THADS là một giai đoạn có ý nghĩa quan trọng không chỉ kết thúc quá trình giải quyết vụ án mà còn bảo đảm cho bản án, quyết định Tòa án được chấp hành nghiêm chỉnh, đúng pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân và Nhà nước. Để hoạt động THADS được tổ chức hiệu quả, đạt được mục đích trên thực tế, chắc chắn không thể không kể đến vai trò kiểm sát của VKSND đối với các Cơ quan THADS. Đây là công tác chủ yếu để phát hiện các sai phạm kịp thời, từ đó có biện pháp xử lý, chấm dứt vi phạm, hạn chế tới mức thấp nhất đơn thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực THADS. Trực tiếp kiểm sát là một hình thức kiểm sát được VKSND coi là trọng tâm trong quá trình thực hiện công tác kiểm sát THADS mình và đã phát huy những hiệu quả nhất định trên thực tế. Tuy nhiên, hiện nay ở một số địa phương vẫn còn một số tồn tại, hạn chế trong công tác này như một số đơn vị kiểm sát nhưng không phát hiện được hết các vi phạm của cơ quan thi hành án dân sự; có cán bộ, KSV còn lúng túng trong quá trình kiểm sát… Vì vậy, để có một cái nhìn chính xác, hệ thống về công tác trực tiếp kiểm sát, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của VKSND, em xin lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Những nội dung cần làm rõ về hoạt động của VKSND khi trực tiếp kiểm sát thi hành án dân sự”
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI KHOA PHÁP LUẬT DÂN SỰ & KIỂM SÁT DÂN SỰ
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ
MÔN KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Đề tài: Những nội dung cần làm rõ về hoạt động của VKSND khi trực tiếp kiểm
sát thi hành án dân sự
Tên sinh viên: Đoàn Thái Phong
Mã số sinh viên: 1453801010189
Hà Nội, tháng 3 năm 2018
Trang 2CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
CHV – Chấp hành viên
KSV – Kiểm sát viên VKS – Viện kiểm sát VKSND – Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC – Viện kiểm sát nhân dân tối cao
THA – Thi hành án THADS – Thi hành án dân sự
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRỰC TIẾP KIỂM SÁT THADS CỦA VKSND 1
II – NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG TRỰC TIẾP KIỂM SÁT THADS CỦA VKSND 3
2.1 Trước khi trực tiếp kiểm sát THADS 3
2.2 Trình tự trực tiếp kiểm sát THADS 4
2.3 Sau khi trực tiếp kiểm sát THADS 13
KẾT LUẬN 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
THADS là một giai đoạn có ý nghĩa quan trọng không chỉ kết thúc quá trình giải quyết vụ án mà còn bảo đảm cho bản án, quyết định Tòa án được chấp hành nghiêm chỉnh, đúng pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức,
cá nhân và Nhà nước Để hoạt động THADS được tổ chức hiệu quả, đạt được mục đích trên thực tế, chắc chắn không thể không kể đến vai trò kiểm sát của VKSND đối với các Cơ quan THADS Đây là công tác chủ yếu để phát hiện các sai phạm kịp thời, từ đó có biện pháp xử lý, chấm dứt vi phạm, hạn chế tới mức thấp nhất đơn thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực THADS Trực tiếp kiểm sát là một hình thức kiểm sát được VKSND coi là trọng tâm trong quá trình thực hiện công tác kiểm sát THADS mình và đã phát huy những hiệu quả nhất định trên thực tế Tuy nhiên, hiện nay ở một số địa phương vẫn còn một số tồn tại, hạn chế trong công tác này như một số đơn vị kiểm sát nhưng không phát hiện được hết các vi phạm của cơ quan thi hành án dân sự; có cán bộ, KSV còn lúng túng trong quá trình kiểm sát… Vì vậy, để có một cái nhìn chính xác, hệ thống về công tác trực tiếp kiểm sát, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động
của VKSND, em xin lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Những nội dung cần làm rõ
về hoạt động của VKSND khi trực tiếp kiểm sát thi hành án dân sự”
NỘI DUNG
I – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRỰC TIẾP KIỂM SÁT THADS CỦA VKSND
Trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong THADS là một trong các phương thức kiểm sát thể hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của
VKSND được quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều 28 Luật tổ chức VKSND năm
2014 hay trong các văn bản như Luật THADS sửa đổi bổ sung năm 2014 và Quy chế công tác kiểm sát THADS, thi hành án hành chính (Ban hành kèm theo Quyết định số 810/QĐ-VKSTC-V11 ngày 20 tháng 12 năm 2016 của Viện
Trang 5trưởng VKSNDTC) (sau đây gọi tắt là Quy chế 810) Hoạt động này thực sự đã
mang lại những hiệu quả đáng kể khi thực hiện chức năng kiểm sát THADS Bởi thông qua nó, VKS có thể nắm rõ các nội dung hoạt động trong thi hành án dân
sự qua đó kiểm sát chặt chẽ và đảm bảo cho hoạt động THADS nhanh chóng kịp thời, đúng căn cứ pháp luật
Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi tiến hành kiểm sát trực tiếp hoạt động THADS được quy định tại Khoản 2 Điều 28 Luật tổ chức VKSND, Điều
12 và Điều 159 Luật THADS, đó là “Trực tiếp kiểm sát việc THA của Cơ quan
cùng cấp và cấp dưới, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan”.
Có thể thấy, đối với việc kiểm sát trực tiếp, Pháp luật đã mở rộng phạm vi cho VKS không chỉ là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Cơ quan THA mà còn đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan như: tổ chức thẩm định giá, tổ chức bán đấu giá tài sản trong việc thẩm định giá và bán đấu giá tài sản để THA;
cơ quan tổ chức có nhiệm vụ đăng ký giao dịch, quyền sỏ hữu, quyền sử dụng khi thực hiện các hoạt động liên quan đến THADS… Tuy nhiên, không phải trong bất kỳ trường hợp nào VKS cũng có thể tiến hành kiểm sát mà chỉ thực hiện hoạt động kiểm sát trực tiếp đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động THADS khi có căn cứ cho rằng có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động của cơ quan, tổ chức có liên quan đến hoạt động THADS
VKS có thể tiến hành trực tiếp kiểm sát hoạt động THADS của cơ quan THA, CHV dưới hai hình thức, đó là kiểm sát thường kỳ hoặc kiểm sát đột xuất Việc thường kỳ trực tiếp kiểm sát được thực hiện dựa trên Chỉ thị của Viện trưởng VKSNDTC hoặc theo kế hoạch, chương trình công tác của VKS trên của đơn vị mình, tùy vào yêu cầu công tác kiểm sát tình hình, đặc điểm của hoạt động THADS để VKS xác định phạm vi của nội dung kiểm sát trực tiếp thường
kỳ là hoạt động toàn diện hoạt động THADS hay kiểm sát các nội dung trọng tâm trong hoạt động THADS Đây là hoạt động có kế hoạch sẵn từ trước và là một trong những kế hoạch công tác của đơn vị, thể hiện tính chủ động hơn trong việc áp dụng phương thức này khi kiểm sát THADS, VKS tiến hành trực tiếp
Trang 6kiểm sát trong trường hợp có yêu cầu của cấp ủy hoặc Hội đồng nhân dân hoặc khi có căn cứ xác định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoạt động THADS
II – NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG TRỰC TIẾP KIỂM SÁT THADS CỦA VKSND
2.1 Trước khi trực tiếp kiểm sát THADS
Ở giai đoạn đầu tiên, Hoạt động kiểm sát trực tiếp được bắt đầu bằng việc
ban hành Quyết định trực tiếp kiểm sát của lãnh đạo Viện, trong đó xác định rõ
ràng kiểm sát trực tiếp thường kỳ hay đột xuất; tên cơ quan đơn vị được trực tiếp kiểm sát; thời điểm và thời gian kiểm sát; các nội dung chính sẽ kiểm sát; thanh phần Đoàn trực tiếp kiểm sát, trong đó quy định rõ Trưởng Đoàn, Phó Trưởng đoàn và các thành viên Khi trự tiếp kiểm sát cơ quan THADS cấp dưới, có thể huy động KSV của VKS cấp dưới tham gia khi thấy cần thiết Quyết định trực tiếp kiểm sát được ban hành theo mẫu quy định chung của ngành
Sau khi được phân công, trưởng đoàn trực tiếp kiểm sát lập kế hoạch trực tiếp kiểm sát, trong đó nêu rõ các nội dung cơ bản như: Mục đích, yêu cầu của việc trực tiếp kiểm sát; các nội dung cần kiểm sát; cách thức tiến hành trực tiếp kiểm sát; trách nhiệm của đơn vị được kiểm sát Bản kế hoạch này phải được trình đồng thời với Quyết định trực tiếp kiểm sát để lãnh đạo Viện xem xét và
do Trưởng đoàn ký sau khi lãnh đạo Viện đã ký Quyết định trực tiếp kiểm sát Tại VKSNDTC, Kế hoạch trực tiếp lãnh đạo do Trưởng đoàn ký sau khi báo cáo
Vụ trưởng để Vụ trưởng báo cáo lãnh đạo phê duyệt Trước khi kiểm sát trực tiếp hoạt động THADS, KSV phải có sự khảo sát tình hình hoạt động THADS thông qua: các thông báo rút kinh nghiệm của ngành, của VKS tỉnh; qua đơn thư, khiếu nại, tố cáo của Công dân tập trung vào lĩnh vực nào nhiều; qua dư luận tại địa phương; thông tin từ báo chí Từ đó, định dạng được những vi phạm thường xuyên có thể xảy ra để có kế hoạch kiểm sát cụ thể kèm theo quyết định trực tiếp kiểm sát
