- Loại cay ấm: ma hoàng, quế chi, tía tô, sinh khương, hương nhu, kinh giới, phòng phong, khương hoạt, bạch chỉ, thông bạch, tế tân

- Loại cay mát: sài hồ, cát căn, thăng ma, ngưu bàng tử, tang diệp, bạc hà, cúc hoa, phù bình, đậu xị, thuyền y

+ Thuốc thanh nhiệt là nhóm thuốc có tác dụng thanh nhiệt giáng hoả (tả hỏa): thanh nhiệt lương huyết và thanh nhiệt - giải độc Cũng có tài liệu chia thuốc thanh nhiệt giáng hoả ra 2 loại: thanh nhiệt tả hoả và thanh nhiệt táo thấp Ngoài

ra khi điều trị còn phối hợp với một số thuốc bổ âm, dưỡng âm, dưỡng huyết Người xưa coi đó là thuốc thanh hư nhiệt (âm hư sinh nội nhiệt)

- Thuốc thanh nhiệt giáng hoả (tả hoả) thường được chọn dùng: hoàng cầm, hoàng liên, hoàng bá, chi tử, long đờm thảo, hạ khô thảo, quyết minh tử, thạch cao, tri mẫu, lô căn, trúc diệp

- Thuốc thanh nhiệt lương huyết thường dùng: sinh địa, huyền sâm, đan bì, xích thược, bạch đầu ông, thanh hao, bạch vi, địa cốt bì

- Thuốc thanh nhiệt - giải độc thường dùng: kim ngân, liên kiều, thanh đại diệp, tử thảo, bồ công anh, tử hoa địa đinh, bán biên liên, bạch hoa xà thiệt thảo,

hạ khô thảo, phượng vĩ thảo, lệ chi thảo, khổ sâm, xuyên thạch linh, bán chi liên, nhất kiến hỷ, sơn đậu căn, xạ can, ngư tinh thảo, bối tương thảo

+ Thuốc tả hạ là nhóm thuốc gây nhuận tràng, tiện lỏng, trục thủy tả hạ Các

vị thuốc thường được chọn dùng: đại hoàng, mang tiêu, hoả ma nhân, uất quí nhân, đại kích nguyên hoa, cam toại, hắc sửu

+ Thuốc trừ phong thấp là nhóm thuốc có tác dụng sơ thông kinh lạc trừ phong thấp, giải trừ thống tý ở biểu, vận động trở ngại Các vị thuốc thường được chọn dùng: tần cửu, độc hoạt, uy linh tiên, ngũ gia bì, mộc qua, hổ trượng, xú ngô đồng, hy thiêm thảo, hải phong đằng, thương nhĩ tử, ô tiêu xà, mao lương

Trang 24

38

+ Thuốc phương hương hóa thấp là nhóm thuốc có tác dụng phương hương hóa trọc, hoà vị Các vị thuốc được chọn dùng: hoắc hương, phong lan, hậu phác,

sa nhân, bạch khấu nhân, thương truật, thạch xương bồ

+ Thuốc lợi thủy thấm thấp là nhóm thuốc có tác dụng bài trừ thủy thấp, thông lợi tiểu tiện Các vị thuốc được chọn dùng: phục linh, trư linh, trạch tả, đông qua tử (bì), ý dĩ nhân, hoạt thạch, sa tiền thảo (tử), mộc thông, thông thảo, hải kim sa, kim tiền thảo, ngọc mễ tu, nhân trần, biển xúc, cù mạch, phòng kỷ, tỳ giải

+ Thuốc ôn lý là nhóm thuốc có tác dụng ôn lý trừ hàn, ôn trung hồi dương, tán hàn chỉ thống Một số vị thuốc được chọn dùng: phụ tử, nhục quế, can khương, cao lương khương, ngô thù du, hoa tiêu, tiểu hồi hương, ngải diệp

+ Thuốc lý khí là nhóm thuốc có tác dụng điều lý khí cơ, lưu thông khí - huyết Một số vị thuốc được chọn dùng: quất bì, chỉ thực (sác), mộc hương, giới bạch, hương phụ, ô dược, thanh bì, xuyên luyện tử, uất kim

+ Thuốc lý huyết là nhóm thuốc có tác dụng điều lý huyết phận chỉ huyết tiêu tán huyết ứ Một số vị thuốc được chọn dùng: bạch cập, đại kế, tiểu kế, mao căn, tiên cước thảo, trắc bá diệp, tây thảo, địa du, quỉ hoa, huyết dư thán, tam thất Một số vị thuốc thường dùng hoạt huyết - khư ứ: xuyên khung, đan sâm, diên hồ sách, kê huyết đằng, đào nhân, hồng hoa, bồ hoàng, ngũ linh chi, ích mẫu thảo, ngưu tất, trạch lan, nhũ hương, một dược, xuyên sơn giáp, mã tiên thảo

+ Thuốc tiêu đạo là nhóm thuốc có tác dụng tiêu thực đạo trệ, tăng cường vận hóa và chuyển hóa của tỳ - vị Một số vị thuốc được chọn dùng: lục khúc, mạch nha, sơn tra, kê nội kim, lai phục tử

+ Thuốc hóa đàm chỉ khái bình suyễn là nhóm thuốc có tác dụng tiêu trừ đàm, cầm ho; được gọi là hoá đàm chỉ khái bình suyễn Thuốc được chọn dùng

