Marie-Laure Brunel-Dupin một trong những người đã từng áp dụng tâm lý học tội phạm phục vụ cho quá trình điều tra rất thành công đã có chia sẻ: "Kết quả phân tích hành vi chỉ là để hỗ trợ điều tra. Công việc của chúng tôi chỉ đơn thuần là đưa ra một hồ sơ tâm lý, không phải để xác định một nghi phạm", Marie-Laure Brunel-Dupin khiêm tốn nói. Tuy nhiên, với việc áp dụng những nghiên cứu về tâm lý tội phạm trong điều tra phát hiện tội phạm ngày càng được áp dụng rộng rãi và khẳng định được ý nghĩa quan trọng của mình. Nghiên cứu về hậu quả tâm lý hành vi phạm tội không chỉ có ý nghĩa trong đấu tranh phát hiện tội phạm mà còn có ý nghĩa trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm mới. Từ đó nâng cao hiệu quả rất nhiều cho công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Marie-Laure Brunel-Dupin một trong những người đã từng áp dụng tâm lý học tội phạm phục vụ cho quá trình điều tra rất thành công đã có chia sẻ: "Kết quả phân tích hành vi chỉ là để hỗ trợ điều tra Công việc của chúng tôi chỉ đơn thuần là đưa ra một hồ sơ tâm lý, không phải để xác định một nghi phạm", Marie-Laure Brunel-Dupin khiêm tốn nói Tuy nhiên, với việc áp dụng những nghiên cứu về tâm lý tội phạm trong điều tra phát hiện tội phạm ngày càng được áp dụng rộng rãi
và khẳng định được ý nghĩa quan trọng của mình Nghiên cứu về hậu quả tâm lý hành vi phạm tội không chỉ có ý nghĩa trong đấu tranh phát hiện tội phạm mà còn
có ý nghĩa trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm mới Từ đó nâng cao hiệu quả rất nhiều cho công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung Nhận thức
được ý nghĩa quan trọng đó, Nhóm II lớp K2B lựa chọn Vấn đề: Phân tích hậu quả tâm lý của hành vi phạm tội Từ đó rút ra những kết luận cần thiết cho công tác đấu tranh phát hiện tội phạm để thực hiện bài tập nhóm Môn Tâp lý học
tư pháp
1 Một số khái niệm
1.1 Hành vi phạm tội
1.1.1 Định nghĩa
Hành vi phạm tội là hành vi hoàn chỉnh gồm cả mặt khách quan và chủ quan thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm.1
Đặc điểm:
- Là hành vi hoàn chỉnh
- Thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm về cả mặt khách quan và chủ quan
1.1.2 Cấu trúc
Nhu cầu, lợi ích
Trang 2- Đòi hỏi quá cao của các nhu cầu: nhu cầu sinh lý, nhu cầu vật chất
- Tính suy đồi thiếu lành mạnh
Động cơ phạm tội
- Động cơ của hành vi phạm tội là yếu tố tâm lý bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội
- Động cơ phạm tội là nguyên nhân bên trong trực tiếp đưa con người đến quyết định thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Động cơ phạm tội biểu hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân cách của người phạm tội
Mục đích phạm tội
- Là kết quả mà ng phạm tội mong muốn đạt được bằng việc thực hiện hành
vi đó
- Mục đích được xác định trên cơ sở động cơ Do động cơ thúc đẩy mà con người đề ra mục đích cụ thể
- Mục đích phạm tội biểu hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Quyết định thực hiện hành vi phạm tội
- Là sự lựa chọn cuối cùng của người phạm tội về mục đích, phương án, phương tiện phạm tội, thể hiện ý chí và lý trí của người phạm tội, thái độ của
họ với hành vi và hậu quả
- Có thể đưa ra quyết định trong chốc lát hoặc tư tưởng lâu dài Quyết định
có cơ sở hợp lý,tối ưu hoặc nông nổi manh động, thiếu cơ sở
Phương thức thực hiện hành vi phạm tội
- Là cách thức thực hiện hành vi phạm tội Đây là dấu hiệu cơ bản để đánh giá
về tội phạm
1.2 Hậu quả của tâm lý hành vi phạm tội
1.2.1 Định nghĩa
Trang 3Hậu quả tâm lý của hành vi phạm tội có thể hiểu là tâm lý của người phạm tội sau khi thực hiện hành vi tội phạm hay chính là tâm lý do hành vi phạm tội gây ra
