TÌNH HUỐNG XÂY DỰNG Gia đình Ông A và gia đình Ông M là hàng xóm cùng sinh sống tại xã Y, huyện K. Đầu năm 2016 gia đình Ông M sửa lại nhà nên xây dựng luôn hàng rào, Ông A cho rằng Ông M đã lấn chiếm đất của gia đình ông nên ngày 23/4/2016 Ông A làm đơn khởi kiện đến TAND huyện K. Ngày 29/4/2016 TAND huyện K gửi thông báo cho Ông A về việc yêu cầu ông bổ sung thông tin về địa chỉ, nơi làm việc của các con Ông M và yêu cầu ông cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh Ông M đã lấn chiếm đất của ông nhưng không thấy Ông A bổ sung nên ngày 30/5/2016 TAND huyện K ra quyết định trả lại đơn khởi kiện vì Ông A đã không bổ sung đơn khởi kiện theo đúng yêu cầu,
Trang 1Đề số 2: Hãy sưu tầm hoặc xây dựng một tình huống (không quá 15 dòng) Tòa
án không thụ lý vụ án dân sự do người khởi kiện không sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án qua đó hãy:
1 Phân tích làm rõ các điều kiện thụ lý vụ án dân sự theo quy định Luật TTDS năm 2015
2 Phân tích ý nghĩa của việc thụ lý giải quyết vụ án dân sự theo trình tự thủ tục sơ thẩm
Trang 2CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS - Bộ luật tố tụng dân sự BLDS – Bộ luật dân sự TTDS - Tố tụng dân sự TAND - Tòa án nhân dân VADS – Vụ án dân sự
Trang 3MỤC LỤC
TÌNH HUỐNG XÂY DỰNG 1 GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG 1 Câu hỏi 1: Phân tích làm rõ các điều kiện thụ lý vụ án dân sự theo quy định
Luật TTDS năm 2015 1
Câu hỏi 2: Phân tích ý nghĩa của việc thụ lý giải quyết vụ án dân sự theo trình
tự thủ tục sơ thẩm 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 4TÌNH HUỐNG XÂY DỰNG
Gia đình Ông A và gia đình Ông M là hàng xóm cùng sinh sống tại xã Y, huyện K Đầu năm 2016 gia đình Ông M sửa lại nhà nên xây dựng luôn hàng rào, Ông A cho rằng Ông M đã lấn chiếm đất của gia đình ông nên ngày 23/4/2016 Ông A làm đơn khởi kiện đến TAND huyện K Ngày 29/4/2016 TAND huyện K gửi thông báo cho Ông A về việc yêu cầu ông bổ sung thông tin
về địa chỉ, nơi làm việc của các con Ông M và yêu cầu ông cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh Ông M đã lấn chiếm đất của ông nhưng không thấy Ông
A bổ sung nên ngày 30/5/2016 TAND huyện K ra quyết định trả lại đơn khởi kiện vì Ông A đã không bổ sung đơn khởi kiện theo đúng yêu cầu,
GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
Câu hỏi 1: Phân tích làm rõ các điều kiện thụ lý vụ án dân sự theo quy định Luật TTDS năm 2015.
Thụ lý vụ án dân sự là việc tòa dân sự nhận đơn yêu cầu của đương sự đề
nghị xem xét, giải quyết một vụ việc để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, cơ quan, tổ chức Hay trong giáo trình Luật TTDS của trường Đại học luật Hà Nội năm 2005 đưa ra khái niệm thụ lý vụ án ngắn gọn hơn: Thụ
lý vụ án là việc tòa án nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện vào sổ thụ lý VADS để giải quyết
Việc thụ lý VADS được quy định tại Khoản 1, Điều 195, BLTTDS năm
2015: “Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy
vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí”.
Để có thể xác định đúng đắn về các điều kiện cần thiết để thụ lý vụ án thì nhóm chúng em ngoài dựa vào Khoản 1, Điều 195 còn dựa vào các quy định khác của BLTTDS 2015 như: Điều 186, 187 về quyền khởi kiện; Điều 189 về
Trang 5hình thức và nội dung của đơn khởi kiện; Khoản 1, Điều 192 về các trường hợp trả lại đơn khởi kiện; Điều 193 về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện Theo
đó thì nhóm chúng em xác định các điều kiện để Tòa án thụ lý VADS như sau:
1 Điều kiện về chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự
Theo quy định tại Điều 186, Điều 187, BLTTDS 2015 thì chủ thể có quyền
khởi kiện VADS gồm:
“Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án
có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ
em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình;
Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật;
Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện VADS để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật;
Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình”.
Và theo quy định tại Khoản 2, 3, Điều 189, BLTTDS năm 2015 thì:
“2 Việc làm đơn khởi kiện của cá nhân được thực hiện như sau:
a) Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ nơi cư
Trang 6trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;
b) Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;
c) Cá nhân thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể tự mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có đủ năng lực tố tụng dân sự làm chứng Người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện.