để hóa đàm: bán hạ, bạch giới tử, thiên nam tinh, tỳ bà diệp, tiền hồ, cát cánh, trúc nhự, tang bạch bì, thiên trúc hoàng, hải cáp xác, hải cảo; một số thuốc chỉ khái bình suyễn: bách bộ, tử uyển, khoản đông hoa, tô tử, toàn phức hoa, bạch tiền, khổ hạnh nhân

+ Thuốc bình can tức phong là nhóm thuốc có tác dụng bình tức nội phong thanh can tiềm dương, trấn tĩnh Một số vị thuốc thường dùng: thạch quyết minh, đại xích thạch, linh dương giác, thiên ma, câu đằng, bạch tật lê, toàn yết, ngô công, bạch cương tàm

Trang 25

39

+ Thuốc an thần là nhóm thuốc có tác dụng an thần định chí Một số vị thuốc được chọn dùng là: toan táo nhân, bá tử nhân, viễn trí, trân châu mẫu, long cốt, mẫu lệ, từ thạch, chu sa, hổ phách

+ Thuốc bổ ích là nhóm thuốc có tác dụng bồi bổ âm - dương, khí - huyết:

- Thuốc có tác dụng bổ khí (tỳ khí, phế khí là chính): nhân sâm, đẳng sâm, thái tử sâm, hoàng kỳ, bạch truật, hoài sơn, cam thảo, biển đậu

- Thuốc có tác dụng bổ dương là nhóm thuốc có tác dụng bổ thận, tráng dương, cường cân cốt: tử hà sa, bổ cốt chi, thiên ba kích, tiên mao, dâm dương hoắc (tiên linh tỳ), lộc giác, lộc nhĩ, thỏ ty tử, đông tật lê, ích trí nhân, hồ đào nhục, cẩu tích, tục đoạn

- Thuốc có tác dụng bổ huyết là nhóm thuốc thường được chỉ định trong hội chứng thiếu máu, kinh nguyệt không đều Một số vị thuốc được chọn dùng: đương qui, bạch thược, thục địa, tang thầm tử, hà thủ ô, câu kỷ tử

- Thuốc bổ âm là thuốc có tác dụng dưỡng âm - sinh tân - nhuận táo Các vị thuốc được chọn dùng: thiên môn đông, mạch môn đông, thạch hộc, sa sâm, ngọc trúc, bách hợp, hạn liên thảo, nữ trinh tử, qui bản, miết giáp

+ Thuốc thu liễm là nhóm thuốc có tác dụng thu liễm cố sáp Các vị thuốc được chọn dùng: ngũ vị tử, sơn thù nhục, khiếm thực, kim anh tử, tang phiêu tiêu, phúc bồn tử, ô tặc cốt, ô mai, thạch lựu bì, nhục đậu khấu

+ Thuốc khu trùng là nhóm thuốc có tác dụng khu trùng hoặc diệt trùng - ký sinh trùng đường ruột Một số vị thuốc được chọn dùng: sử quân tử, khổ luyện căn bì, binh lang, quán chúng, nha đàm tử

+ Thuốc dùng ngoài là nhóm thuốc dùng để bôi đắp ngoài; có tác dụng thu liễm, chỉ huyết, tiêu thũng, giải độc, hoá ứ, sinh cơ, bài nùng, chỉ thống Một số

vị thuốc được chọn dùng: hùng hoàng, sa sàng tử, minh phàn, phê sa, lưu hoàng, khinh phấn, lô cam thạch, thủy phiến

2 Tác dụng kháng vi khuẩn và ức chế vi khuẩn của thuốc thảo mộc

Trong những năm gần đây, trên cơ sở kết hợp YHHĐ với biện chứng luận trị theo y lý Y học cổ truyền, một số nước tiên tiến đã đưa nền Y học cổ truyền phương Đông ngang tầm với YHHĐ, đã lần lượt nghiên cứu cơ bản các thuốc thảo mộc dạng cao lỏng, dạng sắc thang, dạng tễ, dạng hoàn, dạng viên nén, viên bao, dạng tiêm, dạng truyền Bằng kết quả khả quan trên thực nghiệm và lâm sàng, người ta đã khẳng định tác dụng kháng khuẩn và ức chế vi khuẩn của nhiều loại thuốc thảo mộc Theo tài liệu của Viện Y học Giang Tô (1973); tân biên

Trang 26

40

Trung Y học khái luận (Bắc Kinh, 1974); Trung Dược học khoa học kỹ thuật

(Thượng Hải, 1998), khả năng kháng khuẩn của các nhóm thuốc như sau:

2.1 Thuốc giải biểu:

Có một số vị thuốc có tác dụng kháng khuẩn mạnh như: tử tô, bạch chỉ, thông bạch, cúc hoa Đặc biệt là tử tô có tác dụng kháng tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn thương hàn; cúc hoa có tác dụng kháng tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn lỵ và ức chế nhiều loại khuẩn ngoài da; ngoài ra thông bạch còn có tác dụng diệt trùng roi; sài hồ có tác dụng diệt “ngược nguyên trùng” (ký sinh trùng sốt rét)

