VKSND là cơ quan tư pháp nằm trong hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước, có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp bao gồm nhiều khâu công tác, mà trong đó công tác “Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp” là một khâu quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, khắc phục kịp thời những sai phạm phát sinh trong quá trình công tác của các cơ quan tư pháp. Hiện nay, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp thuộc thẩm quyền của VKSND được thực hiện khá tốt, tuân thủ đúng thủ tục, trình tự theo luật định, bên cạnh đó các cán bộ, KSV được phân công làm công tác này đã chịu khó, nghiên cứu các văn bản pháp luật, tham mưu lãnh đạo Viện giải quyết đúng pháp luật những khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp thuộc thẩm quyền. Tuy nhiên, đối với công tác việc kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp cùng cấp và cấp dưới, vẫn còn bỏ ngỏ và bộc lộ nhiều hạn chế, lúng túng trong quá trình thực hiện. Như vậy, để có một cái nhìn rõ ràng hơn về nội dung kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp, nhằm nâng cao kỹ năng, góp phần cải thiện chất lượng thực hiện công tác này của VKSND, hạn chế các trường hợp đơn thư khiếu nại, tố cáo bức xúc, kéo dài củng cố uy tín, lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan pháp luật. Em xin lựa chọn đề tài: “Hoạt động kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới” để tập trung làm rõ các quy định pháp luật về hoạt động kiểm sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo trong hoạt động tư pháp, từ đó đưa ra những biện pháp cần thực hiện nâng cao hiệu quả hoạt động này.
Trang 1VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ
MÔN GIẢI QUYẾT KNTC THUỘC THẨM QUYỀN CỦA VKSND VÀ
KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KNTC
Đề tài: Hoạt động kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo Giải pháp nâng
cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới
Tên sinh viên: Đoàn Thái Phong
Mã số sinh viên: 1453801010189
Hà Nội, tháng 3 năm 2018
Trang 2CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS – Bộ luật tố tụng dân sựBLTTHC – Bộ luật tố tụng hành chínhBLTTHS – Bộ luật tố tụng hình sựUBND - Ủy ban nhân dân
VKS – Viện kiểm sát
VKSND – Viện kiểm sát nhân dânTHADS – Thi hành án dân sựTHAHS – Thi hành án hình sựTTDS – Tố tụng dân sự
TTHS – Tố tụng hình sự
UBMTTQ – Ủy ban mặt trận tổ quốc
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1NỘI DUNG 2
I – LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT KHIẾUNẠI TỐ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP 2
1.1 Cơ sở pháp lý của công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo trong hoạt động tư pháp 2 1.2 Các biện pháp kiểm sát giải quyết khiếu nại tố cáo trong hoạt động tư pháp 7
II - THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÔNG TÁC KIỂM SÁT GIẢI QUYẾTKHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP CỦA VIỆN KIỂMSÁT 11
2.1 Một số khó khăn trong công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại tố cáo trong hoạt động tư pháp 11 2.2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp 14
KẾT LUẬN 19DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
VKSND là cơ quan tư pháp nằm trong hệ thống các cơ quan quyền lựcnhà nước, có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tưpháp Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp bao gồm nhiều khâu công tác, mà
trong đó công tác “Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp” là một khâu quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, khắc phục kịp thời những sai phạm phát sinh trong quá trình công tác củacác cơ quan tư pháp Hiện nay, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tưpháp thuộc thẩm quyền của VKSND được thực hiện khá tốt, tuân thủ đúng thủtục, trình tự theo luật định, bên cạnh đó các cán bộ, KSV được phân công làmcông tác này đã chịu khó, nghiên cứu các văn bản pháp luật, tham mưu lãnh đạoViện giải quyết đúng pháp luật những khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư phápthuộc thẩm quyền Tuy nhiên, đối với công tác việc kiểm sát giải quyết khiếunại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp cùng cấp và cấpdưới, vẫn còn bỏ ngỏ và bộc lộ nhiều hạn chế, lúng túng trong quá trình thựchiện Như vậy, để có một cái nhìn rõ ràng hơn về nội dung kiểm sát việc giảiquyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp, nhằmnâng cao kỹ năng, góp phần cải thiện chất lượng thực hiện công tác này củaVKSND, hạn chế các trường hợp đơn thư khiếu nại, tố cáo bức xúc, kéo dàicủng cố uy tín, lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan pháp luật Em xin lựa