Trang 7Quyết định và kế hoạch trực tiếp kiểm sát trên phải được gửi cho cơ quan,
tổ chức được trực tiếp kiểm sát ít nhất trước 15 ngày kể từ ngày sẽ trực tiếp kiểm sát (trừ trường hợp kiểm sát đột xuất) Ngoài ra gửi cho VKS cấp trên có thẩm quyền để báo cáo và gửi cho cơ quan chủ quản cơ quan tổ chức thực hiện
để phối hợp chỉ đạo thực hiện
2.2 Trình tự trực tiếp kiểm sát THADS
Theo quy định tại khoản 4, Điều 32 Quy chế 810, để tiến hành trực tiếp kiểm sát, đoàn kiểm sát phải tổ chức công bố Quyết định, Kế hoạch trực tiếp kiểm sát trước khi nghe cơ quan được kiểm sát báo cáo tình hình THA Trong
đó thành phần tham gia công bố do Trưởng đoàn trực tiếp kiểm sát thống nhất với cơ quan được kiểm sát, gồm có: Lãnh đạo VKS, lãnh đạo và các CHV, công chức của cơ quan, tổ chức được kiểm sát và cơ quan chủ quản cấp trên của họ; các thành viên Đoàn trực tiếp kiểm sát
Sau khi Quyết định và Kế hoạch được công bố, Đoàn Kiểm sát tiến hành trực tiếp kiểm sát các nội dung theo Kế hoạch trực tiếp kiểm sát Để thực hiện nhiệm vụ một cách thuận lợi, đảm bảo đúng kế hoạch đã đề ra, phát hiện được vi phạm (nếu có) của Cơ quan THADS, đòi hỏi KSV được phân công kiểm sát phải nắm vững kiến thức pháp luật liên quan đến hoạt động THADS như: các văn bản quy phạm pháp luật quy định, hướng dẫn về công tác THADS (Luật THADS, Nghị định, Thông tư quy định về Tổ chức, bộ máy cơ quan THADS, hướng dẫn nghiệp vụ THADS…), cũng như các lĩnh vực liên quan đến hoạt động THADS (Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án; các Nghị định, Thông tư quy định, hướng dẫn về kê biên, cưỡng chế, bán đấu giá tài sản THA…); các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của cơ quan THADS cấp trên, văn bản hướng dẫn, rút kinh nghiệm của VKSNDTC… Trên cơ sở đó, KSV cần phải chú ý kiểm sát các nội dung sau:
Thứ nhất, kiểm sát việc quản lý, thu chi tiền THA Đây là công việc rất
quan trọng, vì vậy ngay sau khi nghe lãnh đạo Cơ quan THADS báo cáo các nội dung đã yêu cầu trong Kế hoạch kiểm sát, KSV cần kiểm tra ngay quỹ tiền mặt,
Trang 8tiến hành xác minh số tiền của Cơ quan THA nộp Kho bạc, tiền gửi tiết kiệm, tiền tạm gửi ở Ngân hàng để cân đối việc thu, chi có đúng pháp luật hay không Yêu cầu cung cấp các tài liệu, hồ sơ, sổ sách liên quan đến nội dung kiểm sát để kiểm tra, xác minh, đối chiếu xem có phù hợp với thực tế không… Cụ thể đối với mỗi đối tượng cần thực hiện những công việc sau:
Đối với thủ quỹ:
- Yêu cầu chốt quỹ tiền mặt;
- Yêu cầu cung cấp sổ quỹ tiền mặt và các quyển biên lai thu tiền được giao
quản lý;
- Xác định quỹ tiền mặt trong Sổ quỹ tiền mặt tính đến ngày VKS tiến hành
trực tiếp kiểm sát là bao nhiêu;
- Số tiền thu nộp quỹ so với thực tế số tiền mặt trong két có chênh lệch
không;
- Lập biên chốt quỹ đến ngày trực tiếp kiểm tra Sau đó, đối chiếu sổ quỹ
tiền mặt với Biên bản kiểm kê quỹ của Cơ quan THA;
- Đối chiếu sổ quỹ tiền mặt của thủ quỹ với sổ quỹ tiền mặt của Kế toán
nghiệp vụ THA;
- Đối chiếu sổ quỹ tiền mặt với các chứng từ thu, chi tiền THA để xem xét
việc cập nhật, ghi chép sổ sách của thủ quỹ với kế toán có chính xác, kịp thời không;
- Đối chiếu biên lai thu tiền với tiền nộp trên sổ quỹ tiền mặt.