3 Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ
án Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan,
tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên
và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp”.
Dựa vào những quy định trên thì chúng ta có thể chia chủ thể có quyền khởi kiện VADS thành hai nhóm:
Nhóm thứ nhất: các chủ thể có quyền khởi kiện do quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm
BLDS 2015 thừa nhận các loại quan hệ dân sự là quan hệ nhân thân và quan
hệ tài sản nên quyền khởi kiện của các chủ thể do quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm có sự khác nhau vì tính chất của các loại quan hệ dân sự có
sự khác nhau:
- Nếu như bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình dẫn đến bên
có quyền phải nhờ vào pháp luật để buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện những
Trang 7nghĩa vụ đó thì lúc này bên có quyền trong trường hợp này sẽ trở thành chủ thể
có quyền khởi kiện VADS Quyền và nghĩa vụ của các bên bao gồm các quyền
và nghĩa vụ trong các quan hệ về hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
và các quan hệ khác về thực hiện nghĩa vụ
- Nếu việc khởi kiện có liên quan đến quan hệ nhân thân thì: Nguyên đơn trong vụ kiện yêu cầu ly hôn là vợ hoặc chồng; người có yêu cầu trong việc hủy hôn nhân trái pháp luật, không công nhận quan hệ vợ chồng chỉ thuộc về các bên
có quan hệ hôn nhân; người yêu cầu với tư cách đương sự trong việc chấm dứt quan hệ con nuôi là người con nuôi đã thành niên hoặc cha (mẹ) nuôi; nguyên đơn trong vụ kiện xác định cha, mẹ, con là người con và ngược lại; nguyên đơn
là cha, mẹ trong vụ kiện xác định con cho cha, mẹ; người con chưa thành niên là đương sự với tư cách người có yêu cầu trong việc yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên
- Ngoài ra còn các chủ thể cũng có quyền khởi kiện VADS như: chủ thể thế quyền, các chủ thể nhận quyền thừa kế, chủ thể mang quyền đối với người thứ ba
Nhóm thứ hai: các chủ thể có quyền khởi kiện vì quyền lợi ích của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước
- Quyền khởi kiện với tư cách là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: BLTTDS 2015 (Điều 186) cho phép người đại diện thông qua người đại diện hợp pháp của mình để khởi kiện VADS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
- Quyền khởi kiện của các chủ thể không có quyền lợi trong vụ việc với tư cách nguyên đơn: Điều 187, BLTTDS 2015 thừa nhận các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện VADS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước
Trong tình huống thì Ông A là người có quyền và lợi ích bị xâm phạm và ông đã lập gia đình nên ông là người có quyền làm đơn khởi kiện lên Tòa án có thẩm quyền để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
2 Điều kiện về thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Trang 8VADS có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án hay không là một trong những điều kiện cần thiết để Tòa án có thể thụ lý vụ án đó Một VADS thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án phải đáp ứng:
- Vụ án đó phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại các Điều: Điều 26: Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Điều 28: Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Điều 30: Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Và Điều 32: Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Trong tình huống thì tranh chấp giữa gia đình Ông A và gia đình Ông M
là tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại
Khoản 9, Điều 26, BLTTDS năm 2015: “Tranh chấp đất đai theo quy định của
pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng”.
- Việc khởi kiện VADS phải đúng với cấp Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại các Điều:
Điều 35: Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
“1 TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:
a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều
28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;
b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của
Bộ luật này;
c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.
2 TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:
a) Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều
27 của Bộ luật này;
b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7,
8, 10 và 11 Điều 29 của Bộ luật này;
Trang 9c) Yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều
31 của Bộ luật này;
d) Yêu cầu về lao động quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 33 của Bộ luật này.
3 Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà
có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa
án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.
4 TAND cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam”.
Điều 37: Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
“1 TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc sau đây:
a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này;
b) Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này;
c) Tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 35 của Bộ luật này.
2 TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện quy định tại Điều
Trang 1035 của Bộ luật này mà TAND cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của TAND cấp huyện”.
Theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 35 thì TAND huyện K là Tòa
án có thẩm quyền giải quyết
- Việc khởi kiện VADS phải đúng với thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ theo quy định tại Điều 39:
“1 Thẩm quyền giải quyết VADS của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn
có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục
sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa
án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản
có thẩm quyền giải quyết.
2 Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Tòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
b) Tòa án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú,
bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và
Trang 11quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết;
c) Tòa án nơi người yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú, làm việc có thẩm quyền hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Tòa án đã ra quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là
đã chết;
d) Tòa án nơi người phải thi hành bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài;
đ) Tòa án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;
e) Tòa án nơi người phải thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành
có trụ sở, nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài;