Người ta thấy rằng ĐTĐ týp 2 đang tăng lên mạnh ở các nước có những thay đổi chủ yếu về chế độ ăn, giảm hoạt động thể lực, tăng thừa cân và béo phì, nhất là các chế độ ăn có đậm độ năn[r]
Trang 1Chương IV
DINH DƯỠNG TRONG MỘT SỐ BỆNH
RỐI LOẠN CHUYỂN HOÁ
CHẾ ĐỘ ĂN TRONG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1 Đại cương
1.1 Khái niệm
Đái tháo đường (Diabetes mellitus) là một bệnh nội tiết chuyển hoá do rối loạn chuyển hoá, đặc trưng bởi sự tăng đường máu (hyperglycemia) do thiếu hụt insulin tương đối hay tuyệt đối gây ra
Do rối loạn chuyển hoá glucose: glucose máu tăng cao và xuất hiện có glucose trong nước tiểu Rối loạn chuyển hoá đường kéo theo rối loạn chuyển hoá lipid, protid và các chất điện giải Những rối loạn này có thể dẫn tới hôn mê
và tử vong nếu không được điều trị kịp thời Hậu quả của các rối loạn này là tổn thương các vi mạch và các mạch máu lớn
Đái tháo đường (ĐTĐ) týp 2 tăng lên cả về tỷ lệ mắc và tỷ lệ mới mắc trên toàn cầu, chúng đặc biệt tăng mạnh ở các nước đang trong thời kỳ quá độ về kinh
tế và ở các nước đang phát triển Trên thế giới, có 15,6 triệu người lớn bị đái tháo đường (trong đó có 10,2 triệu người được chẩn đoán và 5,4 triệu người không được chẩn đoán) Con số này được dự đoán sẽ tăng gấp hai vào năm 2025 với số các trường hợp bệnh lớn nhất ở Trung Quốc và Ấn Độ
Tỷ lệ đái tháo đường đang gia tăng ở Mỹ và trên thế giới Tỷ lệ dân số Mỹ từ
40 - 74 tuổi bị đái tháo đường tăng từ 8,9% (1976 - 1980) lên 12,3% (1988 - 1994) Tỷ lệ đái tháo đường thường xuyên tăng lên nhanh ở các nước đang phát triển do sự công nghiệp hóa và kiểu sống ít hoạt động, đồng thời tỉ lệ béo phì cũng gia tăng
Ở Việt Nam, theo thống kê năm 2002 của Bệnh viện Nội tiết: tỷ lệ đái tháo đường
ở bốn thành phố lớn (Hà Nội, Thành phố HCM, Hải Phòng, Đã Nẵng) là 4,1%
Điều tra toàn quốc năm 2002: tỷ lệ đái tháo đường là 2,7% Năm 2007, theo
Tạ Văn Bình: tỷ lệ đái tháo đường chung là 5,7%, tỷ lệ người chưa được phát hiện đái tháo đường là 60%
Trước đây, đái tháo đường týp 2 là bệnh của lớp tuổi trung niên và người cao tuổi, nhưng gần đây đã tăng lên ở tất cả các nhóm tuổi Người ta đã phát hiện
Trang 2được bệnh ở các nhóm tuổi ngày càng trẻ, bao gồm cả vị thành niên và trẻ em, đặc biệt ở quần thể có nguy cơ cao
- Týp 2: là ĐTĐ không phụ thuộc insulin chiếm 90% tổng số người ĐTĐ nguyên phát, thường gặp ở người béo Tuy nhiên, người gầy cũng gặp khoảng
15 - 20% Giai đoạn sớm của đái tháo đường týp 2 được đặc trưng bởi sự sản xuất insulin quá mức Khi bệnh tiến triển, mức insulin có thể giảm xuống như là kết quả của sự suy giảm một phần các tế bào õ sản xuất ra insulin của tụy
+ ĐTĐ thứ phát (các týp khác):
- Bệnh ở tụy: sỏi tụy, viêm tụy, phẫu thuật tụy
- Do nội tiết: bệnh Cushing, hội chứng Cushing, u thượng thận, nhiễm độc hormon tuyến giáp