2.2 Khả năng kháng khuẩn của thuốc thanh nhiệt - giáng hoả:

Nhóm thuốc này bao gồm: nhóm thanh nhiệt tả hoả và thanh nhiệt - táo thấp Kết quả điều trị rất khả quan cho các chứng thấp nhiệt, bao gồm 1 số bệnh lý theo YHHĐ: viêm đường dẫn mật, viêm gan siêu vi trùng, viêm đại tràng mạn, rối loạn chức năng đại tràng, viêm đường tiết niệu và viêm đường sinh dục Bằng thực nghiệm lâm sàng người ta đã chứng minh đại bộ phận trong nhóm thuốc này

có khả năng kháng khuẩn mạnh, phạm vi rộng: hoàng liên, hoàng bá, hoàng cầm, chi tử, hạ khô thảo, chi mẫu Các thuốc này đều có khả năng kháng và ức chế trực khuẩn: bạch hầu, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn lỵ, phế cầu khuẩn, trực khuẩn ho gà Riêng hoàng liên, tri mẫu có tác dụng kháng liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A; hạ khô thảo còn có tác dụng ức chế trực khuẩn mủ xanh, các thuốc trong nhóm này có tác dụng ức chế nhiều loại khuẩn gây bệnh ngoài da + Thuốc thanh nhiệt - lương huyết là nhóm thuốc điều trị khi tác nhân gây bệnh vào huyết phận và doanh phận gây sốt cao dao động, miệng khát, tâm phiền bất an, đêm sốt, sáng rét, chất lưỡi sáng, mạch tế sác Thường được chỉ định điều trị chứng ôn nhiệt, phát ban hoặc nhiệt thịnh bức huyết vong hành sinh ra thổ huyết, nục huyết Đa số các vị thuốc trong nhóm này đều có tính kháng khuẩn rất cao: sinh địa, huyền sâm, đan bì, bạch đầu ông, địa cốt bì Riêng bạch đầu ông (cây bướm bạc), địa cốt bì, đan bì đều có tác dụng kháng trực khuẩn thương hàn, phó thương hàn, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn mủ xanh, phế cầu khuẩn và liên cầu khuẩn; bạch đầu ông còn có tác dụng diệt amip, lỵ và trùng roi âm đạo

+ Thuốc thanh nhiệt - giải độc là nhóm thuốc có tác dụng điều trị nhiệt độc, hoả độc sinh nhọt bọc đầu đinh, ban chẩn và dịch độc (bệnh do các loại siêu vi trùng gây nên) Hầu hết các vị thuốc trong nhóm này đều có khả năng kháng các

Trang 27

2.3 Khả năng kháng khuẩn của các thuốc tả hạ:

Thuốc có tác dụng chủ yếu: thông hạ đường tiêu hóa, lợi mật, lợi đởm khí, tả thực nhiệt, phá tích trệ, hành ứ huyết Tuy nhiên, đại hoàng, hắc sửu có khả năng kháng khuẩn mạnh trên phạm vi rộng: cầu khuẩn, tụ cầu vàng, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn mủ xanh, phế cầu khuẩn

2.4 Khả năng kháng khuẩn của các nhóm thuốc khác:

+ Nhóm thuốc trừ phong thấp: hổ trượng (cốt khí củ) và mao lương có khả năng diệt tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn lỵ và trực khuẩn thương hàn

+ Nhóm thuốc phương hương hóa thấp: lạt liễu và hậu phác có hiệu lực diệt

tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn lỵ và trực khuẩn ở đại tràng

+ Nhóm thuốc lợi niệu thẩm thấp: kim tiền thảo, hải kim sa, sa tiền tử, nhân trần, biển súc và cù mạch diệt trực khuẩn mủ xanh, tụ cầu vàng, trực khuẩn lỵ và nhiều trực khuẩn ngoài da

+ Nhóm thuốc ôn lý: ngô thù du có hiệu lực với ký sinh trùng đường ruột + Nhóm thuốc chỉ huyết: tiên cước thảo, trắc bá diệp, địa du có khả năng kháng khuẩn mạnh nhất là tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn lỵ, địa

du có khả năng diệt trực khuẩn thương hàn và phó thương hàn

2.5 Khả năng kháng khuẩn của nhóm thuốc bổ:

Nhìn chung, thuốc bổ phần nhiều không có khả năng diệt khuẩn thực nghiệm Riêng bạch thược (thuốc bổ huyết), thiên môn, mạch môn (thuốc bổ âm) có tác dụng kháng trực khuẩn lỵ, trực khuẩn thương hàn và trực khuẩn bạch hầu; thiên môn đông có tác dụng cả với liên cầu khuẩn tan huyết, trực khuẩn hoại thư và phế cầu khuẩn Tuy nhiên, thuốc bổ có vai trò quan trọng trong nâng cao chính khí, nâng cao sức đề kháng của cơ thể, tăng cường kháng thể, tăng quá trình

Trang 28

42

chuyển hóa: nhân sâm, đẳng sâm làm tăng hồng cầu, huyết sắc tố và bạch cầu; hoàng kỳ gây cường tim, lợi niệu, tăng hưng phấn thần kinh trung ương cải thiện tuần hoàn máu ngoại vi; bạch truật làm tăng thải Na+ tại ống lượn xa gây lợi niệu; hoài sơn làm tăng cường quá trình tiêu hoá, kích thích tăng men amylaza; cam thảo được sử dụng như andosteron trên động vật thực nghiệm, có tác dụng gần giống như nội tiết tố tuyến thượng thận làm tăng hấp thu Na+ tại ống lượn xa của tiểu cầu thận gây phù và tăng huyết áp

