Đây là chức năng không thể thiếu đối với mọi quá trình học tập. Nó không chỉ là sự đánh giá để chứng nhận, nghĩa là nhằm xác định xem sinh viên đã làm chủ được kiến thức ch[r]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG
SỐ 1 – NĂM 2015
LƯU HÀNH NỘI BỘ
Trang 2ngày 22/7/2015 của Sở T ông tin và
Truyền t ông P ú Yên
In xong và nội lưu c iếu t áng
8/2015 P át àn nội bộ
Phạm Viết Vỹ Đào tạo ng ề: T ực trạng và giải p áp 1
Lê Đức Gia n toàn lao động trong xây dựng 6
Trương Minh Trí Giáo trình trong xu t ế đổi mới
Lê Thị Mến Sự p át triển của C ủ ng ĩa Tư bản và
tác động của nó đến tương lai của C ủ ng ĩa Xã ội 20
Vũ Thị Phương Thảo K ái niệm, đặc điểm giáo
Lê Nhật Bảo ề k ái niệm quyền bào c ữa trong tố
Nguyễn Thị Hoa Kiều Triết lý giáo dục Jon
Dewey trong “Kin ng iệm và giáo dục” 40
Võ Xuân Hội T ời kỳ quá độ lên C ủ ng ĩa Xã ội
Nguyễn Thị Tiến ận dụng p ép biện c ứng duy
vật trong Xây dựng và tổ c ức t ực iện đường lối đổi mới kin tế của nước ta
54
Đinh Gia Tuấn Giải p áp kết nối doan ng iệp với
Phạm Ngọc Tân, Nguyễn Huỳnh Minh Trang Các
p ương p áp kiểm tra c ất lượng c c k oan n ồi 64
Trịnh Văn Cần Các văn bản quy p ạm p áp luật
liên quan trực tiếp đến oạt động xây dựng ết iệu lực t i àn toàn bộ đến 5/2015
74
Nguyễn Thị Ngọc Lê ợ công – T ực trạng và một
số giải p áp nâng cao iệu quả quản lý nợ công tại iệt am
83
Trần Thị Nguyên Thảo, SV Huỳnh Văn Thoại
ai trò của giảng viên đối với việc tự c của sin viên trong đào tạo t eo c c ế tín c ỉ
90
Ngô Đình Thành Giảm tổn t ất điện năng ở ệ
Lương Thị Bích Công ng ệ cào bóc tái c ế nguội
bằng mặt đường bê tông n ựa bằng Bitum b t 104
Nguyễn Lê Tín Một số p ương p áp mã oá đối xứng 108
Trần Thái Sơn Điểm bất động đối với c ương trìn
Nguyễn Thị Kim Cúc, Bùi Nguyên Tuân Tổ c ức
dạy c Tiếng n c o sin viên đạt c uẩn bậc 3 (B1) t eo k ung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng c o iệt am tại Trường Đại c Xây dựng Miền Trung
- T ực trạng và giải p áp
122
Trang 3Hồ Thị Mỹ Linh K ảo sát lỗi p át âm p ụ âm đơn
đầu Tiếng n của sin viên năm n ất Trường Đại
c Xây dựng Miền Trung
130
Lại Văn Học Giải p áp nâng cao sự ứng t ú tập
luyện c p ần Giáo dục T ể c ất tự c n của sin viên Trường Đại c Xây dựng Miền Trung
136
Trang 4ĐÀO TẠO NGHỀ: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
KS Phạm Viết Vỹ
Trưởng khoa Đào tạo nghề, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Tại kỳ họp thứ 6 vừa qua, Quốc hội đã thông qua Luật Việc làm gồm 7
Chương và 62 Điều Đây là lần đầu tiên Việt Nam có một văn bản luật quy định
đầy đủ, điều chỉnh toàn diện các quan hệ về việc làm và thị trường lao động Để
góp phần nâng cao hiệu quả công tác Đào tạo nghề của Trường ĐHXD Miền
Trung, trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích thực trạng và đề xuất các
giải pháp trong công tác đào tạo nghề trong thời gian sắp tới
Từ khóa: Đào tạo Nghề, giải pháp
1 Tổng quan về thực trạng Đào tạo Nghề
Nhìn một cách tổng thể, việc
Đảng, Nhà nước xác định tăng đầu tư
cho đào tạo nâng cao chất lượng cho
đội ngũ lao động, nhất là lao động
thông qua đào tạo để họ có thể làm
được những công việc phù hợp với môi
trường lao động sản xuất là một hướng
đi đúng đắn Một khi có tay nghề qua
đào tạo sẽ giúp họ tự tin đi tìm việc làm
hay tự tạo việc làm hoặc sẵn sàng tham
gia vào những công việc phù hợp Vấn
đề hiện nay là Đảng, Nhà nước cần có
thêm nhiều giải pháp để giữ chân người
lao động sau khi qua đào tạo nghề phải
làm việc ngay chính quê hương họ, hạn
chế dồn về thành phố nhằm tránh gia
tăng áp lực cho vùng thành thị; đồng
thời có chính sách thu hút bớt lao động
dư thừa hoặc thất nghiệp ở vùng thành
thị về nông thôn làm việc Làm được
như vậy chính là thực hiện tốt chuyển
dịch lao động một cách khoa học và
hợp lý Muốn vậy, không còn cách nào
khác là phải tiếp tục tăng cường đầu tư
cho nông nghiệp, nông thôn và nông
dân; ưu tiên công nghiệp hoá nông
nghiệp nông thôn; dành nhiều sự quan
tâm hơn nữa cho vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số; chú trọng phát triển các nghề dịch
vụ, vì nhu cầu sử dụng lao động cho các nghề có tính chất dịch vụ là rất lớn
Điều quan trọng là phải tiếp tục tăng cường đầu tư cho công tác đào tạo nghề
và tạo việc làm cho lao động nông thôn một cách bền vững
Thêm vào đó, Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
về "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020" mặc dù đã có hiệu lực gần 5 năm, nhưng nhiều lao động khu vực nông thôn ở nhiều vùng vẫn chưa biết đến Việc tổ chức tuyên truyền, giới thiệu về đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn, song không phải ai cũng nắm rõ về chương trình này Thậm chí, có người đăng ký tham gia học nghề chỉ vì mục đích được hưởng tiền ăn, tiền đi lại,…
Hiện nay, theo quy định mới về Luật Việc làm đã chỉ rõ: Luật quy định 6 chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động gồm: tín dụng ưu đãi tạo việc làm; hỗ trợ chuyển dịch việc làm cho lao động nông thôn; việc làm công; hỗ trợ
Trang 5đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng; hỗ trợ tạo việc làm cho
thanh niên và hỗ trợ phát triển thị trường
lao động Đây là một trong những điều
thuận lợi cho công tác hỗ trợ và phát
triển nguồn lao động ở các địa phương
Theo số liệu của Tổng cục Dạy
nghề, tỷ lệ lao động qua đào tạo của Việt
Nam hiện nay là 1:3, có nghĩa là cứ một
sinh viên tốt nghiệp đại học thì có ba học
viên tốt nghiệp trường nghề Trong khi
đó, ở các nước tiên tiến trong khu vực lại
là 1:10, tức là cứ một sinh viên tốt nghiệp
đại học thì có mười học viên tốt nghiệp
trường nghề Như vậy, để phục vụ sự
nghiệp phát triển đất nước, lực lượng
“thợ” kỹ thuật của ta còn thiếu trầm
trọng Khắc phục tình trạng “thừa thầy
thiếu thợ” này thì dạy nghề ngắn hạn là
một lựa chọn thích hợp; là biện pháp hữu
hiệu để giảm thất nghiệp, tự tạo thêm
việc làm, góp phần đẩy nhanh quá trình
phát triển đất nước góp phần giải quyết
công ăn việc làm cho cho thanh niên
trong độ tuổi lao động
Có nhiều quan điểm nhìn nhận và
cách tính về mối tương quan giữa phát
triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao
động Hai yếu tố này có mối quan hệ mật
thiết với nhau Công thức sau sẽ chứng
minh cho điều này:
e = l/g (trong đó: e là hệ số co giãn
của lao động theo GDP;
l là tốc độ tăng trưởng lao động;
g là tốc độ tăng trưởng kinh tế
Nếu e càng nhỏ thì chứng tỏ để đạt
được 1% tăng trưởng thì nền kinh tế càng
sử dụng ít lao động) Có hai yếu tố dẫn
đến hiện tượng nền kinh tế sử dụng ít lao
động: thứ nhất, sự phát triển của khoa
học công nghệ dẫn đến giảm quy mô lao
động của các ngành kinh tế; thứ hai, có
sự phân bố nguồn lực hợp lý, tức là lao động có sự chuyển dịch từ ngành sử dụng nhiều lao động sang ngành sử dụng ít lao động; đồng thời chất lượng lao động được nâng lên thông qua đào tạo
2 Đào tạo nghề tại Trường Đại học Xây dựng Miền Trung trong thời gian qua
Ngay những năm đầu khi đó trường còn ở vị trí là trường trung cấp đã đào tạo nghề công nhân trắc địa cho Công ty thủy điện Sông Đà, để phục vụ cho công trình thủy điện Ia Li rất hiệu quả Từ năm 1997 trường thành lập tổ dạy nghề và đến nay là khoa Đào tạo nghề của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung Đội ngũ, giáo viên, hướng dẫn viên, nhân viên của khoa với 23 con người có thời điểm quản lý đào tạo trên
300 học sinh của các tỉnh miền Bắc, miền Trung về đây học nghề Trường đã đào tạo nhiều nghề như Trắc địa, Xây dựng, Sắt hàn, Điện công nghiệp, Điện nước dân dụng Lực lượng học sinh ra trường không đủ đáp ứng số lượng cho các đơn vị sử dụng
Hằng năm đội ngũ giáo viên khoa Đào tạo nghề cùng với một số giáo viên ở các khoa khác trong trường đi xác định bậc thợ (thợ nề, thợ điện nước…) cho các đơn vị ở miền Trung
và Tây Nguyên
Hai năm một lần (năm lẻ, theo quy định của Bộ Lao động -Thương binh và
Xã hội) trường đều có học sinh tham gia
dự thi “tay nghề giỏi” cấp bộ và cũng 02 năm một lần (năm chẵn, theo quy định của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội) Khoa đều có giáo viên tham gia hội giảng giáo viên giỏi Nghề cấp bộ, cấp quốc gia đã đạt giải nhì, giải ba
Trang 6Hằng năm nhà trường cũng đưa
được hàng chục sinh học nghề đi Hàn
Quốc theo diện “Lưu học sinh”của Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội mang
hiệu quả kinh tế rất cao cho cá nhân và
xã hội
Nhìn lại ta thấy đây là thời kỳ hưng
thịnh về công tác đào tạo nghề của
Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Theo tình hình chung của đất nước,
cũng như tình trạng chung của vùng,
miền người học nghề ngày càng ít đi Từ
năm 2010 trường không còn tuyển đủ số
lượng học sinh vào học nghề để phân bổ
cho từng lớp, vì vậy việc đào tạo nghề
phải dừng tuyển sinh từ đây Năm 2011
còn laị 13 học sinh sơ cấp nghề, năm
2012 còn laị 11 học sinh sơ cấp nghề tốt
nghiệp ra trường, được tuyển sinh từ
năm 2009 Đội ngũ giáo viên, hướng dẫn
viên của khoa chỉ còn chức năng chính
là hướng dẫn “Tay nghề công nhân xây
dựng” bậc 2/7 (cũ) hay bậc 1/5( mới)
cho các lớp Trung cấp, Cao đẳng, Đại
học trong nhà trường
Về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo
nghề hiện nay tiếp tục phát huy những
Thực hành đa năng” với diện tích hơn
đầu năm 2013 Đây là một yếu tố thuận
lợi để phát huy cho công việc thực hành
Đào tạo nghề
3 Giải pháp nâng cao chất lƣợng Đào
tạo nghề trong giai đoạn tới:
Một là, xây dựng mối liên hệ mật
thiết giữa dạy nghề ngắn hạn và thị
trường việc làm Cơ sở dạy nghề ngắn
hạn cần tìm hiểu các thông tin liên quan
đến nhu cầu lao động của xã hội, những
nghề nghiệp mà thị trường lao động cần
và các yêu cầu cụ thể về nghề nghiệp
Trên cơ sở đó, xây dựng chương trình dạy nghề, liên kết với doanh nghiệp để cung ứng lao động là những học viên của cơ sở mình Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống thông tin chính xác và tin cậy về nhu cầu việc làm của thị trường lao động, bao gồm: thông tin về doanh nghiệp, về cơ sở dạy nghề (những nghề được dạy, thời gian học, học phí, trình
độ, chất lượng đào tạo, khả năng tìm kiếm việc làm sau tốt nghiệp…), về thị trường việc làm và các dịch vụ đào tạo nghề Hệ thống thông tin này cung cấp thông tin cho người lao động trong việc lựa chọn các dịch vụ học nghề, tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm Điều này sẽ giúp giải tỏa tâm lý e sợ của người lao động khi lựa chọn học nghề ngắn hạn
Hai là, quy hoạch mạng lưới cơ
sở dạy nghề, mở rộng ngành nghề đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội Xây dựng
quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực trước mắt và tương lai cho các vùng kinh tế, các khu công nghiệp, các doanh nghiệp, vùng nông thôn, vùng khó khăn;
đáp ứng nhu cầu học nghề, phổ cập nghề cho người lao động, nhất là thanh niên
và góp phần phân luồng sau Trung học