- Do dùng thuốc corticoid, lợi tiểu thải kali, thuốc chẹn bêta
- ĐTĐ trong thai nghén: rối loạn dung nạp glucose trong thời kỳ mang thai
1.3 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
+ ĐTĐ týp 1 (phụ thuộc insulin):
Ở những bệnh nhân ĐTĐ týp này thường có các đặc điểm sau:
- Ăn nhiều, đái nhiều, gầy nhiều
- Đường huyết tăng, đường niệu dương tính
- Toan máu, tăng xeton, có thể có xeton niệu
- Rối loạn nước, điện giải
- Có thể có hôn mê
- Điều trị phải có insulin
+ ĐTĐ týp 2 (không phụ thuộc insulin):
Bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có những đặc điểm sau:
- Béo quá mức
Trang 3- Đường máu tăng, đường niệu dương tính hoặc không
- Insulin máu tăng hoặc bình thường chủ yếu là tăng proinsulin
- Thông thường không có xeton niệu
- Điều trị chủ yếu bằng chế độ ăn và thuốc hạ đường huyết (diamicron, mediator ) khi cần
- Tắc mạch chi: người ĐTĐ có nguy cơ hoại tử chi thường phải cắt cụt
Cần có chế độ ăn hạn chế tăng đường máu để đề phòng các biến chứng trên
1.4 Cơ chế gây bệnh
+ Đối với ĐTĐ đường týp 1:
Tụy không sản xuất đủ insulin hoặc không có insulin nên các mô (đặc biệt là gan và cơ) không tiếp nhận glucose Do đó sau ăn glucose máu tăng cao, khi vượt quá ngưỡng thận sẽ bị đào thải ra nước tiểu Cơ thể trong tình trạng thiếu glucose
do đó kích thích ăn nhiều bệnh nhân ăn nhiều xong lại đái nhiều, gầy nhiều vì cơ thể phải sử dụng các nguồn năng lượng từ lipid, chủ yếu là từ nguồn oxy hoá các acid béo Quá trình này đã làm tăng lipid máu đặc biệt là tăng VLDL (Very Low Density Lipoprotein là lipoprotein có tỷ trọng rất thấp chứa 55 - 65% là triglycerid)
Như vậy, điều trị ĐTĐ týp 1 không những phải dùng chế độ ăn hợp lý
mà còn phải kết hợp với dùng insulin
+ Đối với ĐTĐ týp 2:
Người ta cho rằng có hai nguyên nhân chủ yếu gây ĐTĐ týp 2:
- Rối loạn tiết insulin
- Suy giảm chức năng tế bào của tuyến tụy gây giảm tiết insulin nhưng tăng tiết proinsulin, proinsulin không có tác dụng hạ đường huyết mạnh như insulin
Trang 4- Đề kháng insulin: bình thường ở những người khoẻ mạnh insulin được tiết
ra phụ thuộc vào lúc no hay đói, nhưng ở những người có ĐTĐ týp 2 insulin được tiết ra liên tục kể cả lúc đói gây ra sự trơ của các receptor ở các tế bào nhất
là tế bào cơ và gây ra hiện tượng đề kháng insulin
Hậu quả cuối cùng cũng giống ở ĐTĐ týp 1 là gây hàng loạt những rối loạn chuyển hoá của glucid, lipid, protid, điện giải và kéo theo hàng loạt các bệnh lý xảy ra trên lâm sàng
2 Vai trò của ăn uống trong bệnh đái tháo đường
+ Đái tháo đường týp 2 do sự tương tác giữa các yếu tố môi trường và di truyền Tỷ lệ mới mắc bệnh thay đổi nhanh chóng gợi ý vai trò đặc biệt quan trọng đối với yếu tố thứ hai cũng như tiềm năng để ngăn chặn cơn thủy triều của bệnh dịch toàn cầu này Người ta thấy rằng ĐTĐ týp 2 đang tăng lên mạnh ở các nước có những thay đổi chủ yếu về chế độ ăn, giảm hoạt động thể lực, tăng thừa cân và béo phì, nhất là các chế độ ăn có đậm độ năng lượng cao và nghèo vi chất dinh dưỡng, nhiều acid béo no và ít chất xơ