chọn đề tài: “Hoạt động kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới” để tập trung làm rõ các
quy định pháp luật về hoạt động kiểm sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo tronghoạt động tư pháp, từ đó đưa ra những biện pháp cần thực hiện nâng cao hiệuquả hoạt động này
Trong quá tình nghiên cứu không tránh khỏi những sai sót, kính mongnhận được những ý kiến nhận xét quý báu của thầy, cô để bài viết của em đượchoàn thiện hơn
Trang 5NỘI DUNG
I – LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
1.1 Cơ sở pháp lý của công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo
trong hoạt động tư pháp
1.1.1 Luật tổ chức VKSND năm 2014
Trước khi luật tổ chức VKSND năm 2014 có hiệu lực, công tác kiểm sátviệc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của VKSND chỉ đượcquy định chung trong Điều 4 Luật tổ chức VKSND năm 2002 và chưa đượcchính thức coi là một trong những công tác nghiệp vụ để thực hiện chức năng,nhiệm vụ của Ngành như các khâu công tác khác Nhưng cho đến nay, công táckiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp đã được quyđịnh thành một điều luật riêng (Điều 30 Luật tổ chức VKSND 2014) và được coi
là một trong 9 công tác nghiệp vụ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ củaVKSND Cùng với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư
pháp, hai công tác này hợp thành công tác “Kiểm sát và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp” (Mục 8, chương 2 Luật tổ chức VKSND 2014).
Theo Điều 30, nhiệm vụ quyền hạn của VKSND khi kiểm sát việc giải quyếtkhiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp được thực hiện qua những phươngthức cơ bản sau:
Thứ nhất, trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt
động tư pháp tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
Thứ hai, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu
nại, văn bản giải quyết tố cáo; kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạtđộng tư pháp của cấp mình và cấp dưới, thông báo kết quả cho VKS nhân dân;cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan cho VKS nhân dân
Thứ ba, ban hành kết luận kiểm sát, thực hiện quyền kiến nghị, kháng
nghị theo quy định của pháp luật
Với quy định trên, có thể hiểu tất cả những cơ quan nào có thẩm quyềngiải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp đều thuộc đối tượng kiểm
Trang 6sát của VKS Quy định này có xu hướng mở rộng hơn về đối tượng của công táckiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.
Ví dụ như theo Luật THAHS thì ngoài các cơ quan thi hành án hình sự cóthẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, còn có một số cơ quan và cá nhân kháccũng được giao thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình
sự, như: Chủ tịch UBND cấp xã, Trưởng Công an cấp huyện, Thủ trưởng cơquan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Tư lệnh quân khu và tươngđương, Thủ trưởng cơ quan quản lý THAHS thuộc Bộ Quốc phòng Các cơ quannày cũng là đối tượng của VKS trong việc kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tốcáo trong thi hành án hình sự
1.1.2 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
a) Về phạm vi kiểm sát:
BLTTHS năm 2015 quy định: “Viện kiểm sát kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới” (Khoản 1 Điều 483 BLTTHS
2015) Trong đó cần chú ý về thẩm quyền giải quyết của các cơ quan được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cụ thể:
Đối với khiếu nại, Điều 475 quy định: cấp trưởng cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra xem xét, giải quyết khiếu nại đối với
quyết định, hành vi tố tụng của cấp phó, cán bộ điều tra của cơ quan được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trừ việc giữ người trong trườnghợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ
Đối với tố cáo, Điều 481 quy định: VKS thực hành quyền công tố, kiểm sátđiều tra có thẩm quyền xem xét, giải quyết tố cáo hành vi tố tụng của ngườiđược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, không quy định cho cơquan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyềngiải quyết tố cáo
Do vậy, khi thực hiện Điều 483, các VKSND chỉ kiểm sát việc giải quyếtkhiếu nại trong TTHS của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
Trang 7động điều tra bởi Thủ trưởng, phó thủ trưởng Cơ quan này không có thẩm quyềngiải quyết tố cáo.