cơ sở và Trung học phổ thông Phát triển các cơ sở dạy nghề trong các khu công nghiệp, các doanh nghiệp nhất là ở những nơi trình độ lao động còn thấp, hiệu quả sản xuất chưa cao để vừa đào tạo nhân lực cho doanh nghiệp vừa tham gia đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội
Hoàn thiện và thường xuyên bổ sung, cập nhật danh mục nghề theo nhu cầu của thị trường lao động và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng
Trang 7vùng, từng ngành và từng địa phương
Nghiên cứu chuyển hướng xây dựng
chương trình dựa trên năng lực thực hiện
và thực hiện nguyên tắc liên thông để
tạo điều kiện thuận lợi cho người lao
động có cơ hội nhanh chóng chuyển đổi
nghề nghiệp hoặc tiếp tục nhận dịch vụ
đào tạo hoặc tự đào tạo để nâng cao trình
độ, thăng tiến trong nghề nghiệp và tăng
thu nhập trong suốt cuộc đời lao động
của họ
Ba là, nâng cao chất lượng đào
tạo nghề Chất lượng đào tạo quyết định
sức cạnh tranh của nguồn nhân lực Chất
lượng đào tạo là thương hiệu và sự tồn
tại của các cơ sở dạy nghề trong thị
trường đào tạo và thị trường việc làm
Bảo đảm chất lượng là bảo đảm quyền
lợi cho tất cả các bên khách hàng tham
gia hoạt động đào tạo nghề Vì vậy cần
nhanh chóng chuyển từ mô hình đào tạo
nghề đáp ứng nhu cầu về số lượng sang
mô hình đáp ứng nhu cầu về chất lượng
và hiệu quả Đột phá về chất lượng là
mục tiêu quan trọng nhất để đáp ứng nhu
cầu Hoàn thiện quy trình, hệ thống tiêu
chí kiểm định chất lượng các chương
trình đào tạo và cơ sở dạy nghề Tự kiểm
định chất lượng và kiểm định chương
trình đào tạo là nội dung chủ yếu của
hoạt động kiểm định chất lượng
Bốn là, Dạy nghề gắn với thế mạnh
địa phương và gắn với việc làm cụ thể:
mô hình đào tạo nghề nên có sự kết hợp
sáng tạo, tìm ra những phương thức phù
hợp nhằm khắc phục khó khăn trong quá
trình đào tạo gắn với việc làm cho lao
động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ
cấu lao động và dịch vụ phát triển Ngoài
ra, việc mở lớp dạy nghề ở tận cơ sở mang
lại hiệu quả thiết thực: vừa tiết kiệm chi
phí đào tạo nghề, thu hút đông lao động tham gia học nghề, vừa giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động
Năm là, Thành lập Ban chỉ đạo trong công tác Đào tạo nghề, cụ thể:
- Tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các chủ trương của Đảng, Chính sách, Pháp luật của Nhà nước về vai trò, vị trí của đào tạo nghề đối với phát triển kinh tế -
xã hội, tạo việc làm, nâng cao thu nhập
để người lao động biết và tích cực tham gia học nghề; Tuyên truyền vận động làm chuyển biến công tác hướng nghiệp trong nhà trường, tổ chức, các hoạt động ngoại khóa để các cơ sở dạy nghề, doanh nghiệp sử dụng lao động tham gia hướng nghiệp cho học sinh, cung cấp đầy đủ các thông tin, tư vấn tới học sinh THPT
về địa chỉ đào tạo nghề, các ngành đào tạo, các chính sách ưu đãi về học nghề của nhà Trường để học sinh lựa chọn các ngành, các nghề cần học, phấn đấu đạt chỉ tiêu phân luồng học sinh học nghề theo mục tiêu đề ra Đẩy mạnh việc dạy nghề, truyền nghề tại các làng nghề, cộng đồng dân cư; thường xuyên rà soát
số lao động cần đào tạo, huấn luyện nghề, lĩnh vực đào tạo cho nông dân, để
có kế hoạch liên kết, phối hợp, đào taọ huấn luyện nghề hàng năm
- Tăng cường phối hợp với các đơn
vị chức năng trong công tác tổ chức dạy nghề, giới thiệu việc làm, đặc biệt là lĩnh vực xuất khẩu lao động
- Tổ chức chỉ đạo điều tra khảo sát xác định nhu cầu học nghề của lao động nông thôn, danh mục nghề đào tạo, nhu cầu sử dụng lao động qua đào tạo nghề
và năng lực đào tạo của đơn vị;
Trang 8- Kiểm tra, hướng dẫn, đôn đốc các
phòng, khoa, đơn vị có liên quan thực
hiện có hiệu quả Đề án Đào tạo Nghề
cho lao động nông thôn;
- Phối hợp các hoạt động của cơ
quan, đoàn thể; lồng ghép với các
chức triển khai Luật Giáo dục nghề
nghiệp ra đời ngày 27 tháng 11 năm
2014 đã được Quốc hội khoá XIII thông qua tại kỳ họp thứ 8 và có hiệu lực từ 01 tháng 7 năm 2015
Cùng với việc nâng cao công tác
Đào tạo nghề theo đề án của Chính phủ:
1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án 1956 về
“Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Trong thời gian tới là vấn đề quan trọng đặt ra cho lãnh đạo Nhà trường, nhằm hướng tới sự phát triển bền vững trong cơ cấu lao động ở khu vực để từng bước vươn đến các thị trường trong và ngoài nước
Trang 9AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG
KS Lê Đức Gia
Phó trưởng khoa Đào tạo nghề, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Trên đất nước ta, trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội, công tác xây dựng có vai trò hết sức to lớn và được phát
triển với quy mô ngày càng tăng Trong xây dựng, việc bảo đảm an toàn thân
thể, bảo vệ sức khỏe cho người lao động, cũng như bảo đảm cho các công trình,
là một yêu cầu đặc biệt quan trọng Công tác xây dựng có nhiều đặc điểm riêng
và rất phức tạp Đối tượng của xây dựng bao gồm nhiều thể loại công trình,
thuộc nhiều ngành và thành phần kinh tế khác nhau: nhà máy, cầu cống, đường
sá, bến cảng, sân bay, thủy điện, thủy lợi, đường hầm…Việc thi công các công
trình, trong rất nhiều trường hợp, phải tiến hành với những điều kiện hết sức
khó khăn Thi công trên nhiều cao độ khác nhau, từ dưới hầm sâu cho đến đỉnh
núi cao; điều kiện làm việc của người lao động thay đổi không ngừng theo sự
mở rộng và lên cao của công trình Các loại máy, trang thiết bị được sử dụng
rất khác nhau, nhiều chủng loại Các công việc, do phải làm ngoài trời, thường
luôn bị ảnh hưởng của thời tiết (mưa, nắng, gió, nóng, lạnh…)
Từ khóa: An toàn lao động trong xây dựng, công trình, thành phần kinh tế, thời
tiết, chất lượng công trình, tiến độ, quy chuẩn, quy phạm an toàn
1 Quy định về an toàn lao động trong
thi công xây dựng công trình
Để đảm bảo an toàn và hạn chế tai
nạn lao động trong xây dựng, ngày
03/12/2010 Bộ Xây dựng đã ban hành
Thông tư số 22/2010/TT-BXD quy định
về an toàn lao động trong thi công xây
dựng công trình
Trong xây dựng và lắp đặt thiết bị
đối với các công trình xây dựng mới, sửa
chữa, cải tạo, di dời, phục hồi, phá dỡ
công trình; bảo hành, bảo trì công trình
phải đảm bảo các yêu cầu sau:
1.1 Tổng mặt bằng công trường xây
dựng phải được thiết kế và phê duyệt
theo quy định, phù hợp với địa điểm xây
dựng, diện tích mặt bằng công trường,
điều kiện khí hậu tự nhiên nơi xây dựng,
đảm bảo thuận lợi cho công tác thi công,
an toàn cho người, máy và thiết bị trên
công trường và khu vực xung quanh
chịu ảnh hưởng của thi công xây dựng
1.2 Vật tư, vật liệu phải được xếp gọn gàng ngăn nắp đúng theo thiết kế tổng mặt bằng được phe duyệt Không được
để các vật tư, vật liệu và các chướng ngại vật cản trở đường giao thông, đường thoát hiểm, lối ra vào chữa cháy
Kho chứa vật liệu dễ cháy, nổ không được bố trí gần nơi thi công và lán trại
Vật liệu thải phải được dọn sạch, đổ đúng nơi quy định Hệ thống thoát nước phải thường xuyên được thông thoát bảo đảm mặt bằng công trường luôn khô ráo
1.3 Trên công trường phải có biển báo theo quy định tại Điều 74 Luật Xây dựng
Tại cổng chính ra vào phải có sơ đồ tổng mặt bằng công trường, treo nội quy làm việc Các biện pháp bảo đảm an toàn, nội quy về an toàn phải được phổ biến và công khai trên công trường xây dựng để mọi người biết và chấp hành; những vị trí nguy hiểm trên công trường như đường hào, hố móng, hố ga phải có rào chắn,
Trang 10biển cảnh báo và hướng dẫn đề phòng tai
nạn; ban đêm phải có đèn tín hiệu
1.4 An toàn về điện
a Hệ thống điện động lực và lưới
điện chiếu sáng trên công trường phải
riêng rẽ; có cầu dao tổng, cầu dao phân
đoạn có khả năng cắt điện một phần hay
toàn bộ khu vực thi công;
b Người lao động, máy và thiết bị
thi công trên công trường phải được bảo
đảm an toàn về điện Các thiết bị điện
phải được cách điện an toàn trong quá
trình thi công xây dựng;
c Những người tham gia thi công
xây dựng phải được hướng dẫn về kỹ
thuật an toàn điện, biết sơ cứu người bị
điện giật khi xảy ra tai nạn về điện
1.5 An toàn về cháy, nổ
a Tổng thầu hoặc chủ đầu tư
(trường hợp không có tổng thầu) phải
thành lập ban chỉ huy phòng chống cháy,
nổ tại công trường, có quy chế hoạt động
và phân công, phân cấp cụ thể;
b Phương án phòng chống cháy, nổ
phải được thẩm định, phê duyệt theo quy
định Nhà thầu phải tổ chức đội phòng
chống cháy, nổ, có phân công, phân cấp
và kèm theo quy chế hoạt động;
c Trên công trường phải bố trí
các thiết bị chữa cháy cục bộ Tại các
vị trí dễ xảy ra cháy phải có biện pháp
biển báo cấm lửa và lắp đặt các thiết bị
chữa cháy và thiết bị báo động, đảm
bảo khi xảy ra cháy kịp thời phát hiện
để ứng phó
1.6 Các yêu cầu khác theo quy định của
pháp luật có liên quan
1.7 Đối với dự án có vốn đầu nước
ngoài hoặc những công trình có sự
tham gia của nhà thầu nước ngoài thì
các quy định về an toàn lao động phải
được thể hiện bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài
*Khi thi công xây dựng phải đảm bảo:
1 Trước khi khởi công xây dựng phải có thiết kế biện pháp thi công được duyệt, trong biện pháp thi công phải thể hiện được các giải pháp đảm bảo an toàn lao động cho người lao động và máy, thiết bị thi công đối với từng công việc
Trong thiết kế biện pháp thi công phải
có thuyết minh hướng dẫn về kỹ thuật và các chỉ dẫn thực hiện
2 Thi công xây dựng phải tuân thủ theo thiết kế được duyệt, tuân thủ quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật
Đối với những công việc có yêu cầu phụ thuộc vào chất lượng của công việc trước đó, thì chỉ được thi công khi công việc trước đó đã được nghiệm thu đảm bảo chất lượng theo quy định
3 Biện pháp thi công và các giải pháp về an toàn phải được xem xét định
kỳ hoặc đột xuất để điều chỉnh cho phù hợp với thực trạng của công trường
4 Tổ chức, cá nhân phải có đủ điều kiện năng lực phù hợp với công việc đảm nhận tùy theo quy định Những người điều khiển máy, thiết bị thi công
và những những người thực hiện các công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động phải được huấn luyện an toàn lao động và có thẻ an toàn toàn lao động theo quy định
5 Máy, thiết bị thi công có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động phải được kiểm định, đăng ký với cơ quan có thẩm quyền theo quy định mới được phép hoạt động trên công trường
Khi hoạt động, máy và thiết bị thi công phải tuân thủ quy trình, biện pháp đảm bảo an toàn
Trang 11Trường hợp khi hoạt động, thiết bị
thi công vượt khỏi phạm vi mặt bằng
công trường thì chủ đầu tư phải phê
duyệt biện pháp bảo đảm an toàn cho
người, máy, thiết bị và công trình trong,
ngoài công trường chịu ảnh hưởng của
thi công xây dựng
Trường hợp do điều kiện thi công,
thiết bị đặt ngoài phạm vi công trường
và trong thời gian không hoạt động nếu
các thiết bị thi công vươn ra khỏi phạm
vi công trường thì phải được cơ quan có
thẩm quyền cho phép theo quy định của
địa phương
6 Những người khi tham gia thi
công xây dựng trên công trường phải
được khám sức khỏe, huấn luyện về an