1.2.2 Các phương diện
Nhận thức
Trạng thái tâm lý
Hành vi xử sự
2 Hậu quả tâm lý của hành vi phạm tội
2.1 Nhận thức
Nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ
sở thực tiễn2
Hoạt động nhận thức gồm nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính:
Nhận thức cảm tính (Trực quan sinh động)
Là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức Đó là giai đoạn con người sử dụng các giác quan để tác động vào sự vật nhằm nắm bắt sự vật ấy, bao gồm:
- Cảm giác là một quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ, bề ngoài củ sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan hoặc trạng thái bên trong của cơ thể khi chúng đang trực tiếp tác động vào các cơ quan cảm giác tương ứng của con người
- Tri giác là một quá trình tâm nhận thức phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan khi chúng đang trực tiếp tác động vào các cơ quan cảm giác tương ứng của chúng ta
Nhận thức lý tính (Tư duy trừu tượng)
Nhận thức lý tính là mức độ nhận thức cao hơn, bao gồm tư duy và tưởng tượng, trong đó con người phản ánh được các thuộc tính bản chất bên trong, những
Trang 4mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của các sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan
- Khái niệm: là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc tính bản chất của sự vật
- Phán đoán: là hình thức tư duy trừu tượng, liên kết các khái niệm với nhau
để khẳng định hay phủ định một đặc điểm, một thuộc tính của đối tượng
- Suy luận: là hình thức tư duy trừu tượng liên kết các phán đoán lại với nhau
để rút ra một phán đoán có tính chất kết luận tìm ra tri thức mới
Tùy theo đặc điểm cá nhân như về: tuổi tác, trình độ, nghề nghiệp,… mỗi chủ thể sẽ có nhận thức khác nhau, người thực hiện hành vi phạm tội vì thế mà cũng có nhận thức khác với những chủ thể khác Sau khi thực hiện tội phạm, người phạm tội sẽ có những nhận thức về hành vi phạm tội của mình cũng như về những vấn đề liên quan
- Có sự nhận thức về hành vi phạm tội của mình
- Có sự nhận thức về hậu quả của hành vi phạm tội
- Có sự nhận thức về pháp luật, liên quan đến hành vi phạm tội của mình
- Có sự nhận thức về các đối tượng, các sự kiện, sự việc có liên quan đến hành
vi phạm tội mình đã gây ra
Nhận thức của người thực hiện tội phạm khác với nhận thức của những người bình thường khác cũng như nhận thức của chính người phạm tội trước khi thực hiện hành vi phạm tội Có thể nhìn thấy qua một số các đặc điểm như:
- Nhận thức của người phạm tội sau thực hiện hành vi tội phạm thiên về nhận thức lý tính nhiều hơn là những nhận thức cảm tính đơn thuần
Khác với việc chỉ dừng lại ở trực quan sinh động hoặc chỉ có những tư duy đơn gian, người đã thực hiện hành vi phạm tội đối với những vấn đề như: hậu quả của hành vi phạm tội, quy định của pháp luật và các vấn đề liên quan khác như: Công tác điều tra phát hiện tội phạm của các cơ quan chức năng, hiện trường nơi
Trang 5thực hiện tội phạm, diễn biến của các chủ thể có liên quan sau khi thực hiện hành
vi tội pham… đều có thái độ quan tâm, để ý và có sự tri giác sâu sắc, tư duy đánh giá kỹ càng
Ví dụ: Đối với hiện trường vụ án, nếu một người bình thường họ sẽ chỉ liếc
qua thật nhanh không hề có sự chú tâm, quan sát kỹ Nhưng khi khám nghiệm hiện trường vụ án, thủ phạm có mặt ở đó, đứng trong nhóm người dân cũng đến xem khám nghiệm sẽ có sự để ý kỹ càng hơn và có sự suy tư, suy nghĩ nhiều hơn so với những người bình thường khác