b) Về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND:
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 483 BLTTHS năm 2015 thì trong quátrình kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong TTHS, Viện kiểm sát nhân
dân có quyền áp dụng 4 phương thức kiểm sát, đó là: yêu cầu ra quyết định giải quyết; yêu cầu kiểm tra thông báo kết quả giải quyết; yêu cầu cung cấp hồ sơ và trực tiếp kiểm sát; Cụ thể, VKS có quyền:
- Yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hànhmột số hoạt động điều tra ra quyết định giải quyết khiếu nại, ra văn bản giảiquyết tố cáo theo quy định tại Chương này;
- Yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hànhmột số hoạt động điều tra tự kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấpmình và cấp dưới; thông báo kết quả cho VKS;
- Yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hànhmột số hoạt động điều tra cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyếtkhiếu nại, tố cáo cho VKS;
- Trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại CQĐT, cơ quanđược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Tòa án cùng cấp và cấpdưới;
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 483 còn quy định VKS có quyền “Ban hành kết luận kiểm sát; thực hiện quyền kiến nghi, kháng nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, khắc phục vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo” Những quyền kiến
nghị, kháng nghị, yêu cầu khắc phục vi phạm là những quyền hạn về nguyên tắc
đã được quy định trong Luật tổ chức VKSND nhưng riêng quyền ban hành kết luận kiểm sát lại là một điểm mới mà các VKSND cần triển khai thực hiện khi
kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong TTHS trên thực tiễn
c) Về việc thanh tra, kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo:
Trang 8Khoản 3, Điều 483 BLTTHS 2015 quy định: “Viện kiểm sát cấp trên có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát cấp dưới Viện kiểm sát nhân dân tối cao thanh tra, kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát các cấp” Hoạt động thanh tra, kiểm tra việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung cũng như trong TTHS nói riêng giữa cấptrên với cấp dưới vẫn được VKSND các cấp thực hiện thường xuyên trong thựctiễn theo quy định của các Luật tổ chức VKSND và quy định của Ngành Đâyđược coi là 1 trong những hoạt động trong công tác quản lý của ngành và là mộtchỉ tiêu bắt buộc trong công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo, đượcthống kê trong các báo cáo định kỳ, các đề tài, chuyên đề nghiệp vụ kiểm sát
1.1.3 Luật thi hành án hình sự năm 2010
Tại Điều 142 Luật THAHS năm 2010 quy định kiểm sát việc tuân theopháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo:
a) VKS trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Tòa án, cơ
quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan tổ chứcđược giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự
b) Khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình
sự, VKS có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan quản lý THAHS, cơ quan THAHS,
cơ quan tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự cùng cấp và cấpdưới:
- Ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định tại Chương XIII của
Luật THAHS 2010
- Kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và của cấp
dưới; thông báo kết quả giải quyết cho VKS;
- Cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
cho VKS
Như vậy, khi thực hiện thẩm quyền kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tốcáo trong THAHS, VKSND có quyền áp dụng đầy đủ các biện pháp kiểm sát vàban hành các văn bản tương tự như kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
trong TTHS.
