Mời các bạn cùng tham khảo Bài giảng Kinh tế vĩ mô - Bài 5: Mô hình tổng cầu và tổng cung để nắm chi tiết nội dung phân tích và xây dựng đường IS; xây dựng đường LM; đánh giá cơ chế tác động của sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.
Trang 1Bài 5 MÔ HÌNH TỔNG CẦU VÀ TỔNG CUNG
Phân tích được hệ thống kinh tế vĩ mô được đặc trưng bởi tổng cầu, tổng cung và hộp đen kinh tế vĩ mô
Trình bày được mô hình IS-LM, mô hình
AD-AS và vận dụng các mô hình đó vào phân tích kinh tế vĩ mô
Phân tích và đánh giá được các cú sốc của tổng cung và tổng cẩu trong ngắn hạn và dài hạn; xem xét tác động của nó như thế nào đến sản lượng, giá cả, và việc làm của nền kinh tế
Hướng dẫn học
Trong bài này, người học sẽ được tiếp cận
các nội dung:
Phân tích và xây dựng đường IS
Phân tích và xây dựng đường LM
Đánh giá cơ chế tác động của sự phối
hợp giữa chính sách tài khóa và chính
sách tiền tệ
Để học tốt bài này sinh viên cần:
Sinh viên nên đọc kỹ nguồn tài liệu tham khảo để chọn ra những tài liệu tham khảo hữu ích nhất cho mình
Xem các nguồn tài liệu và thứ tự tài liệu được cung cấp cho môn học này để biết được trình
tự học tập
Trong bài này, chúng ta giả định rằng mô hình IS-LM được phân tích trong điều kiện tỷ giá hối đoái không tác động đến các biến số kinh tế vĩ mô khác và luồng tư bản vận động hoàn toàn tự do
Trang 2rong giai đoạn 2007-2008 lạm phát xảy ra với tỷ lệ cao, lạm phát 2 con số, Chính phủ Việt Nam đã sử dụng chính sách tài khóa thắt chặt và chính sách tiền tệ thắt chặt đề kiềm chế lạm phát bằng việc cắt giảm chi tiêu của Chính phủ, tăng lãi suất cơ bản,… Các chính sách này đã đem lại hiệu quả tích cực cho nền kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng CPI giảm, giá cả của nhiều loại mặt hàng ổn định, đời sống của các hộ gia đình bớt khó khăn hơn
Như vậy, vai trò của Chính phủ trong việc sử dụng các công cụ thuế và chi tiêu của Chính phủ trong chính sách kinh tế vĩ mô là gì? Chính sách tài khóa có thể sẽ làm giảm sự giao động của chu kỳ kinh doanh không? Chính sách tài khóa có ảnh hưởng như thế nào đến tổng cung? Tại sao nhiều người lại thích giữ tiền? Lượng cung tiền trong nền kinh tế ánh hưởng như thế nào đến cơ hội tìm kiếm việc làm, khả năng chi trả một chiếc ô tô mới, lãi suất của các khoản vay? Chính phủ sẽ sử dụng chính sách tiền tệ để điều tiết giá cả, công ăn việc làm, và sản lượng của nền kinh
tế như thế nào? Tất cả các câu hỏi nêu trên đều được giải đáp cụ thể trong bài này
Mô hình IS-LM mà chúng ta phân tích trong bài này giả định mức giá không đổi và chỉ ra nguyên nhân làm cho thu nhập thay đổi Mô hình IS-LM cho biết nguyên nhân làm cho đường tổng cầu dịch chuyển Hai bộ phận của mô hình chính là đường IS và đường LM Ký hiệu IS để chỉ “đầu tư” và “tiết kiệm” Đường IS biểu thị thị trường hàng hóa và dịch vụ mà chúng ta đã phân tích ở bài 3 Ký hiệu LM để chỉ “tính thanh khoản” và “tiền” Đường LM biểu thị cung cầu
về tiền mà chúng ta đã phân tích ở bài 4 Vì lãi suất tác động đến cả đầu tư và nhu cầu về tiền, nên chính nó liên kết các bộ phận của mô hình IS-LM lại với nhau Mô hình này chỉ rõ phương thức xác định tổng cầu thông qua tác động qua lại giữa các thị trường Để hiểu hết vai trò của mô hình IS – LM trước hết chúng ta hãy xem xét thị trường hàng hóa, hay bộ phận IS của mô hình, sau đó sẽ xem xét thị trường tiền tệ hay bộ phận LM và cuối cùng ghép hai bộ phận lại với nhau
để hoàn chỉnh mô hình Mô hình IS – LM nắm bắt được nhiều tư tưởng của Keynes hơn mô hình
số nhân chi tiêu vì nó đưa thêm thị trường tiền tệ và thị trường hàng hóa vào và coi đầu tư là biến nội sinh
Khủng hoảng kinh tế thế giới đã, đang và sẽ ảnh hưởng đến nhiều quốc gia trên thế giới Có nhiều quốc gia sẽ bị ảnh hưởng rất nặng nề, có thể mất thời gian rất dài mới khôi phục lại nền kinh tế được Hầu như, các nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế là do các “cú sốc cung” hoặc
“cú sốc cầu” Vậy, cú sốc cung và cú sốc cầu là gì? Nguyên nhân xảy ra? Làm thế nào để hạn chế đến mức thấp nhất các cú sốc cung và cầu? Sau khi nghiên cứu bài học này, chúng ta sẽ có thể trả lời và giải thích được những câu hỏi này