- Đối tượng của nhận thức tập trung vào các vấn đề như hành vi phạm tội đã thực hiện, hậu quả của hành vi phạm tội, quy định của pháp luật liê quan đến hành vi phạm tội, những vấn đề liên quan đến tội phạm đã thực hiện như: Nạn nhân, hiện trường phạm tội, những người có liên quan…
Đây là một trong những biểu hiện cho tính đối tượng, tính lựa chọn và tính ý nghĩa của tri giác Tri giác không đặt ra đối với tất cả các sự vật hiện tượng bên ngoài thế giới khách quan mà nó có sự lựa chọn của tri giác phụ thuộc vào hứng thú, tâm thế, nhu cầu của bản thân chủ thể tri giác Cụ thể ở đây là người thực hiện hành vi phạm tội thì chính họ mới là người có nhận thức đầy đủ nhất về hành vi phạm tội và cũng chính vì họ là người thực hiện hành vi đó nên họ mới
có tâm thế, nhu cầu tri giác về hậu quả, về quy định của pháp luật, về các vấn đề khác liên quan đến hành vi phạm tội mà họ thực hiện
Ví dụ: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, A ít quan tâm đến pháp luật
đến điều tra phá án hay các vụ án Sau khi thực hiện hành vi tội phạm, A có xu hướng đọc các báo An ninh để xem có phát hiện tội phạm mới hay không, nghe ngóng, để ý những thông tin liên quan đến cơ quan điều tra xem họ có những động thái liên quan đến hành vi phạm tội của mình hay không; có sự quan tâm
để ý nhất định đến gia đình nạn nhân cũng như thường nghe ngóng thông tin về họ…
Trang 6- Có sự sâu sắc và đa dạng hơn trong tư duy trừu tượng
Cùng với việc tri giác về các đối tượng liên quan đến hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng có nhận thức lý tính sâu sắc và đa dạng hơn
về các đối tượng đó Người thực hiện hành vi phạm tội sẽ liên tục đưa ra các đánh giá, phán đoán, suy luận về vấn đề liên quan đến hành vi phạm tội
Ví dụ: Đưa ra các phán đoán như: Cơ quan chức năng đã phát hiện ra tội
phạm chưa? Lúc mình thực hiện hành vi phạm tội đều không có người qua lại như vậy có tồn tại nhân chứng nào hay không? Lúc thực hiện hành vi phạm tội vội vàng như vậy liệu có còn dấu vết nào mình chưa xóa sạch hay không?
Hay có những suy luận như: Lúc thực hiện hành vi phạm tội mình đã xóa các dấu vết, ngay sau đó trời đổ mưa lớn như vậy các dấu vết trên hiện trường đã được xóa sạch rồi Hay như: Hiện trường không để lại dấu vết, nạn nhân là người duy nhất biết hành vi phạm tội thì đã chết, không có nhân chứng, cơ quan điều tra vẫn chưa phát hiện hành vi phạm tội, chưa có tin báo, tố giác tội phạm… như vậy mình có thể không bị phát hiện và điều tra
2.2 Trạng thái tâm lý
Sau khi thực hiện tội phạm, trạng thái tâm lý người có xu hướng căng thẳng
và phức tạp, do nhiều nguyên nhân:
- Xuất hiện xúc cảm căng thẳng, ấn tượng, ám ảnh về hành vi phạm tội
Trong quá trình thực hiện tội phạm, cá nhân không chỉ hành động mà còn tri giác diễn biến, hậu quả của nó Trong nhiều trường hợp, những hình ảnh về diễn biến và hậu quả của hành vi thường xuyên xuất hiện lại trong đầu óc của người phạm tội, ám ảnh họ và gây ra những xúc cảm nặng nề như: ghê rợn, sợ hãi, những căng thẳng không thể chịu được…
Ví dụ: Chẳng hạn như, vụ án Lê Văn Luyện là một vụ án giết người cướp
của xảy ra tại tiệm vàng Ngọc Bích (Phương Sơn, Lục Nam) ngày 24 tháng
8 năm 2011 Trong vụ án này, sát thủ Lê Văn Luyện đã giết chết cả vợ chồng chủ
Trang 7tiệm vàng cùng con 18 tháng tuổi Con gái lớn của họ 8 tuổi bị chém đứt tay Khi đang thực hiện hành vi phạm tội tại tiệm vàng, Luyện không may bắt gặp chủ nhà với tâm lý hoang mang, lo sợ cộng thêm căng thẳng và bồn chồn nên đã ra tay giết hại ngay chủ nhà, tiếp theo đó là giết hại hết cả gia đình một cách dã man không thương tiếc Biểu hiện rõ nét với mức độ tâm lý tiêu cực tăng dần vì lo sợ sẽ bị phát hiện và phát giác Cuối cùng, sau khi đã thực hiện xong hành vi Luyện có tâm