Đối với kế toán:
- Yêu cầu kế toán cung cấp số của quyển biên lai đã chuyển giao cho các CHV quản lý, sử dụng;
- Yêu cầu cung cấp sổ quỹ tiền mặt của Kế toán in từ máy tính ra;
- Yêu cầu cung cấp bảng cân đối tài khoản và báo cáo phân tích số dư cyar các đầu tài khoản để biết chi tiết số việc còn tiền tồn chưa giải xong, kiểm sát hồ
sơ THA để xác định lý chưa giải quyết là do khách quan hay chủ quan Qua đó, xác định số tiền chậm nộp ngân sách, chậm chi trả cho công dân, chậm gửi vào tài khoản tạm giữ, tài khoản phí THA mở Kho bạc;
Trang 9- Yêu cầu cung cấp báo cáo hoạt động thu THA để kiểm sát việc đối chiếu kết quả THA của CHV và Kế toán THA có thường xuyên không, có trùng khớp với báo cáo thu của Kế toán không;
- Yêu cầu cung cấp chứng từ thu, chi trong thời điểm kiểm sát và rà soát phiếu thu, phiếu chi của Kế toán với sổ quỹ tiền mặt của thủ quỹ có trùng nhau không, để xác định kế toán có kịp thời lập phiếu thu không, số thứ tự của các phiếu thu, chi có liên tục không? Nếu có việc đứt quãng của số phiếu thu, lý do nhảy số trên phần mềm kế toán có được phát hiện và lập biên bản có xác nhận thủ trưởng Cơ quan THA không;
- Yêu cầu cung cấp giấy Xác nhận số dư tài khoản tiền gửi của kho bạc;
- Sổ gửi tiền tiết kiệm (nếu có);
- Giấy nộp tiền, giấy xác nhận số dư của kho bạc… phải là bản có dấu đỏ Cần lưu ý, trước khi thực hiện kiểm sát công tác thu, chi tiền THA cần xác định số dư còn lại quỹ THA; Số dư còn lại quỹ THA thể hiện trên Sổ quỹ tiền mặt; Sổ tiền gửi ngân hàng, kho bạc; Sổ tiền gửi tiết kiệm (nếu có) Khi kiểm sát phải so sánh với Báo cáo của cơ quan THADS có bằng nhau không?
Đối với CHV:
- Yêu cầu CHV cung cấp các loại biên lai đã được nhận từ Kế toán (lưu ý:
Mỗi số biên lai có 4 liên, nội dung thu tiền các liên phải trùng với nhau, không được tẩy xóa, liên nộp cho kế toán phải trùng với liên còn lưu ở cuống biên lai, nếu có chứng từ hỏng, hủy phải còn đầy đủ 4 liên)
- Kiểm sát, rà soát các biên lai thu tiền của CHV với sổ quỹ tiền mặt của
thủ quỹ THA để xác định CHV có kịp thời nộp tiền vào quỹ không Số ngày thu trên cuống biên lai có trùng với liên nộp cho Kế toán để lập phiếu thu tiền không?
- Kiểm tra biên lai có tẩy xóa, sửa chữa và hủy có đúng quy định không?