+ Ăn uống hợp lý góp phần:
- Duy trì sức khoẻ cho bệnh nhân, tránh bị thiểu dưỡng do ăn uống quá kiêng khem Trên thực tế có một số bệnh nhân khi bị bệnh ĐTĐ rất sợ ăn, kiêng khem nhiều và không dám ăn nhiều loại thực phẩm, lâu dài sẽ làm cho cơ thể thiếu các chất dinh dưỡng và ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ
- Tránh tăng đường huyết quá mức do không biết chọn thực phẩm Ăn ít cơm nhưng lại ăn nhiều miến, hoặc ăn quá nhiều khoai củ Tất cả là do thiếu kiến thức
về giá trị dinh dưỡng của từng loại thực phẩm gây nên vì không được tư vấn làm ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả điều trị bệnh
- Hạn chế được dùng thuốc: nếu bệnh nhân có chế độ ăn uống đúng sẽ làm glucose máu của bệnh nhân không tăng thêm và hạn chế phải dùng thêm thuốc
- Hạn chế các biến chứng: chế độ ăn hạn chế glucose sẽ góp phần hạn chế các biến chứng xảy ra Các tác giả cho rằng: khi glucose máu trên 27mmol/l thì rất dễ xuất hiện các biến chứng cấp tính
+ Ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 thì chế độ ăn là khâu cơ bản để khống chế tăng glucose huyết, làm giảm hoặc đề phòng các biến chứng, đặc biệt là các biến chứng tổn thương vi mạch (ở mắt, thận )
Trang 5+ Ở bệnh nhân ĐTĐ týp 1 nếu được phát hiện sớm (ĐTĐ tiềm ẩn hoặc ĐTĐ sinh hoá) thì cần chế độ ăn hợp lý để có thể kéo dài các giai đoạn này
Ở giai đoạn ĐTĐ lâm sàng thì các triệu chứng biểu hiện rầm rộ nhiều biến chứng, có những biến chứng hiểm nghèo như tắc mạch, suy thận Bệnh nhân ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, gầy nhiều, glucose máu cao, glucose niệu cao, toan huyết nặng, nước tiểu có xeton, có thể sớm đi vào hôn mê và tử vong
Ở giai đoạn ĐTĐ lâm sàng, thể phụ thuộc insulin hay không phụ thuộc insulin thì riêng chế độ dinh dưỡng không đủ để khống chế đường huyết mà phải điều trị tích cực thêm bằng thuốc Tuy nhiên nếu không có chế độ dinh dưỡng hợp lý ở giai đoạn này thì riêng thuốc không đủ để điều trị
Hiện nay các tác giả đều thống nhất rằng, để điều trị ĐTĐ lâm sàng phải kết hợp chặt chẽ cả ba vấn đề: chế độ ăn - thuốc - hoạt động thể lực
3 Nguyên tắc của dinh dưỡng điều trị
+ Đủ chất đạm, béo, bột, vitamin và các chất khoáng, đủ nước
+ Không làm tăng đường máu nhiều sau ăn
+ Không làm hạ đường máu lúc xa bữa ăn
+ Duy trì được hoạt động thể lực bình thường hàng ngày
+ Duy trì được cân nặng lý tưởng
+ Không làm tăng các yếu tố nguy cơ như rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, tổn thương thận
+ Phù hợp với khẩu vị của bệnh nhân
3.1 Tổng năng lượng hàng ngày
Đái tháo đường