toàn và được cấp phát đầy đủ phương
tiện bảo vệ cá nhân theo quy định của
pháp luật về lao động
* Quyền và trách nhiệm của người
lao động trên công trường xây dựng:
Người lao động trên công trường xây
dựng có quyền và trách nhiệm sau đây:
1 Có quyền từ chối thực hiện các
công việc được giao khi thấy không đảm
bảo an toàn lao động sau khi đã báo cáo
với người phụ trách trực tiếp mà vẫn
không được khắc phục, xử lý hoặc nhà
thầu phụ không cấp đầy đủ phương tiện
bảo vệ cá nhân theo đúng quy định
2 Chỉ được nhận thực hiện những
công việc phù hợp với chuyên môn được
đào tạo Chấp hành đầy đủ các quy định,
nội quy về an toàn lao động có liên quan
đến công việc, nhiệm vụ được giao
3 Người lao động làm các công
việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn
lao động thì phải được huấn luyện an
toàn và có thẻ an toàn lao dộng theo
Trong quá trình kiểm tra nếu phát hiện thấy các vi phạm về an toàn lao động hoặc các nguy cơ xảy ra tai nạn lao động thì tạm dừng thi công việc đó, đồng thời báo cáo trực tiếp nhà thầu để xem xét xử
lý hoặc yêu cầu người trực tiếp phụ trách
bộ phận đó đình chỉ thi công để có các biện pháp bảo đảm an toàn cho người và công trình, sau đó báo cáo người chỉ huy
công trường
2 Người làm công tác an toàn hoặc cán bộ kỹ thuật của nhà thầu phải giám sát liên tục công tác an toàn lao động trong suốt quá trình thi công xây dựng công trình
2 Tình hình tai nạn lao động năm
2014
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thông báo đến các ngành, các địa phương tình hình tai nạn lao động năm
2014 và một số giải pháp chủ yếu nhằm chủ động ngăn ngừa sự cố và tai nạn lao động năm 2015 như sau:
2.1 Tình hình chung 2.1.1 Số vụ tai nạn lao động (TNLĐ)
Theo báo cáo của 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, năm 2014 trên toàn quốc đã xảy ra 6.709 vụ TNLĐ làm 6941 người bị nạn trong đó:
- Số vụ TNLĐ chết người: 592 vụ
- Số vụ TNLĐ có hai người bị nạn trở lên: 166 vụ
- Số người chết: 630 người
- Số người bị thương nặng: 1.544 người
- Nạn nhân là lao động Nữ: 2.136 người
Trang 122.1.2 So sánh tình hình TNLĐ năm
2014 với năm 2013
Qua các số liêu thống kê về tình
hình TNLĐ năm 2014 so với năm 2013
cho thấy số nạn nhân nữ được thống kê trong năm 2014 giảm so với năm 2013 như sau:
Bảng 1 So sánh tình hình TNLĐ năm 2014 và năm 2013
2.1.3 So sánh TNLĐ tại 10 địa phương để xảy nhiều TNLĐ chết người nhất năm 2014
Theo số liệu báo cáo, Đồng Nai là địa phương thống kê được số vụ TNLĐ nhiều nhất,
thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có số vụ TNLĐ chết người cao nhất cả nước:
Bảng 2 So sánh tình hình TNLĐ năm 2014 với năm 2013 của 10 địa phương
xảy ra nhiều vụ TNLĐ chết người nhất
Trang 132.2 Phân tích tình hình tai nạn lao động
2.2.1 Tình hình tai nạn lao động chết
người theo loại hình cơ sở sản xuất
- Loại hình công TNHH chiếm
- Loại hình doanh nghiệp nhà
nước, đơn vị hành chính sự nghiệp
chiếm 15,8% số vụ tai nạn và 16,2% số
người chết;
- Loại hình doanh nghiệp tư nhân,
hộ kinh doanh cá thể chiếm 11,3% số vụ
tai nạn và 10,8% số người chết;
- Loại hình công ty liên doanh có
vốn đầu tư của nước ngoài chiếm 3,1%
- Lĩnh vực dệt may, da giày chiếm 4,9% tổng số vụ và 4,5% tổng số người chết
2.2.3 Các yếu tố chấn thương chủ yếu làm chết người nhiều nhất
- Ngã từ trên cao chiếm 30,7%
- Vật văng bắn chiếm 3,5% tổng số
vụ và 3,1% tổng số người chết;
- Ngạt khí chiếm 3% tổng số vụ và 5,8% tổng số người chết;
Hình 1 Khi làm việc ở trên cao phải thắt Hình 2 TNLĐ tại công trường Formosa
dây an toàn Hà Tĩnh
Trang 142.2.4 Các nguyên nhân chủ yếu để
xảy ra tai nạn lao động chết người
* Nguyên nhân do sử dụng lao
động chiếm 72,7%, cụ thể:
- Người sử dụng lao động không
xây dựng quy trình, biện pháp làm việc
an toàn chiếm 26,7% tổng số vụ;
- Thiết bị không đảm bảo an toàn
lao động chiếm 18,3% tổng số vụ;
- Người sử dụng lao động không
huấn luyện an toàn lao động cho người
lao động chiếm 11,4% tổng số vụ;
- Do tổ chức lao động và điều kiện
lao động chiếm 12,3% tổng số vụ;
- Do người sử dụng lao động
không trang bị phương tiện bảo vệ cá
nhân trong lao động chiếm 4%;
* Nguyên nhân người lao động
chiếm 13,4%, cụ thể:
- Người lao động bị nạn vi phạm
quy trình quy chuẩn an toàn lao động
chiếm 11,9 tổng số vụ;
- Người lao động không sử dụng
phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 1,5%
tổng số vụ;
Còn lại 13,9% là những vụ tai nạn
lao động xảy ra do các nguyên nhân khác
2.2.5 Thiệt hại về vật chất
Theo số liệu báo cáo sơ bộ của các
địa phương, thiệt hại về vật chất do tai
nạn lao động xảy ra năm 2014 như sau:
chi phí tiền thuốc, mai táng, tiền bồi
thường cho gia đình người chết và
những người bị thương… là 90,78 tỷ
đồng; thiệt hại về tài sản là 7,76 tỷ
đồng; tổng số ngày nghỉ do tai nạn lao
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
đề nghị các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức người sử dụng lao động, người lao động quan tâm triển khai thực hiện tốt các nội dung chủ yếu sau:
1 Các Bộ, ngành chỉ đạo các doanh nghiệp thuộc ngành và lĩnh vực quản lý tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động, đặc biệt trong các lĩnh vực xây dựng, khai khoáng, hóa chất,
sử dụng điện và làm việc trong không hạn chế
2 Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ đạo các đơn
vị trực thuộc tăng cường phối hợp việc điều tra, xử lý nhanh, dứt điểm các vụ tai nạn lao động để kịp thời giải quyết chế độ cho người lao động bị tai nạn lao động cũng như có biện pháp khắc phục những sai phạm
3 Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí tăng cường phối hợp với các cơ quan, tổ chức của các Bộ, ngành, địa phương để chủ động thông tin tuyên truyền về công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động đến các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh và người lao động, nhằm nâng cao nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động
4 Ủy ban nhân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh
Trang 15doanh, cơ quan, tổ chức đóng trên địa
bàn tăng cường tự kiểm tra về công tác
an toàn lao động, vệ sinh lao đông; tổ
chức huấn luyện an toàn lao động, vệ
sinh lao động; xây dựng các quy trình,
biện pháp làm việc an toàn và phương án
xử lý sự cố và ứng cứu khẩn cấp
5 Sở Lao động – Thương binh và
Xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương tăng cường công tác thông
tin, tuyên truyền về công tác an toàn lao
động, vệ sinh lao động; tổ chức thanh
tra, kiểm tra, giám sát chặt chẽ các
doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh
có nguy cơ mất an toàn lao động trên địa
bàn; thực hiện nghiêm túc việc điều tra,
báo cáo TNLĐ, sự cố nghiêm trọng theo
quy định Xử lý nghiêm các doanh
nghiệp không khai báo, báo cáo TNLĐ
6 Các tổ chức người sử dụng lao
động vân động hội viên quan tâm thực
hiện công tác an toàn vệ sinh lao động,
các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh
doanh tăng cường tự kiểm tra về công an
toàn lao động, vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện lao động; chủ động xây dựng nội quy, quy trình, biện pháp làm việc an toàn và phương án xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp
7 Công đoàn các cấp tổ chức tuyên truyền, vận động người lao động tuân thủ nội quy, quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, cảnh giác phát hiện những nguy cơ về tai nạn lao động, sự cố để kịp thời thông báo đến người có trách nhiệm
để có biện pháp xử lý kịp thời
8 Triển khai thực hiện tố các hoạt động của Chương trình Quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động năm
2015 nhằm đạt mục tiêu của Chương trình Quốc gia an toàn lao động, vệ sinh lao động giai đoạn 2011 - 2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 2281/QĐ-TTg ngày 10/12/2010
Hình 3 Thi công không có lưới bao che Hình 4 Thi công có lưới bao công trình
công trình
- Thực hiện Nghị định số 06/CP
ngày 20 - 01- 1995 của Chính Phủ quy
định chi tiết một số điều của Bộ Luật
Lao động về an toàn lao động, vệ sinh
lao động và sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về việc đưa nội dung an toàn
lao động, vệ sinh lao động vào chương trình giảng dạy trong các trường đại học, các trường kỹ thuật, nghiệp vụ, quản lý
và dạy nghề
- Trong những năm qua Trường đại học Xây dựng Miền Trung thực hiện
Trang 16nghiêm chỉnh nghị định của Chính Phủ
và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng
đề cương 30 tiết an toàn lao động, vệ
sinh lao động vào học chính khóa cho
các ngành kỹ thuật xây dựng dân dụng
và công nghiệp, xây dựng cầu đường,
kiến trúc, kinh tế xây dựng, kỹ thuật hạ
tầng đô thị, ngành cấp thoát nước và dạy
nghề Nhà trường ý thức rằng phần lớn
các vụ tai nạn lao động có nguyên nhân
từ chính con người, việc tăng cường
nhận thức về ATVSLĐ cần được thực
hiện ở phạm vi đào tạo tập trung chính
khóa, bồi dưỡng kiến thức ATVSLĐ cho
các lớp xác định bậc thợ Đặc biệt năm
2014 Nhà trường được Cục An toàn lao
động Bộ Lao động – Thương binh và Xã
hội cấp giấy phép mở lớp huấn luyện an
toàn cho cán bộ kỹ thuật, công nhân lao
động ngành xây dựng và các đối tượng
có nhu cầu về kiến thức ATVSLĐ
Chương trình này rất bổ ích đối với đội ngũ kỹ thuật viên, công nhân kỹ thuật để nâng cao kiến thức về ATVSLĐ, chính những con người này sau khi ra trường
sẽ trở thành cán bộ kỹ thuật giám thi công công trình, cán bộ quản lý hoặc an toàn viên, tuyên truyền viên góp phần giảm thiểu về các trường hợp mất an toàn lao động trong quá trình sản xuất
Tóm lại: An toàn lao động trong thi công xây dựng công trình là hệ thống các biện pháp về tổ chức và quản
lý, điều hành trên công trường nhằm cải thiện điều kiện lao động và ngăn chặn tai nạn lao động Vì vậy an toàn lao động là hạnh phúc của mọi nhà và
sự phát triển của doanh nghiệp cũng như chỉ số uy tính của Việt Nam trên trường Quốc tế
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia an toàn trong xây dựng (QCVN 18:2014/BXD)
National Technical Regulation on Safety in Construction
[2] Thông tư số 22/2010/TT-BXD ngày 03/12/2010 quy định về an toàn lao động
trong thi công xây dựng công trình
Trang 17GIÁO TRÌNH TRONG XU THẾ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐẠI HỌC
TS Trương Minh Trí
Trưởng phòng KH&HTQT, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Trong xu thế nâng cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay, giáo trình
là tài liệu rất cần thiết được sử dụng trong hoạt động học tập và giảng dạy, do
đó cần nhìn nhận đúng nghĩa tới các chức năng của giáo trình có liên quan tới
người học và người dạy trong định hướng “Dạy học đặt sinh viên vào vị trí
trung tâm” Trong bài viết này, tác giả trao đổi một số thông tin về chức năng
và vị trí của giáo trình trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học đại học
Từ khóa: Giáo trình, phương pháp.