Hiện nay, phần lớn các nhà kinh tế đều dựa vào mô hình tổng cầu và tổng cung để phân tích các tác động của các chính sách vĩ mô đến sản lượng, giá cả, công ăn việc làm, của nền kinh tế Hiểu mô hình và biết cách vận dụng mô hình này để phân tích ảnh hưởng của các cú sốc và chính sách của Chính phủ là rất quan trọng đối với các nhà kinh tế
5.1 Mô hình IS-LM trong nền kinh tế đóng
Mô hình IS-LM nắm bắt được nhiều tư tưởng của Keynes hơn mô hình số nhân chi tiêu
vì nó đưa thêm thị trường tiền tệ và thị trường hàng hóa hay thị trường sản phẩm vào và coi đầu tư là biến nội sinh Thuật ngữ IS-LM được phổ thông hóa bởi Hansen (1949), nhưng kỹ thuật mà chúng ta sử dụng hiện nay xuất phát từ một bài báo do Hicks (1937) xuất bản vài tháng sau khi xuất bản cuốn Lý thuyết tổng quát và ngày nay đã trở thành một bản tóm tắt chuẩn của nó Dĩ nhiên, chính Keynes đã viết cho Hicks rằng ông “cảm thấy nó rất thú vị và thực sự không có gì đáng phê phán cả”
T
Trang 3Để hiểu hết vai trò của mô hình IS-LM trong nền kinh tế đòng, trước hết chúng ta hãy xem xét thị trường hàng hóa, hay bộ phận IS của mô hình, sau đó sẽ xem xét thị trường tiền tệ hay bộ phận LM và cuối cùng ghép hai bộ phận lại với nhau để hoàn chỉnh mô hình
5.1.1 Đường IS và các yếu tố tác động đến đường IS
a Thiết lập đường IS và độ dốc của đường IS
Xây dựng đường IS
Thị trường hàng hóa cân bằng khi tổng cầu bằng thu nhập tương ứng với một mức lãi suất cho trước Khi lãi suất thay đổi đường tổng cầu sẽ dịch chuyển và cho một mức thu nhập cân bằng mới Như vậy, nếu tập hợp những tổ hợp khác nhau giữa lãi suất
và thu nhập phù hợp với sự cân bằng của thị trường hàng hóa sẽ được một đường gọi
là đường IS Trạng thái cân bằng trên thị trường hàng hóa có nghĩa là, nếu một mức sản lượng nhất định, ví dụ Y1, được sản xuất ra, thì khi đó lãi suất cũng cần phải được duy trì ở một mức nhất định, ví dụ mức lãi suất là r1 Như vậy, khái niệm cân bằng của thị trường hàng hóa không hoàn toàn giống khái niệm thông thường của kinh tế vi mô về giao điểm của đường cung và cầu
Trong điều kiện có giả định đơn giản hóa là chi tiêu của Chính phủ và các khoản thu
về thuế độc lập với mức thu nhập, chúng ta dễ dàng chỉ ra rằng, vị trí của đường IS tùy thuộc vào mức chi tiêu của Chính phủ và thuế Sự tăng lên (hay giảm xuống) của
G đẩy đường IS về phía phải so với đường gốc (hay phía trái, hướng tới điểm gốc),
vì nó làm tăng (hay giảm) các khoản chi tiêu dự kiến chuyển thành nhu cầu tại bất kỳ mức lãi suất nào và do đó, đòi hỏi mức thu nhập cao hơn (hay thấp hơn) để duy trì sự cân bằng giữa các khoản rút ra dự kiến chuyển thành nhu cầu
Ở mức lãi suất r1 tổng chi tiêu là AE1 sản lượng cân bằng là Y1, điểm cân bằng trên thị trường hàng hóa là E1 Từ đó ta xác định được điểm E1’ có tọa độ (r1,Y1) Giả sử lãi suất giảm xuống mức r2 khi đó đầu tư tăng thêm một lượng là I, tổng chi tiêu của nền
Trang 4kinh tế tăng lên từ AE1 đến AE2, sản lượng cân bằng của nền kinh tế tăng từ Y1 đến
Y2 Từ đó ta xác định được E2’ có tọa độ (r2,Y2) Đường đi qua 2 điểm E0’ và E0’ chính
là đường IS
Đường IS dốc xuống, có độ dốc âm
Đối với sự cân bằng của thị trường hàng hóa, lãi suất cao hơn sẽ kéo theo mức thu nhập thấp hơn do đường cầu phải thấp hơn Độ dốc của đường IS sẽ phụ thuộc vào
độ nhạy cảm của nhu cầu đầu tư và nhu cầu tiêu dùng tự định đối với lãi suất Nhu cầu đầu tư và nhu cầu tiêu dùng tự định càng bị giảm xuống do lãi suất tăng, khi lãi suất tăng sẽ càng làm giảm mức thu nhập cân bằng và độ dốc của đường IS càng thoải Ngược lại, nếu những thay đổi trong lãi suất chỉ đưa đến những dịch chuyển nhỏ của đường tổng cầu, mức thu nhập cân bằng sẽ hầu như không bị ảnh hưởng gì,
Như vậy, đường IS là quỹ tích của các kết hợp giữa mức sản lượng Y và mức lãi suất
