1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN cứu THỰC TRẠNG BIẾNG ăn và yếu tố LIÊN QUAN

34 128 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 204,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhiều nghiên cứu, nhận thức về biếng ăn chủ yếu là dựa vào cảm nhận chủquan của người mẹ nhưng hiểu biết của họ về tình trạng này lại còn rấtít và mơ hồ[5],các chuyên gia y tế hiện

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌCTHỰC TRẠNG BIẾNG ĂN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở TRẺ EM <5

TUỔI

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Giai đoạn từ 1 đến 5 tuổi là giai đoạn mà trẻ có nhiều thay đổi về nhu cầu dinhdưỡng và hành vi ăn uống Khi được 12 đến 24 tháng tuổi, nguồn thức ăn của trẻchuyển dần từ sữa mẹ sang các nguồn cung cấp từ bên ngoài, chế độ ăn của trẻ chuyển

từ chế độ ăn lỏng sang chế độ ăn nhiều loại thức ăn rắn và hỗn hợp khác nhau, còn khiđược 24 đến 26 tháng tuổi, trẻ có thể tự ăn bằng muỗng thay vì được người khác đútcho ăn [3], [5] Về mặt tâm thần, trí tuệ của trẻ phát triển nhanh, trẻ bắt đầu có khảnăng kiểm soát toàn bộ cơ thể, thể hiện tính tự chủ và những sở thích cá nhân Tronggiai đoạn này, việc cho ăn đúng cách và đảm bảo dinh dưỡng là đặc biệt quan trọng,tuy nhiên đây không phải là một việc dễ dàng Nếu trẻ không ăn uống tốt, cộng vớinhững cách cho ăn và giáo dục về ăn uống sai lầm của cha mẹ sẽ có thể khiến trẻkhông nhận được đầy đủ chất dinh dưỡng cho sự phát triển của cơ thể và có thể dẫn tớisuy dinh dưỡng hoặc chậm phát triển [5]

Hiện nay, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em vẫn còn ở mức cao, thiếu thức ăn và bệnhtật là hai nguyên nhân quan trọng gây suy dinh dưỡng, bên cạnh đó khả năng hay việcsẵn sàng tiếp nhận những thức ăn đã có sẵn hay không là một nguyên nhân quan trọngkhác gây suy dinh dưỡng Biếng ăn (picky eating/fussy eating) là một trong nhữnghành vi cho thấy trẻ có sự khó khăn hay không trong việc chấp nhận thức ăn Biếng ănthường gây ra lo lắng và áp lực tâm lý lớn cho các phụ huynh Biếng ăn cũng là mộtyếu tố nguy cơ phát triển thành một dạng rối loạn ăn uống và có thể liên quan đến thóiquen ăn uống của trẻ trong tương lai Đây là một vấn đề khá phức tạp, có sự kết hợpcủa nhiều phương diện từ tâm thần đến dinh dưỡng, từ thực thể đến lâm sàng Tìnhtrạng này rất phổ biến ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ em tuổi tiền học đường[16]

Trang 3

Hiện tại, biếng ăn ở trẻ em vẫn còn là vấn đề mới và chưa được chú trọng thỏađáng Trong nhiều nghiên cứu, nhận thức về biếng ăn chủ yếu là dựa vào cảm nhận chủquan của người mẹ nhưng hiểu biết của họ về tình trạng này lại còn rấtít và mơ hồ[5],các chuyên gia y tế hiện nay cũng chỉ coi biếng ăn chỉ là một giai đoạn thoáng quatrong quá trình phát triển ở trẻ em tuổi tiền học đường và có phần bị xem nhẹ[12]

Để có một cái nhìn sâu sắc về vấn đề biếng ăn của trẻ em, nhiều nghiên cứu kháiquát đã được triển khai trên cả bình diện lâm sàng và thực thể trên thế giới Nhữngnghiên cứu gần đây đã cho thấy thực trạng đáng lo ngại của vấn đề này, ước tính tỷ lệbiếng ăn chung trong dân là tương đối lớn, khoảng 20-60% ở tất cả trẻ em [29]; cácnghiên cứu cho thấy tỷ lệ biếng ăn ở trẻ em rất cao tại các nước: 19-50% ở Mỹ [13];49,2% Singapore [16] và 54% tại Trung Quốc [36].Ở trẻ em Việt Nam, một số nghiêncứu cho thấy tỷlệbiếngăncủatrẻemViệtNamkhácaosovớitỷlệ20-45%đãđượccôngbốtrênthếgiới [5]; các nghiên cứu trong nước cũng cho thấy tỷ lệ biếng ăn khá cao với22,2% tại Thành phố Huế [8] và rất cao tại thành phố Hồ Chí Minh: 54,58% [4] Dùvậy, các công trình nghiên cứu về biếng ăn nước ta vẫn còn rất khan hiếm Chính vì

điều đó, chúng tôi tiến hành đề tài“Nghiên cứu tỷ lệ biếng ăn và một số yếu tố liên quan ở trẻ 1 đến 5 tuổi tại xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015” nhằm các mục tiêu sau:

