1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Cam kết bảo lãnh trong tín dụng thương mại của Công ty thông tin di động

9 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 479,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh việc kiểm soát hệ thống và cán bộ của mình chặt chẽ hơn nhằm giảm thiểu các trƣờng hợp lợi dụng chức quyền để lừa đảo, các Ngân hàng có nghiệp vụ bảo lãnh than[r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

- -

NGUYỄN BÌNH MINH

CAM KẾT BẢO LÃNH TRONG TÍN DỤNG

THƯƠNG MẠI CỦA CÔNG TY

THÔNG TIN DI ĐỘNG

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

Trang 2

Xuất phát từ sự không trùng khớp của chu kỳ kinh doanh giữa các chủ thể trong nền kinh tế, tín dụng thương mại (TDTM) ra đời và trở thành một hoạt động tất yếu trong nền kinh tế phát triển hiện nay Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt, không ít các doanh nghiệp, các nhà cung cấp đã tận dụng việc mua bán chịu hay còn gọi là tín dụng thương mại để kích thích mua hàng Khi TDTM ngày càng phát triển thì

đi kèm đó là rủi ro thanh khoản trong hoạt động này càng trở nên nguy hiểm Do đó, một dịch vụ đi kèm là bảo lãnh thanh toán trả chậm đã ra đời để phòng ngừa rủi ro đó Bảo lãnh thanh toán trả chậm là một hình thức đảm bảo cho tín dụng thương mại, mang lại sự yên tâm cho bên bán cũng chính là bên thụ hưởng bảo lãnh Tuy nhiên, bên thụ hưởng bảo lãnh cũng lại là đối tượng chịu rủi ro lớn nhất trong một hoạt động bảo lãnh, bởi sau khi đã giao hàng hóa cho bên mua, nếu bên mua mất khả năng thanh toán, bên bảo lãnh cũng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay của mình thì bên bán sẽ gần như không thu hồi được bất kỳ khoản nào trong giao dịch này Do đó, đối với một doanh nghiệp khi đứng vai trò là bên thụ hưởng bảo lãnh, cần phải rất thận trọng trong việc chấp nhận các cam kết bảo lãnh được sử dụng làm đảm bảo cho các tín dụng thương mại tại doanh nghiệp của mình để nhằm hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy đến với doanh nghiệp dẫn tới những thiệt hại không đáng có cả về tài chính, nguồn lực và uy tín…Trong đó, đáng chú

ý và hiệu quả nhất là phải chú trọng đến việc kiểm soát các cam kết bảo lãnh được sử dụng tại doanh nghiệp mình

Công ty Thông tin di động (VMS) với thương hiệu Mobifone ra đời năm 1993, là nhà mạng di động đầu tiên của Việt Nam với công nghệ và kinh nghiệm có được từ những năm Hợp tác với Comvic Thụy Điển, Mobifone tự hào khi là nhà mạng lớn nhất và có chất lượng tốt nhất trên thị trường viễn thông di động vủa Việt Nam

Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, sự cạnh tranh giữa những mạng lớn trong ngành viễn thông càng trở nên khốc liệt hơn, Mobifone đã dần mất đi vị trí số một của mình vào tay Viettel và vẫn luôn phải dè chừng Vinaphone – công ty cùng trực thuộc Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam

Từ tháng 7/2014, Công ty Thông tin di động đã được Bộ Thông tin & Truyền Thông cho phép tách khỏi Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam và tới tháng 12 thì