1 Khái quát về chức năng của Giáo trình
1.1 Chức năng liên quan tới người học
Truyền đạt kiến thức; phát triển kỹ
năng; củng cố các hiểu biết; đánh giá
kiến thức; tra cứu, tham khảo; giáo dục
về mặt xã hội, nhân văn
a Chức năng truyền đạt kiến thức
Đây là chức năng truyền thống và
quan trọng của giáo trình ở các lĩnh vực
cơ bản, cơ sở, chuyên ngành và nâng
cao Giáo trình giúp sinh viên tiếp thu
được các kiến thức như: khái niệm, dữ
liệu đặc biệt, các quy tắc, các công thức,
các sự việc, các quy trình, các hệ thuật
ngữ, những quy ước,…
b Chức năng phát triển các kỹ năng và
phương pháp
Một cuốn giáo trình không chỉ cho
phép tích lũy một loạt hiểu biết, mà còn
giúp phát triển những kỹ năng vận dụng,
những thái độ ứng xử, giúp hình thành
những thói quen trong lao động và đời
sống Thông qua đó sinh viên được tiếp
cận có chọn lọc, hoàn thiện và phát triển
các lĩnh vực quan tâm như: kỹ năng
nghiên cứu khoa học, kỹ năng tổng hợp
tài liệu, kỹ năng viết tổng kết, kỹ năng
thu thập thông tin,…
c Chức năng củng cố các hiểu biết
Sau khi đã học một kiến thức hoặc một kỹ năng, cần phải luyện tập những tình huống khác nhau để đảm bảo được
sự bền vững nhất định Đó là vai trò của các bài luyện tập, đồ án, vận dụng,…
Chức năng này cũng có tính chất truyền thống và một số giáo trình đặc biệt chỉ nhằm thực hiện mục tiêu này
d Chức năng đánh giá kiến thức
Đây là chức năng không thể thiếu đối với mọi quá trình học tập Nó không chỉ là sự đánh giá để chứng nhận, nghĩa
là nhằm xác định xem sinh viên đã làm chủ được kiến thức chưa Sự đánh giá này được thực hiện trong khuôn khổ của một giáo trình, nhằm uốn nắn sinh viên
sự hiểu biết, vận dụng và hình thành thói quen về kỹ năng Muốn vậy, sự đánh giá này phải nhằm xác định được sự bổ sung kiến thức thích hợp đối với các khó khăn trong học tập của sinh viên để giúp các
em tiến bộ, hoặc chỉ đơn giản nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của một sinh viên bằng cách chỉ ra chính xác nguồn gốc của những khó khăn thông qua phân tích các sai lầm của em sinh viên đó trong quá
trình tiếp cận Ví dụ: sinh viên khi học
Trang 18Thuyết lai hóa (học phần Hóa học đại
cương): Ngoài việc hiểu kiến thức, sinh
viên biết vận dụng để xác định hình
dạng của các hợp chất theo cấu trúc
không gian và theo điều kiện của môi
trường, sự bền vững của các hợp chất
theo chu kỳ hoặc theo nhóm, trên cơ sở
đó hướng đến việc xử lý (về mặt hóa học
một tạp chất), nhằm tạo ra vật liệu mới
có tính chất bền vững hơn về cấu trúc
e Chức năng tham khảo
Giáo trình luôn được xem là tài
liệu quan trọng giúp sinh viên tham khảo
để tìm một thông tin chính xác, như một
công thức hóa học, một cơ sở lý luận
thực tiễn, một sự kiện, một nguyên tắc
ứng dụng trong quá trình xử lý, sự giải
thích một hiện tượng trong khí hậu,…
Ở những điều kiện mà việc tiếp cận
thông tin khoa học khó khăn, thì chức
năng này rất quan trọng: giáo trình đôi khi
được xem là một nguồn thông tin bằng
văn bản duy nhất Ngày nay, khi khoa học
và công nghệ ngày càng phát triển, thì chức năng tham khảo vẫn là chủ yếu, nhưng lại có thể chiếm một cương vị khác: khẳng định về tính chính thống của kiến thức truyền tải, có vai trò đối với khung tham khảo cho phép sinh viên hình thành những hệ quy chiếu vững chắc đối với các khung tham khảo khác
g Chức năng giáo dục xã hội – nhân văn
Chức năng này liên quan đến các hành vi ứng xử, về các mối quan hệ với cuộc sống xã hội nói chung Một cuốn giáo trình có thể không chỉ chuyên nhằm truyền thụ kiến thức và kỹ năng, mà cũng có thể nhằm phát triển khả năng ứng dụng các ngành khoa học liên quan, khả năng ứng xử, cho phép sinh viên tìm được vai trò, vị trí của mình trong phạm
vi ngành/nghề trong xã hội, gia đình, văn hóa, dân tộc, v.v…
Một cuốn giáo trình luôn có một chức năng chính và một hoặc nhiều chức năng phụ
Bảng 1 Phân loại các chức năng chính, phụ theo loại giáo trình
Chức năng
chính
Chức năng phụ Loại giáo trình
Trang 19Ví dụ: sinh viên khi học Thuyết
lai hóa (học phần Hóa học đại cương):
sinh viên sẽ biết được ý nghĩa của sự
bền vững về mặt cấu trúc đối với các
nguyên tố hóa học, đơn chất và hợp
chất tự nhiên, từ đó giúp sinh viên hình
thành các ý tưởng về sự bảo tồn, xử lý
và phát triển vật liệu ở địa phương
thân thiện với môi trường Hoặc khi
sinh viên học Dung dịch keo: sinh viên
biết được sự thủy phân của các thành
phần ion có trong môi trường tạo ra hệ
keo và pH môi trường (H + hay OH - )
trong nguồn nước xây dựng hoặc trong
không khí ẩm, dẫn đến sự ăn mòn vật
liệu kim loại và góp phần gây hiện
tượng “nứt”, sẽ góp phần giảm tuổi
thọ công trình,…trên cơ sở đó sẽ giúp
sinh viên định hướng giải pháp nhằm
hạn chế sự ảnh hưởng về sự ăn mòn
Hoặc là khi sinh viên học đến Hệ
ngưng tụ: sinh viên biết được cấu trúc
mạng lưới brave, là cơ sở để tính toán
khả năng chịu lực của từng loại mạng
lưới, điều này rất có ý nghĩa trong quá
trình tính toán và sử dụng các loại đá
xây dựng trong hoạt động xây dựng,…
Như vậy giáo trình có tính chất đa
chức năng và điều này đảm bảo cho giáo
trình đóng vai trò chủ yếu trong việc
thực hiện mục tiêu chủ yếu của môn học
1.2 Chức năng liên quan đến giảng viên
Các giáo trình đều có các chức
năng đào tạo: Mục tiêu là tổng hợp các
kiến thức của nhân loại, cho phép giảng
viên tham khảo, thực hiện vai trò nghề
nghiệp của mình trong hoạt động dạy –
học Như vậy giáo trình có thể hoạch
định nhiều “con đường” mới, công cụ
mới, bài thực hành mới trong quá trình
vận dụng sự phát triển của khoa học và
đặc điểm của hoàn cảnh biên soạn, nếu như những tác giả soạn thảo giáo trình quan tâm đến Có thể kể đến các chức năng cơ bản của giáo trình có liên quan tới giảng viên
a Chức năng thông tin và thông tin khoa học
Các giáo trình và đặc biệt là giáo trình dành cho giảng viên, có thể đem đến cho họ những tri thức rất cần thiết, chẳng hạn bằng cách phân tích tài liệu được đề cập trong tiết học bằng những thông tin bổ trợ được tổng hợp từ các nghiên cứu và ứng dụng,…
b Chức năng đào tạo gắn liền với môn học
Giáo trình có thể có vai trò đào tạo liên tục bằng cách đem đến cho người dạy một loạt tuyến hành động thích hợp:
khái niệm quy luật quy trình
vận dụng,… phù hợp với lý luận dạy của các bộ môn
c Chức năng giúp đỡ việc học và quản
lý lớp học
Giáo trình có thể cung cấp nhiều bước tiến hành tiếp cận với hoạt động nhận thức các hoạt động nhận thức có thể “hệ mở” hoặc “hệ kín” tùy thuộc vào giới hạn của yêu cầu chương trình khung môn học Trong trường hợp này, giáo trình hỗ trợ cho giảng viên các chỉ dẫn
và cách thức cần thiết để thực hiện một loạt các hoạt động Khi đó mỗi giảng viên được xem như là mỗi “nhà kiến trúc
sư phạm” hoạch định cho sinh viên cách thức tiếp cận với kiến thức khoa học, đặc biệt là ở “hệ kín” Ví dụ, giáo trình hóa học hoặc vật lý sẽ đề nghị làm thực nghiệm khi nêu ra một tiến trình phải tuân theo, vật liệu cần tập hợp, các yếu
tố phải đặc biệt lưu ý, những khả năng cần khai thác,…
Trang 20Các soạn giả cũng có thể đề xuất
các con đường mở dành cho giảng viên
và sinh viên thực sự tự do trong hoạt
động nghiên cứu
2 Vị trí của giáo trình trong quá trình
dạy học theo phương pháp: đặt người
học vào vị trí trung tâm
“Dạy học đặt sinh viên vào vị trí
trung tâm” là một tư tưởng dạy học tiến bộ
Tư tưởng này quyết định các cách tiếp cận
dạy học Mỗi cách tiếp cận dạy học lại
quyết định các phương pháp dạy học hay
chiến lược dạy học và sau cùng, mỗi phương pháp dạy học hay chiến lược dạy học quy định các biện pháp dạy học cụ thể
Dưới tư tưởng chỉ đạo “Dạy học
đặt người học vào vị trí trung tâm” theo
định hướng của Đảng và của Ngành giáo dục, mọi chiến lược và biện pháp cụ thể của quá trình dạy học đều cần đạt được mục tiêu là dạy sinh viên biết cách tự học Vì vậy, giáo trình cần phải là một trong các phương tiện quan trọng nhằm đạt được mục đích tự học này
Bảng 2 Thể hiện mối quan hệ giữa các chiến lược học tập và các biện pháp cụ
thể dành cho sinh viên
(Quyết định trước về những nhiệm
vụ cần tập trung, tránh các phân
tán)
- Xây dựng một kế hoạch cần hoàn thành
- Nghiên cứu thư viện, tài liệu mở
- Đọc lướt các nội dung để lấy thông tin chính
- Lập kế hoạch cho các nội dung quan trọng
Lập kế hoạch cho việc tự nhận thức
(Xây dựng các mục tiêu cá nhân và
giảng viên giới thiệu, tài liệu thư viện) Hợp tác/phối hợp
(Làm việc với các bạn cùng lớp để
- Thảo luận nhóm
- Thực hành theo nhóm
Trang 21- Cá nhân sinh viên làm việc với giảng viên
- Tra cứu hướng dẫn của giáo trình
Từ bảng trên có thể thấy rõ: phần
lớn các biện pháp học tập của sinh viên
nhằm đạt được chiến lược học tập tích
cực đều cần sự hỗ trợ của giáo trình
Như vậy, điều cần khẳng định lại
trong xu thế dạy học nhằm tích cực hóa
hoạt động nhận thức của sinh viên, các
phương pháp dạy học tích cực về thực
chất là tăng cường khả năng tự học, tự
nghiên cứu của sinh viên và giáo trình
đóng vai trò hỗ trợ quan trọng trong
Giảng viên chuẩn bị bài lên lớp, bao
gồm một số hoạt động trên lớp được
thiết kế nhằm đạt được các mục tiêu của
bài học Trong quá trình dạy học đó,
sinh viên được yêu cầu đọc nội dung
trong giáo trình để vận dụng, phần đọc
giáo trình được xem như bài tập ở nhà
trước hoặc sau bài học, đôi khi việc đọc
những nội dung chính của giáo trình cần
được thực hiện ngay trên giảng đường,
trong giờ học Tuy nhiên, vẫn còn nhiều
tình trạng sử dụng giáo trình hết sức
khác biệt: giáo trình chính là bài học
chứ không phải hỗ trợ cho bài học
Giảng viên giảng những bài đúng như
trong giáo trình, và sinh viên không cần
nghiên cứu trước vì giảng viên chép lên
bảng hoặc trình bày bằng miệng trước lớp học
Với xu hướng dạy học đưa người học vào vị trí trung tâm, các phương pháp dạy học tích cực được xem như giải pháp quan trọng nhằm đạt được các mục tiêu dạy học Các phương pháp dạy học đó cần được thể hiện ngay trong giáo trình
và về thực chất, các phương pháp này có mục đích giống nhau là tăng cường khả năng (kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, vận dụng) để giải quyết các vấn đề cần đạt tới của người học, đây chính là vấn đề tự học,
tự nghiên cứu của sinh viên
Bởi vậy, mấu chốt cần cải tiến trong việc biên soạn giáo trình chính là cần phát triển giáo trình là một tài liệu
hỗ trợ tích cực cho các phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa vai trò của người học
Giáo trình cần phải có sự kết hợp
giữa nội dung chính, phần đọc hiểu và
vận dụng Thông thường, các giáo trình
xuất bản hiện nay thường bắt đầu bằng phần đọc hiểu cung cấp thông tin, sau
đó một số bài tập ở cuối chương Điều
này bộc lộ hạn chế rất lớn, vì người học quan niệm phần đọc hiểu là cơ bản, bài tập chỉ là sự lựa chọn Do đó, tư duy
cần được thay đổi lại: Bài học trong
giáo trình bao gồm một số hoạt động song song với phần đọc hiểu Với cách này, giáo trình sẽ buộc giảng viên thực
Trang 22hiện các phương pháp dạy học tích cực
và không chỉ là một việc đơn giản và
kém hiệu quả là đọc và ghi chép bài của
giáo trình lên bảng
4 Kết luận
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước đòi hỏi “sản phẩm
đào tạo” phải có nhiều năng lực mới:
năng lực tư duy độc lập, năng lực tự học
và tự cập nhật thường xuyên kiến thức
mới, năng lực thích ứng với những thay
đổi,… nhằm rút bớt khoảng cách lạc hậu
so với các nước phát triển trong khu vực
và trên thế giới
Trường Đại học Xây dựng Miền Trung trong những năm qua đã thực hiện chủ trương của Đảng ủy, Ban Giám hiệu về việc đổi mới phương
pháp giảng dạy: “giúp sinh viên hướng
đến năng lực tự học và tự đánh giá là việc làm thường xuyên, liên tục” nhằm
thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng được thông qua tại Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ X: “Đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”