Một số vị thuốc bổ dương có tác dụng kích thích các tuyến nội tiết: tuyến yên, thượng thận, giáp trạng và các tuyến sinh dục theo cơ chế tự điều chỉnh Ví dụ: tử hà sa, lộc giác và đại bộ phận thuốc bổ khí - huyết, bổ âm, bổ dương có tác

dụng tăng cường miễn dịch dịch thể, miễn dịch tế bào và điều tiết miễn dịch (như

đã nêu ở bài 2)

2.6 Nhóm thuốc thu liễm khu trùng và thuốc dùng ngoài:

Khả năng kháng khuẩn trong thực nghiệm của ô mai, thạch lựu bì tương đối mạnh với trực khuẩn lỵ, thương hàn, trực khuẩn mủ xanh và tụ cầu vàng Đa số các thuốc trong nhóm thuốc này đều có tác dụng khu trùng, nhất là ký sinh trùng, thuốc làm cho giun sán tê liệt và bị tống ra ngoài

Các thuốc dùng ngoài, tác dụng theo y lý cổ truyền: thu liễm chỉ huyết, tiêu thũng giải độc, hóa ứ, sinh cơ, bài nùng, chỉ thống (giảm đau và làm sạch mủ ở vết thương)

PHẦN 2

BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ MỘT SỐ BỆNH NAN Y THEO HỆ THỐNG

Trang 29

43

CƠ QUAN TẠNG PHỦ

Trang 30

44

Chương I

BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ BỆNH NỘI TIẾT TIM - MẠCH THẬN, KHỚP

ĐƯỜNG NIỆU BỆNH, TIÊU KHÁT

(Đái tháo đường)

1 Đại cương

1.1.Theo Y học hiện đại:

+ Đái tháo đường là một bệnh rối loạn nội tiết và chuyển hóa thường gặp; do

nhân tố tiểu đảo tụy bất túc tuyệt đối hoặc tương đối dẫn đến rối loạn chuyển hóa gluxít Đặc điểm chủ yếu: đường máu tăng cao và có đường niệu Tỷ lệ phát bệnh

ở Mỹ là 3% - 5%, Trung Quốc là 0,6 - 1% Quá trình diễn biến bệnh kéo dài ảnh hưởng đến toàn thân; thời điểm nguy cấp có thể phát sinh một loạt biến chứng

Trang 31

+ Nguyên nhân sinh bệnh đái đường típ I và II có khác nhau:

Típ I là do khuyết hãm miễn dịch tự thân, có yếu tố di truyền Bản chất bệnh

là do kháng thể ICA đã phá tế bào tiểu đảo tụy làm giảm tiết insulin gây rối loạn chuyển hoá đường Đặc điểm của bệnh đái tháo đường típ I là: bệnh phụ thuộc vào insulin, hay ở người trẻ, có kháng thể kháng tế bào tiểu đảo tụy liên quan đến HLA, gầy sút cân; liên quan chặt chẽ tới hoàn cảnh và yếu tố ảnh hưởng: các yếu

tố nhiễm độc thai nghén, nhiễm độc môi trường, tính mẫn cảm cá thể có liên quan đến phát bệnh đái đường Vì vậy, típ I thường có kháng thể là ICA

Típ II là do khuyết hãn thụ thể tiểu đảo tụy là chính; ngoài ra, còn nhiều nguyên nhân khác dẫn đến đái đường Thường không phụ thuộc insulin, không

có liên quan với HLA, không có kháng thể kháng tế bào tiểu đảo tụy, gặp ở người béo, tuổi già (80 - 90%) Loại đái đường này thường kháng insulin do kháng thể kháng receptoinsulin gây ức chế sự gắn insulin vào cảm thụ quan đặc hiệu trên màng của nhiều loại tế bào, làm cho insulin không phát huy được tác dụng chuyển hóa hydrat cacbon gây nên đái tháo đường

1.2 Theo Y học cổ truyền:

Cách đây 2000 năm trước Công nguyên (Hoàng Đế - Nội kinh), người xưa có ghi lại những biểu hiện của đường niệu bệnh, trong nhiều căn cứ và biểu hiện khác nhau trong các chứng “tiêu đơn, phế tiêu, cách tiêu, tiêu trung” Về sau, các

y gia hậu thế thường qui đái tháo đường trong phạm trù “Tiêu khát” Nguyên nhân, cơ chế, bản chất bệnh là phụ thuộc vào bản chất bẩm thụ bất túc, tình chí thất điều, ẩm thực bất tiết, lục dâm xâm lăng, lao dục thất độ dẫn đến ngũ tạng nhu nhược, uất lâu ngày hóa hoả, tích nhiệt thương tân, hoả trước tổn âm, hao tinh thương thận Cơ chế bệnh có liên quan đến âm tinh hao tổn, tích nhiệt nội

