1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam.

17 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 33,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền sở hữu công nghiệp là một nhóm quyền của Sở hữu trí tuệ, được Nhà nước bảo hộ cho các tổ chức, cá nhân trong một thời hạn nhất định. Mỗi một quốc gia khác nhau thì có những nội dung về bảo hộ quyền khác nhau, không chỉ với các tổ chức, cá nhân trong nước mà còn có các chế định để bảo vệ quyền cho các tổ chức, cá nhân là người nước ngoài. Các chế định này được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật và là cơ sở pháp lý để thực thi việc bảo hộ quyền sở hữu của họ. Pháp luật Việt Nam cũng quy định rất rõ vấn đề này trong hệ thống pháp luật quốc gia, xuất phát từ tính lãnh thổ của quyền sở hữu công nghiệp, bất kì cá nhân, tổ chức nào có quyền sở hữu công nghiệp lần đầu tiên được phát sinh tại Việt Nam đều được bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Đối với quyền sở hữu công nghiệp muốn được bảo hộ ở nước ngoài thì phải được thực hiện thông qua các phương thức bảo hộ quốc tế dựa trên cơ sở những điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia. Dựa trên cơ sở pháp lý của những quy định trên, trong phạm vi bài viết này sẽ tìm hiểu cụ thể hơn về những quy định hiện hành để người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam.

Trang 1

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 Môn: Tư pháp quốc tế

Đề số 6: Phân tích các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền

sở hữu công nghiệp của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam

Nhóm: số 3 Lớp: K2B

Hà Nội – 2016

Trang 2

MỞ ĐẦU

Quyền sở hữu công nghiệp là một nhóm quyền của Sở hữu trí tuệ, được Nhà nước bảo hộ cho các tổ chức, cá nhân trong một thời hạn nhất định Mỗi một quốc gia khác nhau thì có những nội dung về bảo hộ quyền khác nhau, không chỉ với các tổ chức, cá nhân trong nước mà còn có các chế định để bảo vệ quyền cho các tổ chức, cá nhân là người nước ngoài Các chế định này được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật và là cơ sở pháp lý để thực thi việc bảo hộ quyền sở hữu của họ Pháp luật Việt Nam cũng quy định rất rõ vấn đề này trong hệ thống pháp luật quốc gia, xuất phát từ tính lãnh thổ của quyền sở hữu công nghiệp, bất kì cá nhân, tổ chức nào

có quyền sở hữu công nghiệp lần đầu tiên được phát sinh tại Việt Nam đều được bảo

hộ trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Đối với quyền sở hữu công nghiệp muốn được bảo hộ ở nước ngoài thì phải được thực hiện thông qua các phương thức bảo hộ quốc

tế dựa trên cơ sở những điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia Dựa trên

cơ sở pháp lý của những quy định trên, trong phạm vi bài viết này sẽ tìm hiểu cụ thể hơn về những quy định hiện hành để người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam

NỘI DUNG

I – CƠ SỞ PHÁP LÝ

Căn cứ Khoản 4 Điều 4 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2009 :

Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu

dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh

Ở nước ta, công tác đăng ký bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp bắt đầu được thực hiện kể từ khi Điều lệ về sáng tiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và sáng chế (1981) và Điều lệ về nhãn hiệu hàng hoá (1982) được Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Trong những năm tiếp theo cho đến ngày Bộ luật dân sự Việt Nam có hiệu lực, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành thêm gần 60 văn bản về hoặc liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

Trang 3

Trong số này đặc biệt đáng chú ý là nhất là Giải pháp hữu ích năm 1988 và Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1989

Đối với cá nhân, pháp nhân là người nước ngoài đăng kí bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam, pháp luật Việt Nam quy định nội dung này trong nhiều văn bản luật và văn bản dưới luật như :

+ Bộ luật dân sự 2005 : Cụ thể Điều 775 BLDS 2005 quy định : “Quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài đối với các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, đối tượng của quyền đối với giống cây trồng đã được Nhà nước Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ hoặc công nhận được bảo hộ theo quy định của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”

+ Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009

+ Nghị định của Chính phủ số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết hiện hành về một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp ( đã được sửa đổi bổ sung bằng nghị định số 122/2010/NĐ-CP ngày 31/12/2010 ),

+ Pháp lệnh bảo hữu quyền sở hữu công nghiệp năm 1989,…

Ngoài ra những cá nhân, pháp nhân là người nước ngoài có thể đăng kí bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam theo các điều ước về hoặc liên quan đến thủ tục nộp đơn quốc tế Được quy định cụ thể trong khoản 1 Điều 7 Nghị định số

103/2006/NĐ-CP: “1 Tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng các điều kiện để được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam quy định tại Điều 2 Nghị định này có thể nộp đơn đăng ký sở hữu công nghiệp tại Việt Nam theo các điều ước về hoặc liên quan đến thủ tục nộp đơn quốc tế.

Các điều ước quốc tế quy định tại khoản này bao gồm:

a) Hiệp ước hợp tác quốc tế về Bằng sáng chế năm 1970, được sửa đổi năm

1984 (sau đây gọi tắt là "Hiệp ước PCT");

b) Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu năm 1891, được sửa đổi năm

1979 (sau đây gọi tắt là "Thoả ước Madrid") và Nghị định thư liên quan đến Thoả ước Madrid năm 1989 (sau đây gọi tắt là "Nghị định thư Madrid");

Trang 4

c) Các điều ước quốc tế khác về hoặc liên quan đến thủ tục nộp đơn quốc tế mà Việt Nam là thành viên, kể từ thời điểm điều ước quốc tế bắt đầu có hiệu lực đối với Việt Nam.”

II – BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI, PHÁP NHÂN NƯỚC NGOÀI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

1 Các lĩnh vực được Nhà nước và pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.

Theo quy định của pháp luật thì Nhà nước và pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trong các lĩnh vực sau:

- Khoa học;

- Kỹ thuật;

- Công nghệ;

- Thương mại và các lĩnh vực khác do pháp luật quy định

2 Các đối tượng được Nhà nước và pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.

Điều 3 ( khoản 2, 3 ) của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 quy định đối

tượng được Nhà nước và pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, bao gồm: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý Trong đó:

Sáng chế: là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết

một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên

Kiểu dáng công nghiệp: là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện dưới

hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này

Mạch tích hợp bán dẫn: là sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm,

trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên vật liệu bán dẫn nhằm thực hiện chức năng điện tử Mạch tích hợp đồng nghĩa với IC, Chíp và mạch vi điện tử

Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (thiết kế bố trí): là cấu trúc không gian của

các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn

Trang 5

Nhãn hiệu: là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá

nhân khác nhau

Nhãn hiệu tập thể: là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành

viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó

Nhãn hiệu chứng nhận : là nhãn hiệu mà chủ sở hữu cho phép tổ chức, cá nhân

khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu

Nhãn hiệu liên kết : là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc

tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên kết với nhau

Nhãn hiệu nổi tiếng: là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên lãnh

thổ Việt Nam

Tên thương mại: là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh

để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh

Chỉ dẫn địa lý: là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa

phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể

Bí mật kinh doanh: là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa

được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh

Các đối tượng trên muốn được bảo hộ tại Việt Nam phải đáp ứng các tiêu chuẩn được quy định cụ thể trong pháp luật Việt Nam và các ĐƯQT mà Việt Nam tham gia Các đối tượng sở hữu công nghiệp KHÔNG được pháp luật Việt Nam bảo hộ gồm: các đối tượng trái với lợi ích xã hội, trật tự công cộng, nguyên tắc nhân đạo và những đối tượng khác mà pháp luật Việt Nam quy định là không được bảo hộ

3 Điều kiện để các đối tượng được Nhà nước và pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.