r, và bất kỳ điểm nào trên đó cũng làm cho thị trường hàng hóa cân bằng, nhưng nó không chỉ ra điểm nào trong những kết hợp trên tạo ra trạng thái cân bằng chung của nền kinh tế Để tìm được mức sản lượng và lãi suất cho trạng thái cân bằng chung, chúng ta còn phải xem xét thị trường tiền tệ Khác với mô hình cổ điển thuần túy, ở đây không có sự phân đôi giữa thị trường hàng hóa và thị trường tt Trong mô hình IS-LM của Keynes, giá trị của các biến số thực tế, ví dụ thu nhập, phụ thuộc vào cung ứng tiền tệ
b Các điểm nằm ngoài đường IS
Chúng ta sẽ dễ dàng hiểu được tại sao biện pháp cắt giảm (hay tăng) thuế đẩy đường IS sang phải (hay sang trái) và rằng các điểm nằm ngoài đường IS về bên phải là điểm biểu thị tình trạng dư cung về hàng hóa (các khoản rút ra dự kiến vượt quá các khoản dự kiến chuyển thành nhu cầu), còn các điểm nằm ngoài đường IS về phía trái biểu thị tình trạng
dư cầu về hàng hóa (các khoản dự kiến chuyển thành nhu cầu vượt quá các khoản rút ra
dự kiến) Khi hiểu được điều này, chúng ta cũng dễ dàng hiểu được những ảnh hưởng của thuế tới sự thay đổi của đường IS
Trang 5Hình 5.2 Các điểm nằm ngoài đường IS
Dựa vào đồ thị chúng ta nhận thấy, điểm E3 trên thị trường hàng hóa biểu thị chi tiêu vượt quá thu nhập Đối với thị trường hàng hóa, đây là hiện tượng thiếu hàng Như vậy, các điểm nằm dưới đường IS biểu thị tình trạng thiếu hàng (dư cầu), các điểm nằm phía trên (bên ngoài) đường IS biểu thị tình trạng thừa hàng (dư cung)
c Sự trượt dọc và dịch chuyển đường IS
Đường IS là quỹ tích của tất cả các kết hợp giá trị thu nhập và lãi suất mà tại đó, tiết kiệm dự kiến bằng đầu tư dự kiến Chúng ta xuất phát từ trạng thái cân bằng ban đâu của nền kinh tế, thị trường các khoản vay cân bằng (đầu tư bằng tiết kiệm), xác định mức lãi suất cân bằng là r1 và mức thu nhập của nền kinh tế là Y1 Nếu tiết kiệm dự kiến giảm xuống cùng với thu nhập, chắc chắn lãi suất sẽ tăng lên và làm mức đầu tư dự kiến nhỏ hơn, nhằm duy trì trạng thái cân bằng, tại đó tiết kiệm dự kiến bằng đầu tư dự kiến Mức lãi suất cân bằng mới là r2 và mức thu nhập cân bằng mới là Y2, xảy ra hiện tượng di chuyển từ điểm E1 đến điểm E2 trên đường IS Ngược lại, nếu lãi suất là r2 và mức thu nhập là Y2, thì khi đó đầu tư dự kiến sẽ bằng tiết kiệm dự kiến; lãi suất giảm xuống r1 thì mức thu nhập sẽ tăng lên Y1, xảy ra hiện tượng di chuyển (hay còn gọi là trượt dọc theo đường IS) các điểm trên đường IS từ E2 xuống E1
Trang 6Hình 5.3 Sự di chuyển các điểm trên đường IS
Sự dịch chuyển của đường IS: Với một mức lãi suất nhất định, sự gia tăng niềm lạc quan của các hãng về những khoản lợi nhuận trong tương lai sẽ dịch chuyển đường nhu cầu đầu tư đi lên, làm tăng nhu cầu đầu tư tự định; sự gia tăng trong ước tính của các hộ gia đình về thu nhập trong tương lai sẽ dịch chuyển hàm tiêu dùng lên trên, làm tăng nhu cầu tự định; hay sự gia tăng trong chi tiêu của Chính phủ có thể trực tiếp làm tăng cấu phần của Chính phủ trong nhu cầu tự định Bất kỳ sự gia tăng nào như thế này cũng sẽ dịch chuyển đường tổng cầu lên trên tại một mức lãi suất nhất định Do đó khoản thu nhập cân bằng sẽ tăng thêm ở bất kỳ lãi suất nào
Hình 5.3 Chi tiêu của Chính phủ tăng lên đường IS dịch chuyển sang phải
Hình 5.4 chỉ rõ sự gia tăng chi tiêu của Chính phủ G1 đến G2 trong điều kiện lãi suất không đổi r1 Tổng chi tiêu của nền kinh tế tăng lên từ AE1 đến AE2, thu nhập của nền kinh tế tăng lên từ Y1 đến Y2, dẫn tới đường IS dịch chuyển từ IS1 đến IS2 Chúng ta có thể phân tích sự dịch chuyển của đường IS qua phương trình đường IS:
Trang 7Khi giá trị các khoản chi tiêu tự định (không phụ thuộc vào thu nhập) A
d thay đổi sẽ làm
cho đường IS dịch chuyển sang vị trí mới
5.1.2 Đường LM và các yếu tố tác động đến đường LM
a Thiết lập đường LM và độ dốc của đường LM
Khái niệm: Đường LM là đường bao gồm tập hợp tất cả các điểm phản ánh mối quan hệ giữa lãi suất và thu nhập khi thị trường tiền tệ cân bằng
Cách xây dựng đường LM:
Giả sử rằng mức cung tiền cố định tại 1
1
MMS
1
M P
Khi thu nhập tăng đến Y2, đường cầu tiền dịch chuyển lên MD(r, Y2) với điểm cân bằng