1 Xác định tỷ lệ biếng ăn ở trẻ 1 đến 5 tuổi tại xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng biếng ăn ở đối tượng này

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Định nghĩa về biếng ăn ở trẻ em

1.1.1 Quan niệm về biếng ăn trong đời thường

Cónhiềuquanniệmkhácnhauvề vấnđề biếngăn.Quanniệmđơngiảntrongđờithườngthìbiếngănnghĩalàchánănhaykhôngmuốnăn,khôngthèmăn.TheonhiềutừđiểntiếngViệtthìbiếngănlàthuậtngữchỉtrạngtháikhông thiết ănhay ănvàonhưng khôngcónhữngcảmgiácthíchthúhaysựcảmnhậnvềđộngon miệnghoặcsựthoảimáivềtinhthần.Tuy nhiên, những quan niệm này chỉ mô tả được biểu hiện bên ngoài của biếng ăn [4],[5]

1.1.2 Biếng ăn trong các nghiên cứu

Có rất nhiều tác giả đã định nghĩa biếng ăn theo nhiều cách khác nhau Biếng ăn làmột vấn đề phức tạp, sự phức tạp này được phản ánh trong sự không thống nhất vềphương pháp đánh giá và sự thiếu rõ ràng về một định nghĩa của biếng ăn, điều nàycàng phức tạp hơn khi sử dụng một loạt các thuật ngữ, bao gồm: biếng ăn, ăn uống khókhăn, ăn uống kén chọn và ăn kỳ cục[28]

Đây là một số ví dụ về định nghĩa biếng ăn trong các nghiên cứu trước:

 Dubois và cộng sự (2007) cho rằng trẻ biếng ăn là trẻ (1) “luôn” ăn những bữa

ăn khác với các thành viên còn lại của gia đình, (2) thường từ chối những thức ăn phải

ăn, hoặc (3) từ chối ăn

 Dovey và cộng sự (2008) cho rằng biếng ăn là ăn ít đa dạng các loại thức ăn,không sẵn sàng ăn thức ăn mới (neophobia) và những hành vi bất thường khác đượcxem như là những đặc điểm của trẻ biếng ăn [17]

 Mascola và cộng sự (2010) cho rằng biếng ăn dùng để mô tả sự tiêu thụ không

đa dạng các loại thức ăn Biếng ăn bao gồm sự không chấp nhận một loại thực phẩmnào đó hoặc chỉ chấp nhận một loại thực phẩm nào đó, ngần ngại thử một loại thực

Trang 5

phẩm mới, ăn giới hạn trong một vài nhóm thực phẩm nhất định và ăn một lượng ít hơnnhững gì mà chúng ta mong đợi ở tuổi của trẻ [27].

 Liliana Oliveros cùng cộng sự (2012) thì cho rằng một trẻ biếng ăn sẽ biểu lộnhững thói quen-hành vi chính đó là: tính kén chọn thức ăn rất cao, tránh né thức ăn vàthứ ba là chỉ ăn một lượng ít so với nhu cầu bình thường[29]

 Thanner và cộng sự (2014) cho rằng biếng ăn là hành vi không chỉ được phảnảnh bằng sự kén chọn thức ăn mà còn là sự kết hợp những hành vi ăn uống đáng longại như: ít thích thú với thức ăn, ăn chậm, lâu và nhanh no [34]

Như vậy, có nhiều định nghĩa về một trẻ biếng ăn nhưng tất cả đều chưa thốngnhất và chưa được chấp nhận rộng rãi;tuynhiên, nhìn chungtrẻmắc phảitìnhtrạngnàythườngcóbiểuhiệnlà“trẻkhôngchịuănđủsố lượngthứcăncầnthiếttheonhucầucủalứatuổi,chỉưathích mộtvàiloạithứcănnhấtđịnhhoặctránhthửmónănmới”[5], [12], [13] và biếng ăn chínhlàmột biểuhiệncủa hànhviănuốngởtrẻtừ 1đến5tuổi [5]

1.2 Nguyên nhân gây biếng ăn ở trẻ em

1.2.1 Nguyên nhân thực thể thường gặp

Thường gặp là các bệnh lý y khoa, thiếu dinh dưỡng; hầu hết trẻ bị bệnh đềubiếng ăn Một nghiên cứu 700 trẻ dưới 10 tuổi biếng ăn cho thấy: 86% có bệnh lý nộikhoa, 61% rối loạn chức năng vùng họng miệng [31].Những nguyên nhân thực thểkhác: khiếm khuyết cơ thể học, bẩm sinh[10]; di truyền [3], [10], [23]

 Biếng ăn do bệnh

Bệnh lý cấp tính về đường tiêu hóa, hô hấp (thường gặp nhất) Biếng ăn là mộttriệu chứng xảy ra trong hầu hết mọi bệnh nhiễm trùng Tình trạng này thường mất đikhi trẻ bắt đầu hồi phục Nhiễm giun đũa cũng là một nguyên nhân gây biếng ăn phổbiến ở trẻ em nước ta