Thông qua việc thực công tác này, thực tế có thể phát hiện một số các vi phạm như:
+ Đối với việc quản lý khoản phí THA và quản lý tiền mặt tại quỹ THA, về
cơ bản tất khoản tiền THA phải được bảo quản tại Kho bạc theo quy định khoản
Trang 102 Điều 58 Luật THADS và khoản 2 Điều 18 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 về án phí, lệ phí Tòa án Thực tiễn cho thấy, Chi cục THA để lại quỹ tiền mặt rất nhiều, không đúng quy định, có khoản tiền tạm ứng án phí, tiền thu trước quyết định, cá biệt có trường hợp để lại cả khoản tiền phải trả cho công dân…;
+ Trường hợp kế Toán báo cáo không trung thực: có thể sửa chữa phần số dư cuối kỳ với số dư thực tế còn tại quỹ tiền mặt và tiền gửi ngân hàng, kho bạc để đối phó với Đoàn kiểm tra;
+ CHV, thủ quỹ không nộp tiền hoặc chậm nộp vào quỹ THA hay Thủ quỹ chậm nộp tiền vào tài khoản Kho bạc, vào ngân sách;
+ Tẩy xóa chứng từ;
+ Không gửi tiết kiệm các khoản tiền đương sự chưa đến nhận; gửi tiền tiết kiệm khoản tiền phải trả cho đương sự đứng tên cá nhân thủ quỹ THA; trích lại 10% khoản tiền nộp ngân sách…
Pháp lệnh Án phí, lệ phí Toà án ngày 27/02/2009 quy định Cơ quan THADS có thẩm quyền thu án phí Điều 18 Pháp lệnh này quy định toàn bộ án phí, lệ phí Tòa án thu được phải nộp đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước VKS có thể trực tiếp xác minh thông tin tài khoản của Cơ quan THADS tại Ngân hàng, Kho Bạc, để xác định số tiền thực có tài khoản tiền gửi và thời gian thực nộp tiền và cơ quan Thuế để xác định có việc trích lại 10% khoản tiền án phí không?
Thứ hai, kiểm sát hệ thống sổ sách về THADS Theo hướng dẫn tại Thông
tư số 22/2011/TT-BTP ngày 02/12/2011 của Bộ Tư pháp, Cơ quan THADS phải
mở đủ 21 loại sổ về THADS và hệ thống sổ sách kế toán THA theo Thông tư số 91/2010/TT-BTC ngày 17/6/2010 của Bộ Tài chính Khi kiểm sát việc lập, quản
lý các loại sổ cần chú ý các vấn đề sau:
- Đối với sổ nhận các bản án, quyết định do Tòa án chuyển giao theo quy định tại Điều 29 Luật THADS, KSV chú ý kiểm tra ngày, tháng, năm giao nhận
Trang 11bản án, quyết định, xem xét việc tẩy xóa, sửa chữa trong sổ; đối chiếu số, ngày ban hành bản án, quyết định và ngày giao nhận bản án, quyết định để xác định vào thời điểm giao, nhận của các bên thì bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chưa; đối với trường hợp THA chủ động, Cơ quan THA có ra quyết định THA chủ động trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận bản án, quyết định do Tòa án chuyển đến không?
- Đối với Sổ thụ lý THA chủ động, sổ nhận đơn yêu cầu THA, KSV cần xem xét kỹ nội dung ghi chép, số thứ tự, các cột mục… để xác định căn cứ ra quyết định, việc ra quyết định THA có đúng thẩm quyền và trong thời hạn quy định của pháp luật không, thời hiệu yêu cầu THA còn không? Thời hạn ra quyết định THA, nội dung quyết định THA đã ban hành có đúng nội dung bản án, quyết định của tòa án không, có đúng theo đơn yêu cầu của đương sự không? Sau khi ban hành quyết định THA trong thời hạn 02 ngày, Thủ trưởng cơ quan THA có phân công CHV tổ chức thi hành không?
- Đối với Sổ ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định THA, KSV cần xem xét căn cứ ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định THA, làm rõ vấn đề này chính là làm rõ những sai sót và trách nhiệm của người
có thẩm quyền khi ra quyết định THA, xác định rõ mức độ sai phạm dẫn đến việc thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định THA đó
- Đối với Sổ ra quyết định ủy thác THA, cần xem xét để xác định có hay không có sai sót và trách nhiệm của CHV trong việc xác minh điều kiện THA làm căn cứ ủy thác như: Tại thời điểm ra quyết định THA, đương sự có tài sản nhưng CHV không kịp thời tiến hành kê biên, xử lý tài sản để THA mà để quá lâu mới xác minh điều kiện THA dẫn đến đương sự đã bán tài sản và chuyển đến nơi ở mới Do vậy việc ủy thác THA đến nơi ở mới sẽ khó thi hành vì tại nơi này có thể đương sự đang ở nhờ hoặc thuê nhà người khác không phải là nơi có tài sản, nơi cư trú
- Đối với Sổ ra quyết định thu phí THA, cần chú ý các trường hợp không phải thu phí THA, việc tính mức phí THA trên số tiền, tài sản theo bản án, quyết