Trang 32

46

thịnh mà dẫn đến âm hư là chủ yếu Âm hư là bản, táo nhiệt là tiêu Hai yếu tố này là nhân - quả tương hỗ quán xuyến suốt quá trình bệnh tiêu khát Bản chất bệnh ảnh hưởng đến nhiều cơ quan tạng phủ (nhưng chủ yếu là tạng phế, vị, thận) tức là thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu; giữa phế, vị và thận thường cho là thận quan trọng nhưng đều hỗ tương ảnh hưởng; vì vậy ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, cũng là tương hỗ với nhau Tiêu khát lâu ngày thường dẫn đến ứ huyết nội đình, ứ huyết lại là nguyên nhân bệnh lý trở tắc cơ quan tạng phủ mà dẫn đến khí trệ huyết ứ

2 Chẩn đoán và biện chứng phương trị

2.1 Chẩn đoán:

+ Lâm sàng có triệu chứng điển hình: ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, sút cân, mệt mỏi; chẩn đoán thường là không khó Đối với các trường hợp không có triệu chứng hoặc triệu chứng không điển hình thì thường dựa vào xét nghiệm đường máu và đường niệu để chẩn đoán xác định

+ Có triệu chứng đái tháo đường hoặc không, nhưng chỉ cần 1 trong các triệu chứng dưới đây là có thể chẩn đoán xác định:

- Trong một ngày (một lần) đường máu  11,1 mmol/l

- Lúc đói thử đường máu 2 lần đều có kết quả  7,8 mmol/l

- Xét nghiệm đường niệu thấy dương tính rõ

2.2 Biện chứng luận trị:

2.2.1 Âm hư táo nhiệt:

+ Phiền khát uống nhiều, uống không giảm khát, miệng khô lưỡi ráo, cấp táo hay giận, bức nhiệt tâm phiền, niệu phiền lượng nhiều hoặc đại tiện táo kết, mạch huyền sác hoặc hoạt sác

+ Phương pháp điều trị: tư âm thanh nhiệt

+ Phương thuốc: “Bạch hổ gia nhân sâm thang” hoặc “Tiêu khát phương” hợp “Ngọc dịch thang”

Sinh thạch cao: 30 - 60g Tri mẫu: 10g

Thái tử sâm: 30g Thiên hoa phấn: 10g

Sơn dược: 30g Ngũ vị tử: 10g

Chích cam thảo: 10g Cát căn: 15g

Hoàng liên: 5g Ngẫu tiết: 30g

Trang 33

47

+ Gia giảm:

- Nếu khát nhiều thì gia thêm: sa sâm, thạch hộc

- Nếu đại tiện bế thì gia thêm: sinh đại hoàng 10g

2.2.2 Thể khí âm lưỡng hư:

+ Mệt mỏi vô lực, khí đoản, loạn ngôn, gày gò; sắc mặt nhợt nhạt, tư hãn, đạo hãn, miệng khát thích uống, tâm quí thất miên; đại tiện táo; lưỡi hồng ít tân, rêu mỏng hoặc màu xám lục, mạch huyền tế hoặc tế sác vô lực

+ Phương pháp điều trị: ích khí dưỡng âm

+ Phương thuốc: “Lục vị địa hoàng thang” hợp với “Sinh mạch tán” gia giảm

Thục địa: 15g Sơn dược: 20g

Sơn thù nhục: 10g Trạch tả: 10g

Vân linh: 15g Thái tử sâm: 10 - 20g

Ngũ vị tử: 10g Mạch môn đông: 10g

+ Gia giảm:

- Nếu sốt về chiều, đạo hãn thì gia thêm: hoàng bá 10g, tri mẫu 10g

- Nếu mất ngủ thì gia thêm: nữ trinh tử, hạn liên thảo đều 15g

- Nếu lưng gối đau mỏi thì gia thêm: tang thầm tử, câu kỷ tử, đỗ trọng đều 10g

2.2.3 Thể khí âm lưỡng hư kiêm ứ:

+ Ngoài triệu chứng của khí âm lưỡng hư còn có thể thấy ở 50% bệnh nhân

có triệu chứng: tức ngực khí nộ; đau vùng trước tim; đầu choáng, đau đầu thị lực giảm; chi thể tê mỏi, bán thân bất toại; lưỡi đa phần xám tía, rìa lưỡi có nhiều ban điểm ứ huyết, tĩnh mạch dưới lưỡi căng chướng ngoằn ngoèo; mạch tế sáp bất lợi

+ Phương pháp điều trị: ích khí dưỡng âm - hoạt huyết hóa ứ

+ Phương thuốc: “Đào nhân thừa khí thang” hợp phương “Sinh mạch tán” gia giảm:

Đào nhân: 10g Hồng hoa: 10g

Tây thảo: 10g Tô mộc: 10g

Điền thất bột (xung): 3g Đan sâm: 15g

Quế chi: 10g Xuyên khung: 10g

Mạch đông: 10g Nhân sâm: 10g

Trang 34

48

Ngũ vị tử : 10g

+ Gia giảm:

- Nếu nặng đầu, đau đầu thì gia thêm: xuyên khung, thảo quyết minh

- Nếu chi thể tê mỏi thì gia thêm: kê huyết đằng, uy linh tiên, ngọc trúc

2.2.4 Thể âm - dương lưỡng hư:

+ Triệu chứng: hình hàn, chi lạnh; sắc mặt trắng sáng hoặc xám đen, tai ù; lưng đau, di tinh, liệt dương, tảo tiết; đại tiện lỏng nát, bụng trướng, lười ăn, đái ít, thủy thũng, tứ chi không ấm; chất lưỡi nhợt hồng, hình lưỡi mềm bệu, rìa lưỡi có hằn răng, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc trắng nhờn; mạch trầm tế hoặc

tế sác vô lực

+ Phương pháp điều trị: ôn dương - tư âm - cố thận

+ Phương thuốc: “Kim quĩ thận khí hoàn” gia vị

- Nếu di tinh tảo tiết thì gia thêm: thỏ ty tử, nữ trinh tử, kim anh tử

- Nếu đái đêm nhiều thì gia thêm: tang phiêu tiêu, ích chí nhân, phục bồn tử

- Nếu thủy thũng thì gia thêm: ích mẫu thảo, ngọc mễ tu, sa tiền tử

- Nếu huyết ứ thì gia thêm: đan sâm, hồng hoa, kê huyết đằng

- Nếu khí âm lưỡng hư dùng các huyệt: tỳ du, trung quản, túc tam lý, địa cơ Trong đó: tỳ du, túc tam lý, địa cơ dùng bổ pháp; ngoài ra người ta còn dùng tả

Trang 35

- Điều trị: phải thông điều tạng phủ, ích khí hoà huyết, trọng dụng các huyệt:

tỳ du, thận du, cách du, túc tam lý, tam âm giao; thường dùng cứu cách gừng hoặc cứu mồi ngải, mỗi ngày 2 lần, mỗi đợt 5 - 10 ngày

3.2 Phương pháp áp dán huyệt vị:

Dùng huyệt: phế du, tỳ du, thận du, cách du, thần khuyết

Đem thiên hoa phấn, huyền sâm, bạch giới tử và xuyên tiêu, tất cả tán thành bột mịn hoặc chế thành dạng cao Khi điều trị dùng 1 lượng thuốc bột nhất định trộn với nước gừng sống để thành dạng sột sệt đắp dán vào những huyệt trên Mỗi lần chọn 3 huyệt, mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần, 1 tháng là 1 liệu trình

3.3 Đơn thuốc kinh nghiệm:

+ Khổ qua (mướp đắng) phơi khô tán bột, chế thành viên hoặc dạng bột cho vào túi sắc, liều uống tùy theo tình trạng bệnh, 2 tháng là một liệu trình

+ Ngũ bội tử 3g, sắc nước uống, mỗi ngày 2 lần (còn gọi là diêm phụ mộc) + Tang phiêu tiêu 60g, tán bột, hoà nước sôi uống mỗi lần uống 10g đến khi khỏi

+ Hoài sơn dược 120g, tán bột hoà nước uống mỗi lần 10g

+ Hắc đại đậu, thiên hoa phấn, liều như nhau; tán bột làm viên, dùng nước sắc sâu tằm 3g, đậu đen 20g để uống thuốc viên Mỗi ngày từ 20g - 40g dạng viên hoàn + Sinh hoàng kỳ 30g, sinh ý dĩ 30g, sinh trư tụy tạng 1 cái (tụy lợn sống) Đem tụy lợn giã nát (không dùng dụng cụ sắt) rồi cùng sắc với 2 vị thuốc trên, mỗi ngày 1 thang

3.4 Khí công và vận động liệu pháp:

Luyện tập để điều trị theo sự hướng dẫn của thầy thuốc

4 Chọn lọc tinh hoa lâm sàng

Trang 36

50

4.1 Theo kinh nghiệm của Lý Kỳ :

+ Tác giả tổ chức bài thuốc gồm 2 bài: “Tăng dịch thang” và “Sinh mạch tán”, gia thêm các vị thuốc: hoàng kỳ, sơn dược, thương truật, huyền sâm

- “Tăng dịch thang” gồm: mạch đông, sinh địa, huyền sâm (củng cố âm dịch cho 3 tạng, thanh táo nhiệt ở thượng - trung và hạ tiêu)

- “Sinh mạch tán”: đẳng sâm, mạch đông, ngũ vị tử (nguyên bổ ích khí, sinh tân liễm tinh của 3 tạng: phế, tỳ, thận)

Hoàng kỳ + sơn dược là kiện tỳ ích khí sinh tân, bổ thận ích tinh chỉ di

Thương truật phối hợp với huyền sâm để tư âm giáng hoả, kiện tỳ, liễm tinh Toàn phương có tác dụng: tư âm thanh nhiệt, kiện tỳ ích khí, bổ thận cố tinh + Căn cứ vào nghiên cứu dược lý hiện đại, trùng phương cơ bản có: thương truật, hoàng kỳ, huyền sâm, sinh địa, mạch môn đều có tác dụng hạ đường máu, hoạt huyết và kháng khuẩn rất tốt (có quan điểm dùng tạng để bổ tạng) (Lý Dục Tài, tạp chí Trung y Liên Ninh, 1986)