Trang 6

Biếng ăn là một triệu chứng luôn có khi trẻ bị một số bệnh răng miệng: viêmmiệng áp tơ, Herpangina, viêm loét họng-amiđan, mọc răng…dẫn đến tình trạng từchối thức ăn.Ngoài ra trẻ cũng có thể biếng ăn do mắc các bệnh mãn tính như là suytim, hen vừa và nặng,…

Biếng ăn do thuốc: trẻ dùng thuốc khi ốm làm ảnh hưởng đến tiêu hóa, vị giác,gây loạn khuẩn ruột, giảm quá trình lên men thức ăn gây biếng ăn [3], [10]

 Khiếm khuyết cơ thể học bẩm sinh

+ Rối loạn giác quan đặc biệt là rối loạn vị giác: có thể do rối loạn ngoại biên hoặctại các trung tâm giác quan ở thần kinh trung ương

+ Các bất thường giải phẫu bẩm sinh, ví dụ: hở hàm ếch,…

 Yếu tố biếng ăn di truyền

Có khoảng 5% trẻ không bao giờ đòi bú hoặc đòi ăn[3] Một số nghiên cứu đãnhận định về tính di truyền của biếng ăn[23] Một số tácgiảkhẳng địnhrằng giữatìnhtrạngbiếngănhiện tạicủa trẻcómối quanhệvớivấn đềditruyềntừchamẹhoặcôngbàmàtìnhhìnhnày sẽtồntạimộtcáchkhádàihay kháphổbiến và sựbấtthườngcủamộtphầnnãobộhoặcnhữngvấn đềtrongquátrình nuôidưỡngcóthểlànguyênnhândẫnđếntìnhtrạngbiếngăncủatrẻ [5]

1.2.2 Nguyên nhân không thực thể

Bao gồm các nguyên nhân tâm lý, xã hội, môi trường, nhận thức, thói quen,hành vi, tính cách… Đó là các sự cố liên quan đến ăn uống làm trẻ sợ, ác cảm với thức

ăn, môi trường nuôi trẻ, cảm xúc của người chăm sóc trẻ[3],[5]

 Nhận định và thói quen không phù hợp về hành vi ăn uống

Bắt nguồn từ việc sử dụng thức ăn ngoài mục tiêu dinh dưỡng, làm cho trẻ cónhận thức không đúng về thức ăn, ví dụ như xem đó là phương tiện thưởng, phạt,phương tiện hỗ trợ cho các cuộc vui…

 Số lượng và dạng thực phẩm không phù hợp với sự tăng trưởng và phát triển thểchất của trẻ

Trang 7

Ở mỗi độ tuổi, hệ tiêu hóa và cơ thể trẻ sẽ thích nghi với số lượng thực phẩmkhác nhau, những dạng thức ăn khác nhau Khi sử dụng không đúng các dạng thựcphẩm theo độ tuổi, có thể gây trở ngại cho hoạt động tiêu hóa, hấp thu của trẻ, lâu dần

sẽ dẫn đến biếng ăn

 Thành phần bữa ăn mất cân đối

Ăn hoặc uống các chất ngọt trước khi ăn làm tăng đường huyết, chế độ ăn quánhiều đạm, mỡ… gây hiệu ứng phản hồi âm tính trên hoạt động của hệ tiêu hóa, ănthiếu các loại vitamin và muối khoáng cần thiết cho việc tạo các men tiêu hóa, uốngsữa ngay trước bữa ăn, uống nhiều nước trước bữa ăn, uống các loại nước ngọt cónhiều gaz, vừa ăn vừa uống làm giảm nồng độ hoạt tính của dịch vị dạ dày Chế độ ănđơn điệu, không phù hợp với lứa tuổi hoặc nghèo nàn về mặt dinh dưỡng (thiếu đạm,vitamin B1) dần dần sẽ làm trẻ chán ăn

 Chế độ ăn không phù hợp với sinh lý hệ tiêu hóa, hấp thu

Các bữa ăn trong ngày quá dày làm hệ tiêu hóa tăng hoạt động hoặc quá thưalàm hệ tiêu hóa giảm hoạt động đều có thể dẫn đến tình trạng biếng ăn

 Tâm lý sợ hãi đối với thức ăn và bữa ăn

Thường bắt đầu bằng sự gắn kết nhận thức về bữa ăn hoặc thức ăn với các sựkiện làm trẻ sợ hãi như đánh trẻ, giận dữ la mắng, hù dọa trẻ, ép buộc trẻ, cãi vã,…

 Sang chấn tâm lý (stress)

Làm suy giảm tất cả hoạt động chức năng bình thường bao gồm cả cảm giácthèm ăn, sự ngon miệng và hoạt động tiêu hóa, hấp thu

 Ảnh hưởng của môi trường và nhận thức

Sự buồn chán, sợ hãi hoặc cảm giác chán, ngán trước một loại thực phẩm không

ưa thích sẽ làm giảm cảm giác ngon miệng và các hoạt động khác liên quan đến tiêuhóa thức ăn và hấp thu dưỡng chất Sự kiểm soát cao độ của cha mẹ hoặc người chămsóc trẻ về ăn uống và thực phẩm có thể làm thay đổi môi trường của trẻ bởi lẽ tạo ra

Trang 8

một bầu không khí tiêu cực xung quanh thức ăn và làm sút kém sự hưởng thụ của trẻđối với thức ăn, kết quả sau đó là làm tăng biếng ăn ở trẻ[21].