E2 có lãi suất cân bằng r2 Từ đó có thể xác định điểm E2’ của tổ hợp (r2, Y2) Đường đi qua hai điểm E1’, E2’ trên đồ thị là đường LM Đường LM có độ dốc dương, điều đó chứng tỏ khi thu nhập Y tăng thì lãi suất r tăng và ngược lại Đường LM phản ánh mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa thu nhập và lãi suất
P là cung tiền thực tế; h là độ nhạy cảm của cầu tiền với lãi suất; k là độ
nhạy cảm của cầu tiền và thu nhập
Trang 8Giá trị độ dốc của đường LM là k
h Do đó, khi
k
h tăng lên đường LM sẽ trở nên dốc
hơn và ngược lại Điều này có nghĩa là, nếu độ nhạy cảm của cầu tiền với lãi suất (h) càng lớn thì đường LM càng thoải và ngược lại; nếu độ nhạy cảm của cầu tiền và thu nhập (k) càng lớn thì đường LM càng dốc và ngược lại Phân tích độ dốc của đường LM cho chúng ta biết được mức độ tác động của chính sách tài khóa hoặc chính sách tiền tệ đến thu nhập, lãi suất, thất nghiệp, lạm phát trong nền kinh tế như thế nào
b Các điểm nằm ngoài đường LM
Thị trường tiền tệ ban đầu cân bằng tại điểm E1, khi thu nhập tăng, cầu tiền tăng, lãi suất cân bằng trên thị trường tiền tệ tăng từ r1 đến r2, chúng ta xây dựng được đường LM Đường LM là một tập hợp các điểm biểu thị mối quan hệ giữa thu nhập và lãi suất khi thị trường tiền tệ cân bằng Các điểm nằm phía trên đường LM, ví dụ như điểm E3, biểu thị trạng thái dư cung tiền Các điểm nằm phía dưới đường LM, ví dụ như điểm E4, biểu thị trạng thái dư cầu tiền tệ
MS
Hình 5.5 Các điểm nằm ngoài đường LM
c Sự trượt dọc và dịch chuyển đường LM
Khi thu nhập tăng lên đòi hỏi một lượng cầu tiền tăng thêm dẫn đến tăng lãi suất do cung tiền không đổi Như vậy, khi thu nhập thay đổi, xảy ra hiện tượng di chuyển (trượt dọc) các điểm trên đường LM Khi thu nhập tăng lên từ Y1 đến Y2, cầu tiền tăng, lãi suất cân bằng trên thị trường tiền tệ tăng từ r1 đến r2, đường LM không thay đổi vị trí, xảy ra hiện tượng di chuyển từ điểm E1 đến E2 trên đường LM
Trang 9Hình 5.6 Sự di chuyển các điểm trên đường LM
Đường LM có độ dốc nghiêng đi lên bởi khi thu nhập tăng, lãi suất phải tăng theo để giảm bớt cầu tiền nhằm duy trì sự cân bằng của thị trường tiền tệ khi cung tiền không đổi Khi cầu tiền nhạy cảm với thu nhập và kém nhạy cảm với lãi suất thì đường LM sẽ rất dốc Nếu mức cung tiền giảm xuống, đường LM sẽ dịch chuyển sang trái
Hình 5.7 Sự dịch chuyển đường LM khi cung tiền thay đổi
Hình 5.8 minh họa trường hợp cung tiền giảm (Ví dụ: giả sử ngân hàng trung ương tăng
tỷ lệ dự trữ bắt buộc), đường cung tiền dịch chuyển từ MS1 đến MS2, ứng với mức thu nhập không đổi Y1 Lãi suất cân bằng trên thị trường tiền tệ tăng lên từ r1 đến r2, đường
LM dịch chuyển sang trái từ LM1 đến LM2
5.1.3 Phân tích chính sách dựa trên mô hình IS-LM
a Cân bằng đồng thời hai thị trường hàng hoá và tiền tệ
Đường IS phản ánh các trạng thái cân bằng của thị trường hàng hóa với các tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập Đường LM phản ánh các trạng thái cân bằng của thị trường tiền tệ cũng của những tổ hợp này Tác động qua lại giữa hai thị trường ấn định mức lãi suất và thu nhập cân bằng đồng thời cho cả hai thị trường tại (r0, Y0)
Trang 10Hình 5.8 Trạng thái cân bằng đồng thời trên cả thị trường hàng hóa và tiền tệ
Nhìn vào hình 5.10, giả sử mức lãi suất tại r1, ta có mức thu nhập Y1 trên đường IS Tổ hợp (r1, Y1) đưa đến sự cân bằng của thị trường hàng hóa Song, với mức lãi suất r1 thì cần phải có mức thu nhập Y1’ cho sự cân bằng của thị trường tiền tệ Với mức lãi suất r1, mức thu nhập Y1 là quá thấp đối với sự cân bằng của thị trường tiền tệ Nhu cầu về tiền trở nên thấp hơn lượng cung ứng tiền sẵn có Khi lượng cung ứng tiến quá cao, lãi suất
sẽ giảm Quá trình này cứ tiếp diễn cho tới lúc lãi suất giảm xuống tới r0 Tại mức này, tổng cầu và tổng thu nhập đã tăng lên đủ mức làm cho nhu cầu về tiền tăng đủ để dẫn tới
sự cân bằng trên cả hai thị trường
Hình 5.9 Cân bằng đồng thời trên cả thị trường hàng hóa và tiền tệ
Ngược lại, với mức lãi suất r2, mức thu nhập Y2’ cần thiết cho thị trường hàng hóa cân bằng là lớn hơn mức thu nhập Y2 cần thiết để thị trường tiền tệ cân bằng Khi thu nhập quá cao đối với sự cân bằng của thị trường tiền tệ, nhu cầu về tiền sẽ quá cao và đẩy lãi suất lên Tiến trình này tiếp diễn đến khi đạt mức lãi suất r0, thu nhập Y0 thì cả hai thị trường đều cân bằng