4.2 Theo báo cáo của Lý Kỳ dùng bài thuốc gồm:

+ Sơn thù nhục, ngũ vị tử, đan sâm, mỗi vị đều 30g, hoàng kỳ 40g

- Nếu thể âm hư dùng thêm “Sinh mạch tán” gia giảm

- Nếu nhiệt thịnh dùng “Nhân sâm bạch hổ thang” gia giảm

- Nếu khí hư thêm “Thăng hãm thang” gia vị

- Nếu huyết ứ dùng hạ đường huyết thang (đan sâm, xích thược, hồng hoa, xuyên ngưu tất, mộc qua, quế chi) Trong thời gian uống thuốc không dùng tụy đảo tố (insulin), 1 tháng là 1 liệu trình Tác giả nhận thấy: tỷ lệ điều trị có hiệu quả là 85% (theo Lý Thảo Lâm, tạp chí Trung y Liên Ninh, 1992)

4.3 Bài thuốc Trương Mãnh Lâm:

Sao thương truật, sinh địa, ngọc trúc, mỗi vị đều 20 - 40g; sao bạch truật, thục địa, huyền sâm, mỗi vị đều 15g - 30g; hoài sơn, hoàng kỳ mỗi thứ đều 30 - 50g; bắc sa sâm 30 - 40g, ngũ vị tử 15 - 25g, tang phiêu tiêu 10 - 15g; mỗi ngày 1 thang sắc 3 lần, uống từ từ kiểu uống trà

Bài thuốc trên đã điều trị cho 80 bệnh nhân: trước điều trị có glucoza máu = 10,08 - 15,68 mmol/l; sau khi uống thuốc 10 thang thì glucoza máu = 5,6 - 6,72 mml/l được 39 bệnh nhân; hạ đường từ glucoza máu = 8,4 - 9,52 mml/l được 41 bệnh nhân, các triệu chứng chủ yếu và đường niệu cũng được khống chế (báo Dược học Trung y, 1987)

Trang 37

51

4.4 Theo tạp chí Trung y, 1997 (tài liệu của Trọng Thị Hoa):

+ Bài thuốc gồm có: sinh hoàng kỳ 30g, sinh địa 30g, thương truật 15g, nguyên sâm 30g, cát căn 15g, đan sâm 30g

tử, hạn liên thảo, tỳ giải, thạch vĩ Nếu huyết áp cao thì thêm ngưu tất, tang ký sinh, hạ khô thảo, hoàng cầm, câu đằng hoặc dùng “Kỷ cúc địa hoàng hoàn thang” gia vị

+ Bệnh ở thời kỳ sau xuất hiện phù thũng, thường dùng “Phòng kỷ hoàng kỳ thang” hợp với “Lục vị địa hoàng thang” hoặc “Quế phụ địa hoàng thang” gia giảm

- Nếu thiếu máu nghiêm trọng dùng “Sâm kỳ tứ vật thang” gia thêm: chế thủ

ô, nữ trinh tử, tang thầm tử, kỷ tử, bạch truật, tiên cước thảo; nếu ure niệu tăng cao, rêu lưỡi nhờn thì dùng “Hương sa lục quân” gia thêm: xương bồ, phong lan, trúc nhự, toàn phúc hoa, đại xích thạch

- Nếu có biến chứng huyết quản ngoại vi, tê nhức tứ chi thì thêm: quế chi, uy linh tiên, chế phụ tử, tế tân, khương hoạt hoặc tô mộc, lạc thông, lưu kỷ nữ, địa long, sinh sơn tra, xuyên sơn giáp

- Nếu có biến chứng thần kinh ngoại vi thì thêm “Hợp phương tứ đằng tiên thang” (kê huyết đằng, lạc thạch đằng, hải phong đằng, câu đằng và uy linh tiên)

- Nếu có phúc tả thì phương thuốc trên bỏ: huyền sâm, sinh địa; gia thêm: thục địa, bạch truật, tô ngạnh, bạch chỉ, sinh ý dĩ, kha tử nhục, nhục đậu khấu, sơn dược, khiếm thực Nếu nặng dùng “Tứ thần hoàn” hợp phương “Cát căn cầm liên thang” hoặc “Bạch đầu ông thang”

BỆNH NHƯỢC NĂNG TUYẾN GIÁP (Viêm tuyến giáp Hashimoto)

Trang 38

52

1 Đại cương

1.1 Theo Y học hiện đại:

+ Viêm tuyến giáp Hashimoto còn gọi là viêm tuyến giáp tiên phát, là bệnh viêm tuyến giáp có thâm nhiễm limpho bào hay viêm tuyến giáp tự miễn, hay gặp ở nữ (nữ nhiều hơn nam 4 lần) Bệnh có liên quan tới yếu tố gia đình, liên quan đến hệ HLA với globulin, được Hashimoto phát hiện năm 1912

+ Bằng phương pháp ngưng kết hồng cầu, người ta đã xác định được 2 loại kháng thể ở những bệnh nhân nhược năng giáp trạng: kháng thể kháng thyroglobulin (antiTg) và kháng thể kháng microsom của tế bào tuyến giáp (anti M) Nồng độ anti Tg dương tính chiếm khoảng 60% số bệnh nhân và nồng độ anti M dương tính chiếm khoảng 94% số bệnh nhân Anti Tg là một kháng thể IgG; còn anti M phải có 1 bổ thể có khả năng gây độc tế bào Tế bào giáp trạng là đích để kháng thể và bổ thể phá hủy gây cơ chế miễn dịch độc (được phát hiện ở một số bệnh nhân), đôi khi do lắng đọng phức hợp miễn dịch gây viêm cầu thận Hiện nay, người ta đã phát hiện được trong huyết thanh của những bệnh nhân bị bệnh này có 7 loại kháng thể TGA (thyroglobulin antigen)