1.3 Hậu quả của tình trạng biếng ăn

Khi trẻ có phát triển từ giai đoạn đi chập chững đến giai đoạn tiền học đường thìbiếng ăn xem như là một phần không thể thiếu trong quá trình phát triển của chúng[13] Một nghiên cứu trước đã khám phá ra phần lớn trẻ biếng ăn ở lứa tuổi nhỏ chỉ làbiếng ăn thoáng qua, tình trạng này sẽ thuyên giảm khi bước qua tuổi tiền học đường,

và biếng ăn có thể được xem như là một phần trong quá trình phát triển bình thường ởtrẻ em[12] Dù vậy, biếng ăn cũng sẽ có những hậu quả xấu nếu không được kiểmsoát.Biếng ăn sẽ dẫn đến các dấu chứng lâm sàng tất yếu xuất hiện khi nó là kết quảcủa tình trạng thiếu dinh dưỡng mãn tính hoặc từ những ảnh hưởng có hại của xã hộivàtác động tiêu cực của gia đình [34]

Hậu quả của biếng ăn có thể phân loại theo hậu quả trước mắt- hậu quả lâu dài[27]hoặchậu quả trên từng chức năng, cơ quan của cơ thể [3]

1.3.1 Hậu quả trước mắt- hậu quả lâu dài

Theo Liliana và cộng sựthì biếng ăn có thể gây ra những hậu quả (ảnh hưởng)xấu trước mắt hoặc lâu dài [27]

Những hậu quả trước mắt của tình trạng biếng ăn có thể là thiếu dinh dưỡng như

là thiếu protein- năng lượng hoặc vi chất dinh dưỡng, là một yếu tố nguy cơ gây suydinh dưỡng thể nhẹ cân Một nghiên cứu dọc cho thấy tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹcân ở nhóm biếng ăn là 20,6% cao hơn so với nhóm đối chứng (6,6%) [20] Nghiêncứu của Dubois và cộng sự cũng cho thấy trẻ biếng ăn có nguy cơ cao bị nhẹ cân ở độ4-5 tuổi [18] Trẻ biếng ăn tiêu thụ ít những nhóm như protein, năng lượng, chất béo;

ăn ít hơn so với nhu cầu khuyến nghị các nhóm: trái cây, rau xanh và thịt; hoặc không

sử dụng các thực phẩm bơ, sữa đầy đủ so với nhu cầu khuyến nghị để đảm bảo nhu cầuvitamin và muối khoáng Một hậu quả trước mắt khác của biếng ăn đó là làm giới hạn,

Trang 9

làm chậm sự phát triển ở trẻ; như một số nghiên cứu đã cho thấy trẻ biếng ăn thấp kém

về vóc dáng và về phương diện trọng lượng cơ thể[20], [36]

Có nhiều bằng chứng cho thấy biếng ăn không chỉ gây thiếu hụt dinh dưỡngtrong thời gian ngắn mà còn gây những hậu quả lâu dài về sau.Một hậu quả dài hạn củatình trạng biếng ăn ở trẻ có thể là làm giảm khả năng nhận thức và suy giảm trí tuệ.Khoa học đã chứng minh mối liên hệ giữa tình trạng thiếu dinh dưỡng với sự suy giảmphát triển nhận thức ở trẻ, Kar cùng cộng sự đã báo báo rằng những trẻ ăn uống nghèonàn thường gặp nhiều khó khăn trong các bài kiểm tra đòi hỏi khả năng chú ý, trí nhớ

và nhận thức bằng mắt, khả năng hiểu lời nói cũng như những quá trình nhận thứckhác[24]

1.3.2 Hậu quả trên từng chức năng, hệ thống khác nhau của cơ thể

 Trẻ ăn không đủ chất dinh dưỡng

Nghiên cứu của Dubois và cộng sự cho thấy những trẻ biếng ăn có khẩu phần ănthấp hơn nhóm chứng về năng lượng, chất béo, protein và tỷ lệ nhẹ cân cao gấp hai lầnnhóm chứng [19] Một nghiên cứu đã cho thấy nhóm trẻ biếng ăn đã không đáp ứng đủnhu cầu khuyến nghị về acid folic, vitamin E và vitamin D [27] Yong-Xue và cộngsựcũng đã khám phá ra rằng trẻ biếng ăn có hàm lượng Sắt, Kẽm trong máu thấp hơn

so với trẻ không biếng ăn[36]

