TÌNH HUỐNG Ngày 10/9/2011 Ông H được công ty liên doanh Mercedec – Benz Việt Nam (sau đây gọi tắt là công ty, có trụ sở chính đặt tại quận Gò Vấp Thành phố Hồ Chí Minh) nhận và làm việc theo hợp đồng lao động thời hạn lao động thời hạn 3 năm, công việc phải làm là tổng quản lý các dự án kinh doanh quốc gia, mức lương 1 tháng là 2.000 USD. Hết thời gian hợp đồng, mặc dù 2 bên không ký hợp mới nhưng ông H vẫn tiếp tục làm công việc cũ. Ngày 22/12/2016, công ty tổ chức cuộc họp kỷ luật ông H vì lý do “ tham ô” gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản công ty, vi phạm điều 6.3 và điều 9.1.4 Nội quy lao động của công ty và Điều 126 bộ luật Lao động dù không có chứng cứ rõ ràng. Ông H tham gia cuộc họp nhưng đến giữa chừng thì bỏ về. Ngày 22/2/2017 Công ty ban hành quyết định sa thải số 684/QĐ do Tổng giám đốc ký, quyết định có hiệu lực kể tử ngày ký. Ngày 05/3/2017 ông H làm đơn khởi kiện đến tòa án, với các yêu cầu như sau: - Yêu cầu công ty hủy bỏ quyết định sa thải số 684/QĐ - Yêu cầu công ty phải bồi thường một khỏan tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày không được làm việc từ ngày bị sa thải đến ngày tòa án xét xử vụ tranh chấp cộng với hai tháng tiền lương, tiền trợ cấp thôi việc và tiền bồi thường tổn thất tinh thần do bị sa thải trái pháp luật
Trang 1Đề số 5: Hãy sưu tầm hoặc xây dựng một tình huống về một tranh chấp lao
động? qua đó hãy phân tích làm rõ:
a) Tư cách tham gia tố tụng của từng chủ thể trong tình huống?
b) Xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án?
c) Bình luận về phán quyết của tòa án nhân dân có thẩm quyền và/hoặc đưa
ra cách giải quyết của nhóm đối với tình huống trên?
Trang 2CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS - Bộ luật tố tụng dân sự BLDS – Bộ luật dân sự BTTH - Bồi thường thiệt hại TTDS - Tố tụng dân sự TAND - Tòa án nhân dân
Trang 3M C L C Ụ Ụ
Trang 4TÌNH HUỐNG
Ngày 10/9/2011 Ông H được công ty liên doanh Mercedec – Benz Việt Nam (sau đây gọi tắt là công ty, có trụ sở chính đặt tại quận Gò Vấp Thành phố Hồ Chí Minh) nhận và làm việc theo hợp đồng lao động thời hạn lao động thời hạn
3 năm, công việc phải làm là tổng quản lý các dự án kinh doanh quốc gia, mức lương 1 tháng là 2.000 USD Hết thời gian hợp đồng, mặc dù 2 bên không ký hợp mới nhưng ông H vẫn tiếp tục làm công việc cũ
Ngày 22/12/2016, công ty tổ chức cuộc họp kỷ luật ông H vì lý do “ tham ô” gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản công ty, vi phạm điều 6.3 và điều 9.1.4 Nội quy lao động của công ty và Điều 126 bộ luật Lao động dù không có chứng cứ
rõ ràng Ông H tham gia cuộc họp nhưng đến giữa chừng thì bỏ về Ngày 22/2/2017 Công ty ban hành quyết định sa thải số 684/QĐ do Tổng giám đốc ký, quyết định có hiệu lực kể tử ngày ký Ngày 05/3/2017 ông H làm đơn khởi kiện đến tòa án, với các yêu cầu như sau:
- Yêu cầu công ty hủy bỏ quyết định sa thải số 684/QĐ
- Yêu cầu công ty phải bồi thường một khỏan tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày không được làm việc từ ngày bị sa thải đến ngày tòa án xét xử vụ tranh chấp cộng với hai tháng tiền lương, tiền trợ cấp thôi việc