Trang 6

Theo quy định tại Điều 775 BLDS năm 2005 thì cá nhân, pháp nhân nước ngoài

được bảo hộ bởi Nhà nước CHXHCN Việt Nam khi :

+ Có đối tượng sở hữu công nghiệp được cơ quan có thẩm quyền CỦA VIỆT NAM cấp VĂN BẰNG BẢO HỘ

+ Có đối tượng sở hữu công nghiệp được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam CÔNG NHẬN và BẢO HỘ

+ Khi được cấp văn bằng bảo hộ hoặc được công nhận, quyền sở hữu công nghiệp của người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam sẽ được bảo hộ trên cơ sở pháp luật Việt Nam và các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên

Tuy nhiên nếu trường hợp ĐƯQT mà Việt Nam tham gia có quy định khác với quy định của Luật Việt Nam thì ƯU TIÊN áp dụng quy định của ĐƯQT đó

4 Xác lập và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam

Theo quy định tại Điều 2 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009 quy định:

“Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật này và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” Như vậy việc xác lập và bảo hộ quyền sở hữu

công nghiệp đối với cá nhân, pháp nhân nước ngoài được tiến hành như đối với cá nhân, pháp nhân Việt Nam (trừ trường hợp ĐƯQT có quy định khác) Quá trình đó liên quan cụ thể đến các vấn đề như : nộp đơn đăng kí, cách thức xác lập quyền, cấp văn bằng bảo hộ, quyền và nghĩa vụ,

4.1 Nộp đơn đăng kí và xác lập quyền.

Căn cứ vào Điều 89 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009:

“1 Tổ chức, cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn đăng

ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại

Việt Nam

Trang 7

2 Cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước

ngoài không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn đăng ký xác lập

quyền sở hữu công nghiệp thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam.”

Như vậy đối với cá nhân, pháp nhân nước ngoài nếu đang thường trú tại Việt Nam thì có thể đăng kí xác lập quyền sở hữu công nghiệp trực tiếp tại các cơ quan có thẩm quyền Còn nếu không thì chỉ có con đường duy nhất đó là thông qua hình thức đại hiện hợp pháp

Đối với cá nhân, pháp nhân đăng kí bảo hộ quyền SHCN theo ĐƯQT thì đơn đăng

kí xác lập quyền SHCN đó gọi là đơn quốc tế, được quy định tại Điều 120 Luật SHTT

2005 sửa đổi bổ sung 2009 :

“Điều 120 Đơn quốc tế và xử lý đơn quốc tế

1 Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp nộp theo các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên được gọi chung là đơn quốc tế.

2 Đơn quốc tế và việc xử lý đơn quốc tế phải tuân thủ quy định của điều ước quốc

tế có liên quan.”

4.2. Xác lập quyền.

Đối với mỗi đối tượng của sở hữu công nghiệp đều có những đặc điểm riêng dùng làm căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp cho mỗi đối tượng đó và được quy định

cụ thể tại khoản 3 Điều 6 Luật SHTT năm 2005 sửa đổi bổ sung 2009: “3 Quyền

sở hữu công nghiệp được xác lập như sau:

a) Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký;

b) Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó;

Trang 8

c) Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó.”

4.3 Văn bằng bảo hộ

Văn bằng bảo hộ là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức,

cá nhân nhằm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, quyền đối với giống cây trồng Được

ghi nhận tại Điều 92 Luật SHTT năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009:

“ Điều 92 Văn bằng bảo hộ

1 Văn bằng bảo hộ ghi nhận chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế

bố trí, nhãn hiệu (sau đây gọi là chủ văn bằng bảo hộ); tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí; đối tượng, phạm vi và thời hạn bảo hộ.

2 Văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý ghi nhận tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý, các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ, tính chất đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tính chất đặc thù về điều kiện địa lý và khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý.

3 Văn bằng bảo hộ gồm Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu và Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý.”