 Chậm phát triển thể chất

Biếng ăn gây nên thể trạng còi cọc, thấp bé, không tăng cân, sụt cân 3 năm đâuđời, có nguy cơ nhẹ cân gấp 3 lần so với trẻ ăn uống tốt[3], [20] Yong Xue và cộngsựkhám phá ra rằng biếng ăn kéo dài trên 2 năm có liên quan với cân nặng theo tuổithấp hơn chuẩn [36] Một nghiên cứu khác cho thấy trẻ biếng ăn có Chỉ số khối cơ thể(BMI) thấp hơn so với những trẻ không biếng ăn [34] Một đứa bé tuổi tiền học đườngvới thói quen ăn uống không lành mạnh có từ sớm như biếng ăn có thể chậm phát triển;tuy nhiên vẫn chưa có kết luận rõ ràng về khoảng thời gian của những thói quen này

Trang 10

kéo dài trong bao lâu mới có những ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển ở trẻ mà ta cóthể nhận thấy được [36].

 Rối loạn về nội tiết và chuyển hóa

Giảm tốc độ chuyển hóa của cơ thể, hạ thân nhiệt, tụt huyết áp, mất nước, rốiloạn thăng bằng điện giải, tóc thưa mảnh, giảm bạch cầu, loãng xương, gan nhiễmmỡ….nếu tình trạng biếng ăn kéo dài dẫn đến suy kiệt trầm trọng[3]

Ngoài ra, tìnhtrạngbiếngănởtrẻkhôngchỉảnhhưởngđếnbảnthânđứatrẻ màcòngâycăng thẳng và lo lắng cho bố, mẹ, người chăm sóc và các thành viên khác trong giađình [4] D Goh và A Jacob (2012) đãkết luận tình trạng ăn uống khó khăn và biếng

ăn ở trẻ có liên quan đến stress của người chăm sóc khi cho trẻ ăn và có tác động tiêucực đến các mối quan hệ trong gia đình [16] Một nghiên cứu khác cũng cho thấy cóliên quan giữa những vấn đề về ăn uống ở trẻ với cảm xúc đau buồn và phiền lòng củangười mẹ[30]

1.4 Thực trạng biếng ăn ở trẻ em

Thực trạng biếng ăn, các vấn đề về ăn uống tăng theo tuổi ở trẻ em và có sựkhác nhau về địa lý và văn hóa và giữa các nghiên cứu với nhau[28] Tỷ lệ biếng ăn ởtrẻ nói chung là khó để xác định một cách chính xác,nhưng theo các nghiên cứu gầnđây đã cho thấy thực trạng đáng lo ngại của vấn đề này

1.4.1 Thực trạng biếng ăn ở trẻ em trên thế giới và trong khu vực

Tỷ lệ biếng ăn trong dân là tương đối lớn, ước tính tỷ lệ biếng ăn chung là 60% ở tất cả trẻ em [27] Theo một số thống kê, trên toàn thế giới tỷ lệ trẻ biếng ăn khá

Trang 11

20-cao: 50% trẻ 1-6 tuổi Các nghiên cứu khác cũng cho thấy có 20-45% trẻ biếng ăn trong

độ từ 1 đến 5 tuổi[3]

 Tỷ lệ biếng ăn trong một số nghiên cứu ở châu Âu- Mỹ

+ Ở Mỹ, nghiên cứu của Carruth và cộng sự vào năm 2004 cho thấy có đến 50% trẻ19-24 tháng tuổi biếng ăn và khoảng 20- 60% phụ huynh lo lắng vì con của họ không ănuống tốt[13] Một nghiên cứu dọc trên 216 trẻ từ khi mới sinh đến 11 tuổi ở Mỹ củaMascola và cộng sự vào năm 2010 cho thấy tỷ lệ biếng ăn dao động trong khoảng 13-22% [32 ] Một nghiên cứu của M.Taylor (năm 2015) trên 14.062 trẻ cho thấy đã chothấy tỷ lệ biếng ăn theo thời gian ở mỗi độ tuổi 24, 38, 54 và 65 tháng nằm trongkhoảng từ 9,7%- 14,2%[28]

+ Ở Tây Ban Nha, bằng cách đo đạt khẩu phần ăn hằng ngày của trẻ so với khẩuphần khuyến nghị trong 3 ngày liền, Liliana cùng cộng sự (2012) đã kết luận có 18,4%trẻ trong một mẫu 2428 trẻ từ 36 đến 72 tháng tuổi là biếng ăn[27]

+ Ở Hà Lan, được tiến hành tương tự như nghiên cứu của Mascola và cộng sự,nghiên cứu Cardonar và cộng sự (2015) cũng cho thấy tỷ lệ biếng ăn khá cao ở trẻ emtuổi tiền học đường: 26,5% khi trẻ được 1,5 tuổi, 27,6% khi trẻ được 3 tuổi và giảmxuống còn 13,2% khi trẻ đến 6 tuổi[12]