Trang 3

được cho phép cơ cấu lên thành Tổng Công ty Viễn thông Mobifone Vị thế mới, thách thức mới nhưng cũng là thời cơ mới, Công ty Thông tin di động vẫn luôn đặt mục tiêu lấy lại vị thế của mình trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ di động Để có thể đạt được mục tiêu đó, toàn bộ đội ngũ Lãnh đạo và cán bộ Công ty đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu

và áp dụng các chính sách kinh doanh, các chương trình khuyến mại và bán hàng mới để thu hút khách hàng mới cũng như duy trì các khách hàng thân thiết Tuy nhiên, tập trung vào mục tiêu kinh doanh cũng không nên bỏ qua yếu tố an toàn tài chính; đây cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với sự thành bại của các chính sách kinh doanh cũng như sự phát triển bền vững của Công ty Trong các chính sách kinh doanh của mình, Công ty Thông tin di động vẫn luôn đề cao chính sách tín dụng thương mại (bán hàng trả chậm) sử dụng cam kết bảo lãnh cho các Đại lý

Chính sách mua hàng trả chậm đã được áp dụng tại Công ty Thông tin di động nhiều năm qua và rủi ro tài chính là thấp Nhưng trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay, các vụ việc liên quan tới cam kết bảo lãnh tại Công ty cũng như trên thị trường tài chính hiện nay đã đặt ra một nhu cầu cấp thiết là phải hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy đến với doanh nghiệp trong vai trò là bên thụ hưởng bảo lãnh Để có thể làm được việc đó thì quan trọng nhất là phải tăng cường công tác kiểm soát cam kết bảo lãnh trong tín dụng thương mại tại Công ty thông tin di động

Do đó, tác giả mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Cam kết bảo lãnh trong tín dụng

thương mại của Công ty Thông tin di động” và lấy làm tên đề tài cho bản luận văn thạc

sĩ của mình

Cam kết bảo lãnh là một nghiệp vụ của Ngân hàng Thương mại, thực hiện bảo lãnh cho một Doanh nghiệp – bên được bảo lãnh được phép mua chịu hay còn gọi là tín dụng thương mại tại một Doanh nghiệp khác – bên thụ hưởng bảo lãnh Trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu cam kết bảo lãnh từ góc độ của bên bán chịu được thụ hưởng

cam kết bảo lãnh và đi sâu vào công tác kiểm soát cam kết bảo lãnh để có thể hạn chế

rủi ro xảy ra, nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng cam kết bảo lãnh làm đảm bảo tín dụng trong tín dụng thương mại tại Công ty Thông tin di động Thời gian nghiên cứu từ năm 2009 đến năm 2013

Trang 4

Trước tiên, tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất - kinh doanh: từ việc người mua được phép thanh toán chậm khi mua hàng hóa/dịch vụ Và đảm bảo tín dụng như một vật làm tin hay đặt cọc của bên mua, khiến nhà cung cấp có thể yên tâm khi cấp tín dụng cho bên mua, đồng thời cũng là nguồn thu nợ thứ hai khi bên mua mất khả năng thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ Cụ thể hơn, tín dụng thương mại

có thể được đảm bảo bởi tín chấp hoặc bởi cam kết bảo lãnh thanh toán – như vậy một dịch vụ mới ra đời là bảo lãnh thanh toán Bảo lãnh thanh toán là một loại hình dịch vụ

mà một tổ chức tín dụng cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa

vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh

Như vậy, với một cam kết bảo lãnh sẽ có mối liên hệ giữa 03 chủ thể là: bên được bảo lãnh – cụ thể là doanh nghiệp mua chịu; bên thụ hưởng bảo lãnh – cụ thể là doanh nghiệp bán chịu, và cuối cùng là bên phát hành bảo lãnh – thường là các ngân hàng - là bên thực hiện cam kết thanh toán cho bên thụ hưởng khi bên được bảo lãnh không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ Bằng việc yêu cầu một cam kết bảo lãnh thanh toán, doanh nghiệp bán chịu có thể gián tiếp thông qua ngân hàng phát hành cam kết bảo lãnh

để có thể thẩm định năng lực tài chính của bên mua, gián tiếp nắm giữ tài sản đảm bảo thông qua ngân hàng bảo lãnh

Tuy nhiên, khi một doanh nghiệp chấp nhận đảm bảo bằng cam kết bảo lãnh khi cấp tín dụng thương mại thì doanh nghiệp đó cũng phải đối mặt với một số rủi ro như rủi ro pháp lý, rủi ro tác nghiệp Rủi ro pháp lý là trường hợp doanh nghiệp mua chịu có thể sử dụng một cam kết bảo lãnh không hợp pháp dẫn tới việc không có một cam kết thanh toán thay nào được pháp luật thừa nhận và doanh nghiệp bán chịu không có quyền yêu cầu ngân hàng có trách nhiệm thanh toán thay Rủi ro tác nghiệp là trường hợp ngân hàng có thể không thực hiện hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay như đã cam kết của mình dẫn tới thiệt hại cho bên bán chịu Do đó, khi đưa ra một chính sách tín dụng thương mại được bảo đảm bởi cam kết bảo lãnh, doanh nghiệp cần phải chú trọng tới việc kiểm soát cam kết bảo lãnh thanh toán một cách chặt chẽ và hiệu quả để giảm thiểu tối đa rủi ro có thể xảy ra với mình

Trang 5

Kiểm soát cam kết bảo lãnh là một nghiệp vụ của bên thụ hưởng bảo lãnh, bằng những kỹ năng, kinh nghiệm và nghiệp vụ của mình để thẩm định lại tính pháp lý của cam kết bảo lãnh mà mình tiếp nhận Có thể sử dụng các công cụ để kiểm soát cam kết bảo lãnh như: công cụ pháp lý (quy định của Nhà nước, hợp đồng/thỏa thuận được ký kết giữa các bên, quy định nội bộ của doanh nghiệp); công cụ kỹ thuật – nghiệp vụ (sàng lọc

và lựa chọn những khách hàng, ngân hàng uy tín, đặt ra hạn mức bảo lãnh, phạt chậm thanh toán…); công cụ tổ chức (tổ chức công tác kiểm tra, kiểm soát, xây dựng quy trình…) Bên cạnh đó cũng cần phải chú trọng tới nội dung kiểm soát cam kết bảo lãnh như: hình thức của cam kết, nội dung bảo lãnh, các điều khoản cam kết…

Căn cứ những lý luận trên để nghiên cứu thực tiễn tại Công ty Thông tin di động để thấy được thực trạng kiểm soát cam kết bảo lãnh tại công ty này Hiện, công

ty đang thực hiện bán hàng thẻ cào khối lượng lớn cho các Tổng đại lý theo hai hình thức thanh toán là trả tiền ngay hoặc cấp tín dụng thương mại được đảm bảo bởi cam kết bảo lãnh Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn, công ty đã chịu nhiều thiệt hại có liên quan tới hoạt động tín dụng thương mại được bảo lãnh bởi cam kết bảo lãnh như:

(1) Vụ việc đối với 06 đơn hàng của Đại lý Thịnh Vượng do Habubank bảo lãnh

Khi Thịnh Vượng không còn khả năng thanh toán 6 cam kết bảo lãnh (9,9 tỷ đồng), Habubank (nay là SHB) căn cứ vào điều khoản “mỗi cam kết bảo lãnh chỉ được bảo lãnh cho 01 đơn hàng” để kết luận cam kết bảo lãnh vô hiệu

(2) Vụ việc đối với 19 đơn hàng của EAPay và Thìn Phát do Techcombank bảo lãnh

Khi EApay và Thìn Phát mất khả năng thanh toán 19 đơn hàng (40 tỷ đồng), Techcombank đã từ chối thanh toán với lý do cam kết bảo lãnh không có giá trị pháp lý

do người phát hành không đủ thầm quyền

Nghiên cứu kỹ có thể thấy công ty đã tổ chức bộ máy và hướng dẫn quy trình kiểm soát cam kết bảo lãnh Một số công cụ pháp lý đã được vận dụng, ngoài các quy định của Nhà nước, Công ty đã thực hiện ký hợp đồng với các đại lý mua hàng trả chậm với các điều kiện như:

 Thời hạn thanh toán: 18 ngày

 Thời hạn hiệu lực tối thiểu còn lại của cam kết bảo lãnh: 35 ngày

Trang 6

 Quy định sử dụng cam kết bảo lãnh: mỗi cam kết bảo lãnh chỉ được bảo lãnh cho

01 đơn hàng

 Cam kết bảo lãnh vô điều kiện không được phép hủy ngang

 Điều kiện phạt chậm thanh toán: phạt 0,1%/ ngày trên tổng số tiền thanh toán

chậm, tính từ ngày chậm trả của Đại lý/ Ngân hàng

Bên cạnh đó, các công cụ kỹ thuật nghiệp vụ khác cũng được áp dụng như:

(1) Phân tích, sàng lọc để lựa chọn đối tác

 Lựa chọn đại lý: năm 2009 Công ty đã giới hạn 08 Đại lý được phép mua hàng trả chậm tại Công ty Từ cuối năm 2010, Công ty áp dụng chính sách tín dụng thương mại cho các Tổng đại lý lớn, không có giới hạn danh sách đại lý

 Lựa chọn Ngân hàng

- Nhóm (1): 04 ngân hàng có trên 50% vốn góp của Nhà nước

- Nhóm (2): 12 ngân hàng TMCP

(2) Quy định về điều kiện bảo lãnh: giá trị tối đa của 01 cam kết bảo lãnh và của các

cam kết bảo lãnh tại 01 Ngân hàng

Như vậy, công ty đã tổ chức được bộ máy kiểm soát cam kết bảo lãnh, đã xây

dựng được một hệ thống công cụ kiểm soát cam kết bảo lãnh Tuy nhiên, việc kiểm soát

cam kết bảo lãnh của Công ty Thông tin di động vẫn còn khá nhiều hạn chế như:

Trong công tác tổ chức kiểm soát cam kết bảo lãnh vẫn còn thiếu sự liên kết, phối hợp giữa các đơn vị nội bộ của Công ty; công tác xác thực chưa hiệu quả và chưa có công tác xử lý nợ liên quan tới cam kết bảo lãnh Công cụ kiểm soát cam kết bảo lãnh Các công cụ pháp lý chưa chặt chẽ, nhiều quy định về cam kết bảo lãnh trong hợp đồng còn chưa hợp lý; đối với công cụ nghiệp vụ kỹ thuật tuy đã áp dụng nhưng vẫn chưa có sự sàng lọc đại lý mua hàng, danh mục ngân hàng sau khi sàn lọc vẫn còn tràn lan và chưa phù hợp với thực tiễn của công ty; thông tin phục vụ công tác kiểm soát cam kết bảo lãnh còn ít, nội dung kiểm soát cam kết bảo lãnh còn chưa cụ thể, dễ gây hiểu nhầm

Việc kiểm soát cam kết bảo lãnh tại công ty còn nhiều hạn chế do:

- Do Công ty vẫn còn chưa chú trọng hoạt động kiểm soát cam kết bảo lãnh, chỉ tập

Trang 7

trung mục đích kinh tế khi áp dụng chính sách mua hàng chả chậm

- Nguyên nhân thứ hai là do những thông tin cần thiết cho công tác kiểm soát cam kết bảo lãnh vẫn còn rất khó khăn để có thể tiếp cận được

- Thiếu sự liên kết giữa đội ngũ bán hàng và kế toán trong công tác bán hàng trả chậm và kiểm soát cam kết bảo lãnh

- Lực lượng kế toán hỗ trợ công tác kiểm soát, theo dõi và xử lý các cam kết bảo lãnh trong bán hàng trả chậm còn mỏng

Tiến tới trong tương lai, chính sách tín dụng thương mại sẽ được áp dụng tại Công

ty Thông tin di động với quy mô lớn hơn cả về khối lượng lẫn giá trị, đồng thời cũng phức tạp hơn do các đối tượng sử dụng sẽ đa dạng hơn không chỉ là các Đại lý thẻ cào mà

cả các Đại lý mua thiết bị đầu cuối Do đó, nhu cầu đặt ra là cần sớm hoàn thiện hơn công tác kiểm soát và quản lý cam kết bảo lãnh tại Công ty Thông tin di động Để có thể vừa hoàn thành mục tiêu về kế hoạch, tăng trưởng doanh thu bán hàng, đảm bảo hiệu quả cho chính sách bán hàng của Công ty mà vẫ an toàn tài chính, nhu cầu bức thiết đặt ra lúc này

là phải có một chính sách chặt chẽ hơn, hợp lý hơn trong việc kiểm soát và quản lý cam kết bảo lãnh – vật thế chấp khi mua hàng trả chậm

Bằng những nghiên cứu thực tiễn của mình, tôi xin đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý cam kết bảo lãnh trong mua hàng trả chậm như sau:

 Bổ sung quy định về việc xử lý nợ quá hạn liên quan tới các cam kết bảo lãnh

Cần thiết phải có một quy định về việc xử lý nợ và kết nối thông tin giữa các Trung tâm để có cảnh báo sớm nhất đối với các trường hợp sai phạm, hạn chế tối đa thiệt hại xảy ra

ở nhiều đơn vị trong Công ty Trong đó quy định khi đại lý và ngân hàng quá hạn thanh toán bao nhiêu ngày thì sẽ bị cấm mua hàng/bảo lãnh và phải có thông báo cho các Trung tâm khác để có phương án xử lý

 Cơ cấu lại danh mục ngân hàng bảo lãnh thanh toán

Bước 1: lập danh mục các Chi nhánh/ Phòng giao dịch vi phạm quy định thanh toán trong cam kết bảo lãnh thanh toán:

Bước 2: lựa chọn một danh mục ngắn những Ngân hàng được phép bảo lãnh thanh toán trong TDTM tại Công ty theo các tiêu chí lựa chọn như sau: (1) Loại bỏ những Ngân hàng có nhiều hơn 3 Chi nhánh/ Phòng Giao dịch thuộc danh sách đen ở Bước 1 (2) Lựa

Trang 8

chọn những Ngân hàng đang có cộng tác với Công ty như: có tiền gửi kỳ hạn tại Ngân hàng, có tài khoản thanh toán tại Ngân hàng, có hợp đồng tín dụng với Ngân hàng…

 Bổ sung quy định về việc sàng lọc Đại lý trước bán hàng

- Phân tích năng lực tài chính của Đại lý

- Đặt hạn mức mua hàng đối với một số Đại lý

 Bổ sung công cụ pháp lý – thoả thuận nguyên tắc với ngân hàng

Thỏa thuận nguyên tắc sẽ là cam kết của hai bên trong việc cộng tác cùng kiểm soát các cam kết bảo lãnh với các nội dung cụ thể của thỏa thuận nguyên tắc như sau: (1) chỉ định chi nhánh phát hành cam kết bảo lãnh, (2) quy trình xác nhận cam kết bảo lãnh, (3) quy định về nghĩa vụ thanh toán của Ngân hàng, (4) quy định về trao đổi thông tin

 Sửa đổi nội dung về cam kết bảo lãnh trong hợp đồng mua bán hàng hóa trả

chậm

(1) Quy định về thời hạn hiệu lực của cam kết bảo lãnh: tối thiểu 17 ngày kể từ ngày

đến hạn thanh toán cho đến ngày hết hiệu lực ghi trên cam kết bảo lãnh tối thiểu là 17 ngày

