1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT RƯỢU VANG TỪ QUẢ XƯƠNG RỒNG GAI

10 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 707,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời gian lên men càng kéo dài thì độ rượu càng tăng do nấm men có thời gian tiếp xúc với cơ chất đường và chuyển cơ chất đường thành rượu, nhưng nếu thời gian kéo dài quá 8 ngày thì l[r]

Trang 1

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT RƯỢU VANG TỪ QUẢ XƯƠNG RỒNG GAI

Đinh Hữu Đông

Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh

TÓM TẮT

Với xu hướng của thời đại, các sản phẩm rượu vang được làm từ các nguồn nguyên liệu có sẵn

trong tự nhiên, như các loại quả vừa có giá trị dinh dưỡng cao vừa có giá trị dược học ngày càng được

ưa chuộng Nghiên cứu sản xuất rượu vang từ quả xương rồng gai/bàn chải tạo ra mặt hàng mới làm

phong phú và đa dạng mặt hàng rượu vang, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng

trong nước và tiến tới nâng cao chất lượng để xuất khẩu Kết quả nghiên cứu môi trường nuôi nấm

men là dịch ép quả xương rồng bàn chải có thành phần sau: pH = 4,5; đường = 120brix; vitamin B1:

0,5÷1 mg/l; amonsunfat : 0,3÷0,5 g/l; thanh trùng ở 1000C trong thời gian 15 phút Điều kiện nuôi

nấm men là: Nhiệt độ thường, trên máy lắc hay sục oxi vô trùng, thời gian nuôi là 24h Các thông

số của quá trình lên men: Lượng đường thích hợp cho quá trình lên men là 220 brix, pH thích hợp cho

quá trình lên men là 4,5; Lượng nấm men thích hợp để bổ sung là 10%V (với số lượng là

15,4.106 tế bào/ml) Thời gian thích hợp cho quá trình lên men là 8 ngày Để làm trong rượu thì bổ

sung enzyme pectinase với tỷ lệ là 0,2%V, ở nhiệt độ 450C trong thời gian 30 phút

Từ khóa: Xương rồng gai, phân tích, điều kiện, lên men, rượu vang

RESEARCH PRODUCTION THE WINE FROM THE FERMENTATION THE

FRUITS OF CACTUS THORN IN BINH THUAN

ABSTRACT

With the trend of the times, the wines are made from the raw materials available in nature, as

the fruit has high nutritional value and valuable pharmacological increasingly popular Research

produced wine from cactus thorn/brush to create new products and enriched products diversified wine,

to meet the increasing demand of domestic consumers and to enhance the quality for export The

research results of yeast culture environment is translated cactus juice can brush following

components: pH = 4,5; glucoze = 120brix; Vitamin B 1 : 0,5 ÷ 1 mg/l; Amonsunfat: 0,3 ÷ 0.5 g/l;

Pasteurized at 1000C for 15 minutes Yeast culture conditions were: temperature typically, on a hot

oxygen shaker or sterile culture time is 24 hours The parameters of the fermentation process: suitable

for sugar fermentation is 220brix, pH suitable for fermentation of 4.5, amount of yeast is suitable for

additional 10% V (with some volume is 15,4.106 cells/ ml) The appropriate time for fermentation is 8

days To make the wine not muddy, the pectinase enzyme supplement at the rate of 0.2% V, at 450C

temperature for 30 minutes

Keywords: Cactus thorn , analyse, condition, fermentation, wine

1 GIỚI THIỆU

Cùng với sự phát triển ngày càng cao của xã hội thì ngành công nghiệp sản xuất rượu

vang cũng phát triển mạnh mẽ Với xu hướng của thời đại, các sản phẩm rượu vang được làm

từ các nguồn nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên, như các quả vừa có giá trị dinh dưỡng cao

vừa có giá trị dược học ngày càng được ưa chuộng

Hơn nữa quả xương rồng bàn chải đã có ở Phú Yên từ lâu nhưng người dân ở đây chỉ sử

dụng cây trồng để làm hàng rào chứ không dùng vào mục đích như là một loại thực phẩm, bởi

vì có thể người dân nơi này chưa biết đến những lợi ích mà cây này mang lại như:

- Hạ đường trong máu

- Cải thiện cholesterol xấu

- Hạ huyết áp

Trang 2

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

- Giảm cân do bài tiết chất béo

- Ngăn ngừa bệnh tim mạch

- Giải độc của cơ thể…

Người dân nơi này không quen dùng quả xương rồng bàn chải như một loại thực phẩm

Vì vậy để người dân quen dần với loại quả này thì nên đưa ra một loại sản phẩm nào đó để mọi người dễ sử dụng mà biết đến công dụng và lợi ích mà chính loại nguyên liệu này mang lại như nước giải khát hay rượu vang

Nhưng trên thị trường chưa có sản phẩm rượu vang từ quả xương rồng gai(bàn chải) vì vậy nghiên cứu sản xuất rượu vang từ nguyên liệu này tạo ra mặt hàng mới làm phong phú và

đa dạng mặt hàng rượu vang, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và tiến tới nâng cao chất lượng để xuất khẩu Ngoài ra còn tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người nông dân trồng loại cây này, mà còn giải quyết công ăn việc làm cho người dân nơi đặt nhà máy với quy mô sản xuất lớn

Hình 1.1: Quả xương rồng gai

Hiện nay ở Việt Nam có rất ít những nghiên cứu về giống cây này và những nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở mức đơn giản Trong khi đó xương rồng gai là một loài cây có phổ biến ở Bình Thuận mà chưa được nghiên cứu và khai thác Phân tích định lượng “Một số thành phần hóa sinh trong xương rồng gai ở Bình Thuận” là nghiên cứu tạo tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo như “trích ly các chất có hoạt tính sinh học trong xương rồng gai ở Bình Thuận ứng dụng trong thực phẩm”, hay “Nghiên cứu sản xuất rượu vang từ quả xương rồng gai” …Đây là nghiên cứu cần thiết và gắn liền với thực tế

2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu [1, 2, 10]

Theo tổ chức quốc tế nghiên cứu về thực vật mọng nước hay ICSG, họ xương rồng bao gồm 125 đến 130 chi, 1400 đến 1500 loài, thuộc 4 phân họ và 9 tông Cây xương rồng gai ở

Bình Thuận thuộc họ Cactacace, Bộ Carryophyllales, Lớp Magrnoliopsida và Ngành

Magrnoliophyta [1, 2, 10]

Cây nhỏ cao 0,5÷2m, thân dẹp hình cái vợt bóng bàn dài 15÷20cm, rộng 4÷10cm, màu xanh nhạt, mang núm với 3÷8 gai, gai to với sọc ngang, dài 1÷ 4cm Lá nhỏ dễ rụng Hoa xương rồng có màu vàng hay đỏ, rất nhiều nhị từ 50 đến 1500 nhị, cánh hoa phân bố đồng đều và đồng tâm, hoa đa phần là lưỡng tính, nở vào sáng và tối tuỳ theo loài Hoa có nhiều hình dạng khác nhau như dạng phễu, dạng chuông và dạng tròn phẳng, kích thước trong khoảng từ 0,2 đến 15÷30cm Phần lớn có đài hoa từ 5÷50 cái, thay đổi dạng từ ngoài vào trong Cây ra hoa quanh năm Quả mọng to 4÷5cm, màu đỏ đậm Trung bình một cây xương rồng sống rất lâu từ 25÷300 năm [1]

Trang 3

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Đối tượng nghiên cứu chính là: quả xương rồng gai ở Bình Thuận (Cactus thorn in Binh

Thuan) Yêu cầu quả thu hái phải đạt độ chín kỹ thuật: Chín đều toàn quả, hàm lượng đường đạt từ 9-110

brix Đạt tối đa là 30 quả/kg Tính theo trọng lượng tươi thì phần ăn được có chứa 92% nước, 4÷6% carbohydrat, 1% protein, 0,2% chất béo, 1% chất khoáng, 12,7mg% vitamin

C, 12,9μg β-caroten

Nguyên liệu phụ: nấm men Sacchromyces cerevisiae, đường, acid citric, enzyme

pectinase…

2.2 Nội dung nghiên cứu [2, 3, 4, 8]

- Xác định thành phần hóa học của nguyên liệu chính: pH, hàm lượng chất khô, khoáng, hàm lượng ẩm