1.4.2 Thực trạng biếng ăn ở trẻ em nước ta hiện nay

Ở nước ta có rất ít các công trình nghiên cứu về vấn đề này nên các thông tin vềtình hình biếng ăn ở trẻ còn rất ít Kếtquảnghiêncứu gần đâycủacácchuyêngiadinhdưỡngtoàncầuchothấy

tỷlệbiếngăncủatrẻemViệtNamkhácaosovớitỷlệ20%-45%đãđượccôngbố trênthếgiới[5]

Trang 12

Một số nghiên cứu bước đầu cho thấy thực trạng biếng ăn ở trẻ em nước ta:

 Một nghiên cứu vào tháng 12 năm 2008 trên 902 phụ huynh tại Tp Hồ ChíMinh và 665 phụ huynh tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ biếng ăn ở trẻ dưới 8 tuổi là 27%.Trong đó, nhóm trẻ từ 1-6 tuổi có tỷ lệ biếng ăn cao nhất với 38% Điều quan trọng là

có trên 40% những trẻ biếng ăn này đã có dấu hiệu biếng ăn ngay từ khi dưới 3 tuổi[3]

 Tác giả Huỳnh Văn Sơn (2011) đã tiến hành cuộc khảo sát trên 251 phụ huynh

có con từ 1 đến 6 tuổi, kết quả cho thấy tỷ lệ biếng ăn chiếm hơn nửa tổng số mẫu quansát là 54,58%[4]

 Nghiên cứu của Mai Thị Mỹ Thiện và cộng sự(2014) cho thấy tỷ lệ biếng ăn củatrẻ dưới 5 tuổi tại thành phố này khá cao: 20,8% [7]

 Tại thành phố Huế, nghiên cứu của Phạm Thị Hải và Hoàng Thị Bạch Yến cùngcộng sự(2014) cho thấy tỷ lệ biếng ăn ở trẻ em 1 đến 5 tuổi tại thành phố này khá cao:22,2% [8]

Như vậy, dù là trong nước hay trên thế giới thì các nghiên cứu trên chứng tỏ tìnhtrạng biếng ăn ở trẻ em là rất phổ biến hiện nay

1.5 Công cụ IMFeD (Xác định và xử trí trẻ biếng ăn)

Hiện tại có nhiều cách chẩn đoán biếng ăn khác nhau nhưng tất cả đều chưađược thống nhất và không rõ ràng [28] Gần đây, với sự hỗ trợ của một số chuyên gia

và tổ chức nước ngoài, Hội Nhi khoa ViệtNam đã công nhận và bước đầu sử dụng bộcông cụ IMFeD để xác định và xử trí trẻ biếng ăn

1.5.1 Giới thiệu về công cụ IMFeD

IMFeD (Xác định và xử trí biếng ăn) [25], [26]; là công cụ đầu tiên và duy nhấtđược áp dụng nhằm hỗ trợ các nhân viên y tế và các bác sĩ nhi khoa trong việc đánh giá

và đưa ra hướng điều trị thích hợp cho trẻ có các vấn đề về ăn uống từ 1 tuổi trở lên.IMFeD được giới thiệu đầu tiên vào năm 2009, do Benny Kerzner, chuyên ngành Nhi

Trang 13

khoa, thuộc Trung tâm Nhi khoa Quốc gia Hoa Kỳ, dựa trên sự phân loại, cách tiếp cận

và phương pháp điều trị biếng ăn của Irene Chatoor

Công cụ IMFeD được đưa vào Chương trình Chẩn đoán phân biệt và Phươngpháp điều trị các nhóm biếng ăn thường gặp ở trẻ nhỏ trên thế giới Chương trình này

đã tổ chức 5 hội nghị ở Singapore (2009), Hồng Kông (2010), Mumbai (2011),Malaysia (2011) và Việt Nam (2013) Công cụ này đang được sử dụng ở 16 nước vàđược công nhận bởi 8 Hội Nhi khoa danh tiếng trên thế giới (Trung Quốc, Việt Nam,Singapore, Ả-rập Xê-út, Tây Ban Nha, Costa Rica, El Salvador và Panama) Từ năm

2009, Hội Nhi khoa Việt Nam đưa IMFeD vào trong nước nhằm giúp các bác sĩ và bà

mẹ nhận biết và điều trị biếng ăn một cách hiệu quả Công cụ IMFeD đã được Hội Nhikhoa Việt Nam dịch sang tiếng Việt, chỉnh sửa và đơn giản hóa, mục đích để nội dungtrong phiếu IMFeD phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa Việt Nam, giúp các bác sĩ nhikhoa dễ dàng sử dụng và tiết kiệm thời gian trong công việc hàng ngày Công cụIMFeD gồm 2 phần: hỗ trợ chẩn đoán của bác sĩ, hỗ trợ cha mẹ cung cấp thông tin[25],[26], [32]

1.5.2 Các dạng biếng ăn và đặc điểm lâm sàng trong IMFeD

Nhận định sai của người chăm sóc (quan tâm quá mức)

+ Trẻ ăn phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng theo lứa tuổi

+ Trẻ thường có kích thước nhân trắc nhỏ nhưng nằm trong giới hạn bìnhthường.Sự lo lắng quá mức của người chăm sóc trẻ dẫn đến ép trẻ ăn và tác động bấtlợi đến trẻ