(2) Quy định chung về việc sử dụng cam kết bảo lãnh: tại thời điểm bán hàng, mỗi

cam kết bảo lãnh chỉ được bảo lãnh cho 01 đơn hàng và chỉ được bảo lãnh tiếp cho đơn hàng mới sau khi đã thanh toán hết (cả gốc và tiền phạt) của đơn hàng được bảo lãnh

trước

 Bổ sung nội dung kiểm soát cam kết bảo lãnh

(1) Kiểm tra hình thức cam kết bảo lãnh

(2) Kiểm tra tính pháp lý về cam kết bảo lãnh

 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ - công nhân viên thực hiện kiểm soát

cam kết bảo lãnh trong tín dụng thương mại

Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị với các bên liên quan như đối

với FPT - đơn vị lập trình và quản trị hệ thống bán hàng tập trung của Công ty Thông tin

di động; đối với các ngân hàng phát hành bảo lãnh Cụ thể như

 Kiến nghị đối với FPT

- Cài đặt hệ thống để đáp ứng các yêu cầu mới về kiểm soát cam kết bảo lãnh như:

về hạn mức của cam kết bảo lãnh, điều kiện tái sử dụng của cam kết bảo lãnh; chế độ khóa đối với đại lý/ ngân hàng khi quá hạn thanh toán

Trang 9

- Có cảnh báo bằng email cho người sử dụng các cam kết bảo lãnh sắp tới hạn thanh toán trong 2 ngày tiếp theo; các cam kết bảo lãnh đã quá hạn thanh toán 2 ngày; các cam kết bảo lãnh chưa được thanh toán mà sắp hết hiệu lực trong vòng 5 ngày làm việc

 Kiến nghị đối với các Ngân hàng phát hành cam kết bảo lãnh

Bên cạnh việc kiểm soát hệ thống và cán bộ của mình chặt chẽ hơn nhằm giảm

thiểu các trường hợp lợi dụng chức quyền để lừa đảo, các Ngân hàng có nghiệp vụ bảo lãnh thanh toán cũng cần hỗ trợ các bên thụ hưởng bảo lãnh bằng cách đưa ra một hệ thống thẩm quyền riêng đối với nghiệp vụ bảo lãnh hoặc có cơ chế xác minh cam kết bảo lãnh bởi đơn vị có thẩm quyền cao hơn đơn vị phát hành

Kỷ niệm 20 năm thành lập ngày 16/4/2013, Công ty Thông ti di động đã được Thủ tướng Chính Phủ trao tặng Huân chương Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới Đây là niềm tự hào của toàn bộ Công ty, đồng thời cũng là nguồn động viên đối với toàn Công

ty phải không ngừng nỗ lực để xứng đáng với danh hiệu mà Thủ tướng đã trao tặng Toàn bộ Công ty, từ trên xuống dưới đều đồng lòng đồng sức cùng nhau nỗ lực để đưa Mobifone trở lại là mạng thông tin di động lớn nhất Việt Nam và khi đã trở lại thì phải giữ vững vị trí này để đảm bảo vị thế của mình

Những hiệu quả mà chính sách bán hàng trả chậm đã mang lại cho Công ty trong thời gian qua đã được khẳng định và củng cố thêm sự quan trọng của nó trong việc kết nối nhà mạng với khách hàng thông qua các kênh phân phối thẻ cào Những sự vụ đã xảy

ra tại Công ty Thông tin di động liên quan tới cam kết bảo lãnh cũng một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của việc kiểm soát và quản lý cam kết bảo lãnh trong sự thành công của chính sách bán hàng này cũng như sự phát triển của Công ty

Như vậy, với sự phân tích ở trên, tác giả càng khẳng định tính đúng đắn trong bước

đi của Công ty trong thời gian tới Đó là việc đẩy mạnh chính sách tín dụng thương mại trong bán thẻ cào; nhưng lợi ích kinh doanh phải đi liền với an toàn tài chính; đẩy mạnh kinh doanh phải đi kèm với tăng cường kiểm soát và quản lý cam kết bảo lãnh để tăng hiệu quả của chính sách bán hàng mang lại lợi nhuận, đảm bảo nguồn thu cho Công ty, tạo nền tảng cho Công ty ngày càng phát triển và phát triển bền vững

Ngày đăng: 09/01/2021, 11:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w