Trang 11b Tác động của chính sách tài khóa
Trong nền kinh tế đóng, giả sử chính phủ sử dụng chính sách tài khóa mở rộng, bằng việc tăng chi tiêu của Chính phủ thêm một lượng là G, khi đó tổng chi tiêu của nền kinh tế tăng, tổng cầu tăng, đường IS dịch chuyển sang phải từ IS1 đến IS2 (xem hình 5.11) Nếu lãi suất không đổi là r1, sản lượng cân bằng sẽ tăng lên là Y3 Tuy nhiên, lãi suất trong trường hợp này sẽ tăng lên từ r1 đến r2, lượng cầu đầu tư sẽ giảm, tổng cầu tăng thêmmột lượng là
Trang 12Hình 5.11 Chính sách tiền tệ mở rộng, đường LM dịch chuyển sang phải
Như vậy, chính sách tiền tệ mở rộng trong nền kinh tế đóng làm tăng đầu tư, tăng thu nhập của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
d Sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Trong nền kinh tế đóng, sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tùy thuộc vào các công cụ mà Chính phủ đưa ra, phụ thuộc vào độ dốc của đường IS và đường LM, đồng thời phụ thuộc vào mức độ phản ứng, mức độ tác động của hai chính sách này Chúng ta có thể xem xét một số trường hợp sau:
Khi Chính phủ sử dụng chính sách tài khóa lỏng (tăng chi tiêu, giảm thuế) thì tổng cầu sẽ tăng lên, đường IS sẽ dịch chuyển sang phải từ IS1 đến IS2 (xem hình 5.13), nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng tại E1 Kết quả là lãi suất tăng từ r0 đến r1, sản lượng cân bằng tăng từ Y0 đến Y1 Do lãi suất tăng, đầu tư giảm, xảy ra hiện tượng tháo lui đầu tư
Hình 5.12 Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ mở rộng
Để tránh được hiện tượng tháo lui đầu tư phải kết hợp chính sách tiền tệ lỏng Chính sách tiền tệ lỏng: đó là việc Chính phủ tăng mức cung tiền và duy trì mức lãi suất r0,
Trang 13đường LM dịch chuyển sang phải từ LM1 đến LM2 nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới tại E2, lúc này lãi suất giảm từ r1 về mức lãi suất ban đầu r0, sản lượng cân bằng tăng từ Y1 đến Y2 Kết quả của việc phối hợp hai chính sách là: thu nhập tăng nhanh từ Y0 đến Y2 và ổn định được lãi suất
Chính sách tài khóa chặt (chính sách tài khóa thắt chặt) là chính sách sử dụng nhằm tăng thuế T, giảm chi tiêu G để giảm tổng cầu AD và thu hẹp phạm vi phát triển của nền kinh tế
Hình 5.13 Chính sách tài khóa và tiền tệ thắt chặt
Chính sách tiền tệ chặt (chính sách tiền tệ thắt chặt) sử dụng nhằm giảm mức cung tiền MS, tăng lãi suất r để giảm tổng cầu, giảm sản lượng cân bằng Y Khi Nhà nước
sử dụng chính sách tài khóa chặt đường IS sẽ dịch chuyển sang trái, IS giảm từ IS1đến IS2 nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới, sản lượng cân bằng giảm từ Y0 đến
Y1, lãi suất giảm từ r0 đến r1 (xem hình 5.14) Để kìm hãm bớt tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tránh nền kinh tế rơi vào tình trạng quá nóng, Nhà nước có thể phối hợp với chính sách tiền tệ thắt chặt Nhà nước giảm mức cung tiền, tăng lãi suất thực tế r, đường LM sẽ dịch chuyển sang trái LM giảm từ LM1 đến LM2 Nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới là E2, lãi suất tăng từ r1 đến r0, sản lượng giảm từ Y1 đến Y2 Kết quả của việc phối hợp hai chính sách đã làm cho sản lượng giảm nhanh, lãi suất r không thay đổi, tránh được nền kinh tế rơi vào trạng thái tăng trưởng quá nóng
Để tăng tốc độ phát triển kinh tế, tăng sản lượng cân bằng Y của nền kinh tế, Chính phủ phải sử dụng chính sách tài khóa lỏng (tăng G, giảm T), đường IS dịch chuyển từ
IS0 đến IS1, điểm cân bằng mới là E1, lãi suất tăng, sản lượng cân bằng tăng nhanh từ
Y0 đến Y1 (xem hình 5.15)
Trang 14Hình 5.14 Chính sách tài khóa lỏng và chính sách tiền tệ chặt
Nền kinh tế tăng trưởng quá nhanh, lạm phát cao Nhà nước cần sử dụng chính sách tiền tệ chặt, để hỗ trợ cho chính sách tài khóa lỏng Nền kinh tế đang đạt trạng thái cân bằng tại điểm E1 Khi sử dụng chính sách tiền tệ chặt, mức cung tiền giảm, lãi suất tăng, đầu tư có
xu hướng giảm, nền kinh tế chuyển sang trạng thái cân bằng mới tại E2, lãi suất tăng từ r1
r2, sản lượng cân bằng giảm từ Y1 Y2 Kết quả của việc phối hợp hai chính sách là làm cho sản lượng tăng lên ở mức độ hợp lý, đạt được tốc độ tăng trưởng dài hạn, không gây lạm phát cao: sản lượng cân bằng tăng từ Y0 Y2, lãi suất tăng từ r0 r2
5.2.1 Xây dựng đường tổng cầu dựa trên mô hình IS-LM
Tổng cầu là tổng chi tiêu hàng hóa và dịch vụ của một nước Trong một nền kinh tế đóng, tổng cầu bao gồm ba bộ phận cấu thành: Tiêu dùng của các hộ gia đình (C), đầu tư của các doanh nghiệp (I) và chi mua hàng của Chính phủ (G) Khi thu nhập thực tế bằng chi tiêu dự kiến thì tổng cầu của nền kinh tế được xác định bằng:
ADAEC I G
Đường tổng cầu trong mô hình Cổ điển được thiết lập trên cơ sở lý thuyết số lượng tiền tệ Nó biểu thị mối quan hệ giữa mức cầu về sản lượng thực tế Y và mức giá P, được xác định bởi phương trình:
M VY
P
Trong đó: M là khối lượng tiền tệ danh nghĩa; V là tốc độ lưu thông của tiền
So với lý thuyết số lượng, mô hình IS – LM là một mô hình phức tạp hơn về tổng cầu Nhìn chung, mô hình IS – LM cho phép cả chính sách tài chính và tiền tệ đều có một vai trò trong việc xác định tổng cầu, mặc dù những trường hợp đặc biệt của mô hình IS – LM cũng tạo ra những trường hợp đặc biệt của đường tổng cầu, trong đó, tùy từng trường hợp đặc biệt, mà chính sách tài chính hoặc chính sách tiền tệ không
có tác dụng làm thay đổi mức tổng cầu Đường tổng cầu được rút ra từ mô hình IS –
LM cho thấy mối quan hệ giữa mức tổng cầu thực tế và mức giá
Trang 15Chúng ta có thể thiết lập đường tổng cầu như sau:
Hình 5.15 Đường tổng cầu (I) IS – LM (II) AD
Khi mức giá thấp hơn, ví dụ bằng P1, khối lượng tiền tệ thực tế lớn hơn, làm cho lãi suất giảm xuống (r1) và mức thu nhập cao hơn (Y1) Đồ thị 5.16 (II) ghi các điểm phản ánh mức giá tương ứng với các mức thu nhập được tạo ra trong phần (I), nhờ việc xác định các giao điểm của đường LM và IS
Chúng ta đã chỉ ra rằng, đường LM dịch chuyển khi có những thay đổi trong cung ứng tiền tệ thực tế Cho đến nay, những thay đổi này là do sự thay đổi trong cung ứng tiền tệ danh nghĩa gây ra, vì giá cả được cố định ở một mức giá nhất định Tuy nhiên, những thay đổi trong mức giá cũng làm thay đổi cung ứng tiền tệ thực tế và làm dịch chuyển đường LM, cho dù khối lượng tiền tệ danh nghĩa vẫn như cũ Khi mức giá tăng lên, khối lượng tiền tệ thực tế giảm và đường LM dịch chuyển sang trái Hình 5.16 minh họa cho lập luận này Ba đường LM trong phần (I) đều được vẽ cho cùng một khối lượng tiền tệ danh nghĩa, nhưng với mức giá khác nhau là P0, P1
và P2 Vị trí của đường IS không phụ thuộc vào mức giá, bởi vì như chúng ta đã thấy, các yếu tố quy định mối liên hệ IS đều là những biến số thực tế, không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của giá cả
Vị trí của đường LM trong phần (I) rõ ràng phụ thuộc vào mức giá Mức giá càng cao, đường LM càng dịch chuyển về phía trái, bởi vậy lãi suất càng cao và mức thu nhập thực tế càng thấp Chúng ta có thể khẳng định điều này khi quan sát giao điểm của các đường LM với đường IS là r0 và Y0 Khi mức giá thấp hơn, ví dụ bằng P1, khối lượng tiền tệ thực tế lớn hơn, làm cho lãi suất giảm xuống tới mức r1 và mức thu nhập tăng lên mức Y1 Hình 5.16 (II) ghi các điểm phản ánh mức giá tương ứng với các mức thu nhập được tạo ra trong phần (I), nhờ việc xác định các giao điểm của
Trang 16đường LM và IS Đường tổng cầu AD cho thấy rằng, đối với một đường IS và khối lượng tiền tệ danh nghĩa cho trước, khi có một mức giá nhất định, ví dụ P0, mức tổng cầu do mô hình IS – LM tạo ra cũng là một giá trị nhất định, ví dụ như Y0
Mô hình IS – LM còn được dùng để xác định lãi suất, ví dụ như lãi suất r0 trong trường hợp P0 và Y0 Chú ý rằng, trong khi chúng ta diễn giải đường tổng cầu Cổ điển bằng cách nói “nếu giá cả là P0 tổng cầu sẽ bằng Y0”, mà không cần nhắc đến đường tổng cung, thì đường tổng cầu của Keynes hay đường tổng cầu được thiết lập trên cơ sở mô hình IS – LM phải được diễn giải một cách chặt chẽ bằng cách nói rằng, “nếu giá cả là P0 và tổng cung là Y0, tổng cầu sẽ bằng Y0” Việc nhắc tới đường tổng cung là rất cần thiết, bởi vì đường AD của Keynes phụ thuộc vào giao điểm của