+ T3, T4, TSI tăng

+ Tiêu chuẩn chẩn đoán:

- Tuổi trung niên, đa phần là nữ có tuyến giáp trạng to, bất luận chức năng tuyến giáp trạng như thế nào cũng có thể nghĩ đến viêm tuyến giáp trạng

- Kiểm tra xét nghiệm:

TGA huyết thanh: 70 - 80% số bệnh nhân có phản ứng dương tính TMA huyết thanh: 90% số bệnh nhân trên có phản ứng dương tính (kháng thể kháng giáp lưu hành hiệu giá cao: antiTg, antiM)

Cố định iot phóng xạ thường cao

Chụp nhấp nháy gắn phóng xạ đồng đều

1.2 Theo Y học cổ truyền :

Y học cổ truyền căn cứ vào biểu hiện lâm sàng qui về các phạm trù “Hư lao” Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của nó là tinh thần uất ức kéo dài, tình chí thất thường, can mất điều hoà dẫn đến can khí uất kết, khí trệ huyết ứ Nếu như can khí uất kết lâu ngày, khí uất hóa hoả, tổn thương âm dịch sẽ sinh âm hư nội nhiệt

Trang 39

+ Bướu to dưới cổ, mật độ rắn chắc, không đau, nuốt có thể di động Thời

kỳ đầu, triệu chứng nghèo nàn hoặc có thể thấy tình chí uất ức, hay giận dữ cáu gắt, sợ nóng, ngực sườn đầy tức, đa hãn tâm quí, tâm thống, rêu vàng mỏng, mạch huyền

+ Phương pháp điều trị: sơ can lý khí - khư ứ tán kết

+ Phương thuốc: “Sài hồ sơ can tán” hoặc “Tiêu giao tán” gia giảm

Trọng dụng:

Sài hồ: 10g Xích thược: 10g

Chỉ sác: 10g Hương phụ: 10g

Đương qui: 10g Chích cam thảo: 6g

+ Gia giảm: gia xuyên luyện tử, hạ khô thảo Có thể có tâm phiền tình chí uất

ức thì thêm: viễn trí, toan táo nhân; nếu tâm quí, tâm loạn thì gia thêm: chích cam

thảo dùng đến 12 - 15g, thiên môn đông, mạch môn đông

2.2 Thể âm hư sinh nội nhiệt:

+ Bướu to dưới - trước cổ, chắc, không đau, tinh thần khẩn trương, hư phiền bất kiềm chế, triều nhiệt tư hãn, nam giới di tinh, nữ giới kinh ít hoặc bế kinh hoặc 2 mắt lồi sáng, 2 tay run, tâm quí tâm hoảng, lưỡi hồng ít tân, mạch tế sác hoặc huyền tế sác Thể này ít gặp

+ Phương pháp điều trị: tư âm thanh nhiệt - nhuyễn kiên tán kết

+ Phương thuốc: “Kỷ cúc địa hoàng thang” gia giảm

Trọng dụng:

Kỷ tử: 15g Cúc hoa: 10g

Sinh địa: 15g Đan bì: 10g

Phục linh: 10g Hoài sơn: 25g

Mạch môn đông: 10g Hoàng tinh: 20g

Sơn thù nhục: 10g

Trang 40

54

+ Gia giảm:

- Nếu hư hoả tương đối vượng thì gia thêm: tri mẫu, hoàng bá

- Bướu cổ to thì gia thêm: qui bản, hạ khô thảo, mẫu lệ

- Nếu di tinh, hoạt tinh thì gia thêm: kinh anh tử, khiếm thực

2.3 Tỳ thận dương hư:

+ Trước - dưới cổ có bướu to, sắc mặt nhợt trắng (trắng bủng), hình hàn chi lạnh, lưng gối đau mỏi, đầu choáng mắt hoa; nam giới dương nuy hoặc là ít tinh, lãnh tinh; nữ giới kinh nguyệt không đều, thường quá nhiều sắc nhợt hoặc bế kinh, đới hạ; da xanh chi lạnh hoặc tinh thần ủy mị; mặt phù, chi nặng, chất lưỡi nhợt, rêu trắng hoạt hoặc nhờn; mạch trầm tế hoặc trầm tế nhược Thể này thường gặp nhiều hơn các thể khác

+ Phương pháp điều trị: ôn bổ tỳ thận

Hoài sơn dược: 15g Trạch tả: 10g

- Tỳ thận dương hư: chọn bài “Tả qui hoàn” gia giảm

Thục địa: 15g Hoài sơn dược: 15g

- Nếu thiếu khí loạn ngôn, tinh thần ủy mị thì gia thêm: hoàng kỳ, đẳng sâm

- Sợ lạnh, sợ rét, lưng gối đau mỏi thì gia thêm: tang ký sinh, dâm dương hoắc

- Nếu mặt phù, chi thũng thì bỏ cam thảo và gia thêm: phục linh, trạch tả

- Nếu khí - huyết đều hư thì chọn dùng “Thập toàn đại bổ”

Ngày đăng: 10/01/2021, 04:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w