luận án có ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong việc đánh giá được thực trạng ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam và đánh giá những ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút FDI, tr[r]
Trang 1Trường đại học kinh tế quốc dân
Đỗ THị THU THUỷ
ảNH HƯởNG CủA CÔNG NGHIệP Hỗ TRợ
ĐếN THU HúT ĐầU TƯ TRựC TIếP NƯớC NGOμI
VμO VIệT NAM - NGHIÊN CứU TRƯờNG HợP TỉNH VĩNH PHúC
CHUYÊN NGμNH: TμI CHíNH – NGÂN HμNG
Mã Số: 62.34.02.01
Hμ Nội - 2018
Trang 2TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS §ÆNG NGäC §øC
Phản biện 1: PGS.TS Lê Quốc Hội
Đại học Kinh tế Quốc dân
Phản biện 2: TS Dương Đình Giám
Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Công nghiệp
Phản biện 3: TS Nguyễn Quốc Việt
Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước
họp Tại: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Vào hồi 16h30 ngày 06 tháng 02năm 2018
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một chủ đề nghiên cứu quan trọng, là một hình thức đầu tư quốc tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới Trên thực tế, FDI đã phát huy vai trò rất quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển Vì vậy, vấn đề quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển là tìm
ra động cơ thu hút FDI Liên hệ với Việt Nam, sau 30 năm thực hiện chính sách
mở cửa thu hút FDI, cho đến nay dòng vốn FDI luôn được đánh giá là tạo ra những “điểm sáng” trong tăng trưởng kinh tế Mặc dù cũng xuất hiện những tác động mặt trái nhất định, song về cơ bản FDI vào Việt Nam đã thực sự có những đóng góp quan trọng đối với sự tăng trưởng
Để tăng cường thu hút FDI đã có rất nhiều chính sách khuyến khích đầu tư được đưa ra Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng hiệu lực của các chính sách khuyến khích đầu tư đang giảm đi và sự phát triển của ngành công nghiệp
hỗ trợ tại các nước tiếp nhận FDI trở nên ngày càng quan trọng hơn Cho đến nay, các nghiên cứu trong và ngoài nước về ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút FDI vào Việt Nam còn hạn chế, mới chỉ đề cập đến vai trò của công nghiệp
hỗ trợ đối với việc thu hút FDI, chưa phân tích được những ảnh hưởng của CNHT đến thu hút FDI như ảnh hưởng đến quy mô, chất lượng hay cơ cấu FDI
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam – Nghiên cứu trường hợp tỉnh Vĩnh Phúc” được lựa chọn làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ Luận án
được hoàn thành sẽ có ý nghĩa đóng góp cả về lý luận và thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi về phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: đánh giá ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút FDI vào Việt Nam
Đối tượng nghiên cứu: các doanh nghiệp hỗ trợ Việt Nam (bao gồm cả các doanh nghiệp hỗ trợ FDI và doanh nghiệp hỗ trợ nội địa) và ảnh hưởng của
Trang 4công nghiệp hỗ trợ đến thu hút FDI vào Việt Nam, điển hình nghiên cứu tại tỉnh Vĩnh Phúc
Phạm vi nghiên cứu: luận án nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến dòng vốn FDI vào Việt Nam nói chung và tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng trong giai đoạn từ 2005 đến 2016
3 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng nhằm đánh giá ảnh hưởng của CNHT đến thu hút FDI
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn Cụ thể như sau:
Về lý luận
- Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về công nghiệp hỗ trợ nói chung và ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút FDI nói riêng, từ đó tìm ra khoảng trống trong nghiên cứu về ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút FDI;
- Luận án đã hệ thống hoá được cơ sở lý thuyết về công nghiệp hỗ trợ và những ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút FDI, bổ sung khung lý thuyết cho việc phân tích những ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút FDI vào các nước đang phát triển; làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút FDI vào Việt Nam;
- Luận án đã xây dựng được mô hình nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến khả năng thu hút FDI
Trang 5luận án có ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong việc đánh giá được thực trạng ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam và đánh giá những ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút FDI, trong khi đó ở Việt Nam các nghiên cứu về mối quan hệ này còn rất hạn chế;
- Với bộ số liệu sơ cấp được thu thập từ khảo sát điều tra của luận án về doanh nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp FDI, luận án đã đánh giá được ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút FDI thông qua hai mô hình nghiên cứu: (1) Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của doanh nghiệp FDI, (2) Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng các doanh nghiệp FDI trở thành nhà cung cấp của các doanh nghiệp FDI
- Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý kinh tế có thể đưa ra các giải pháp phù hợp trong phát triển công nghiệp hỗ trợ và thu hút FDI
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài
Các nghiên cứu chung về công nghiệp hỗ trợ: Vai trò của CNHT được
nhắc đến trong nhiều nghiên cứu của Porter (1990) JICA (1995), Ratana
(1999), Ryuichiro, Inoue (1999), Ichikawa (2004), Thomas Brandt (2012),
K.Ohno (2005), Peter (2011) Các nghiên cứu đều khẳng định vai trò quan trọng của CNHT đối với quá trình công nghiệp hoá, phát triển kinh tế, hay thu hút FDI Một cách cụ thể hơn nghiên cứu của JBIC (2004) phân tích việc sử dụng hệ thống các nhà thầu phụ sản xuất linh kiện, phụ tùng Fujimoto (2004) Takahiro Fujimoto và Junjiro Shintaku (2005); Ohno và Fujimoto (2006) và nhóm nghiên cứu đại học Tokyo đã đưa ra lý thuyết về cấu trúc kinh doanh để giải thích những khác biệt cơ bản giữa các ngành công nghiệp chế tạo
Cùng quan điểm khẳng định vai trò quan trọng của ngành CNHT đối với phát triển kinh tế, một số nghiên cứu cũng chỉ ra các giải pháp nhằm phát triển CNHT Mori, Ohno (2004) cho rằng chiến lược phát triển các ngành CNHT nội
Trang 6địa cần phải được xây dựng trên cơ sở hiểu biết đầy đủ về nhu cầu mua sắm của các công ty đa quốc gia Để phát triển ngành CNHT Goh Ban Lee (1998); Noor Halim, Clarke Roger, Driffield Nigel (2002) cũng chỉ ra vai trò quan trọng của sự hỗ trợ từ phía chính phủ Tổ chức năng suất lao động châu Á (2002) đã đúc kết kinh nghiệm phát triển CNHT, đây là tài liệu hữu ích cho các nước đang phát triển về chính sách phát triển CNHT qua các thời kỳ ở Nhật Bản, Hàn Quốc
nghiên cứu chủ yếu đề cập đến các nhân tố như: Quy mô thị trường, Rủi ro quốc
gia, Chi phí lao động, độ mở thương mại, sự ổn định chính trị hay cơ sở hạ tầng,