Trang 23SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN TƯƠNG LAI CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
ThS Lê Thị Mến
Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ hiện đại, lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản có tính xã hội hóa
cao đã mang tính chất toàn cầu ngày càng mâu thuẫn với quan hệ sản xuất tư
nhân tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn đó chỉ có thể giải quyết bằng một cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa, thiết lập hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa
với quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa nhằm mở đường cho lực lượng sản xuất
phát triển
Từ khoá: Chủ nghĩa tư bản (CNTB), chủ nghĩa xã hội (CNXH), chủ nghĩa
cộng sản, lực lượng sản xuất, khoa học - công nghệ
1 Đặt vấn đề
Chủ nghĩa tư bản phát triển qua hai
giai đoạn là CNTB tự do cạnh tranh và
CNTB độc quyền mà giai đoạn tột cùng
của nó là CNTB độc quyền nhà nước
Sự ra đời, tồn tại và phát triển của
CNTB đã đem lại những thành tựu nhất
định cho xã hội loài người Tuy nhiên,
bên cạnh đó, CNTB cũng đã gây ra
những tiêu cực mang tính toàn cầu
CNTB hiện đại ngày nay đã tự điều
chỉnh để thích nghi với điều kiện, tình
hình mới của thế giới Tuy vậy, những
yếu tố bất ổn định trong bản thân nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa vẫn còn nguyên
vẹn Điều đó có ảnh hưởng và tác động
rất lớn cho sự ra đời của CNXH - với tư
cách là một xã hội tốt đẹp hơn so với
CNTB - trên phạm vi toàn thế giới
2 Sự phát triển của CNTB và tác
động của nó đến tương lai của chủ
nghĩa xã hội
Trước hết, hãy xem xét những mặt
tích cực của CNTB đối với sự phát triển của
sản xuất xã hội Những thành tựu đó là:
Thứ nhất, về phát triển lực lượng
sản xuất Quá trình phát triển của CNTB
đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao: từ kỹ thuật thủ công lên kỹ thuật cơ khí, sang tự động hóa, tin học hóa và công nghệ hiện đại
Cùng với sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ là quá trình giải phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả khám phá
và chinh phục thiên nhiên của con người, đưa kinh tế nhân loại bước vào thời đại của kinh tế tri thức
Thứ hai, chuyển nền sản xuất nhỏ
thành nền sản xuất lớn hiện đại Sự ra đời của CNTB đã giải phóng loài người thoát khỏi đêm trường trung cổ của xã hội phong kiến, đoạn tuyệt với nền kinh
tế tự nhiên, chuyển sang phát triển kinh
tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa CNTB ra đời chưa được 100 năm mà đã tạo ra được đống của cải vật chất khổng lồ bằng tất cả các xã hội trước cộng lại
Thứ ba, thực hiện xã hội hóa sản
xuất CNTB đã thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa phát triển mạnh và đạt tới mức điển hình nhất trong lịch sử, cùng với nó
là quá trình xã hội hóa sản xuất cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Đó là sự phát
Trang 24triển của quá trình phân công lao động
xã hội, sản xuất tập trung với qui mô
hợp lý, chuyên môn hóa sản xuất và hợp
tác lao động sâu sắc, mối liên hệ kinh tế
giữa các đơn vị, các ngành, các lĩnh vực
ngày càng chặt chẽ,…Tất cả làm cho các
quá trình sản xuất phân tán, nhỏ lẻ được
liên kết với nhau và phụ thuộc lẫn nhau
thành một hệ thống, một quá trình sản
xuất xã hội
Tuy nhiên, những thành tựu của
CNTB đạt được trong sự vận động đầy
mâu thuẫn Điều đó thể hiện ở hai xu
hướng trái ngược nhau là xu thế phát
triển nhanh chóng và xu thế trì trệ của
nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Sỡ dĩ như
vậy là do yêu cầu nội tại và xu hướng
tăng nhanh tốc độ phát triển lực lượng
sản xuất do sự tác động của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ Ngoài ra,
còn phải kể đến sự thống trị của độc
quyền tư bản chủ nghĩa đã gây ra những
nhân tố ngăn cản của sự tiến bộ kỹ thuật
và phát triển của sản xuất
Sự tồn tại song song hai xu thế đó
trong CNTB, một mặt nói lên rằng
CNTB hiện đại ngày nay vẫn còn sức
sống, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
vẫn còn có thể tự điều chỉnh và trong
giới hạn nhất định, nó còn có thể thích
ứng với nhu cầu phát triển của lực lượng
sản xuất và thúc đẩy xã hội tư bản phát
triển Song, mặt khác điều đó cũng nói
lên rằng, CNTB đang vấp phải những
giới hạn nhất định Giới hạn này bắt
nguồn từ mâu thuẫn cơ bản của CNTB,
đó là mâu thuẫn giữa trình độ phát triển,
xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất
với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa về tư liệu sản xuất Mặc dù CNTB
đã có những điều chỉnh nhất định trong
quan hệ sở hữu, tổ chức - quản lý và phân phối, nhưng về cơ bản mâu thuẫn này vẫn chưa được giải quyết Biểu hiện
cụ thể của những mâu thuẫn đó như sau:
Một là, mâu thuẫn giữa CNTB và
CHXH Mâu thuẫn này tồn tại xuyên suốt trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới Biểu hiện trong các mưu đồ của thế lực đế quốc, trong diễn biến hòa bình, âm mưu lật đổ,…
Hai là, mâu thuẫn giữa tư bản và
lao động Mâu thuẫn này thể hiện ở sự phân cực giàu ngèo và tình trạng bất công xã hội tăng cao Cụ thể: bộ phận các gia đình giàu có ở Mỹ chiếm 10%
dân số nhưng chiếm tới 86% tổng giá trị
cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản, tài chính khác
Ba là, mâu thuẫn giữa các dân tộc
thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc Ngày nay, biểu hiện của mâu thuẫn này là giữa một bên là các nước nghèo, kém phát triển với một bên là các nước giàu, phát triển Trong khi thu nhập bình quân đầu người của các nước giàu lên đến 40 - 50 nghìn USD thì con
số này ở các nước nghèo, kém phát triển chỉ là vài trăm đến vài nghìn USD
Bốn là, mâu thuẫn giữa các nước
CNTB với nhau Chủ yếu ở các trung tâm kinh tế chính trị hàng đầu thế giới
và giữa các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia, thể hiện thông qua các cuộc chiến tranh thương mại, chiến tranh về đầu tư
kỹ thuật, tài chính,…
Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển, CNTB cũng đã gây ra những hậu quả nặng nề cho nhân loại, như hai cuộc chiến tranh thế giới đẫm máu, hàng trăm
Trang 25cuộc chiến tranh cục bộ khác; chạy đua vũ
trang, ô nhiễm môi trường; nạn đói nghèo
và bệnh tật của hàng trăm triệu người,…
nhất là ở các nước chậm phát triển
Như vậy, mặc dù CNTB còn có
những hạn chế chưa thể khắc phục
được, song, có thể nói rằng, CNTB lại
vượt qua được những cuộc khủng
hoảng, mà có lúc hầu hết các đảng
cộng sản và công nhân trên thế giới
cho rằng không có lối thoát, để vươn
lên giành chiến thắng trong cuộc chiến
tranh lạnh Sỡ dĩ CNTB làm được điều
đó vì CNTB đã biết biến đổi để thích
nghi và tồn tại, phát triển trong điều
kiện lịch sử mới Có thể thấy sự biến
đổi đó trong thực tế của CNTB, như sự
biến đổi về chất của lực lượng sản
xuất, sự đẩy nhanh quá trình quốc tế
hóa phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa, sự thích ứng của giới kinh
doanh, những cải biến trong các tầng
lớp xã hội,…Với chiến lược điều chỉnh
để thích nghi đó đã chuyển hướng nền
kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa trở
nên năng động, có hiệu quả rõ rệt, đặc
biệt, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã
thích nghi được và đang tìm cách
chung sống hòa bình với những căn
bệnh đã thành mãn tính Đây chính là
sự thích nghi bên trong của nền kinh tế
Còn với bên ngoài, CNTB đã lợi dụng
quá trình toàn cầu hóa để mở rộng thị
trường, áp đặt các nước kém phát triển
với những điều kiện ngày càng có lợi
cho các nước phát triển Điều này đã
đem lại cho CNTB một sự chiến thắng
trong cuộc chiến tranh lạnh Và dù sao
thì, hiện tại, CNTB vẫn là chế độ xã
hội phát triển và giàu nhất hiện nay
Rõ ràng là với những thành tựu của CNTB, đó là sự chuẩn bị tốt nhất những điều kiện, tiền đề cho sự ra đời của CNXH - với tư cách là một xã hội tốt đẹp hơn so với CNTB - trên phạm vi toàn thế giới Đây chính là những tiền đề vật chất đầy đủ và tiền đễ xã hội chín muồi cho sự ra đời xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh của thời đại ngày nay, đó
là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới Các nước đi lên CNXH có thể quá độ trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc hoàn cảnh lịch sử cụ thể của từng nước, nhưng dù quá độ kiểu nào đi chăng nữa thì cũng dựa trên những tiền đề của CNTB đã tạo ra
Thực chất chế độ CNXH ở Việt Nam là: thời kỳ quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Trong văn kiện đại hội lần thứ IX của Đảng ta nhấn mạnh: con đường đi lên của nước ta là
sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu kế thừa những thành tựu mà nhân loại đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại Thực tiễn cũng cho thấy, việc nước ta quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan, là hoàn toàn phù hợp với xu thế của thời đại, với đăc điểm lịch
sử - cụ thể của cách mạng Việt Nam, đáp ứng đúng khát vọng của nhân dân ta
3 Kết luận
Như vậy, xét đến cùng, với những thành tựu và hạn chế của CNTB hiện đại ngày nay, C.Mác và Ph.Ăngghen
Trang 26đã rút ra kết luận rằng: hình thái kinh
tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa sẽ thay
thế hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ
nghĩa, đây là tất yếu khách quan, phù
hợp với yêu cầu của quy luật quan hệ
sản xuất - lực lượng sản xuất Sự thay
thế đó là phù hợp với quy luật tiến hóa
của lịch sử xã hội loài người Bởi lẽ,
những yếu tố bất ổn trong bản thân nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa vẫn còn
nguyên vẹn, những mâu thuẫn về kinh
tế - chính trị vẫn còn tiềm ẩn, những
căn bệnh mãn tính vẫn chưa có phương
thuốc cứu chữa, quan trọng hơn là mâu thuẫn cơ bản của bản thân CNTB vẫn chưa được giải quyết Mâu thuẫn đó chỉ có thể giải quyết bằng một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, thiết lập hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa với quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa nhằm mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Vì thế, dù gọi là CNTB hiện đại ngày nay thì bản chất của nó vẫn là CNTB để tiến lên một xã hội cao hơn, đó là CNXH và chủ nghĩa cộng sản
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo 2012 Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam 2001 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
[3] Trần Thị Vinh 2011 Chủ nghĩa tư bản thế kỷ XX và thập niên đầu thế kỷ XXI-một
cách tiếp cận từ lịch sử, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
[4] Michel Beand, (Người dịch: Hương Giang) 2002 Lịch sử chủ nghĩa tư bản từ
1500 đến 2002, NXB Thế giới
[5] Đỗ Thanh Bình (Chủ biên), Nguyễn Công Khanh, Ngô Minh Oanh, Đặng Thanh
Toán 2008 Lịch sử thế giới hiện đại, quyển 1, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội.
Trang 27KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC
ThS Vũ Thị Phương Thảo
Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Giáo dục pháp luật (GDPL) có vai trò đặc biệt quan trọng trong công
tác giáo dục và đào tạo Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương đưa
GDPL vào nhà trường, đặc biệt trong giai đoạn đổi mới giáo dục đại học
(GDĐH) hiện nay Bài viết này giúp người đọc hiểu rõ hơn về chủ trương,
quan điểm quan trọng của đảng và pháp luật (PL) của nhà nước về GDPL và
GDPL trong nhà trường; khái niệm, đặc điểm của GDPL trong trường đại học
(ĐH) Từ đó, công chức, viên chức (CCVC) trong nhà trường, đặc biệt là giảng
viên (với vai trò là một chuyên gia, nhà thiết kế, người tư vấn, người quản lý
quá trình học tập và đánh giá giáo dục) tự trả lời được câu hỏi: Mình phải làm
gì để góp phần GDPL cho HSSV? Mình có cần được GDPL không?