Trang 91.1.4 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Luật
thi hành án dân sự Năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014)
Cả ba Bộ luật này đều có sự tương đồng trong quy định về quyền hạn củaVKS trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan có thẩmquyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo Tại Điều 515 BLTTDS năm 2015,
Điều 343 BLTTHC năm 2015 và Điều 159 Luật THADS 2014, quy định: “Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong TTDS (hành chính, THADS) theo quy định của pháp luật Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với Tòa án cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức
và cá nhân có trách nhiệm để đảm bảo việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn
cứ, đúng pháp luật”
Như vậy, trong quá trình kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trongTTDS, hành chính, Thi hành án dân sự, nhiệm vụ của VKS chỉ giới hạn trongviệc áp dụng ba biện pháp yêu cầu và ban hành kiến nghị khi kết thúc kiểm sát,
mà không được áp dụng biện pháp trực tiếp kiểm sát và không được ban hànhkháng nghị Riêng đối với việc ban hành văn bản kết luận, tuy không được đềcập đến một cách cụ thể nhưng căn cứ vào Điều 30 Luật tổ chức VKSND 2014thì VKSND vẫn phải thực hiện nhiệm vụ này
1.1.5 Quy chế số 51 ngày 2/2/2016 của VKSND tối cao
Ngày 2/2/2016, VKSND tối cao ban hành Quy chế tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp (Ban hành kèm theo Quyết định số 51/QĐ/VKSTC-V12 ngày 02/02/2016 của Viện trưởng Viện KSND tối cao) đã chính thức thay thế Quyết định số 59/2006-QĐ-VKSTC-V7 ngày 06/02/2016 và Quyết định số 487/QĐ- VKSTC-V7 ngày 04/9/2008 Tại khoản 1 Điều 18 Quy chế số 51, quy định các
biện pháp được áp dụng khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạtđộng tư pháp gồm:
- Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo
- Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáocủa cấp mình,cấp dưới và thông báo kết quả cho VKS
Trang 10- Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đếnviệc giải quyết khiếu nại, tố cáo cho VKS
- Trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan có thẩmquyền
Cũng theo khoản 2 Điều 18 Quy chế số 51, khi áp dụng các biện phápkiểm sát, chỉ cần có 1 trong 2 căn cứ: (1) có cơ sở xác định dấu hiệu vi phạmhoặc có căn cứ kết luận vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tronghoạt động tư pháp; (2) theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, thì VKS có thể
áp dụng bất cứ biện pháp kiểm sát nào nếu thấy phù hợp và có hiệu quả nhất
Tuy nhiên, có điểm cần lưu ý là riêng đối với biện pháp trực tiếp kiểm sátthì không bắt buộc phải áp dụng hai căn cứ này Đây là cách vận dụng linh hoạtpháp luật, tạo hướng mở cho việc áp dụng biện pháp kiểm sát trực tiếp trongkhâu Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, tương
tự như phương thức kiểm sát của các khâu Kiểm sát thi hành án hình sự và thihành án dân sự
Tóm lại, chức năng kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạtđộng tư pháp đã được quy định rất rõ và cụ thể trong các Bộ luật như đã nêutrên Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn này được Đảng và Nhà nước giao choVKSND Tức là, chỉ có VKS mới có quyền kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tốcáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp Để thực hiện tốt chứcnăng này, đòi hỏi mỗi cán bộ, KSV cần nâng cao nhận thức, tích cực trau dồikiến thức pháp luật, trình độ nghiệp vụ, kinh nghiệm thực tiễn, chịu khó nghiêncứu, yêu nghề, hết lòng vì công việc, có vậy mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ
mà Đảng và Nhà nước giao cho Ngành kiểm sát
1.2 Các biện pháp kiểm sát giải quyết khiếu nại tố cáo trong hoạt động tư
pháp
1.2.1 Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố
cáo.
Biện pháp Yêu cầu ra văn bản giải quyết được áp dụng khi có yêu cầu của
cơ quan có thẩm quyền, hoặc khi có căn cứ kết luận vi phạm của cơ quan tư
Trang 11pháp, đó là không ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc đã giải quyếtnhưng không ra văn bản giải quyết theo quy định.