v.v…Tuy nhiên, có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra sự thay đổi trong các nhân tố góp phần vào thu hút FDI Ngoài những nhân tố được kể trên, thì vai trò của CNHT trong thu hút FDI ngày càng được chú trọng Nghiên cứu về sự thay đổi này có thể được tìm thấy trong khảo sát của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC, 2004) Cùng quan điểm đó Prema-Chandea Athukorala (2002), Đỗ Mạnh Hồng (2004), Mori (2005) Pham Truong Hoang (2007) đều cho rằng CNHT trong phát triển kinh tế được xác định như một nhân tố quan trọng trong việc thu hút FDI Là một trong những tác giả có rất nhiều nghiên cứu về CNHT, Kenichi
Ohno (2008) đã chỉ ra rằng Việt Nam nên tạo ra giá trị nội địa thay vì chỉ cung cấp
lực lượng lao động giá rẻ và đất đai Để đánh giá sự hấp dẫn của Việt Nam như
một điểm đến đầu tư nước ngoài, nhóm tác giả Thi Minh Hieu Vuong, Kenji
Yokoyama (2011) cho rằng sự phát triển CNHT tại nước nhận vốn đầu tư được
xem xét là 1 thuộc tính ảnh hưởng quan trọng đến sự hấp dẫn FDI
Trang 71.2 Các nghiên cứu trong nước
Là một trong những người tiên phong trong nghiên cứu về CNHT ở Việt Nam, tác giả Trần Văn Thọ (2006) Nguyễn Thị Xuân Thúy (2007), đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về CNHT, khẳng định vai trò quan trọng của phát triển CNHT ở Việt Nam hiện nay, coi CNHT như bước đột phá phát triển ngành công nghiệp nội địa CNHT trong nước phải phát triển mới có thể thu hút FDI Cùng quan điểm đó, dù tiếp cận CNHT dưới nhiều góc độ phân tích khác nhau, nghiên cứu của Lê Thành Ý (2007) Hoàng Văn Việt (2014), Trương Thị Chí Bình (2010), Hà Thị Hương Lan (2014) và Nguyễn Văn Trinh (2012), Nguyễn Ngọc Sơn (2012) đều khẳng định rằng: CNHT trước hết là một nhân tố quan trọng góp phần thu hút FDI, từ đó góp phần phát triển kinh tế nói chung
Theo một cách tổng thể hơn về CNHT, nghiên cứu của Hoàng Văn Châu (2010), Lê Xuân Sang và cộng sự (2011), Nguyen Thi Xuân Thúy (2011), Võ Thanh Thu và Nguyễn Đông Phong (2014) đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về CNHT và chính sách phát triển CNHT ở Việt Nam
Đánh giá từ phía doanh nghiệp CNHT, nghiên cứu của Vũ Chí Lộc (2010), Lưu Tiến Dũng và cộng sự (2014) đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển các ngành CNHT trong quá trình hội nhập quốc tế Đánh giá từ phía các doanh nghiệp FDI, Trương Bá Thanh & Nguyễn Ngọc Anh (2014), Trần Quang Hậu (2015), dựa trên số liệu điều tra từ các doanh nghiệp FDI đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI và kết quả đều chỉ ra lợi thế địa phương và môi trường quốc tế ảnh hưởng lớn đến dòng vốn FDI của tỉnh Ở chiều ngược lại, Phạm Thu Hương (2013) hay Hoàng Mai Vân Anh (2014) Nguyễn Thị Phương Nhung (2014) đều chỉ ra vai trò của FDI trong việc phát triển CNHT, đồng thời phân tích những nhân tố tác động đến thu hút FDI cho phát triển CNHT
1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Tóm lại, tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy một số khoảng trống như sau:
Trang 8Thứ nhất, kết quả chung mới chỉ đề cập, mà chưa phân tích được những
kênh tác động của CNHT đến thu hút FDI và các câu hỏi nghiên cứu như sau chưa được trả lời: (1) Cơ sở lý thuyết và bài học kinh nghiệm nào về ảnh hưởng của CNHT đến thu hút FDI?; (2) Mức độ phát triển của ngành CNHT ở Việt Nam hiện nay như thế nào?; (3) Ngành CNHT ảnh hưởng đến thu hút FDI vào Việt Nam như thế nào?; (4) Khả năng thu hút FDI vào Việt Nam thay đổi như thế nào khi các yếu tố nội tại của ngành CNHT thay đổi?; (5) Khuyến nghị và hàm ý chính sách nào cần được nghiên cứu và áp dụng để phát triển CNHT nhằm tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam trong thời gian tới?