Từ khóa: Giáo dục pháp luật trong trường đại học
1 Chủ trương, quan điểm quan trọng
của đảng và PL của nhà nước về
GDPL và GDPL trong nhà trường
Kế thừa các chủ trương của Đảng
từ Đại hội Đảng V đến nay, Ban Bí thư
Trung ương Đảng ra Chỉ thị số
32-CT/TW của ngày 09/12/2003 về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng trong công
tác phổ biến, giáo dục pháp luật
(PBGDPL), nâng cao ý thức chấp hành
PL của cán bộ, nhân dân
Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg
ngày 12/3/2008 Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Chương trình PBGDPL từ
năm 2008 đến năm 2012 Trong 04 đề
án của Chương trình, đề án quan trọng
đối với hoạt động GPPL trong nhà
trường là Đề án “ Nâng cao chất lượng
công tác PBGDPL trong nhà trường”
(Đề án 1928) Ngày 09/8/2013, Bộ
Giáo dục & Đào tạo đã tổ chức Hội
nghị tổng kết Đề án này.Tại Hội nghị,
để tiếp tục thực hiện Chỉ thị số
32-CT/TW, Bộ Tư pháp đã đề xuất tiếp
tục kéo dài thời gian thực hiện các Đề
án này đến năm 2016 Điều đó thể hiện
sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đến công tác PBGDPL, đặc biệt là trong nhà trường
Nhận thức được sự cần thiết phải ban hành Luật PBGDPL- cầu nối giữa hoạt động xây dựng và thực hiện PL, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 đã thông
qua Luật phổ biến, giáo dục pháp
luậtngày 20/6/2012, có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/01/2013;Ngày 04/4/2013, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định
số 28/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một
số điều và biện pháp thi hành Luật PBGDPL thể hiện rõ chính sách của Nhà nước về công tác PBGDPL
Kết luận số 04-KL/TW của Ban Bí
thư Ban chấp hành trung ương Đảng ngày19/4/2011 tổng kết 6 năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành
PL của cán bộ, nhân dân đã chỉ ra những
Trang 28hạn chế trong công tác này, những hạn
chế cơ bản có thể kể đến là: vẫn còn một
số cấp uỷ, tổ chức đảng chưa quan tâm
đúng mức đến việc chỉ đạo triển khai công
tác PBGDPL; chưa coi công tác này là
một bộ phận của công tác giáo dục chính
trị, tư tưởng; tổ chức bộ máy, cơ chế thực
hiện và trách nhiệm của các cơ quan, tổ
chức và cá nhân tham gia hoạt động này
và các cơ chế, chính sách có liên quan
chưa được quy định rõ ràng
Vì vậy, chúng ta vẫn cần phải tiếp
tục lựa chọn, vận dụng các hình thức,
phương pháp GDPL cho phù hợp với
từng nội dung GDPL cho từng đối tượng
GDPL cụ thể nhằm đạt được những mục
tiêu GDPL đặt ra, tạo mọi điều kiện bảm
đảm để nâng cao chất lượng GDPL, nhất
là GDPL trong trường đại học - cái nôi
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
cho đất nước
2 Khái niệm, đặc điểm của GDPL
trong trường đại học
2.1 Khái niệm, đặc điểm của GDPL
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác
nhau về PL Theo quan điểm Mác -
Lênin về nhà nước và PL, PL được hiểu
là “hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt
buộc chung, do nhà nước ban hành hoặc
thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan
hệ xã hội theo mục tiêu và định hướng
cụ thể” [3, tr.98].Để xây dựng khái niệm
GDPL, phần lớn các nhà nghiên cứu về
pháp luật đứng ở góc độ nhìn nhận khái
niệm giáo dục theo nghĩa hẹp, theo đó,
giáo dục được hiểu là “quá trình tác
động định hướng của nhân tố chủ quan
Từ những khái niệm công cụ cơ bản và quan điểm nêu trên, hiện nay đã
có sự thống nhất trong cách hiểu về
GDPL, đó là “giáo dục pháp luật là quá
trình tác động một cách có hệ thống, mục đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người trình độ pháp lý nhất định để từ
đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật” [3, tr.179]
Tùy thuộc vào đối tượng giáo dục, mức độ cần được giáo dục, hình thức giáo dục mà xác định mục đích cụ thể của GDPL Tuy nhiên, mục đích chung của hoạt động GDPL hướng đến là mục đích nhận thức, mục đích cảm xúc và mục đích hành vi
Thứ nhất là mục đích nhận thức:
Mục đích nhận thức của GDPL là nhằm nâng cao khả năng nhận thức, hiểu biết
PL, hình thành tri thức PL cần thiết cho đối tượng GDPL Một khi đối tượng GDPL đã có tri thức PL đúng đắn thì sẽ tạo lòng tin vào PL, để từ đó giúp đối tượng GDPL thực hiện hành vi của mình một cách có ý thức và có khả năng tự đánh giá hành vi của mình là trái pháp luật hay không Đây là mục đích quan trọng
hàng đầu của GDPL
Thứ hai là mục đích cảm xúc: Mục
đích cảm xúc mà hoạt động GDPL hướng tới là khơi dậy tình cảm, lòng tin
và thái độ đúng đắn của đối tượng GDPL đối với PL Muốn đạt được mục
Trang 29đích này, một mặt, đối tượng GDPL phải
có kiến thức PL; mặt khác, bản thân hệ
thống PL phải chuẩn hóa; chủ thể triển
khai thi hành các quy định PL phải làm
hết chức năng, nhiệm vụ của mình, có
đạo đức công vụ thì mới tạo được sự
công bằng Không có “thước đo” chuẩn,
không có sự công bằng trước PL thì
không thể có công lý, do vậy đối tượng
GDPL không thể có lòng tin vào PL
Thứ ba là mục đích hành vi: Mục
đích hành vi của GDPL là nhằm chuyển
hóa nhận thức, tri thức PL của đối tượng
GDPL thành thói quen với động cơ tích
cực Hoạt động GDPL cho các đối tượng
không phải chỉ dừng lại ở việc cung cấp
tri thức PL, từ đó họ có tình cảm và lòng
tin đối với PL mà phải đạt được mục tiêu
cuối cùng là điều chỉnh được hành vi của
các đối tượng GDPL theo hướng tích cực,
đó là các thói quen xử sự theo PL, để
“sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp
luật” không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu
2.2 Khái niệm, đặc điểm GDPL trong
giảng viên vừa là đối tượng GDPL
nhưng cũng vừa là chủ thể GDPL cho
viên chức khác và HSSV
Nếu chất lượng đội ngũ CCVC,
giảng viên, HSSV trong các trường ĐH
được nâng cao, theo đó văn hóa PL tỷ lệ
thuận với trình độ học vấn và ngày càng
được nâng lên theo các bậc học sẽ tạo
được một nguồn nhân lực có chất lượng
chuyên môn cao, ý thức pháp luật tốt,
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, góp phần tăng cường
pháp chế XHCN và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam
Dựa vào cách hiểu về GDPL được phần lớn các nhà nghiên cứu PLthống nhấtvà đối tượng GDPL trong cơ sở GDĐH, tác giả mạnh dạn đưa ra khái niệm GDPL trong trường ĐH như sau:
GDPL trong trường ĐH là quá trình tác động có hệ thống, mục đích, thường xuyên của các chủ thể GDPL trong và ngoài trường lên CCVC, HSSV trong nhà trường nhằm trang bị cho họ trình độ văn hóa pháp luật nhất định để từ đó họ có kiến thức pháp luật, có lòng tin, sự tôn trọng đối với pháp luật và tự giác thực hiện hành vi hợp pháp
Qua nghiên cứu, tác giả đưa ra các đặc điểm cơ bản của GDPL trong trường
ĐH như sau:
a) Về mục tiêu GDPL trong trường ĐH
Mục đích của giáo dục nói chung theo quan điểm của Ủy ban Quốc tế về Giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO là
“học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học cách sống”, điều đó
có nghĩa là mục đích của hoạt động GDPL trong trường ĐH nói riêng là trang bị cho đối tượng GDPL các kiến thức PL cơ bản để nâng cao khả năng hiểu biết PL, để làm việc theo quy định
PL, để vận dụng các kiến thức ấy vào quá trình học tập và rèn luyện trong trường, thực tiễn công vụ, nhiệm vụ khi
đi làm việc
Mục tiêu chung của hoạt động GDPL trong trường học mà Đề án
1928 đã nêu rõ: “Nâng cao chất lượng
và hiệu quả công tác PBGDPL trong nhà trường Tạo sự chuyển biến mạnh
mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng PL
Trang 30và hành vi chấp hành PL của nhà giáo,
cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và người
học, góp phần ổn định môi trường giáo
dục, nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện” [2, tr 1]
GDPL là một bộ phận của công
tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là
nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị
đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Mục
tiêu của hoạt động GDPL trong trường
ĐH là nhằm: một là, trang bị cho các
đối tượng GDPL những tri thức PL cần
thiết, xây dựng lòng tin đối với PL,
hình thành những động cơ tích cực và
thói quen xử sự phù hợp với yêu cầu
của PL; hai là, xây dựng ý thức PL,
nâng cao trình độ văn hóa PL, từng
bước hình thành phẩm chất công dân
cho các thế hệ HSSV với mục tiêu đào
tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện; ba là, định hướng cho người học
có sự hiểu biết cơ bản nhất về nhà
nước, PL, quyền và nghĩa vụ cơ bản
cũng như trách nhiệm của công dân
trong giai đoạn xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN Việt Nam
b) Về chủ thể, đối tượng GDPL trong
trường đại học
Căn cứ vào nghề nghiệp, có thể
phân loại đối tượng GDPL trong trường
ĐH là các đơn vị sự nghiệp công lập
(sau đây gọi tắt là trường ĐH) thành hai
nhóm chính là CCVC và người học
CCVC trong trường ĐH vừa là đối
tượng GDPL nhưng đồng thời cũng là
chủ thể GDPL cho đối tượng GDPL là
HSSV
* Công chức, viên chức vừa là đối
tượng, vừa là chủ thể GDPL trong
trường đại học
CCVC trong Luật cán bộ, công chức năm
2008, Luật viên chức năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật, có thể phân loại những người làm việc trong các trường ĐH gồm những loại sau:
- Công chức: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập, trong biên chế, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị theo quy định của PL Trong đơn vị sự nghiệp công lập, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu, cấp trưởng, cấp phó tổ chức cấu thành đơn vị sự nghiệp công lập được quy định là công chức Như vậy, trong trường
ĐH loại này, công chức là Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng nhà trường
- Viên chức: Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị theo quy định của PL Như vậy, đội ngũ giáo viên, giảng viên (gọi chung là giảng viên), người không làm công tác giảng dạy nhưng được tuyển dụng theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương trong trường
ĐH này là viên chức nhà nước
Viên chức được nêu trên có thể
chia làm 03 nhóm sau: một là, viên chức
là giảng viên; hai là, viên chức quản lý;
ba là, viên chức còn lại không phải là
viên chức quản lý, cũng không phải là giảng viên, do vậy có thể gọi đây là viên chức phục vụ công tác đào tạo
Theo quy định của Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
và Luật GDĐH năm 2012 thì giảng viên
Trang 31trong cơ sở GDĐH là người có nhân thân
rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có
sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; đạt
trình độchuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ
như sau: có bằng tốt nghiệp ĐH trở lên
và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư
phạm đối với nhà giáo giảng dạy cao
đẳng, ĐH; có bằng thạc sĩ trở lên đối với
giảng viên giảng dạy chuyên đề, hướng
dẫn luận văn thạc sĩ; có bằng tiến sĩ đối
với giảng viên giảng dạy chuyên đề,
hướng dẫn luận án tiến sĩ
Viên chức quản lý trong trường
ĐH là những người được bổ nhiệm giữ
chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách
nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện
một hoặc một số công việc trong đơn
vị sự nghiệp công lập nhưng không
phải là công chức và được hưởng phụ
cấp chức vụ quản lý Vì vậy, trong
trường ĐH, Trưởng, Phó các phòng,
khoa, bộ môn; Giám đốc, Phó Giám
đốc các trung tâm và các chức danh
tương đương ở các đơn vị tương đương
với Phòng, Khoa, Trung tâm được gọi
là viên chức quản lý
CCVC trong trường ĐH là đối
tượng quan trọng của hoạt động GDPL,
đặc biệt viên chức là giảng viên Đây là
đối tượng có trình độ chuyên môn cao,
đồng đều Vì vậy, họ đã có những kiến
thức PL được đào tạo cơ bản trong các
chương trình học cao đẳng, ĐH và sau
ĐH Mặt khác, do đặc thù nghề nghiệp
nên họ luôn có nhu cầu nâng cao và cập
nhật kiến thức chuyên môn, trong đó có
cả kiến thức về PL
Tuy nhiên, thường thì các trường
ĐH chưa chú trọng đến hoạt động GDPL
cho đội ngũ này một cách thường xuyên,
có kế hoạch Các nội dung GDPL cho
công chức, viên chức thường được trang
bị trong quá trình triển khai công tác, nhiệm vụ của cấp ủy Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Nữ công… theo nội dung của cơ quan, tổ chức cấp trên Các văn bản PL trong ngành giáo dục, tư pháp, tài chính, khoa học và công nghệ
… liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của CCVC thường được các phòng chức năng như phòng tổ chức hành chính, tài chính kế toán, quản lý đào tạo, khoa học
và quan hệ quốc tế, khảo thí và đảm bảo chất lượng… áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện Công tác giải thích, phổ biến PL chỉ diễn ra sau khi có những khúc mắc, kiến nghị về việc giải quyết các quyền và nghĩa vụ từ phía viên chức
Trên thực tế, GDPL cho đội ngũ CCVC là một hoạt động có vai trò quan trọng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục; góp phần trực tiếp vào việc nâng cao chất lượng giáo dục trong trường ĐH Nếu hoạt động GDPL cho CCVC được triển khai có kế hoạch, thường xuyên, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát của nhiều chủ thể GDPL khác thì sẽ tạo được không khí dân chủ, đoàn kết nội bộ tốt, tránh được tình trạng khiếu nại, tố cáo cũng như những hành vi VPPL khác như tham nhũng và những hệ lụy từ việc thương mại hóa giáo dục - một vấn đề nhạy cảm luôn được xã hội đặc biệt quan tâm