và tiền bồi thường tổn thất tinh thần do bị sa thải trái pháp luật
GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
1. Tư cách tham gia tố tụng của từng chủ thể trong tình huống?
1.1. Khái quát chung về đương sự trong vụ án dân sự trong vụ án dân sự.
a) Khái niệm đương sự trong vụ án dân sự:
Vụ án dân sự là những việc phát sinh tại Tòa án do các đương sự khởi kiện
để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước hay quyền, lợi ích hợp pháp của người khác đang bị tranh chấp Trong các vụ án dân sự có một số người tham gia tố tụng có quyền lợi, nghĩa vụ
Trang 5liên quan đến vụ án dân sự tham gia với mục đích là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Trong một số trường hợp tuy họ không có quyền lợi ích liên quan đến vụ án dân sự nhưng lại tham gia tố tụng để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước trong lĩnh vực được tham gia phụ trách Họ có thể là cá nhân, cơ quan hay tổ chức (có tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân)
Theo quy định tại khoản 1, Điều 68 BLTTDS năm 2015:
“Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”
b) Năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự.
Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự là hai yếu tố cấu thành năng lực chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Đương
sự là một loại chủ thể của quan hệ pháp luật TTDS nên để tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS thì đương sự phải có năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành
vi TTDS
- Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của đương sự: theo khoản 1, Điều 69 BLTTDS 2015, Năng lực pháp luật tố tụng dân sự là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật quy định
Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực pháp luật tố tụng dân sự như nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Như vậy, đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật TTDS là các chủ thể có quyền bình đẳng
về quyền và nghĩa vụ
Năng lực pháp luật TTDS và năng lực pháp luật dân sự có mối quan hệ mật thiết với nhau Năng lực pháp luật dân sự là cơ sở của năng lực pháp luật TTDS
- Năng lực hành vi TTDS của đương sự: khác với năng lực pháp luật tố tụng của đương sự là như nhau thì năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự (theo khoản 2, Điều 69 BLTTDS 2015) Khác
Trang 6với năng lực pháp luật tố tụng dân sự của đương sự là như nhau thì năng lực hành vi TTDS là yếu tố luôn có sự biến động và được xác định ở các mức độ khác nhau
Năng lực hành vi TTDS có mối quan hệ mật thiết với năng lực hành vi dân
sự, cũng như năng lực pháp luật TTDS, một chủ thể được xác định là có năng lực hành vi TTDS nếu chủ thể đó có năng lực hành vi dân sự
1.2. Đương sự trong vụ án dân sự.
a) Nguyên đơn.
Khoản 2, Điều 68 quy định: “2 Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người
khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.
Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn.”