Trẻ hiếu động ít quan tâm đến ăn- mải chơi quên ăn (ít thèm ăn)

+ Trẻ khỏe mạnh, lanh lợi, hiếu động

+ Trẻ quan tâm đến việc chơi và giao tiếp với mọi người nhưng ít khi biểu lộ hoặcquan tâm đến việc ăn uống

+ Trẻ có thể chỉ ăn một vài miếng và ngừng ăn, dễ lơ đãng với việc ăn và có thểkhó giữ yên tại bàn hoặc ghế trong khi ăn

Trang 14

Trẻ thờ ơ, lãnh đạm ít quan tâm đến ăn

+ Trẻ ít có cảm giác ngon miệng và ăn ít

+ Trẻ có biểu hiện lãnh đạm, thờ ơ, ít giao tiếp bằng lời (cười, nói) và không lời(ánh mắt) với người cho ăn

Ác cảm với thức ăn (quá kén chọn thức ăn)

+ Trẻ kiên quyết từ chối một số món ăn vì mùi vị, độ mịn màng, hình thức, thànhphần món ăn

+ Trẻ có thể trở nên lo lắng nếu bị ép ăn các món không thích

Sợ ăn

+ Trẻ sợ hãi khi biết sắp phải ăn, trẻ chống lại việc cho ăn bằng cách khóc, congười hoặc từ chối mở miệng

+ Có thể đã trải qua một sự cố đáng sợ liên quan đến ăn uống

Biếng ăn liên quan đến bệnh lý

+ Trẻ ít thấy ngon miệng hoặc từ chối ăn liên quan đến việc đang mắc bệnh

+ Trẻ bắt đầu ăn rất hăm hở nhưng sau đó tỏ ra đau, khó khăn, từ chối ăn tiếp

1.5.3 Đánh giá hiệu quả của IMFeD

Tại Ấn Độ, năm 2011-2012, nhằm đánh giá bộ công cụ IMFeD và tìm hiểu các

bà mẹ và các bác sĩ Nhi khoa nghĩ gì về IMFeD, Pankaj Garg và cộng sự đã thực hiệnmột nghiên cứu thí điểmvới sự tham gia của 383 trẻ và phụ huynh cùng các Bác sĩ Nhikhoa và nhiều chuyên gia.Kết quả nghiên cứu cho thấy [32]:

 Đối với các Bác sĩ Nhi khoa tham gia nghiên cứu

66% cho rằng IMFeD dễ dàng sử dụng Gần 85%chỉ mất ≤ 20 phút để hoànthành xác định và xử trí biếng ăn, đồng thời tư vấn cho phụ huynh về cách quản lýhành vi ăn uống của trẻ

 Đối với những phụ huynh tham gia nghiên cứu

Trang 15

Hơn 70% phụ huynh tham gia hài lòng và sẵn sàng chấp nhận dùng IMFeD đểquản lý các vấn đề cho ăn của con mình; 90% cho rằng IMFeD rất hữu ích để đánh giátình trạng biếng ăn

Sau 60 ngày từ khi tham gia và nhận lời khuyên từ các chuyên gia, hơn 65% phụhuynh phản hồi rằng họ ít hoặc không còn lo lắng nữa vềthói quen ăn uống của conmình.Cuối cùng, có 51% phụ huynh tỏ ra tự tin rằng họ biết phải làm gì khi trẻ có vấn

đề về cho ăn và có khả năng áp dụng những biện pháp hợp lý nhằm tăng sự thèm ăncủa trẻ và thực hành nuôi dưỡng của mình

Như vậy, IMFeD tỏ ra rất hữu ích để xác định và xử trí biếng ăn ở trẻ em, pháthuy được tối đa hiệu quả sự tham gia của các phụ huynh [25], [32]

1.6 Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu

Vị trí địa lý: xã Hương Vinh nằm về phía Đông của thị xã Hương Trà, cáchtrung tâm Thành phố Huế 4 km về phía Đông Bắc

Tổng diện tích tự nhiên: 721.50 ha Dân số năm 2013: 2.883 hộ với 14.172 nhân

khẩu

Đặc điểm tình hình kinh tế - văn hoá - xã hội:

Xã có 8 thôn và 1 đội: các thôn Bao Vinh, La Khê, Triều Sơn Đông, Triều SơnNam và Thế Lại Thượng có số nhân khẩu tương đối lớn, các thôn: Địa Linh, MinhThanh, xóm Thùy Phú và đội 12B có số dân ít và thưa thớt

Hương Vinh là một xã có thế mạnh về sản xuất tiểu- thủ công nghiệp và thươngmại, dịch vụ, tỷ lệ hộ nghèo là 3,95% (năm 2013) Xãcó 1 trường mầm non, 3 trườngtiểu học, 1 trường THPT

Trạm y tế của xã có6 cán bộ, cơ sở vật chất được cải thiện trong nhiều năm qua,các chương trình y tế quốc gia đã triển khai tốt, tỷ lệ tham gia Bảo hiểm y tế đạt 80%(2013)

CHƯƠNG 2

Trang 16

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng

Trẻ từ 1 đến 5 tuổi và bố, mẹ hoặc người trực tiếp chăm sóc trẻ hiện đang sống ở

xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

2.1.2 Thời gian và địa nghiên cứu

Được tiến hành từ tháng 5 năm 2015 đến tháng 4 năm 2016 tạixã Hương Vinh,thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

n: là cỡ mẫu của nghiên cứu

Z: giá trị thu được từ bảng Z ứng với mức ý nghĩa thống kê α Ở đây ta chọn α = 0,05

ta có Z = 1,96

Chọn p= 0,5458 (tỷ lệ trẻ biếng ăn theo kết quả nghiên cứu của Huỳnh Văn Sơn trêntrẻ em 1-6 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2011) [4]

d: Độ chính xác mong muốn (sai số chấp nhận được), chọn d= 5% hay d= 0,05

Thay vào công thức ta tính được:

n = 1,962= 381

Lấy tròn cỡ mẫu lên 400 Vậy cỡ mẫu cuối cùng được chọn là n= 400

2.2.3 Phương pháp và kỹ thuật chọn mẫu

Trang 17

Chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn.

Quy trình chọn mẫu gồm 3 bước:

 Bước 1: Lập khung chọn mẫu gồm 1139 trẻ từ 1-5 tuổi đang sống ở xã HươngVinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian tiến hành nghiên cứu.Danh sách và thông tin về trẻ được trạm Y tế xã Hương Vinh cung cấp

 Bước 2: Chọn ngẫu nhiên 400 trẻ từ khung chọn mẫu bằng phần mềm Stata 12.Sau đó, tiến hành lập danh sách 400 trẻ đã được chọn

2.2.4 Kỹ thuật thu thập số liệu:phỏng vấn bố, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ bằng bộ

câu hỏi soạn sẵn (xem phần Phụ lục 1)

2.2.5.Các biến số được sử dụng trong nghiên cứu

Nhóm biến về thông tin chung của trẻ:

+ Giới: nam, nữ

+ Tuổi: xác định tuổi trẻ em theo hướng dẫn của Viện Dinh dưỡng, dựa trênkhuyến cáo của WHO năm 1995[35].Nếu người trả lời chỉ nhớ ngày sinh âm lịch củatrẻ thì dùng lịch âm dương để quy đổi

Tính tuổi theo tháng: kể từ khi mới sinh tới trước ngày tròn một tháng (từ 1 đến

29 ngày) được coi là 0 tháng tuổi Kể từ ngày tròn 1 tháng đến trước ngày tròn 2 tháng(tức 30 ngày đến 59 ngày) được coi là 1 tháng tuổi Tương tự với các tháng tuổi cònlại

Tính tuổi theo năm: kể từ ngày tròn 1 năm đến trước 1 năm 11 tháng 29 ngàyđược gọi là 1 tuổi, hay dưới 2 tuổi Như vậy theo quy ước:

Ngày đăng: 10/01/2021, 00:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Association American Psychiatric (1994), “Feeding disorder of infancy or early childhood”, Diagnostic and statistical manual of mental disorders, 4th edtion, Washington, DC Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Feeding disorder of infancy or earlychildhood
Tác giả: Association American Psychiatric
Năm: 1994
11. Boquin. M, Howard R. Moskowitz, Sharon M. Donovan et al (2014), “Defining Perceptions of Picky Eating Obtained through Focus Groups and Conjoint Analysis”, Journal of Sensory Studies, 29, pp. 126-138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: DefiningPerceptions of Picky Eating Obtained through Focus Groups and ConjointAnalysis
Tác giả: Boquin. M, Howard R. Moskowitz, Sharon M. Donovan et al
Năm: 2014
12. Cardona Cano S., Henning Tiemeier, Daphne Van Hoeken et al (2015),“Trajectories of picky eating during childhood: A general population study”, International Journal of Eating Disorders, pp. 3-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trajectories of picky eating during childhood: A general population study”,"International Journal of Eating Disorders
Tác giả: Cardona Cano S., Henning Tiemeier, Daphne Van Hoeken et al
Năm: 2015
13. Carruth BR, Paula J. Ziegler, Anne Gordon et al (2004), “Prevalence of Picky Eaters among Infants and Toddlers and Their Caregivers’ Decisions about Offering a New Food”, Journal Am Diet Association, 104, pp. 57-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of PickyEaters among Infants and Toddlers and Their Caregivers’ Decisions about Offeringa New Food”, "Journal Am Diet Association
Tác giả: Carruth BR, Paula J. Ziegler, Anne Gordon et al
Năm: 2004
14. Chatoor I., Surles. J et al (2004), “Failure to thrive and cognitive development in toddlers with infantile anorexia”, Pediatrics, 113 (5), pp. 440-447 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Failure to thrive and cognitive development intoddlers with infantile anorexia”, "Pediatrics
Tác giả: Chatoor I., Surles. J et al
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w