- Nuôi tăng sinh nấm men và đếm số lượng tế bào nấm men

- Nghiên cứu tối ưu hóa công đoạn lên men: nồng độ đường, pH, tỷ lệ nấm men, thời gian lên men

- Nghiên cứu xác định tỷ lệ bổ sung enzyme pectinase để làm trong

- Xây dựng quy trình công nghệ sản xuất vang từ quả xương rồng bàn chải

2.3 Phương pháp nghiên cứu [1, 2, 3, 5]

- Xác định pH bằng pH kế

- Xác định hàm lượng đường khử theo phương pháp Bertrand

- Xác định hàm lượng nước tự do và nước liên kết theo phương pháp trọng lượng

- Xác định hàm lượng tro, chất xơ và Nitơ tổng được xác định theo các phương pháp tiêu chuẩn AOAC (1990)

- Phương pháp phân tích xác định độ rượu của dịch lên men bằng phương pháp bình tỷ trọng

- Đếm số lượng tế bào nấm men bằng buồng đếm Thomas

- Phương pháp phân tích đánh giá cảm quan cho sản phẩm theo TCVN 32 – 1579

2.4 Bố trí thí nghiệm và xử lý số liệu [6, 7, 9, 10]

Các yếu tố chính ảnh hưởng đến điều kiện hoạt động của nấm men: hàm lượng oxi; nhiệt độ lên men; hàm lượng đường, đạm, muối khoáng, pH dịch nước quả và chất kích thích men Vì vậy phải theo dõi quá trình lên men qua các chỉ tiêu trên Cụ thể:

- Nuối tăng sinh nấm men bằng dịch quả ép (pH=4,5) có bổ sung đường 10-12%, acid citric, vitamin B1, amonsunfat, ở 1000C với thời gian 15 phút

- Bố trí thí nghiệm tối ưu hóa cho công đoạn lên men ethanol: Hàm lượng đường từ 19÷25 0Brix; pH=4,2÷4,8; Tỷ lệ nấm men từ 8÷12%; Thời gian lên men từ 6÷10 ngày Phương pháp bố trí thí nghiệm theo phương pháp quy hoạch thực nghiệm yếu tố toàn phần N=2k để tìm phương trình thể hiện mối liên hệ giữa hàm mục tiêu với các yếu tố ảnh hưởng

là hàm bậc 1 Dựa vào kết quả thí nghiệm để kiểm định tính phù hợp của mô hình đã chọn Nếu mô hình không phù hợp thì bổ sung thêm thí nghiệm để tìm phương trình bậc 2, sử dụng phương pháp mặt đáp ứng cấu trúc hợp tử tại tâm (Central composite)

Trang 4

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

- Bố trí thí nghiệm xác định tỷ lệ enzyme pectinase thích hợp: sau khi điều chỉnh thành phần dịch quả ép bằng đường, axit citric ta tiến hành lên men và làm trong với tỉ lệ enzyme pectinase lần lượt là 0,1; 0,2; 0,3; 0,4; 0,5 để tìm ra điều kiện tối ưu

Các thí nghiệm được bố trí lặp lại ít nhất 3 lần Độ sai số không quá 5% Sau đó các kết quả thu được là trung bình cộng giữa các lần thí nghiệm

Xử lý số liệu bằng phần mềm Design-Expert 8.0.2 và phần mềm Statgraphics

- Vẽ đồ thị bằng phần mềm Microsoft Excell

- Thiết kế thí nghiệm: Sử dụng phần mềm DX6

Phương pháp xử lý số liệu (Phân tích phương sai, so sánh giá trị trung bình, phân tích tương quan, hồi quy…): Sử dụng phần mềm SPSS 16 và microsof office 2007

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Kết quả xác định thành phần hóa học của quả xương rồng bàn chải

Kết quả phân tích được thể hiện trong bảng 3.1 cho thấy như sau: pH trung bình của quả xương rồng bàn chải là 4,57; pH này nằm trong vùng tối thích của nấm men hoạt động 4÷6 vì vậy hạn chế dùng các nguyên liệu phụ như acid citric hay natri cacbonat để điều chỉnh hỗn hợp lên men như thế sẽ tiết kiệm được chi phí

Bảng 3.1: Bảng thành phần hóa học của quả xương rồng bàn chải

pH dịch ép Hàm lượng chất khô Hàm lượng ẩm Hàm lượng khoáng

Hàm lượng chất hòa tan khoảng 11,3300brix cũng như một số loại quả khác để lên men rượu vang như mận 10÷120

brix, táo khoảng 11÷130brix…[3,4,5] Nếu chất hòa tan trong quả thấp quá thì cần bổ sung lượng đường nhiều cho hỗn hợp nguyên liệu trước khi lên men làm cho rượu không có vị hài hòa và đặc trưng của quả Còn nếu nguyên liệu có hàm lượng chất khô hòa tan cao trên 30% thì ức chế quá trình lên men của nấm men Vì vậy hàm lượng chất khô hòa tan nằm khoảng trung bình(11,3300brix ) sẽ giúp ta dễ điều chỉnh lượng chất khô hòa tan trước khi lên men

Hàm lượng ẩm khoảng 87,667%, thấp hơn so với mận 90,313% [3,4,5] Ở hàm lượng

ẩm này cũng tạo điều kiện cho nấm men, nấm mốc phát triển và cũng tương đối dễ dập và bị

vi sinh vật xâm nhập, do đó cần chú ý trong quá trình vận chuyển và bảo quản nguyên liệu quả xương rồng trước khi chế biến

Khoáng của quả khá cao 1,003%, trong khi hàm lượng khoáng của quả mận dùng để làm rượu vang chỉ có 0,2%, do đó nhờ hàm lượng khoáng cao sẽ tạo cho rượu có vị mặn hài hòa với các vị ngọt, chua của rượu vang Nhưng so hàm lượng khoáng trong quả xương rồng trong rượu vang thì còn khá thấp, chỉ gần bằng một nửa có trong rượu vang (1,5÷3g/l), do

đó cần tận dụng tối đa lượng khoáng có trong quả để rượu vang có vị hài hòa

3.2 Kết quả nuôi tăng sinh nấm men

Kết quả phân tích thu được trong hình 3.1 cho thấy:

Trang 5

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Hình 3.1: Biểu đồ thể hiện số lượng tế bào nấm men qua thời gian nhân giống

Qua kết quả trên ta thấy được số lượng nấm men tăng dần trong quá trình tăng sinh, tăng nhanh đến 24 giờ và sau đó nấm men phát triển với tốc độ chậm lại Như vậy, ở 24 giờ từ lúc bắt đầu tăng sinh thì lượng nấm men sau khi tăng sinh có thể bổ sung vào dịch lên men vì lúc này nấm men phát triển mạnh mẽ nhất, số lượng nấm men bổ sung vào dịch lên men là thích hợp nhất (15,4.106 tế bào/ml)

3.3 Kết quả nghiên cứu tối ưu hóa công đoạn lên men Ethanol

Bố trí thí nghiệm theo phương án quy hoạch thực nghiệm sẽ cho kết quả là phương trình hồi quy, giúp ta đánh giá được sự tác động của từng yếu tố tới hàm mục tiêu và xu hướng chuyển dịch của quy trình nghiên cứu

Y = 10,813 + 1,188X1 + 1,313X2+ 0,938X3 + 0,688X4 (*) Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cũng cho thấy mô hình bậc 1 là không phù hợp vì vậy cần

bổ sung thêm một số thí nghiệm để tìm ra được phương trình hồi quy tương thích nhằm mục đích lên men rượu vang từ quả xương rồng

- Bố trí thí nghiệm theo phương pháp quy hoạch thực nghiệm, sử dụng phương pháp

bề mặt đáp ứng cấu trúc hợp tử tại tâm (Central composite- response surface)

Từ kết quả thí nghiệm thu được phương trình hồi quy:

Y = 13,55 + 0,17X1 – 0,13X2 + 0,17X3 + 0,85 X4 + 0,13X12 + 0,63X13 – 0,56X14 – 0,73X23 – 0,43X24 – 0,088X34 - 0,92X12 – 0,28X22 – 0,58X32 - 0,78X42 (**)

Phương trình (**) với hệ trục tọa độ nằm trong khoảng [-1,1] được biểu diễn trên hình 3.2

Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn

độ cồn theo

pH và nồng

độ đường

0 4 8 12 16 20 24 28 32 36

18

16

14

12

10

8

6

4

2

0

Trang 6

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Nhìn vào hình 3.2 cho thấy độ rượu cao nhất là ở 13,50 và tổng điểm cảm quan là 14 ứng với các mẫu có thông số đầu vào như sau:

- pH ở 4,5

- Nồng độ đường là 220brix

- Tỷ lệ bổ sung nấm men là 10% (15,4.106 tế bào/ml)

- Thời gian lên men là 8 ngày

Ngoài vùng này thì độ rượu và điểm cảm quan giảm dần, nếu hai yếu tố này mà giảm dần thì đồng nghĩa với chất lượng rượu cũng giảm dần

Từ đó chương trình xử lý số liệu Design Expert 8.0.2 đã đưa ra điểm tối ưu như sau:

Bảng 3.2: Các thông số đầu vào và đầu ra của điểm tối ưu

Yếu tố đầu vào Giá trị Yếu tố đầu ra Giá trị [đường] 22obrix

Tỷ lệ nấm men 10%V

Tổng điểm cảm quan 14 Thời gian lên men 8 ngày

Qua phương trình (**) cho thấy độ rượu phụ thuộc vào nồng độ đường, pH, tỷ lệ nấm men và thời gian lên men Trong đó, độ rượu tỷ lệ thuận với nồng độ đường, tỷ lệ nấm men và thời gian lên men nhưng tỷ lệ nghịch với pH Nghĩa là khi tăng nồng độ đường, tỷ lệ nấm men, thời gian lên men và giảm pH thì độ rượu sẽ tăng, nhưng điều này chỉ đúng khi giá trị của các yếu tố nằm trong miền thí nghiệm

Từ phương trình (**) cho thấy: │b12│ > │b4│> │b42│> │b23│>│b13 │>│b14│> │b24│>

│b22│> │b1│(│b1│=│b3│) >│b2│>│b34│>│b32│ Nghĩa là thời gian lên men ảnh hưởng tới

độ rượu tạo thành lớn nhất, rồi tới nồng độ đường và tỷ lệ nấm men, sau cùng là pH

Thời gian lên men càng kéo dài thì độ rượu càng tăng do nấm men có thời gian tiếp xúc với cơ chất đường và chuyển cơ chất đường thành rượu, nhưng nếu thời gian kéo dài quá 8 ngày thì lúc này đường không còn và rượu cũng không tăng mà chất lượng của rượu lại giảm

do nấm men và vi sinh vật tạo ra sản phẩm cấp thấp, do đó cần xác định đúng thời gian kết thúc quá trình lên men ethanol để tránh ảnh hưởng đến chất lượng của rượu

Nồng độ đường càng tăng thì độ rượu lại càng cao do nấm men sử dụng cơ chất chính là đường để chuyển hóa thành rượu, nhưng nếu tăng nồng độ đường lên vượt quá 220

brix thì độ rượu lại giảm là do nồng độ đường cao sẽ ức chế tế bào nấm men do áp suất thẩm thấu làm thay đổi sinh lý bình thường của nấm men, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của nấm men Vì vậy nồng độ đường cũng phải phù hợp để đủ cơ chất cho nấm men hoạt động nhưng cũng không được quá 220

brix làm ức chế nấm men

Tỷ lệ nấm men tăng thì độ rượu cũng tăng là do số lượng tế bào nấm men càng nhiều thì nhanh chóng chuyển đường thành rượu, nhưng nếu tăng tỷ lệ nấm men vượt quá 10% thì lúc này số lượng tế bào nhiều nên thời gian chuyển toàn bộ đường thành rượu sẽ được rút ngắn thì không có thời gian để tạo ra các hương cho rượu, còn nếu tỷ lệ nấm men bổ sung thấp hơn 10% thì thời gian lên men sẽ chậm nên dễ gây hư hỏng rượu Vì vậy, nấm men cũng cần bổ