Để trở thành nguyên đơn thì cá nhân, cơ quan, tổ chức phải đáp ứng những yêu cầu sau:
- Thứ nhất, khi các chủ thể cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm
hại Điều này cho thấy việc nguyên đơn tham gia tố tụng mang tính chủ động, khi nhận thấy quyền lợi của bản thân bị xâm hại chủ thể tự mình yêu cầu cơ quan chức năng bảo vệ quyền lợi cho mình Nó trái ngượi lại với tính bị động của bị đơn khi tham gia tố tụng Việc yêu cầu bảo vệ quyền lợi bị xâm hại xuất phát từ ý chí chủ quan của nguyên đơn Vì việc xác định quyền lợi của chủ thể
có bị xâm hại hay không thì phải được khẳng định trong các bản án, quyết định của TÒA ÁN có hiệu lực Khi bản án, quyết định của TA chưa có hiệu lực pháp luật khẳng định vấn đề đó, thì quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn mới chỉ dừng lại là giả thiết bị xâm phạm Về nguyên tắc, quyền lợi chỉ có thể có được hoặc bị xâm phạm khi khi các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật nội dung (quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình…) mà nguyên đơn là một bên chủ thể
- Thứ hai, Có năng lực pháp luật và năng lực hành vi Để tham gia vào quan hệ
pháp luật TTDS thì nguyên đơn phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
Trang 7TTDS Vì ngoài việc có khả năng pháp luật quy đingj nguyên đơn còn phải tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ TTDS hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng lúc đó họ trở thanh nguyên đơn
- Thứ ba, Các chủ thể trở thành nguyên đơn khi yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng, lợi ích thuộc lĩnh vực mình phụ trách Đối với chủ thể là cá nhân có năng lực hành vi TTDS đầy đủ hoặc cơ quan, tổ chức thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự được Tòa án thụ lý thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức đó trở thành nguyên đơn Trường hợp cá nhân không có năng lực hành vi TTDS đầy đủ mà được người đại diện hợp pháp của người này thì người được bảo vệ quyền lợi cũng được xác định là nguyên đơn Việc quy định nhiều chủ thể có thể trở thành nguyên đơn cho thấy
sự quan tâm của pháp luật tới việc đảm bảo lợi ích của mọi chủ thể trong xã hội
- Thứ tư, Đơn khởi kiện Để khởi kiện và xác định tư cách là nguyên đơn thì chủ
thể phải có đơn khởi kiện và và gửi đơn kiện tới Tòa án Tư cách của chủ thể được xác định là nguyên đơn hành vi chủ thể gửi đơn tới Tòa và Tòa án thụ ly đơn khởi kiện Trong trường hợp cả hai bên chủ thể của một quan hệ pháp luật nội dung trong tranh chấp mà cùng khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết quan
hệ nội dung tranh chấp đó thì Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của bên nào trước thì bên đó được xác định là nguyên đơn
Ngoài nguyên đơn là người có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của cá nhân, lợi ích công cộng…thì bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng trở thành nguyên đơn trong trường hợp:
+ Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phân tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn + Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ với yêu cầu độc lập trở thành nguyên đơn
Kết luận: từ những phân tích trên, tòa án có thể khẳng định nguyên đơn
trong tình huống này là ông H, là cá nhân có đầy đủ năng lực tố tụng dân sự, đầy đủ các yếu tố cấu thành một nguyên đơn dân sự.
b) Bị đơn.
Trang 8Nếu nguyên đơn là một trong những đương sự đóng vai trò quan trọng trong
vụ án dân sự, tạo điều kiện tiên quyết để có vụ án dân sự phát sinh tại Tòa thì bị đơn đóng vai trò không thể thiếu trong quá trình giải quyết vụa án dân sự Bị đơn luôn đi kèm với nguyên đơn, tư cách bị đơn được xác định cùng với tư cách nguyên đơn
Khoản 3, Điều 68 BLTTDS 2015 quy định: “Bị đơn trong vụ án dân sự là
người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyề và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xác định là bị đơn trong vụ án dân sự khi đáp ứng được điều kiện sau:
- Thứ nhất, là người bị nguyên đơn theo của BLTTDS khởi kiện Xét về tính chất
việc tham gia tố tụng cảu bị đơn mang tính thụ động, do bị bắt buộc tham gia tố tụng Họ tham gia tố tụng không phải do họ gửi đơn khởi kiên tới Tòa án mà buộc phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn Điều này trái ngược với tính chủ động của nguyên đơn gửi đơn tới Tòa khi nhận thấy quyền lợi bị xâm hại cùng lúc với việc nguyên đơn khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án thì bị đơn cũng được xác lập, đó là người mà nguyên đơn cho rằng đã xâm phạm đến quyền lợi của mình và khi xét xử thì bị đơn được triệu tập nhằm giải quyết quyền lợi của nguyên đơn Bị đơn tham gia tố tụng để trả lời về việc kiện do bị nguyên đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật
- Thứ hai, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự Cũng giống
như nguyên đơn, bị đơn cũng phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu về năng lực chủ thể tham gia tố tụng Vì quá trình giải quyết vụ án dân sự là một quá trình phức tạp bao gồm nhiều thủ tục, nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau, trong đó bị đơn có thể tham gia vào tất cả các giai đoạn khác nhau của quá trình đó để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng Thông thường cá nhân được coi là có năng lực hành
vi TTDS khi đã đủ 18 tuổi trở lên, không bị mất năng lực hành vi dân sự Đối với người chưa đủ 18 tuổi, người bị mất năng lực hành vi dân sự thì người đại diện hợp pháp của họ là người thay mặt họ để thực hiện những quyền và nghĩa
Trang 9vụ tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước Tòa án (khoản 4, 5, 6 Điều 69 BLTTDS)
- Thứ ba, Bị đơn là người được giả thiết là có tranh chấp hay vi phạm đến quyền
lợi của nguyên đơn Bị đơn được xác định cùng với nguyên đơn khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người giả thiết cho rằng quyền
và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, tranh chấp nên bị đơn cũng là người được giả thiết xâm phậm quyền lợi của nguyên đơn Việc xác định quyền lợi của
bị đơn có xâm phạm đến quyền lợi của nguyên đơn hay không phải dựa vào quyết định của Tòa án
Kết luận: từ những phân tích nêu trên co thể khẳng định, Công ty Liên
doanh Mercedes –Benz Việt Nam là chủ thể bị khởi kiện,có đầy đủ năng lực tố tụng dân sự của một pháp nhân, có giả thiết là có tranh chấp hay vi phạm đến quyền lợi của nguyên đơn.
2. Xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án?
Căn cứ vào Điều 32 BLTTDS 2015 quy định Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
“1 Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc không hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
Trang 10e) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị
sự nghiệp công lập đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.”
Như vậy, tranh chấp giữa ông H và công ty liên doanh Mercedec – Benz Việt Nam là tranh chấp lao động cá nhân giữ người lao động là ông H và người sử dụng lao động ở đây là Công ty liên doanh Mercedec – Benz thuộc vào khoản 1 Điều này cụ thể thuộc trường hợp quy định tại điểm a Khoản 1 Điều này nên tranh chấp này không nhất thiết phải qua hòa giải tại cơ sở mà có thể trực tiếp đưa lên Tòa án để xem xét giải quyết nên sẽ có 2 trường hợp xảy ra:
- Thứ nhất, tham gia thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi
yêu cầu tòa án Nếu hòa giải thành công thì sẽ không đưa ra Tòa án Nếu hòa giải không thành công thì sẽ đưa lên Tòa án giải quyết
- Thứ hai, trực tiếp yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp, không thông qua
thủ tục hòa giải tại cơ sở
Ở cả 2 trường hợp nếu Tòa án tham gia giải quyết thì thẩm quyền sẽ được xác định như sau:
• Về phân cấp thẩm quyền:
Điều 35 quy định về Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện:
“1 Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:
c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này…”
Điều 37 quy định về Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
“1 Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc sau đây:
a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ những
Trang 11tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này;”
Như vậy TAND cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với tranh chấp này theo Điều 35 Tuy nhiên, trong trường xét thấy cần thiết như có đương
sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc theo đề nghị của Tòa án nhân dân cấp huyện thì TAND cấp tỉnh cũng có thể lấy lên để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm
• Về thẩm quyền theo lãnh thổ:
Điều 39 Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ:
“1 Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này.”
Như vậy có thể kết luận, Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa ông H và công ty Liên doanh Mercedes –Benz Việt Nam là tòa án nơi cư trú của
bị đơn nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở nếu bị đơn là cơ quan tổ chức Trong trường hợp của ông H, thì bị đơn là công ty Liên doanh Mercedes-Ben (có trụ sở chính đặt tại quận Gò Vấp Thành phố Hồ Chí Minh) Vì vậy Tòa án
có thẩm quyền giải quyết vụ việc trên là tòa án cấp huyện cụ thể là Tòa án nhân