lý sợ hãi, những căng thẳng không thế chịu được đã có ý định chạy trốn sang Trung Quốc nhưng bất thành nên đã bị bắt đưa về Bắc Giang
- Người phạm tội nhận thức được hành vi và ý nghĩa hậu quả của nó nên ăn năn hối hận
Thông thường sau khi thực hiện hành vi, con người mới thấy hết được ý nghĩa và hậu quả việc mình làm đối với xã hội và đối với bản thân Điều này làm cho người phạm tội cảm thấy lỗi lầm, hối hận, lương tâm dằn vặt, tự trách bản thân…
Ví dụ: Liên quan đến clip đánh bạn học ở THPT huyện Hương Sơn, Hà
Tĩnh được đăng tải rộng rãi trên mạng xã hội hồi tháng 11 năm 2011: Trong số những đối tượng có mặt trong clip, có Lê Thị T khi được phóng viên hỏi về việc công an đã đến trường làm việc với Ban giám hiệu, T có chia sẻ về việc sợ bị đuổi học, sợ không được đi thi tốt nghiệm, thi đại học và cả là sợ bị điều tra, bị kết án T cũng có chia sẻ "Em không đổ tội cho tuổi trẻ đang nông nổi, chưa suy nghĩ được sâu xa, nhưng thực sự lúc đó, em không hề nghĩ được như bây giờ Chỉ tiếc rằng, bài học này, em tiếp thu được khi đã quá muộn"
Trong khi thực hiện hành vi đánh nhau, T chưa ý thức được đầy đủ về hành
vi và hậu quả đó nhưng về sau, T đã có những ý thức rõ ràng hơn, đặc biệt là thống qua các động thái của cơ quan điều tra, T đã có sự ăn năn, hối hận
- Người phạm tội lo lắng cho sự an toàn của mình, lo sợ bị phát hiện, trừng phạt
Trang 8Việc thực hiện hành vi phạm tội đứa người phạm tội đến chỗ đối đầu với xã hội, với pháp luật và họ bị đe dọa phải chịu một hình phạt nghiêm khắc Ý thức được điều này, người phạm tội luôn lo sợ bị phát hiện và bị trừng trị, lo sợ đánh mất địa
vị và tiền đồ
Ví dụ: Vì lo sợ bị phát hiện mà bỏ trốn, tìm cách xóa dấu vết, che dấu các
chứng cứ, đồ vật; Đe dọa nhân chứng không được khai ra hành vi phạm tội…
- Sự hoạt động tích cực của tư duy hoạt động tích cực để đối phó với cơ quan điều tra hòng che dấu hành vi phạm tội
Khi thấy hành vi của mình vẫn chưa bị lôi ra ánh sáng, người phạm tội hy vọng rằng họ có thể lẩn tránh được sự phát hiện và trừng trị của pháp luật Họ tìm mọi cách để đối phó với các cơ quan bảo vệ pháp luật và che dấu tội lỗi của mình
Họ cố nhớ lại quá trình chuẩn bị phạm tội và thực hiện tội phạm để phát hiện, phân tích, đánh giá những sơ xuất của bản thân trong quá trình đó; tìm cách lý giải các tình huống nếu bị hỏi tới; phán đoán, nhận định về hoạt động của cơ quan điều tra… điều này làm cho tư duy của người phạm tội trở nên căng thẳng
Ví dụ: Liên quan đến Vụ nữ tài xế taxi đang mang thai 4 tháng bị sát hại dã
man, hung thủ lại chính là người tình, cha của đứa con trong bụng nạn nhân khiến nhiều người cảm thấy đau lòng, phẫn nộ vào hồi tháng 8 năm 2016 Nguyễn Định Tám (SN 1980, HKTT: xã Hàm Thạnh, H.Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận) là thủ phạm và khi cơ quan điều tra mời Tám về trụ sở làm việc, lấy lời khai bình thường.Tám cho răng cơ quan Công an không có chứng cứ về việc Tám gây án nên đối tượng khá bình tĩnh Nghi phạm trả lời tất cả các câu hỏi của Điều tra viên một cách trôi chảy Đối tượng được cho về, nhưng tất nhiên mọi di biến động của Tám đều được các trinh sát theo dõi Và sau này khi đủ các chứng cứ đã truy cứu trách nhiệm hình sự với Tám
Trong khi được lấy lời khai, do đã có sự chuẩn bị từ trước, Tám đã đưa ra các lời khai một cách trôi chảy và hết sức bình tĩnh, đây là do Tám đã có sự chuẩn bị từ
Trang 9trước Tám nhìn ra được vấn đề là cơ quan điều tra không có căn cứ buộc tội mình nên vẫn cứ bình tĩnh khai báo bình thường như mình không có liên quan đến vụ án
2.3 Hành vi xử sự
Xuất phát từ sự căng thẳng tâm lý, hành vi của người phạm tội thường có những biểu hiện sau:
- Hành vi của người phạm tội trở nên thụ động, họ dễ bị kích động, không làm
chủ được bản thân
Sự căng thẳng tâm lý, diễn biến phức tạp của các quá trình cảm xúc và trí tuệ làm giảm khả năng định hướng, điều khiên và kiểm soát hành vi, thái độ của người phạm tội Dù người phạm tội tìm cách che dấu nội tâm của mình, cố tỏ ra bình thường, nhưng trong hành vi, cử chỉ chỉ của họ vẫn có thể dễ dàng phát hiện những biểu hiện thiếu tự nhiên, lung túng Tâm lý căng thẳng, mất cân bằng làm tang tính phản ứng, người phạm tội trở nên dễ bị kích động, dễ phản ứng và phản ứng không tương xứng với tình huống Phong cách giao tiếp của người phạm tội cũng thay đổi Nếu trước đây họ là người thích giao tiếp, cởi mở, dễ gần, thì nay ngược lại, họ thận trọng, đề phòng, khép kín, ít nói và hạn chế giao tiếp đến mức tối thiểu Cũng có trường hợp người phạm tội tỏ ra hang hái, tích cực tham gia vào nhiều công việc khác nhau ở cơ quan, tập thể nơi họ công tác, song tính tích cực này thường thái quá, chỉ mang tính hình thức, không thật và dễ bị ngắt quãng
Ví dụ: Ngày 10/5/2009 gia đình chị Đào Thị Xuân đã báo tin đến cơ quan
công an huyện X tỉnh Y về vụ việc gia đình chị vừa bị mất 10 chỉ vàng và 5 triệu đồng Theo thông tin chị khai báo, chị có một người giúp việc ở cùng nhà là Nguyễn Thanh Hồng (18 tuổi), sau khi được chỉ hỏi về việc có thấy tài sản chị bị mất không thì Hồng tỏ vẻ cáu giận, bực tức và gắt gỏng, cho rằng chị không tin mình và bỏ về quê Ngoài ra khi hỏi ngày hôm đó đi đâu Hồng tỏ ra lúng túng, trả lời vòng vo, không rõ ràng tuy nhiên gia đình không có chứng cứ để buộc tội
Trang 10Hồng Sau đó cơ quan công an đã triệu tập Hồng đến cơ quan điều tra và phát hiện chính Nguyễn Thanh Hồng đã trộm cắp số tài sản trên
- Do luôn bị ám ảnh bởi trạng thái tâm lý căng thẳng và bất lật trong việc loại
bỏ nó, người phạm tội có thể tìm đến những hình thức như sử dụng các chất kích thích (rượu, ma túy…) hoặc tìm ác cảm giác mạnh ở các trò tiêu khiển
Ví dụ: Trần Văn B do mẫu thuẫn với anh Lò Văn H đã dùng dao đâm chết
H tại nhà B và chôn xác H lên đồi của Trần Văn B Do biết H không có người thân thích, tưởng rằng không ai phát hiện H đã chết, B yên tâm ở nhà Tuy nhiên do quá
ám ảnh về hành vi giết người của mình, B quá sợ hãi nên thường xuyên uống rượu
để quên đi điều đó Trong một lần đi uống rượu với bạn bè vì quá say sỉn B đã vô tình nói ra hành vi giết người của mình Ngay sau đó, anh C người bạn đi uống rượu cùng B đã báo công an và B bị bắt ngay sau đó
- Người phạm tội có xu thế muốn tìm hiểu, thăm dò các thông tin về quá trình
điều tra
Sau khi thực hiện tội phạm, do lo sợ bị phát hiện và bị trừng trị, do muốn xác định những biện pháp đối phó với các cơ quan bảo vệ pháp luật, người phạm tội đặc biệt quan tâm đến những thông tin về quá trình điều tra vụ án Tuy nhiên, những thông tin này được cơ quan điều tra giữ bí mật và người phạm tội không có được đầy đủ các thông tin cần thiết, không xác định được một cách rõ rang tình thế của mình Điều này gây nhiều khó khan cho họ trong việc quyết định những hành động tiếp theo, những biện pháp đối phó Vì vậy sau khi phạm tội, một số người lập tức rời bỏ địa bàn (cư trú, gây án) tìm nơi kín đáo và an toàn để lẩn trốn, đồng thời nghe ngóng động tĩnh Trong giao tiếp, người phạm tội có thể tìm cách đề cập đến vụ án nhằm thu thập thông tin từ người đối thoại Cũng có trường hợp người phạm tội mạo hiểm trở lại hiện trường gây án nhằm nhớ lại một cách đầy đủ diễn biến của vụ án, xác định những dấu vết để lại trên hiện trường, từ đó phán đoán về hoạt động của cơ quan điều tra