Trang 6Phụ thuộc vào từng bệnh nhân béo hay gầy, tình trạng bệnh lý của bệnh nhân (đường máu và lipid máu), tính chất lao động và thói quen ăn uống hàng ngày của bệnh nhân
+ Hạn chế năng lượng nhất là những người béo phì
- Nam giới: 26kcal/kg/ngày
- Nữ giới: 24kcal/kg/ngày
+ Đối với những người ĐTĐ có lao động bình thường được thì có thể tính tổng năng lượng theo quy ước:
- Nằm điều trị tại giường: 25kcal/kg/ngày
- Lao động nhẹ và vừa: 30 - 35kcal/kg/ngày
- Lao động nặng: 35 - 40kcal/kg/ngày
3.2 Tỷ lệ thành phần thức ăn so với tổng năng lượng
Glucid: 50 - 60% năng lượng khẩu phần
Protein : 15 - 20% năng lượng khẩu phần
Lipid: 30% (với người trọng lượng bình thường và lipid máu bình thường); dưới 30 % (với người béo phì)
Acid béo no 10%
Acid béo không no đơn 10%
Acid béo không no đa 10%
Cholesterol: < 300mg/ngày
Chất xơ: 20 - 35g/ngày
3.3 Phân chia bữa ăn
Đối với bệnh nhân ĐTĐ cần chia thức ăn thành nhiều bữa để chống tăng đường huyết quá mức sau bữa ăn và chống hạ đường huyết khi đói, nhất là ở bệnh nhân dùng thuốc hạ đường huyết Nên ăn 5 - 6 bữa/ngày
Ăn sáng : 20% tổng năng lượng/ngày
Phụ sáng : 10% tổng năng lượng/ngày
Ăn trưa : 25% tổng năng lượng/ngày
Phụ chiều : 10% tổng năng lượng/ngày
Ăn tối : 25% tổng năng lượng/ngày
Phụ tối : 10% tổng năng lượng/ngày
3.4 Chọn thực phẩm
Trang 7+ Cung cấp glucid: giảm gạo, mỳ, ngô, khoai; không nên ăn miến
+ Cung cấp protein: các loại thịt nạc, sữa không đường, cá, đậu đỗ, lạc, vừng + Cung cấp lipid: nên dùng dầu thay mỡ, không ăn những sản phẩm nhiều cholesterol như óc và các loại phủ tạng (320 - 5000mg%)
+ Cung cấp vitamin và khoáng: các loại rau, củ, quả tươi, hạn chế ăn những quả quá ngọt như: chuối, mít, mía (glucid từ 11,4 - 22,4%)
+ Bớt rượu (1g cho 7kcal)
+ Chất tạo ngọt: để cho thức ăn có vị ngọt người ta dùng các “chất tạo vị ngọt” Các chất này có vị ngọt cao hơn nhiều lần so với đường saccharose nhưng lại không cung cấp năng lượng hoặc rất ít, một số chất bị phá hủy khi đun nóng, một số chất có dư vị khó chịu
Bảng 4.1: Một số chất tạo vị ngọt được dùng thông dụng hiện nay
Tên chế phẩm Độ ngọt hơn saccharose
Phá hủy bởi nhiệt độ cao
Các chất này được dùng trong đồ uống và trong công nghiệp thực phẩm (bánh, kẹo, kem ) với liều cao kéo dài có thể gây tác hại trên súc vật thí nghiệm: ung thư bàng quang, quái thai Nếu dùng vừa phải cho tới nay người ta chưa thấy
có tác dụng có hại trên bệnh nhân ĐTĐ
Trên đồ giải khát có chữ “light” đều chứa chất tạo vị ngọt thay cho đường saccharose và người ĐTĐ có thể dùng: D Light, Funlight, Colalight trừ fantalight có chứa ít fructose, cinderlight có rượu, có độ đường tương đương với sữa
Nhưng khi có chữ “ light ” trong các thức ăn thì chỉ có nghĩa là độ đường và các chất béo giảm 25 - 50% so với thức ăn bình thường, quy định này thay đổi tùy theo mỗi nước
+ Chỉ số đường huyết (glycemic index):