Thứ hai, các phương pháp nghiên cứu sử dụng chủ yếu là phương pháp
định tính, nên chỉ mang tính chất khai phá ra các nhân tố Để làm rõ ảnh hưởng của CNHT đến thu hút FDI, luận án sẽ sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng
Thứ ba, các nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam còn rất hạn chế Ảnh
hưởng của CNHT đến thu hút FDI không phải là trọng tâm của các nghiên cứu này Vì vậy, các nghiên cứu này chưa có kết quả rõ ràng, chưa có tác động hỗ trợ cho sự phát triển của ngành CNHT nhằm thu hút FDI ở Việt Nam hiện nay
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHIỆP
HỖ TRỢ ĐẾN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 2.1 Khái quát về công nghiệp hỗ trợ
2.1.1 Khái niệm công nghiệp hỗ trợ
“Công nghiệp hỗ trợ” hay “công nghiệp phụ trợ” là những thuật ngữ khác nhau chỉ cùng một lĩnh vực sản xuất công nghiệp có tác dụng hỗ trợ, bổ sung tạo điều kiện cho sự phát triển của những ngành công nghiệp chính Do trình độ phát triển khác nhau ở các quốc gia trên thế giới, CNHT luôn cần thiết để đảm bảo cho sự phát triển và ổn định sản xuất kinh doanh của các ngành công nghiệp chính trong nước hay các doanh nghiệp FDI Mặc dù quan điểm của các quốc
Trang 9gia về CNHT cơ bản thống nhất, tuy nhiên vẫn còn có những khác biệt nhất định về cách tiếp cận Luận án phân đưa ra các khái niệm khác nhau về CNHT theo
quan điểm của một số nước, quan điểm của các nhà nghiên cứu và theo quan điểm của Việt Nam
Ở Việt Nam, theo nghị định số 111/2015/NĐ-CP, ngày 3/11/2015 của
Chính phủ về phát triển CNHT, thì CNHT được hiểu “là các ngành công nghiệp
sản xuất nguyên liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng để cung cấp cho sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh” Khái niệm của Việt Nam về CNHT về cơ bản khá tương
đồng với các khái niệm của Nhật Bản, Thái Lan và các quốc gia khác Nhìn chung, các khái niệm về CNHT trên đây đều nhấn mạnh tầm quan trọng của các ngành công nghiệp sản xuất đầu vào cho sản phẩm hoàn chỉnh
Thực tế, việc định nghĩa chuẩn xác CNHT chỉ có thể được thực hiện khi ngành CNHT tham gia được vào chuỗi giá trị sản xuất Do đặc thù của từng ngành đỏi hỏi các sản phẩm CNHT ở mức độ và đặc điểm khác nhau Và quan
điểm về CNHT được sử dụng trong nghiên cứu này là: “CNHT bao gồm toàn bộ
các ngành công nghiệp sản xuất nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng cung cấp đầu vào cho các ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh”
2.1.2 Sự hình thành và các giai đoạn phát triển của công nghiệp hỗ trợ
- Giai đoạn 1: Giai đoạn này ngành CNHT mới hình thành, còn sơ khai, số lượng các DNHT trong nước còn rất ít, sản phẩm CNHT chưa có tính cạnh tranh
- Giai đoạn 2: So với giai đoạn trước thì giai đoạn này số lượng các DNHT trong nước đã bắt đầu tăng, vì vậy mà sản phẩm CNHT cũng tăng theo, tuy nhiên chất lượng sản phẩm gần như không tăng
- Giai đoạn 3: Giai đoạn này số lượng các DNHT trong nước tăng mạnh, khối lượng sản phẩm CNHT tăng, tính cạnh tranh của sản phẩm tốt hơn, đáp ứng được nhu cầu của nhà sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh
- Giai đoạn 4: Giai đoạn này, số lượng các nhà cung cấp sản phẩm CNHT tăng lên đối với mỗi loại sản phẩm Các DNHT nội địa đã phát triển nhanh chóng,
Trang 10đáp ứng được tiêu chuẩn về giá cả, chất lượng và giao hàng
- Giai đoạn 5: Giai đoạn này các DNHT trong nước đã đạt được mức độ phát triển hoàn thiện về chất lượng sản phẩm, tiếp tục tập trung nghiên cứu phát triển để đẩy mạnh xuất khẩu
2.1.3 Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ
Là lĩnh vực hỗ trợ cho ngành công nghiệp lắp ráp, chế biến sản phảm cuối cùng, CNHT có những đặc điểm liên quan chặt chẽ đến các ngành công nghiệp lắp ráp chế biến, song cũng có những đặc điểm riêng có, cụ thể như sau: nằm trong chuỗi giá trị; gồm nhiều lớp cung ứng; có sự đa dạng về công nghệ; cần lượng vốn lớn và đòi hỏi nguồn lao động chất lượng cao; có thị trường rộng lớn
và bao gồm phạm vi lớn của sản xuất công nghiệp; thu hút số lượng lớn doanh nghiệp tham gia, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
2.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển công nghiệp hỗ trợ
2.1.4.1 Nhóm chỉ tiêu phát triển về quy mô ngành công nghiệp hỗ trợ: Gồm các chỉ tiêu về giá trị sản xuất công nghiệp, số lượng các doanh nghiệp hoạt động sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, quy mô doanh nghiệp công nghiệp
hỗ trợ
2.1.4.2 Nhóm chỉ tiêu phát triển về chất lượng: gồm các chỉ tiêu về trình độ công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, tiêu chuẩn chất lượng, mối quan hệ với khách hàng và nhà cung cấp, khả năng cung ứng của ngành công nghiệp hỗ trợ
2.1.4.3 Nhóm chỉ tiêu phát triển về cơ cấu: gồm chỉ tiêu về cơ cấu sản phẩm CNHT theo chuỗi giá trị và cơ cấu CNHT theo ngành
2.2 Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.2.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Khái niệm của IMF (1993), “FDI là loại hình đầu tư quốc tế trong đó một
chủ thể kinh tế thuộc một nền kinh tế thu được lợi ích lâu dài từ một chủ thể kinh tế thuộc một nền kinh tế khác”
Trang 11Khái niệm của OECD (1996): “FDI là hình thức đầu tư được thực hiện
nhằm thu lợi ích lâu dài của một chủ thể đầu tư ở một quốc gia (nhà đầu tư trực tiếp) vào một chủ thể kinh tế ở một quốc gia khác (doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp)”
Khái niệm của UNCTAD (2012): “FDI là việc đầu tư dài hạn gắn liến với
lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một chủ thể đầu tư ở một quốc gia này (nhà đầu tư trực tiếp) vào một công ty ở một quốc gia khác”
2.2.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Dựa vào khái niệm của đầu tư trực tiếp nước ngoài, có thể thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài có một số đặc điểm sau: FDI là hình thức đầu tư dài hạn, trực tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài; mục tiêu của FDI là tìm kiếm chi phí đầu vào giá rẻ, nhằm tối đa hoá lợi nhuận; FDI thường đi kèm với chuyển giao công nghệ; Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia phụ thuộc vào tỷ lệ % vốn góp; FDI không tạo ràng buộc về chính trị, quân sự, không tạo ra gánh nặng nợ; các doanh nghiệp FDI luôn có ý đồ chuyển giá
2.2.3 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài
a Tác động tích cực: FDI có nhiều tác động tích cực đối với nước tiếp
nhận vốn như góp phần bổ sung vốn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; chuyển giao công nghệ; phát triển nguồn nhân lực và tạo công ăn việc làm; giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
b Tác động tiêu cực: Bên cạnh những tác động tích cực được kể đến ở
trên, dòng vốn FDI cũng bộc lộ nhiều tác động tiêu cực đối với nước tiếp nhận vốn đầu tư như gây ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên; có thể gây mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế; có thể gây mất cân đối trong phát triển kinh tế giữa các vùng; có thể gây cản trở sự phát triển của doanh nghiệp nội địa;
là yếu tố gây rủi ro đối với những nền kinh tế bị phụ thuộc quá nhiều
Trang 122.3 Ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.3.1 Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh
Trong mô hình kim cương (M.Porter,1990), CNHT là một trong bốn yếu tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới lợi thế cạnh tranh của một quốc gia, đó là: (i) điều kiện cầu; (ii) điều kiện yếu tố sản xuất; (ii) chiến lược, cấu trúc và đối thủ của công ty; (iv) các ngành CNHT và liên quan Như vậy, một quốc gia có ngành CNHT phát triển, sẽ là một lợi thế cạnh tranh trong thu hút FDI so với các
quốc gia khác
Lý thuyết chiết trung hay mô hình OLI: Lý thuyết chiết trung (Dunning,
1973) được cho là kế thừa tất cả những ưu điểm của các nghiên cứu trước về FDI Theo Dunning, FDI được thực hiện hiệu quả khi cả ba lợi thế sau được thoả mãn: (1) Lợi thế về sở hữu (O); (2) Lợi thế về khu vực (L); (3) Lợi thế về nội hoá (I) Trong đó, sự phát triển của ngành CNHT nội địa cung cấp bộ phận, linh kiện là một trong những yếu tố thuộc lợi thế L Lý thuyết chiết trung cho rằng, đối với dòng vốn FDI, những nhân tố “đẩy” bắt nguồn từ lợi thế O và I, còn lợi thế L tạo ra nhân tố “kéo” đối với FDI
Lý thuyết về các bước phát triển của đầu tư (Investment Development Path - IDP) Theo lý thuyết này, quá trình phát triển của các nước được chia ra
thành 5 giai đoạn (Dunning, 1981) Mô hình OLI giải thích hiện tượng FDI theo trạng thái tĩnh, trong khi lý thuyết IDP lại xem xét hiện tượng FDI trong trạng thái động với sự thay đổi các lợi thế này trong từng bước phát triển Do vậy, lý thuyết này cùng mô hình OLI là thích hợp nhất để giải thích hiện tượng FDI
2.3.2 Ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút FDI
2.3.2.1 Công nghiệp hỗ trợ ảnh hưởng đến quy mô FDI
Theo Junichi Mori (2005), các ngành CNHT trong nước đang gia tăng tầm quan trọng như là một yếu tố để thúc đẩy việc thu hút FDI Nếu nước tiếp
Trang 13nhận FDI có ngành CNHT kém phát triển thì sẽ làm cho các doanh nghiệp FDI sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh phải phụ thuộc nhiều vào các linh kiện, phụ tùng nhập khẩu Vì vậy, nền kinh tế với các ngành CNHT cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu cho các MNC là một trong các nhân tố tác động đến thu hút dòng vốn FDI cả về quy mô và số lượng dự án
Theo tiêu chuẩn sản xuất của Nhật Bản thì tính cạnh tranh của ngành CNHT thể hiện ở chất lượng, chi phí và giao hàng (QCD) Khi chất lượng đã được đảm bảo thì hai yếu tố quan trọng cần được cải thiện là chi phí và giao hàng Như vậy, để giảm chi phí, đẩy nhanh tiến độ giao hàng thì việc phát triển CNHT là cần thiết (Ohno, 2007)
2.3.2.2 Công nghiệp hỗ trợ ảnh hưởng đến chất lượng FDI
Có nhiều cách tiếp cận về chất lượng FDI đối với nền kinh tế Tuy nhiên, trong phạm vi luận án, tác giả sẽ tiếp cận về chất lượng FDI dựa trên những tác động tích cực mà FDI mang lại cho nền kinh tế Cụ thể, chất lượng FDI được thể hiện thông qua: (i) khả năng đóng góp FDI vào thặng dư cán cân thương mại, (ii) mức độ lan toả công nghệ đối với doanh nghiệp trong nước và (iii) mức độ tác động tới sự phát triển doanh nghiệp nội địa thông qua liên kết giữa DNFDI
và doanh nghiệp nội địa
2.3.2.3 Ảnh hưởng đến cơ cấu dòng vốn FDI
Mức độ phát triển của ngành CNHT nội địa ảnh hưởng đến cơ cấu dòng vốn FDI theo ngành và theo địa phương
2.4 Kinh nghiệm quốc tế trong phát triển công nghiệp hỗ trợ và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Luận án đã tập trung phân tích kinh nghiệm về phát triển CNHT nhằm thu hút FDI của Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc Từ đó rút ra một số bài học cho Việt Nam như sau: Xây dựng cơ chế chính sách phát triển CNHT phù hợp và cụ thể; Tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp; Chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; Xác định ngành CNHT ưu tiên, cấu trúc ngành phù hợp với chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia; Thu hút đầu tư để phát triển CNHT; Xây dựng cơ sở dữ liệu về CNHT; Phát triển DNVVN