Như vậy, một cá nhân, pháp nhân kể cả ở trong nước lẫn ngoài nước muốn được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam cần phải có, trước hết là văn bằng bảo

hộ Vì đó là căn cứ để xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý của cá nhân, pháp nhân đó Văn bằng bảo hộ có nhiều loại khác nhau như : bằng độc quyền sáng chế, bằng độc quyền giải pháp hữu ích, bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, giấy chứng nhận đăng kí thiết kế mạch tích hợp bán dẫn,…

Thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ cũng là thời hạn của bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, và được quy định tại Điều 93 Luật SHTT năm 2005 :

Trang 9

“1 Văn bằng bảo hộ có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

2 Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết 20 năm kể

từ ngày nộp đơn.

3 Bằng độc quyền giải pháp hữu ích có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết 10

năm kể từ ngày nộp đơn.

4 Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến

hết 5 năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn hai lần liên tiếp, mỗi lần năm năm.

5 Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn có hiệu lực từ ngày cấp và chấm dứt vào ngày sớm nhất trong số những ngày sau đây:

a) Kết thúc 10 năm kể từ ngày nộp đơn;

b) Kết thúc 10 năm kể từ ngày thiết kế bố trí được người có quyền đăng ký hoặc

người được người đó cho phép khai thác thương mại lần đầu tiên tại bất kỳ nơi nào trên thế giới;

c) Kết thúc 15 năm kể từ ngày tạo ra thiết kế bố trí.

6 Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm kể

từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm.

7 Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý có hiệu lực vô thời hạn kể từ ngày

cấp.”

Dựa trên quy định ta có thể thấy đối với các văn bằng bảo hộ quyền sáng chế, kiểu dáng, giải pháp hữu ích,… đều có thời hạn và có thể gia hạn Còn đối với giấy chứng nhận đăng ký bảo hộ về chỉ dẫn địa lý sẽ có hiệu lực vô thời hạn từ ngày cấp ( Ví dụ : đăng kí bảo hộ cho nhãn hiệu bưởi “ Phúc Trạch” hay xoài “ Yên Châu” , mận “Tam Thanh” thì giấy chứng nhận đăng kí chỉ dẫn địa lý đó sẽ có hiệu lực vĩnh viễn trừ trường hợp có thay đổi về chỉ dẫn địa lý đó )

Như vậy, sau khi được cấp văn bằng bảo hộ, các chủ thể nước ngoài là chủ sở hữu của các đối tượng sở hữu công nghiệp sẽ có những quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam và các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên Về cơ bản cá nhân, pháp nhân nước ngoài sẽ có những quyền và nghĩa vụ như công dân Việt Nam nếu đã

Trang 10

được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (trừ trường hợp ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên có quy định khác)

5 Phương thức bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp cho người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam.

Các chủ văn bằng bảo hộ, nếu như phát hiện các hành vi kinh doanh, thu lợi nhuận trái phép,…gọi chung là các hành vi vi phạm quyền SHCN đồi với sáng chế, giải pháp hữu ích,…của họ thì trong trường hợp này, các cá nhân, pháp nhân nước ngoài có quyền áp dụng các biện pháp dùng để tự bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp của mình, được quy định tại Điều 198 Luật SHTT năm 2005 sửa đổi bổ sung 2009 : theo đó các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng biện pháp công nghệ để ngăn chặn, yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính, bồi thường thiệt hại Bên cạnh đó, các chủ thể còn có thể khởi kiện hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT theo quy định của pháp luật Tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm mà tổ chức, cá nhân có hành

vi xâm phạm có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự

Có thể thấy được hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp có thể bị xử lý bằng quan hệ pháp luật dân sự, hành chính cũng như hình sự Trong trường hợp cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ, biện pháp ngăn chặn và xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam và các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên

II – BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI, PHÁP NHÂN NƯỚC NGOÀI THEO QUY ĐỊNH CỦA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN

Cùng với quyền tác giả quyền sở hữu công nghiệp là một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ được pháp luật của mỗi quốc gia bảo hộ Trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, chúng ta đã tham gia rất nhiều các Điều ước quốc tế mang tính chất đa phương và song phương Sau đây là nội dung cơ bản của một số điều ước quốc

tế tiêu biểu về sở hữu công nghiệp mà VN tham gia:

Ngày đăng: 09/01/2021, 17:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w