Các loại thức ăn mặc dù có lượng glucid bằng nhau nhưng sau khi ăn sẽ tăng đường huyết ở mức độ khác nhau Khả năng làm tăng đường huyết sau khi ăn
Trang 8một loại thức ăn được gọi là chỉ số đường huyết của loại thức ăn đó Chỉ số đường huyết được coi là một chỉ tiêu để chọn thực phẩm cho bệnh nhân ĐTĐ Theo Jenkins và cộng sự: chỉ số đường huyết là mức đường huyết 3 giờ sau khi ăn một lượng thức ăn nhất định nghiên cứu so sánh với mức đường huyết 3 giờ sau khi ăn một lượng thức ăn được coi là chuẩn (bánh mỳ trắng là 100%) Chỉ số đường huyết phụ thuộc vào sự phức hợp của thành phần glucid và phụ thuộc vào các thành phần chất xơ, chất đạm, chất khoáng, quá trình chế biến, tỷ
số giữa amylose và amylopectin Người ta cho rằng hàm lượng chất xơ có thể coi
là chỉ điểm thay thế cho chỉ số đường huyết của thực phẩm Các thực phẩm nhiều chất xơ, đặc biệt là loại chất xơ hoà tan có chỉ số đường huyết thấp
Nên dùng các loại thức ăn có chỉ số đường huyết thấp trong chế độ ăn của người ĐTĐ để kiểm soát đường huyết
Bảng 4.2: Chỉ số đường huyết của một số loại thức ăn
(Theo F Bornet, Jenkins et al 1981 có sửa đổi Traité de Diabétologie Edition Pradel 1990)
Trang 9Để tính chỉ số đường huyết của một loại thực phẩm người ta thường lấy máu lúc đói, 15, 30, 60, 120 phút sau ăn của thực phẩm đó so sánh với glucose, rồi tính diện tích tăng lên dưới đường cong (UAUC: Incremental Area Under Curve) của đường huyết của thực phẩm so với glucose Chỉ số đường huyết của thực phẩm cụ thể sẽ được tính theo công thức sau:
GITP = IAUCTP x 100/ IAUCG (Wolever 1991)
Trong đó: IAUCTP trung bình cộng UAUC (diện tích tăng lên dưới đường cong của thực phẩm)
IAUCG trung bình cộng IAUC (diện tích tăng lên của glucose)
GI: chỉ số đường huyết
TP: thực phẩm
G: glucose
Bảng 4.3: Chỉ số đường huyết của một số thực phẩm (Các tác giả lấy chỉ số đường
huyết của glucose là chuẩn = 100)
Mỳ (toàn phần) 72 + 6 Khoai tây (trắng) 70 + 8
Trang 10Đậu Hà Lan ướp lạnh 51 + 6 Sản phẩm bơ sữa
Đậu Hà Lan mắt đen 33 + 4
Người ta cho rằng, chỉ số đường huyết chỉ có ứng dụng hạn chế trong việc kiểm soát chuyển hoá glucose và khi sử dụng cho một chế độ ăn phức hợp cần chú ý đến vai trò các chất xơ
4 Thực đơn
Cách tính toán để xây dựng khẩu phần cụ thể cho bệnh nhân ĐTĐ (nặng 50kg, lao động nhẹ) như sau:
4.1 Tổng năng lượng cần thiết cho một ngày
Kcal/kg x cân nặng cơ thể = 30kcal/kg x 50kg = 1500kcal
4.2 Năng lượng do glucid cung cấp
Năng lượng cung cấp do glucid bằng 60% tổng số năng lượng, sẽ là:
1500 kcal x 60% = 900kcal
Lượng glucid trong chế độ ăn là:
900 kcal : 4kcal/g = 225g
4.3 Năng lượng do protein cung cấp
Năng lượng do protein cung cấp bằng18% tổng số năng lượng, sẽ bằng: 1500kcal x 18% = 270kcal
Lượng protein trong khẩu phần là:
270kcal: 4kcal/g = 67,5g
4.4 Năng lượng do lipid cung cấp