IS và LM, trong đó, đường IS biểu thị trạng thái cân bằng của thị trường hàng hóa Đương nhiên, chúng ta không thể nói nếu giá cả là P0, tổng cung sẽ chỉ bằng Y0 mà không cần biết tới đường tổng cung Phần sau đây sẽ chỉ ra cách thức phát huy ảnh hưởng đối với đường tổng cầu của chính sách tài chính và tiền tệ, trước khi hoàn chỉnh mô hình theo cách này
5.2.2 Chính sách tài khóa và đường tổng cầu
Hình dạng và vị trí của đường AD phụ thuộc vào những yếu tố làm cơ sở cho đường IS
và LM Bởi vậy, bất cứ sự thay đổi nào trong các yếu tố tác động tới đường IS và LM cũng ảnh hưởng tới đường AD Ví dụ, bất kỳ sự gia tăng nào trong mức chi tiêu thực tế của Chính phủ được tài trợ bằng trái phiếu mà làm dịch chuyển đường IS về phía phải, thì cũng làm cho đường AD dịch chuyển về phía phải (hình 5.17)
Hình 5.16 Chính sách tài khóa và đường AD: (I) IS – LM (II) AD
Trang 17 Tác động của chính sách tài khóa mở rộng là làm tăng tổng cầu, khi đó đường IS dịch chuyển từ IS IS’, đường tổng cầu dịch chuyển từ AD AD’
Hình 5.17 miêu tả hai đường IS là IS và IS’, trong đó mức chi tiêu thực tế của Chính phủ được tài trợ bằng trái phiếu cao hơn trong trường hợp của đường IS Cách vẽ đường AD cho thấy, đường AD’ tương ứng với IS nằm đâu đó ở phía phải của một đường IS nào đó Chúng ta có thể hiểu được điều này bằng trực giác: Mức chi tiêu thực tế của Chính phủ được tài trợ bằng trái phiếu càng cao, mức tổng cầu thực tế cũng càng cao tại mọi mức giá
5.2.3 Chính sách tiền tệ và đường tổng cầu
Tương tự như vậy, sự gia tăng trong khối lượng tiền tệ danh nghĩa – điều làm cho đường
LM dịch chuyển về phía phải đối với mọi mức giá – cũng làm cho đường AD dịch chuyển về phía phải
Hình 5.17 Chính sách tài khóa và đường AD: (I) IS – LM (II) AD
Chính sách tiền tệ mở rộng (lỏng) làm tăng cung tiền thêm một lượng là M (hình 5.18) Với mức giá không đổi là P0, đường tổng cầu sẽ dịch chuyển từ AD → AD’; làm sản lượng cân bằng tăng từ Y0 →Y1
Hình 6.4 vẽ hai đường LM cho mức giá P0, nhưng ở đây, khối lượng tiền tệ danh nghĩa tăng thêm một lượng bằng ΔMtrong trường hợp đường LM’ Chúng ta có thể thấy rằng, khi mức giá bằng P0, tổng cầu sẽ bằng Y0 với điều kiện đường IS cho trước và khối lượng tiền tệ danh nghĩa bằng M0, nhưng cao hơn (bằng Y1) khi khối lượng tiền tệ danh nghĩa cao hơn (bằng M0 M) Hình 5.18 (II) chỉ ra rằng, nếu khối lượng tiền tệ danh nghĩa cao hơn, điểm nằm ngang trên đường AD’ tại mức giá P0 sẽ ở bên phải điểm nằm trên đường AD tại mức giá đó Tương tự như vậy, đối với tất cả các mức giá khác, các điểm trên đường AD’ đều nằm bên phải của các điểm tương ứng trên đường AD, như được chỉ ra trong hình vẽ
Trang 18Bây giờ, chúng ta đã thấy rõ rằng mô hình IS – LM thực sự là mô hình về tổng cầu trong điều kiện có giả định giá cả cố định và đường AD mở rộng phân tích của chúng ta để chỉ
ra cách thức biến đổi của tổng cầu thực tế, khi mức giá thay đổi Để hoàn chỉnh mô hình, chúng ta cần phải đưa thêm đường tổng cung vào mô hình Đường tổng cung cổ điển thuần túy được thiết lập trên cơ sở giả định về sự cân bằng thị trường và quá trình điều chỉnh tiền lương thực tế Đường AS được thiết lập trên cơ sở giả định về tính cứng nhắc
của tiền lương danh nghĩa Vì phần lớn phân tích trong cuốn Lý thuyết tổng quát đều giả
định tiền lương danh nghĩa cứng nhắc và Keynes cho rằng, để mức tổng cung thực tế tăng lên, nhất thiết giá cả phải tăng lên, cho nên, đường AS còn được gọi là đường tổng cung của Keynes, vì nó kết hợp tiền lương cứng nhắc với giá cả linh họat
5.3.1 Đường tổng cung trong ngắn hạn và dài hạn
Tổng cung cho biết mối quan hệ giữa mức giá chung và khối lượng hàng hóa được cung ứng Chúng ta cần xem xét hai trường hợp sau: Trong dài hạn – khi giá cả của tất cả hàng hóa và dịch vụ hoàn toàn linh hoạt; và trong ngắn hạn – khi giá cả của một số hàng hóa lại cứng nhắc
a Dài hạn: Đường tổng cung thẳng đứng