Trang 7

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

sung cho thích hợp để thời gian lên men nhanh nhưng cũng đủ thời gian để tạo ra các hương,

vị hài hòa cho rượu

pH tăng ngoài giá trị tối ưu của nấm men thì độ cồn lại giảm là do lúc này lại thích hợp cho các loại vi khuẩn hại phát triển, cạnh tranh với nấm men và phát triển nhanh hơn, làm ức chế sự sinh trưởng và phát triển của nấm men nên quá trình lên men chậm và yếu, có nhiều sản phẩm phụ do vi khuẩn lạ tạo ra gây mùi vị xấu cho sản phẩm rượu Còn nếu giảm pH thì chính pH tác động trực tiếp lên hoạt động sống của nấm men, làm cho tế bào nấm men ở trạng thái teo nguyên sinh và rối loạn quá trình trao đổi chất của nấm men nên nấm men sẽ không hoạt động được nữa, không phân giải được đường nên độ cồn cũng sẽ thấp Ngoài ra nấm men chết làm cho rượu bị đục và tạo nhiều sản phẩm phụ gây mùi vị xấu

3.4 Kết quả đánh giá cảm quan rượu sau khi lên men Ethanol

Nhìn vào hình 3.4 cho thấy ở mẫu 16 cho tổng điểm cảm quan về chất lượng sản phẩm

là cao nhất ở 14,56 (rượu hơi trong, thơm, vị hài hòa), còn các mẫu ở tâm phương án thì cho tổng điểm cảm quan trong khoảng từ 13÷14 (rượu ở các mẫu này có trạng thái hơi trong, mùi thơm nhẹ, vị hài hòa), nhưng sự chênh lệch mức điểm giữa mẫu 16 và các mẫu ở tâm phương

án không đáng kể, có thể sự chênh lệch điểm này là do hội đồng cảm quan chưa có kinh nghiệm nhiều trong đánh giá nên dễ dẫn đến sai sót Nhưng theo kết quả thí nghiệm ở mục 3.3

có độ rượu cao nhất chủ yếu tập trung ở các mẫu tâm phương án, vì vậy nên chọn công thức ở tâm phương án để sản xuất rượu vang từ quả xương rồng bàn chải cho cảm quan tốt và độ rượu cao

3.5 Kết quả nghiên cứu xác định tỷ lệ enzyme pectinase để làm trong rượu bằng cách đánh giá các chỉ tiêu cảm quan của rượu thành phẩm

6 1

2 82

6 1

8 14

1 1

0.00

2.00

4.00

6.00

8.00

10.00

12.00

14.00

16.00

Tổng điểm cảm quan

Hình 3.4: Biểu đồ biễu diễn điểm cảm quan các

mẫu sản phẩm rượu vang xương rồng sau khi lên

men ethanol

Hình 3.3: Sản phẩm rượu vang xương rồng bàn chải

Trang 8

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

ANOVA

Source of Variation SS df MS F P-value F crit

Rows 3,44 4 0,86 3,017544 0,049475 3,006917

Columns 2,24 4 0,56 1,964912 0,148658 3,006917

Hình 3.5: Biểu đồ biểu diễn tổng điểm cảm quan các mẫu sản phẩm theo tỷ lệ enzyme

pectinase bổ sung

Qua hình 3.5 cho thấy trong khoảng nghiên cứu tỷ lệ enzyme bổ sung từ 0,1%÷0,2% điểm có xu hướng tăng, thể hiện ở tỷ lệ enzyme 0,1% thì tổng điểm cảm quan là 12,64 (rượu trong, màu đỏ đậm, mùi thơm nhẹ, vị hài hòa) trong khi đó ở mẫu bổ sung enzyme với tỷ lệ là 0,2% tổng điểm cảm quản là 16,4 (rượu có màu đỏ, trong suốt, sáng, mùi thơm nhẹ và vị dịu) 0,2% Nhưng nếu tiếp tục tăng tỷ lệ bổ sung enzyme từ 0,3÷0,5% thì làm cho tổng điểm cảm quan của sản phẩm lại giảm xuống, như sản phẩm ở 0,5% (rượu có màu đỏ đậm, trong suốt nhưng có mùi và vị của enzyme) Vì vậy chọn tỷ lệ bổ sung enzyme ở 0,2% cho chất lượng sản phẩm đạt cao nhất Nhưng nếu tiếp tục tăng tỷ lệ bổ sung enzyme làm cho rượu không còn giữ mùi vị đặc trưng của sản phẩm mà lại có mùi vị lạ của enzyme

Bảng 3.3: Bảng phân tích anova về màu mùi của rượu vang sau khi làm

trong bằng enzyme pectinase

Anova: Two-Factor Without Replication

SUMMARY Count Sum Average Variance

Total 10,24 24

Từ kết quả chọn lựa các thành phần chính, thiết lập mô hình hồi quy tuyến tính thể