Trang 11Năng lượng do lipid cung cấp bằng tổng năng lượng trừ đi năng lượng do protein và glucid cung cấp:
1500kcal - (900kcal + 270kcal) = 330kcal
330kcal : 9kcal/g = 36,6g
Cơ cấu của chế độ ăn như sau:
Tổng năng lượng: 1500kcal/ngày
Trong đó:
Glucid : 60%
Protid : 18%
Lipid : 22%
Trang 12Bảng 4.4: Thực đơn cho bệnh nhân ĐTĐ (cân nặng 50kg, lao động nhẹ)
Giờ ăn Món ăn
50g 20g 30g
Đổi thịt hoặc chả
11 giờ
Cơm Thịt nạc Rau luộc
Gạo tẻ máy Lợn nạc Rau tươi Gia vị
100g 50g 250g Vừa đủ
Thịt lợn nạc (luộc, rang, quấn chả, nem)
Rau theo mùa
17 giờ
Cơm
Cá kho Măng xào
Gạo tẻ
Cá (trôi, chày) Dầu Măng tươi Gia vị
100g 70g 7g 250g vừa đủ
Cá (kho, rán) hoặc (luộc, rán, kho, rim cà chua)
Giá trị dinh dưỡng đạt được:
Protein: 81,6g (21,4% năng lượng khẩu phần)
Lipid: 31,0g (18,6% năng lượng khẩu phần)
Glucid: 228,4g (60,0% năng lượng khẩu phần)
Chất xơ: 16g
Năng lượng: 1519kcal
Trang 135 Hàm lượng glucid trong các nhóm thực phẩm (g/100g thực phẩm)
5.1 Nhóm cung cấp đạm (rất ít glucid có thể ăn bình thường)
5.2 Nhóm cung cấp vitamin và chất khoáng
+ Rau tươi các loại (rất ít glucid nên ăn nhiều hơn bình thường Ngoài cung cấp vitamin và chất khoáng còn cung cấp chất xơ và tạo cảm giác no)
Rau mồng tơi 1,4g% Cải soong 1,4g%
Trang 14+ Quả tươi (có thể ăn vừa phải):
+ Quả tươi (nên hạn chế):
5.3 Nhóm cung cấp chất béo (glucid không đáng kể )
Nhóm này chủ yếu là: bơ, dầu thực vật, mỡ bình thường, nhưng nên hạn chế mỡ
5.4 Nhóm cung cấp đường (hạn chế nghiêm ngặt tùy theo mức đường huyết của bệnh nhân)
Trang 15Ngô nếp luộc 32,9g% Siro chanh đặc 64,0g% Khoai lang 28,5g%
6 Dự phòng và quản lý đái tháo đường týp 2
6.1 Dự phòng
Như trên đã trình bày, ĐTĐ týp 2 là hậu quả của mối tương tác giữa di truyền
và các yếu tố môi trường Trước sự thay đổi nhanh về tỷ lệ mắc bệnh ở các nước phát triển làm người ta chú ý tới vai trò đặc biệt quan trọng của các yếu tố môi trường như: sự thay đổi nhanh về chế độ ăn, giảm hoạt động thể lực, thừa cân và béo phì tăng lên Chế độ ăn thường có đậm độ năng lượng cao, nhiều acid béo no
và ít chất xơ
Vì vậy, chiến lược dự phòng ĐTĐ týp 2 dựa trên những vấn đề cơ bản sau: + Tăng cường hoạt động thể lực: nên vận động thể lực vừa phải đều đặn tối thiểu 30 phút mỗi ngày trong tuần Hoạt động thể lực vừa làm tăng tiêu hao năng lượng vừa, làm tăng tính nhạy cảm của insulin và cải thiện tình trạng sử dụng glucose ở các cơ
+ Thực hiện chế độ ăn lành mạnh: ăn ít đường và ít chất béo bão hoà, có đủ lượng chất xơ Khẩu phần tối thiểu chất xơ hàng ngày cần có là 20g, nhờ ăn thường xuyên các loại rau, đậu và các loại quả Đảm bảo khẩu phần chất béo no không vượt quá 10% tổng năng lượng đối với các nhóm nguy cơ cao, nên dưới 7% tổng năng lượng
+ Duy trì cân nặng hợp lý: BMI nên trong khoảng 21 - 23 đối với người trưởng thành Tự nguyện giảm cân ở những người thừa cân, béo phì hoặc rối loạn dung nạp glucose