VKS thực hiện biện pháp kiểm sát này trong những trường hợp sau:
- Thông qua các nguồn thông tin hoặc sau khi chuyển đơn khiếu nại, tố cáođến cơ quan tư pháp có thẩm quyền giải quyết và theo dõi việc giải quyết này,nếu đủ căn cứ kết luận hết thời hạn theo quy định mà cơ quan tư pháp chưa giảiquyết hoặc đã giải quyết nhưng không ban hành văn bản giải quyết theo đúngquy định, thì VKS yêu cầu cơ quan tư pháp ra văn bản giải quyết;
- Trường hợp qua nghiên cứu đơn khiếu nại, tố cáo và các tài liệu, chứng
cứ do công dân gửi đến mà đủ căn cứ kết luận cơ quan có thẩm quyền không ravăn bản giải quyết trong thời hạn quy định, thì VKS áp dụng ngay biện pháp yêucầu này mà không phải thực hiện việc chuyển đơn khiếu nại, tố cáo đến cơ quan
đó nữa
Trường hợp VKS nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, thì chưa
áp dụng ngay biện pháp này, mà phải kiểm tra, rà soát Nếu VKS đã nắm đượckết quả giải quyết của cơ quan tư pháp, thì chỉ thông báo cho cơ quan có thẩmquyền đã yêu cầu, mà không áp dụng biện pháp này nữa; nếu VKS chưa nắmđược việc khiếu nại, tố cáo mà cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, thì áp dụng biệnpháp này
Cơ quan được yêu cầu có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của VKS trongthời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu Trường hợp gặp trở ngại kháchquan cần có thêm thời gian thì phải có văn bản thông báo lý do cho VKS biết,thì thời hạn là 15 ngày
1.2.2 Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo của cấp mình, cấp dưới và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát.
VKS thực hiện biện pháp kiểm sát này khi có một trong những trườnghợp sau:
- Trường hợp nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền thì xử lýtương tự như việc áp dụng biện pháp yêu cầu ra văn bản giải quyết, cụ thể phảikiểm tra, rà soát, nếu VKS đã nắm được kết quả giải quyết của cơ quan tư pháp,
Trang 12thì chỉ thông báo cho cơ quan có thẩm quyền đã yêu cầu, mà không áp dụngbiện pháp này nữa; nếu VKS chưa nắm được kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo
mà cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, thì áp dụng biện pháp này
- Khi có cơ sở xác định dấu hiệu vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tốcáo, tức là chưa đủ căn cứ kết luận vi phạm, thì áp dụng biện pháp này; sau khinhận được thông báo kết quả kiểm tra việc giải quyết của cơ quan tư pháp vànghiên cứu, nếu chưa đủ căn cứ kết luận vi phạm thì tiếp tục áp dụng biện phápkiểm sát cần thiết khác để làm rõ vi phạm; nếu đã có căn cứ kết luận vi phạm thìban hành kiến nghị theo quy định hoặc có thể tiếp tục áp dụng biện pháp kiểmsát khác để mở rộng phạm vi phát hiện vi phạm, khi xét thấy cần thiết; nếukhông có căn cứ kết luận vi phạm thì chỉ thông báo kết quả kiểm sát cho cánhân, cơ quan, tổ chức đã gửi khiếu nại, tố cáo đến VKS hoặc cơ quan có thẩmquyền đã yêu cầu VKS áp dụng biện pháp này
- Khi có căn cứ kết luận vi phạm, nếu thấy chưa cần thiết phải ban hànhkiến nghị, VKS vẫn có thể áp dụng biện pháp yêu cầu kiểm tra việc giải quyếtvới mục đích để cơ quan tư pháp tự phát hiện và khắc phục vi phạm
Cơ quan được yêu cầu có trách nhiệm thông báo kết quả kiểm tra choVKS trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu Trường hợp gặp trởngại khách quan cần có thêm thời gian thì phải có văn bản thông báo lý do choVKS biết, thì thời hạn là 30 ngày
1.2.3 Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát.
Biện pháp này chỉ áp dụng khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáotrong TTHS, THAHS, THADS và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại đối vớihành vi của người có thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc áp dụng biệnpháp xử lý hành chính Đối với lĩnh vực TTDS và TTHC, theo hướng dẫn củaThông tư liên tịch số 03, số 04 ngày 1/8/2012 của TANDTC và VKSNDTC thìVKSND không được áp dụng biện pháp này Đến 1/7/2015, BLTTDS và LuậtTTHC mới có hiệu lực thi hành, nhưng liên ngành tư pháp Trung ương chưa có