Trang 9

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

hiện mối quan hệ giữa màu, mùi, hàm lượng enzym bổ sung với giá trị Pvalue<0.05

4 KẾT KUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1 Kết luận:

Kết quả nghiên cứu đã xác định được các thông số cần thiết cho quá trình chế biến rượu vang từ quả xương rồng bàn chải như sau:

* Điều kiện nuôi tăng sinh nấm men

Môi trường nuôi là dịch ép quả xương rồng bàn chải có thành phần sau:

- pH = 4,5

- [đường] = 120 brix

- Vitamin B1: 0,5÷1 mg/l

- Amonsunfat : 0,3÷0,5 g/l

- Thanh trùng ở 1000C trong thời gian 15 phút

Điều kiện nuôi nấm men là:

- Nhiệt độ thường

- Trên máy lắc hay sục oxi vô trùng

- Thời gian nuôi là 24h

* Các thông số của quá trình lên men:

+ Lượng đường thích hợp cho quá trình lên men là 220

brix

+ pH thích hợp cho quá trình lên men là 4,5

+ Lượng nấm men thích hợp để bổ sung là 10%V (với số lượng là 15,4.106 tế bào/ml) + Thời gian thích hợp cho quá trình lên men là 8 ngày

+ Để làm trong rượu thì bổ sung enzyme pectinase với tỷ lệ là 0,2%V, ở nhiệt độ 450

C trong thời gian 30 phút

* Thành phần của quả xương rồng gai/bàn chải được xác định có:

+ pH = 4,57

+ Hàm lượng chất khô: 11,3300

brix

+ Hàm lượng ẩm: 87,667%

+ Hàm lượng khoáng: 1,003%

4.2.Kiến nghị

Hướng nghiên cứu tiếp theo của chúng tôi nếu có thể là:

- Nghiên cứu điều kiện nhân giống vi khuẩn lactic để lên men malolactic

- Nghiên cứu các thông số để lên men malolactic như tỷ lệ bổ sung vi khuẩn lactic, nhiệt độ, thời gian lên men

- Nghiên cứu sự biến đổi của rượu trong thời gian ổn định, bảo quản

- Điều kiện bảo quản sản phẩm

Trang 10

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Đinh Hữu Đông(2014), “Thành phần hóa sinh học của cây xương rồng gai ở Bình

Thuận”, Tạp chí khoa học công nghệ và thực phẩm No.3.2014, pp 27-34

[2] Trần Thị Luyến(1998), ”Công nghệ chế biến sản phẩm lên men”, NXB nông nghiệp

Tp.HCM

[3] Nguyễn Đức Lượng(1996), “Thực phẩm lên men truyền thống”, Trường Đại học kỹ

thuật Tp.HCM

[4] Hoàng Đình Hòa(2000), “Công nghệ sản xuất malt & bia”, NXB KHKT Hà Nội

[5] Phạm văn Sổ, Bùi Thị Như Thuận (1975), “Kiểm nghiệm lượng thực thực phẩm”, NXB

khoa học và kỹ thuật Hà Nội, pp 77-124

[6] A.Joyeux(1984), “Evolution of acetic acid bacteria during fermentation and storage of

wine”, Appied environmental Microbiology, pp153-158

[7] Aline Lounvade Funel(1999), “Lactic acid bacteria in the quanlity impruvement and

dipreciation of wine”, Netherlands, pp 317-331

[8] Beavan, MJ.C., Charpentier, C & Rose, A.H.(1982), “Production and tolerance to

ethanol in relation to phospholipid fatty-acyl composition of Saccharomyces cerevisiae”

T Gen Microbiol 128, pp 1447-1455

[9] Grilles de revel(1998), “Contribution to the Knowledge Malolactic Fermentation

influence on wine Aroma” Food chemical, France, No.47, pp 4003-4008

[10] Maurizio Ciano(2006), “Fermentation behavier and metabolic interactions of

multistartes wine fermentations”, International journal of food microbilogy 108, pp

239-245

16

14

12

10

8

6

4

2

Tổng điểm cảm quan

Ngày đăng: 09/01/2021, 20:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w