Riêng đội ngũ giảng viên là những người giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục, trong đó có GDPL Muốn vậy, đội ngũ này cần nắm vững đặc điểm của đối tượng HSSV, có kiến thức pháp luật vững vàng, có đạo
Trang 32đức nghề nghiệp Để tăng cường GDPL
trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn
diện GDĐH, điều kiện tiên quyết là
trường ĐH là phải có đội ngũ giảng viên
PL được đào tạo đạt chuẩn, có trình độ sư
phạm tốt, đủ về số lượng và có kỹ năng
thực hiện hoạt động GDPL một cách
chuyên nghiệp, có như vậy mới đề xuất
được những giải pháp phù hợp, tổ chức
được các hoạt động GDPL trong trường
ĐH đạt hiệu quả cao
* Học sinh, sinh viên - đối tượng
GDPL chủ yếu trong trường ĐH
Người học trong trường ĐH là
những HSSV có năng lực hành vi đầy đủ
trong các lĩnh vực phổ biến như hình sự,
hành chính, dân sự ; đang trong giai
đoạn dần dần hoàn thiện một số nét cơ
bản về nhân cách nhưng lại chưa ổn định;
đã phần lớn vươn ra khỏi vòng tay chăm
lo của gia đình, bắt đầu học cách sống tự
lập và phải chịu sự điều chỉnh của PL, tự
chịu trách nhiệm về hành vi của mình khi
tham gia vào các quan hệ PL
HSSV là đối tượng đang tiếp thu
những kiến thức, kỹ năng chuyên môn
ở trường ĐH để chuẩn bị cho hoạt
động nghề nghiệp sau khi ra trường,
cónhững nét tâm lý điển hình như: tính tự
ý thức cao; có tình cảm nghề nghiệp; có
khát vọng thành đạt với nhiều mơ
ước Vì vậy, HSSV có thể xác định được
các mục tiêu học tập, rèn luyện và thể
hiện bằng hành động học tập, rèn luyện
trong suốt thời gian học tại trường ĐH
Tuy nhiên, HSSV không tránh khỏi
những hạn chế chung của lứa tuổi thanh
niên đó là sự thiếu chín chắn trong suy
nghĩ, hành động, nhất là trong việc tiếp
thu, học hỏi những cái mới Vì thế,
HSSV dễ nảy sinh sự phát triển tâm sinh
lý lệch lạc, hành vi trái PL dẫn đến thực hiện những hành vi trái với chuẩn mực
xã hội, vi phạm PL do thiếu hiểu biết về kiến thức xã hội và kiến thức PL nói riêng Ngược lại, nếu có một nền tảng giáo dục tốt và được giáo dục kịp thời với những nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp thì cũng HSSV cũng dễ uốn nắn, dễ tiếp thu các điều hay lẽ phải khi được định hướng, điều chỉnh khi còn đang ngồi trên giảng đường ĐH
Với quan điểm GDPL cho HSSV trong nhà trường là giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục ý thức công dân, ý thức làm người nên cần phải đưa nhiều nội dung GDPL vào chương trình học tập, sinh hoạt của HSSV trường ĐH
Điều này sẽ có tác động lớn trong việc định hướng, phát triển hình thành tư cách công dân, góp phần điều chỉnh hành vi, nâng cao nhận thức, xây dựng nhân cách, xây dựng tính hướng thiện, đảm bảo tính liên tục trong nhận thức;
hình thành trong các em hành vi, thói quen tự giác xử sự đúng PL và có ý thức tuân thủ PL
c) Đặc điểm về nội dung GDPL trong trường ĐH
* Nội dung GDPL cho CCVC trong trường ĐH
Nội dung GDPL được xác định trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu công việc, trình độ nhận thức, yêu cầu về quản lý nhà nước, quản lý xã hội… của từng nhóm đối tượng Trong hoạt động phổ cập kiến thức pháp luật, cần xác định rõ mức độ trong nội dung GDPL, đó là
trang bị các kiến thức pháp luật: phổ
biến, cần thiết, phù hợp cho mọi đối
tượng GDPL; theo nhu cầu ngành nghề
để đáp ứng các yêu cầu của công việc;
Trang 33theochuyên ngành cho những chủ thể
GDPL chuyên nghiệp Vì vậy, nội dung
GDPL có phạm vi rộng
Nội dung GDPL được truyền đạt từ
nhiều chủ thể GDPL khác nhau ở trong
và ngoài trường, cụ thể là:
Một là, những nội dung GDPL cần
thiết, phổ biến được nêu tại Điều 10 của
Luật PBGDPL năm 2012;
Hai là, các kiến thức PL liên quan
đến công tác giáo dục và đào tạo như:
Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính
phủ ngày 02/11/2011 về đổi mới cơ bản
và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn
2006 - 2020; Luật Giáo dục 2005; Luật
GDĐH năm 2012; Luật Cán bộ, công
chức năm 2008; Luật Viên chức năm
2010; Luật Khoa học và Công nghệ năm
2013; Bộ luật lao động năm 2012…
Ba là, các kiến thức theo chuyên
ngành cho những chủ thể GDPL
chuyên nghiệp Đối với CCVC đang
được đặt ở vị trí là đối tượng GDPL
nhưng đồng thời họ cũng là chủ thể
GDPL chính cho đối tượng GDPL là
người học Do vậy họ được trang bị
các kiến thức PL chuyên ngành từ các
cơ sở đào tạo trong quá trình họ học
tập nâng cao trình độ chuyên môn;
trong quá trình lãnh đạo trường ĐH
triển khai các nhiệm vụ của nhà
trường; Đảng ủy, Công đoàn, Đoàn
thanh niên triển khai công tác; đặc biệt
là họ có khả năng tự cập nhật và tự
trang bị các kiến thức PL thông qua
nhiều hình thức GDPL từ các chủ thể
GDPL khác trong và ngoài trường
* Nội dung GDPL cho HSSV trong
trường ĐH
Đưa GDPL vào trường ĐH là việc
sử dụng các thiết chế bộ máy, các cơ sở
vất chất của nhà trường, thông qua chức năng giáo dục của nhà trường, truyền đạt được những nội dung GDPL nhằm trang
bị cho HSSV những tri thức PL cần thiết, bồi dưỡng tình cảm, xây dựng, hình thành ý thức PL làm cơ sở cho sự hình thành hành vi và thói quen xử sự có các hành vi phù hợp PL
Trường ĐH là môi trường GDPL cho HSSV trực tiếp, thường xuyên nhất,
dễ đạt hiệu quả cao và là con đường ngắn nhất góp phần đưa PL đến với đội ngũ tri thức chất lượng cao trong tương lai bởi lẽ GDPL trong trường ĐH là sự tác động có định hướng, nội dung kiến thức được sắp xếp khoa học, có tính kế thừa và liên thông Nhờ vậy, dần dần hình thành trong HSSV những hành vi
tự giác ứng xử theo chuẩn mực xã hội, chuẩn mực PL; biết đề phòng, biết đấu tranh và khắc phục những sai lệch so với các chuẩn mực đã được quy định; đồng thời biết tự điều chỉnh hành vi của mình theo khuôn khổ của PL một cách tự giác
Từ đó, trường ĐH có cơ sở để lựa chọn nội dung GDPL phù hợp với mục tiêu GDPL, cụ thể như sau:
Một là, các kiến thức PL phổ thông
cho mọi HSSV thông qua chương trình đào tạo học phần pháp luật đại cương
Hai là, các kiến thức PL chuyên
ngành cho HSSV thuộc các ngành đào tạo ở các trình độ đào tạo khác nhau như học phần PL kinh tế, soạn thảo văn bản, nhập môn hành chính nhà nước,
Trang 34chức quá trình GDPL để thể hiện, truyền
đạt các nội dung GDPL đến đối tượng
GDPL
Tùy vào đối tượng GDPL, ưu điểm
và nhược điểm của từng hình thức mà
chủ thể GDPL có thể lựa chọn và kết
hợpcác hình thức GDPL phù hợp Các
trường ĐH đều có website riêng Đây là
điều kiện thuận lợi để xây dựng chuyên
mục PBGDPL trên website này nhằm
cập nhật thông tin PL, nhất là các văn
bản PL, thông tin có liên quan đến quyền
lợi của viên chức, giảng viên, HSSV
Tuy nhiên, theo tác giả, đối với đối
tượng GDPL có trình độ học vấn cao như
CCVC trong trường ĐH, đặc biệt là đối
với viên chức là giảng viên thìhình thức
tự GDPL là một hình thức chưa được các
nhà nghiên cứu PL đề cập đến nhưng
theo tác giả thì đây là hình thức GDPL
tiên quyết quyết định chất lượng GDPL
cho chính đối tượng này vì họ là đối
tượng có khả năng tự nghiên cứu để tự
đáp ứng nhu cầu hiểu biết PLcủa mình
Còn đối với HSSV, hình thức
GDPL mang lại hiệu quả caonhất chính
là giảng dạy PL trong chương trình đào tạo chính khóa Do vậy chất lượng đội ngũ giảng viên giảng dạy PL chính là chìa khóa của chất lượng GDPL cho HSSV trong nhà trường
* Phương pháp GDPL trong trường ĐH
Phương pháp GDPL là tổng thể cách thức, biện pháp mà các chủ thể GDPL dùng để tác động vào đối tượng GDPL để truyền đạt các nội dung GDPL nhằm đạt được các mục tiêu GDPL đặt ra
Chủ thể GDPL là những người có kiến thức PLvà kinh nghiêm thực tiễn nhất định Để truyền đạt được các nội dung GDPL một cách dễ hiểu, thuyết phục, đạt được mục tiêu đặt ra, họ phải đặt mình ở vị thế của người giảng viên
… nên họ sử dụng PPGDPL chủ yếu là các phương pháp sư phạm
Ngoài ra, các chủ thể GDPL còn thường phối hợp với các tổ chức đoàn thể, bộ phận thanh tra - pháp chế và các chủ thể khác ngoài trường như cơ quan công an, tòa án, các hội nghề nghiệp …
để xây dựng chương trình, kế hoạch GDPL; phối hợp biên soạn chương trình, giáo trình, tài liệu, sách giáo khoa về GDPL; xây dựng danh mục các thiết bị phục vụ công tác GDPL; phối hợp xây dựng tủ sách PL; xây dựng các đơn vị nghiên cứu, tư vấn về công tác thanh tra, pháp chế …
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Trần Thị Tuyết Oanh 2009 Giáo trình Giáo dục học tập 1 (dành cho sinh viên đại
học sư phạm), Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội
[2] Thủ tướng Chính phủ 2008 Quyết định số: 37/2008/QĐ-TTgngày 12/03/2008 ban
hành Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012
[3] Trường Đại học Luật Hà Nội 2010 Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp
luật, Hà Nội
Trang 35VỀ KHÁI NIỆM QUYỀN BÀO CHỮA VÀ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
CN Lê Nhật Bảo
Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Quyền bào chữa và người bào chữa vốn là các thuật ngữ mà chúng ta
được nghe rất nhiều trong cuộc sống đời thường cũng như đời sống chính trị
pháp lý, tuy nhiên không phải ai cũng hiểu chính xác các khái niệm này Về mặt
pháp lý, hiện nay Nhà nước ta chưa đưa ra định nghĩa chuẩn cho các khái niệm
trên, cho nên có rất nhiều cách hiểu, áp dụng khác nhau và phản ánh không
đúng bản chất của hoạt động bào chữa và đặc biệt là không hiểu hết được tầm
quan trọng của hai chế định này, dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa được đảm bảo Thông qua bài viết này, tác giả
muốn nêu lên bản chất của bào chữa cũng như đề xuất khái niệm về quyền bào
chữa và người bào chữa
Từ khóa: Quyền bào chữa, Người bào chữa, Bào chữa
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng
định chính con người là động lực của
các cuộc các mạng xã hội, là chủ thể
chân chính sáng tạo ra lịch sử xã hội loài
người Để được làm chủ chính bản thân
mình, lấy lại những quyền cơ bản vốn
của con người đang bị các thế lực áp
bức, độc tài, phản dân chủ nắm giữ,
quần chúng nhân dân đã đứng dậy đấu
tranh và lịch sử xã hội loài người chính
là lịch sử của các cuộc đấu tranh giành
các quyền dân chủ và tiến bộ
Một trong những quyền dân chủ
tiến bộ mà nhân loại phấn đấu không
mệt mỏi đã giành được, đó là quyền bào
chữa Quyền bào chữa là một trong
những chế định quan trọng và phức tạp,
vừa mang tính lý luận, vừa mang tính
thực tiễn cao Từ rất sớm, Đảng và Nhà
nước ta nhận thức được tầm quan trọng
của quyền bào chữa nên ngay từ bản
Hiến pháp đầu tiên và các bản Hiến pháp
trở về sau, đều dành những điều khoản
long trọng để ghi nhận quyền này, nó
được cụ thể hóa trong các Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, kể từ lần đầu tiên chúng ta ghi nhận quyền bào chữa trong Hiến pháp năm 1946 đến nay, trong khoa học pháp lý nước ta vẫn chưa có được một khái niệm cụ thể và thống nhất
về quyền bào chữa, xung quanh khái niệm này, nhiều luật gia trong và ngoài nước còn có các quan điểm khác nhau
Để có được sự hiểu biết toàn diện và đầy
đủ về vị trí, vai trò, chức năng của người bào chữa thì vấn đề nội hàm của quyền bào chữa cần được đặt lên trên hết để tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc và rút ra được sự đánh giá chính xác nhất, từ đó có cơ sở vững chắc nghiên cứu về chế định người bào chữa
Trong phạm vi bài viết này, tác giả nêu ra một số quan niệm về quyền bào chữa và người bào chữa được sử dụng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn pháp lý tố tụng hình sự mà tác giả cho rằng còn nhiều điểm chưa chính xác với
Trang 36bản chất của hoạt động bào chữa, đồng
thời nêu lên quan điểm cá nhân về các
khái niệm này
1 Về khái niệm quyền bào chữa
Dưới góc độ ngôn ngữ học, xét về
mặt từ loại thì “bào chữa” là một động
từ, hiểu một cách đơn giản đó là hành
động “cãi để bênh vực”[1] hay việc mà
một người “dùng nhiều lí lẽ, chứng cớ để
bênh vực cho hành vi của ai đó đang bị
xem là phạm pháp hoặc đang bị lên án”,
trong khi đó, từ điển Black‟s Law thì cho
rằng bào chữa (defend) là việc “chống
lại, tranh luận, phản đối (một lý lẽ được
viện dẫn hay một yêu sách), sự phối hợp
bào chữa một cách mạnh mẽ để chống lại
người cáo buộc, hay để thay mặt cho một
ai như là người được ủy quyền đại diện
trước tòa (người bị cáo thuê luật sư để
bào chữa cho họ)[2] Tuy được diễn đạt
khác nhau, nhưng về cơ bản, các khái
niệm trên đều thể hiện được những nét
chung của bào chữa, đó là hành động
dùng những lý lẽ và cơ sở hợp lý để
chống lại sự áp đặt của các chủ thể khác
khi họ cho rằng hành vi của một người là
vi phạm pháp luật Tuy nhiên, những
cách hiểu đó còn rất nhiều điểm thiếu sót,
chưa xác định được phạm vi và chủ thể
của quyền bào chữa Sẽ sai lầm khi cho
rằng mọi cá nhân trong tất cả các quan hệ
xã hội đều có quyền bào chữa, như vậy là
quá rộng và không đúng với bản chất của
hoạt động bào chữa Phần dưới đây là các
nhóm quan điểm pháp lý phổ biến về
quyền bào chữa mà tác giả cho rằng chưa
hoàn toàn chính xác
Nhóm quan điểm thứ nhất cho
rằng quyền bào chữa chỉ thuộc về bị
can và bị cáo Tác giả Hoàng Thị Sơn
viết: “Quyền bào chữa chỉ thuộc về bị
can, bị cáo chứ không thuộc về đối tượng nào khác và quyền này chỉ giới hạn trong việc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ lời buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho
bị can, bị cáo” [3] Đồng thời tác giả này
cho rằng “Người bị tạm giữ không thể
coi là đối tượng bị buộc tội mà họ chỉ có thể trở thành đối tượng bị buộc tội nếu có
đủ căn cứ để khởi tố họ với tư cách là bị can” [3] Vấn đề này, tác giả cho rằng