+ Không hút thuốc lá: người ĐTĐ có nguy cơ chết do mạch vành, đột qụy hơn người thường Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ đó
+ Có chiến lược điều trị và dự phòng thừa cân và béo phì, đặc biệt ở các nhóm có nguy cơ cao
Người ta thấy rằng, việc sửa đổi lối sống là nền tảng cho cả việc điều trị và các nỗ lực để dự phòng ĐTĐ týp 2 Tuy nhiên, những thay đổi cần thiết để giảm nguy cơ phát triển ĐTĐ týp 2 ở mức quần thể lại không thể đạt được nếu như không có những thay đổi chính về môi trường để tạo điều kiện cho sự lựa chọn thích hợp của các cá nhân
Trang 166.2 Quản lý chế độ ăn ở bệnh nhân đái tháo đường
+ Đặc điểm chế độ ăn cho bệnh nhân ĐTĐ là phụ thuộc theo loại bệnh và từng cá thể Phù hợp với cá thể là nguyên tắc bản lề khi xây dựng chế độ ăn cho người ĐTĐ Ở bệnh nhân ĐTĐ týp 1, chế độ ăn cần có lượng glucid phù hợp với liều lượng và hoạt tính insulin Ở phần lớn những người bị ĐTĐ týp 2 cần kiểm soát cân nặng và theo dõi các bệnh đi kèm là tăng huyết áp và rối loạn lipid máu + Mục tiêu chung của kiểm soát ĐTĐ là:
- Kiểm soát mức đường huyết: mục tiêu chung của chăm sóc ĐTĐ kể cả týp
1 và týp 2 bằng chế độ ăn hay bằng thuốc là loại trừ được các triệu chứng của đường huyết cao Nếu bệnh nhân vẫn đái nhiều, khát, uống nhiều và giảm cân là điều trị ĐTĐ chưa đầy đủ Kiểm soát được đường huyết sẽ làm giảm được nguy
cơ các biến chứng của ĐTĐ như bệnh võng mạc, bệnh thận, bệnh thần kinh ngoại vi
- Chế độ dinh dưỡng đầy đủ: mục tiêu về năng lượng cần xem xét tùy theo thể loại ĐTĐ, tình trạng thừa cân hay thiếu cân Chế độ ăn ở phụ nữ có thai và trẻ
em bị đái tháo đường cần thích hợp cho sự phát triển Ngay cả với người thừa cân, chế độ ăn cần hạn chế về năng lượng nhưng vẫn rất cần có đủ các chất dinh dưỡng
- Phòng ngừa các bệnh kèm theo: nguyên nhân mắc bệnh và tử vong thường gặp người ĐTĐ không phải là tăng đường huyết cấp tính hay nhiễm độc ceton cấp mà là các biến chứng về sau của ĐTĐ (như bệnh võng mạc, bệnh thận do ĐTĐ) hoặc các bệnh mà ĐTĐ có vai trò thúc đẩy (như vữa xơ động mạch) Vì vậy, những bệnh nhân ĐTĐ phải áp dụng chế độ ăn giảm thiểu nguy cơ vữa xơ động mạch và tăng huyết áp
- Không nên áp dụng máy móc một khẩu phần "mẫu" nào đó, mà nên vận dụng cho phù hợp đối với từng bệnh nhân Gần đây, người ta quan tâm đến chỉ số đường huyết của thức ăn
Đối với người ĐTĐ, chế độ ăn là một yêu cầu thiết yếu trong phác đồ điều trị Đồng thời, chế độ ăn còn có vai trò quan trọng trong phòng ngừa và làm bệnh chậm phát triển ở những người mẫn cảm Trong chế độ dinh dưỡng dự phòng, khâu then chốt là tránh thừa cân, béo phì và kháng insulin
Cùng với một số bệnh khác, ĐTĐ đang tăng nhanh ở nước ta trong những năm gần đây Điều đó liên quan đến những thay đổi về chế độ ăn và lối sống