cách giải thích như trên là chưa xác đáng
Một trong các biện pháp ngăn chặn mà
cơ quan tiến hành tố tụng được quyền áp dụng là biện pháp tạm giữ đối với một cá nhân về hành vi họ đã thực hiện mà cơ quan tiến hành tố tụng cho rằng có khả năng là tội phạm và cũng để phục vụ cho quá trình điều tra Tại thời điểm bị tạm giữ họ chưa nhận được bất kì lời buộc tội chính thức nào từ phía các cơ quan có thẩm quyền nhưng các trường hợp tạm giữ và các căn cứ tạm giữ chính là những lời buộc tội gián tiếp đối với họ Trong quyết định tạm giữ có ghi lý do tạm giữ
và người bị tạm giữ có quyền được biết
lý do mình bị tạm giữ Khi hết thời hạn tạm giữ thì người bị tạm giữ có thể bị khởi tố bị can hoặc được trả lại tự do [4]
Dù rằng sau quá trình điều tra có thể người bị tạm giữ sẽ không bị khởi tố, nhưng trong thời gian bị tạm giữ, quyền
tự do về thân thể của họ đã bị hạn chế bởi các cơ quan chức năng, đồng thời tại nơi tạm giữ họ bị áp dụng các biện pháp điều tra như lấy lời khai, thu thập chứng cứ, vì vậy quy định cho người bị tạm giữ có quyền bào chữa để bảo vệ quyền và lợi
Trang 37ích hợp pháp của mình là hoàn toàn hợp
lý khi mà họ đã và đang bị áp dụng biện
pháp cưỡng chế tố tụng hình sự
Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng
quyền bào chữa chỉ thuộc về bị can
Trong một tác phẩm của mình, nhà
lý luận tố tụng hình sự Xô Viết
Stragovich đã viết “Bào chữa là tổng
hợp các hành vi tố tụng hướng tới việc
bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can
không có lỗi hoặc làm giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của bị can” [5] Quan
điểm của tác giả cho rằng cách hiểu như
vậy không bao quát hết được những đối
tượng nào có quyền bào chữa Bị can là
người đã bị khởi tố về mặt hình sự, sau
quá trình điều tra, truy tố, hồ sơ vụ án
được chuyển đến Tòa án, Tòa án sẽ dựa
vào các căn cứ luật định để quyết định
có đưa vụ án hình sự ra xét xử hay
không Nếu có căn cứ để đình chỉ vụ án
thì lúc này Tòa án sẽ ra quyết định đình
chỉ vụ án, khi đó tư cách bị can sẽ chấm
dứt, hoạt động buộc tội không còn và
kéo theo là quyền bào chữa cũng kết
thúc Còn nếu phải đưa vụ án ra xét xử
thì lúc này tư cách bị can cũng sẽ chấm
dứt, hình thành tư cách bị cáo, khi đó,
mức độ buộc tội từ phía các cơ quan tiến
hành tố tụng sẽ cao hơn so với các giai
đoạn tố tụng hình sự trước đó Quyền và
nghĩa vụ tố tụng của bị cáo khác với bị
can, hoạt động bào chữa cũng sẽ khác đi,
quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử
biểu hiện rõ nét nhất Bên cạnh đó, ngoài
bị can, bị cáo thì người bị tạm giữ cũng
có quyền bào chữa, vì thế khi chỉ nêu bị
can hay bị cáo có quyền bào chữa là
chưa bao quát được toàn bộ chủ thể có quyền này
Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng ngoài người bị tạm giữ, bị can và bị cáo còn có các đối tượng khác cũng có quyền bào chữa
Theo luật gia Phạm Hồng Hải thì
“Quyền bào chữa trong TTHS là tổng hòa các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự” [6] Hay quan
điểm khác nói rằng “quyền bào chữa
không chỉ dừng lại ở việc bác bỏ sự buộc tội và giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, mà nó còn được thể hiện trong cả việc người bị hại cũng cần đến việc bào chữa” “Nhân chứng, giám định viên và
cả những người khác cũng vậy, nếu quyền lợi của họ bị xâm hại” Theo tác
giả, thứ nhất là người bị kết án không
thể là đối tượng bị buộc tội Không nên đồng nhất hai khái niệm buộc tội và kết
án Buộc tội chỉ có thể tồn tại trước khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, tức là trước khi kết tội Sau khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì người bị buộc tội rõ ràng đã là người
có tội, họ không còn là đối tượng được xem xét là có tội hay không nữa, nên đương nhiên quyền bào chữa của họ cũng không còn tồn tại Bên cạnh đó, nếu cho rằng người bị kết án cũng có quyền bào chữa sẽ làm cho tố tụng
không có điểm dừng Thứ hai, quan
Trang 38điểm ghi nhận quyền bào chữa cũng
thuộc về những người không hề bị cơ
quan chức năng buộc tội là không đúng
vì các chủ thể này hoàn toàn không chịu
sự buộc tội từ phía Nhà nước Xuất phát
từ quan điểm bào chữa và buộc tội phải
song song tồn tại, ở đâu có buộc tội, ở
đó có bào chữa nên trong các trường hợp
trên, rõ ràng những chủ thể này không
thể có quyền bào chữa
Nhóm quan điểm thứ tư cho rằng
phạm vi của quyền bào chữa bao hàm
cả việc bảo vệ những quyền và lợi ích
hợp pháp khác không liên quan đến sự
bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự
Ủng hộ quan điểm này, luật gia
Nguyễn Ngọc Khánh cho rằng: “Quyền
bào chữa của người bị buộc tội trong tố
tụng hình sự được hiểu là tất cả các
quyền và biện pháp tố tụng mà người bị
buộc tội được phép thực hiện nhằm
hướng tới việc bác bỏ sự buộc tội, chứng
minh sự vô tội, giảm nhẹ tội hoặc để bảo
vệ những quyền và lợi ích hợp pháp
khác của mình” [7] Bàn về quyền và
lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội
theo quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003, có hai nhóm quyền chủ
yếu, đó là quyền bào chữa (quyền tự bào
chữa hoặc nhờ người khác bào chữa) và
nhóm những quyền khác (quyền khiếu
nại, yêu cầu thay đổi người tiến hành tố
tụng, quyền đề nghị mức bồi thường,
kháng cáo bản án…) Trong số hai nhóm
quyền trên, thì chỉ có người bị buộc tội
mới có được quyền tự bào chữa và nhờ
nhờ người khác bào chữa, còn đối với
các quyền khác thì hầu hết những người
tham gia tố tụng đều có được Nếu đồng nhất quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa - quyền đặc thù mà pháp luật dành cho người bị buộc tội, với các quyền khác vào khái niệm quyền bào chữa thì sẽ dẫn đến hệ quả là những người tham gia tố tụng khác (không phải người bị buộc tội) cũng có trong tay những quyền liên quan đến quyền bào chữa Điều này là hết sức vô lý bởi những chủ thể này không bị buộc tội mà lại có quyền chống lại sự buộc tội Vì thế mà tác giả không đồng ý với quan điểm trên của luật gia Nguyễn Ngọc Khánh, hiểu như vậy là quá rộng và không phù hợp với bản chất của quyền bào chữa
Như chúng ta đã biết, “mâu thuẫn
là nguồn gốc của tất cả mọi sự vận động
và của tất cả mọi sức sống, chỉ trong chừng mực một vật chất chứa đựng trong bản thân nó một mâu thuẫn, thì nó mới vận động, mới có xung lực và hoạt động” [8] Quá trình giải quyết vụ án
hình sự là sự đan xen, giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập là buộc tội và
gỡ tội, giữa tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Chính những mặt như vậy nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại với nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng Cụ thể hơn thì mâu thuẫn ở đây
là mâu thuẫn biện chứng trong tư duy
Đó là sự phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát triển nhận thức, của tư duy trên con đường xác định
sự thật khách quan của vụ án Phán quyết của Tòa án - kết quả của hoạt động xét xử, chính là kết quả của quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt
Trang 39đối lập, là sản phẩm của tư duy, là kết
quả của việc đánh giá biện chứng những
quan điểm, những ý kiến công nhận và
phản đối, cũng như phủ định và khẳng
định Từ đó cho thấy, nếu trong tố tụng
hình sự có hoạt động buộc tội thì song
song với nó phải có hoạt động bào chữa
Cùng với chức năng buộc tội, sự hiện
hữu của chức năng bào chữa là một
trong những điều kiện cần thiết giúp cho
phán quyết của Tòa án được công bằng,
khách quan, thể hiện tính dân chủ cao
độ Xuất phát từ quan niệm quyền bào
chữa như là một mặt đối lập của quyền
buộc tội, tác giả cho rằng “quyền bào
chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo là tổng hợp tất cả các quyền mà
pháp luật dành cho người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo sử dụng để chống lại sự buộc
tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự của họ”
2 Về khái niệm người bào chữa
Quyền bào chữa của người bị buộc
tội được thực hiện dưới hai hình thức, đó
là “tự bào chữa” và “nhờ người khác
bào chữa” Khi người bị buộc tội nhờ
người bào chữa thì không làm mất
quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo Hai cách thức đảm bảo
quyền bào chữa như trên được tiến hành
song song và có thể sử dụng trong tất cả
các giai đoạn tố tụng hình sự cho đến khi
có được một bản án, quyết định có hiệu
lực pháp luật Tuy nhiên, đa phần người
bị buộc tội thường hạn chế về trình độ
văn hóa, đặc biệt là thiếu hiểu biết pháp
luật, hay rơi vào trạng thái tâm lí bất an
Trong khi đó những những người tiến
hành tố tụng không những dồi dào về
kinh nghiệm, mà kiến thức pháp luật khá vững chắc, chuyên môn nghiệp vụ cao, ngoài ra trong khi bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng, người bị buộc tội khó có thể tự mình thực hiện quyền bào chữa một cách đầy đủ và toàn diện, những người bị buộc tội bị hạn chế về quyền tự do, họ không thể tự do đi lại để tìm kiếm tài liệu, đồ vật để thực hiện tốt quyền bào chữa, vì thế mà chất lượng bào chữa do người tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện còn rất thấp Chính vì vậy, nhu cầu quyền bào chữa được thực hiện bởi người khác, những người có vị trí tương đối độc lập với Tòa án, Viện kiểm sát, hơn hết là sự am hiểu kiến thức pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn… nhận được sự quan tâm đặc biệt của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Tuy nhiên, như thế nào là người bào chữa thì có khá nhiều cách hiểu khác nhau, dưới đây là một số quan điểm phổ biến:
Có một số quan điểm cho rằng:
“Người bào chữa là người giúp đỡ Tòa
án trong việc xác định tất cả các tình tiết cần thiết về vụ án để cuối cùng Tòa án
ra một bản án có căn cứ và đúng pháp luật” [9] Một tác giả khác còn khẳng
định rõ hơn rằng “người bào chữa là
người tham gia tố tụng để giúp đỡ Tòa án” [10] Trước hết cần phải khẳng định
rằng người bào chữa không phải là chủ thể có nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự, họ không có trách nhiệm buộc tội hay phán xét một ai là có tội hay không Người bào chữa tham gia vào quá trình giải quyết vụ án không có quyền và lợi ích liên qan đến vụ án, sự
có mặt của họ là nhằm bảo vệ các quyền
Trang 40và lợi ích của người bị buộc tội và góp
phần bảo vệ công lý Tuy người bào
chữa góp phần không nhỏ, giúp các cơ
quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Tòa
án trong việc giải quyết vụ án hình sự,
tìm ra sự thật khách quan của vụ án,
nhưng không thể cho người bào chữa là
người giúp đỡ Tòa án được, như thế thì
chẳng khác nào quy người bào chữa vào
nhóm những người tiến hành tố tụng,
làm mất đi bản chất của hoạt động bào
chữa là chống lại sự buộc tội
Nhiệm vụ của người bào chữa là sử
dụng mọi biện pháp do pháp luật quy
định để làm sáng tỏ những tình tiết xác
định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô
tội hoặc đưa ra các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo
Trong khi đó, Tòa án với nhiệm vụ thực
hiện chức năng xét xử, phải phán xét ai
đúng, ai sai, có tội hay không có tội,
phải tăng nặng hay giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự Để làm được điều đó,
Tòa án phải dựa trên các chứng cứ do
các bên đưa ra tại phiên tòa và lời tranh
luận giữa bên gỡ tội và bên buộc tội
Nhiệm vụ, vai trò và địa vị pháp lý của
Tòa án và người bào chữa không giống
nhau, lợi ích mà hai chủ thể này hướng
đến để bảo vệ cũng có phần khác nhau,
vì thế không thể xem người bào chữa là
người giúp đỡ cho Tòa án giải quyết vụ
án hình sự được
Khác với quan điểm trên, trong
những năm mà Bộ luật tố tụng hình sự
năm 1988 có hiệu lực, nhiều người quan
niệm rằng “người bào chữa là người
tham gia tố tụng với trách nhiệm bảo vệ
lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, họ
được phép sử dụng mọi phương tiện do luật định để bào chữa cho bị can, bị cáo, đồng thời giúp đỡ cho bị can, bị cáo về mặt pháp lý để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ” [11] Cách định nghĩa
như vậy xuất phát từ quan niệm cho rằng
sự buộc tội xuất hiện từ khi cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can và kết thúc bằng bản án buộc tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, dẫn đến quyền bào chữa chỉ có thể thuộc về bị can, bị cáo
Vì tiếp cận quyền bào chữa chỉ dành cho
bị can và bị cáo mà định nghĩa này đã bỏ mất một chủ thể khác vẫn có quyền có người bào chữa đó là người bị tạm giữ
Lý giải vì sao người bị tạm giữ cũng chính là một đối tượng chịu sự buộc tội
từ phía cơ quan chức năng, mặc dù đó chỉ là sự buộc tội gián tiếp, tác giả đã trình bày ở nhóm các quan điểm ở phần khái niệm quyền bào chữa
Dưới góc độ thực tiễn, có người
cho rằng “người bào chữa là thuật ngữ
chỉ về những người có kiến thức pháp luật và kinh nghiệm hoạt động tố tụng thay mặt thân chủ tham gia tố tụng trong một vụ án hình sự để biện hộ, bảo
vệ cho thân chủ của mình để chống lại
sự buộc tội, truy tố hoặc một sự tố cáo, giúp làm giảm trách nhiệm hình sự cho thân chủ của họ đồng thời cũng có thể giúp cơ quan có chức năng làm sáng tỏ các tình tiết vụ án, họ có quyền tranh tụng với các chủ thể khác trong quá trình xử lý vụ án hình sự” [12] Có thể
nói rằng đây là cách hiểu phổ thông trong cộng đồng dân cư, cái mà người
ta hình dung về người bào chữa Tuy nhiên cách hiểu như vậy còn nhiều