Chúng ta biết rằng cung về hàng hóa trong dài hạn phụ thuộc vào công nghệ, khối lượng
tư bản và lực lượng lao động sẵn có Nói cách khác, cung hàng hóa trong dài hạn không phụ thuộc vào mức giá trong nền kinh tế Điều này có nghĩa là đường tổng cung về hàng hóa trong dài hạn (LRAS) thẳng đứng tại mức sản lượng tự nhiên
Hình 5.18 Đường tổng cung dài hạn
Đường tổng cung dài hạn LRAS là đường thẳng đứng, cắt trục hoành tại mức sản lượng tiềm năng Y* (hình 5.19) Trong mô hình này, tăng trưởng kinh tế được biểu thị bằng sự dịch chuyển của đường tổng cung dài hạn sang phải theo thời gian Khi công nghệ được cải thiện và nền kinh tế có nhiều lao động và tư bản hơn, nhiều hàng hóa và dịch vụ được sản xuất hơn
b Ngắn hạn: Đường tổng cung dốc lên
Các nghiên cứu kinh tế vĩ mô hiện đại đặc biệt quan tâm giải thích hành vi của tổng cung trong ngắn hạn Mặc dù có nhiều mô hình tổng cung khác nhau, nhưng rất may giữa chúng cũng có nhiều điểm chung và do vậy chúng ta có thể khái quát hóa và giới thiệu
Trang 19các kết luận chung rút ra từ các mô hình đó Đường tổng cung trong ngắn hạn SRAS có
xu hướng dốc lên, biểu thị mối quan hệ ngược chiều giữa mức giá P và sản lượng thực tế
Y (hình 5.20) Khi mức giá là P1 thì sản lượng thực tế là Y1, mức giá tăng lên từ P1 đến
P2 thì sản lượng thực tế sẽ tăng lên từ Y1 đến Y2.
Hình 5.19 Đường tổng cung ngắn hạn
5.3.2 Phương trình của đường tổng cung
a Phương trình đường tổng cung
Đường tổng cung trong ngắn hạn SRAS là đường dốc lên về phía phải biểu thị mối quan
hệ cùng chiều giữa mức giá chung và sản lượng cân bằng Nhìn chung, các phân tích hiện đại về tổng cung đều có chung kết luận là đường tổng cung ngắn hạn có độ dốc dương Phương trình cơ bản về đường tổng cung ngắn hạn của chúng ta là:
Y Y (P P ) trong đó, là một số dương và Pe biểu diễn kỳ vọng về giá Phương trình này chỉ ra rằng sản lượng (Y) có thể khác mức tự nhiên dài hạn (Y*) nếu như mức giá trên thực tế khác với mức giá mà mọi người dự kiến Có ba kết luận có thể rút ra từ phương trình đường tổng cung ở trên
Thứ nhất, đường tổng cung có độ dốc dương
Thứ hai, vị trí của đường tổng cung phụ thuộc vào Pe Đường tổng cung ngắn hạn cắt đường tổng cung dài hạn tại mức giá Pe, do đó khi Pe tăng thì đường tổng cung sẽ dịch chuyển lên phía trên và sang bên trái
Thứ ba, tham số đo lường phản ứng của sản lượng với chênh lệch giữa giá cả thực tế và giá cả dự kiến Nếu 0 thì đường tổng cung có dạng thẳng đứng; nếu
trở nên rất lớn, thì đường tổng cung ngắn hạn gần như nằm ngang
b Cơ sở xây dựng phương trình đường tổng cung ngắn hạn
Có bốn mô hình khác nhau giải thích về đường tổng cung ngắn hạn:
Mô hình tiền lương cứng nhắc;
Mô hình nhận thức sai lầm của công nhân;
Mô hình thông tin không hoàn hảo;
Trang 20Mô hình giá cả cứng nhắc
Các mô hình này có một số đặc điểm chung, và mỗi mô hình chỉ giải thích được một số khía cạnh nhất định của thực tế
Mô hình tiền lương cứng nhắc
Mô hình tiền lương cứng nhắc nhấn mạnh đến quá trình thỏa thuận tiền lương giữa doanh nghiệp và công nhân Các quan sát thực tế cho thấy trong các ngành công nghiệp có sự hoạt động của công đoàn, tiền lương thường được quy định trước trong các hợp đồng Hơn nữa, ngay cả trong các ngành không có công đoàn cũng có các thỏa thuận ngầm hoàn toàn tương tự Nhiều công nhân hiểu ngầm với các thân chủ của họ về mức tiền lương được xem xét lại một lần nữa trong mỗi năm, ngay cả khi
họ không ký các hợp đồng chính thức Tiền lương của công nhân không thay đổi cùng với sự kiện tác động đến lợi nhuận của các doanh nghiệp nơi họ làm việc
Mô hình tiền lương cứng nhắc giả thiết rằng khi mặc cả tiền lương, cả doanh nghiệp
và công nhân đều có trong đầu một mục tiêu nhất định về tiền lương thực tế mà họ sẽ thỏa thuận Mức tiền lương này phụ thuộc vào sức mạnh mặc cả tương đối giữa doanh nghiệp với các công nhân trên cơ sở cân nhắc về tiền lương hiệu quả… Như vậy, mức việc làm tại mức tiền lương thực tế này tương ứng với trạng thái đầy đủ việc làm Tuy nhiên, trong hợp đồng được ký kết các điều khoản được viết theo tiền lương danh nghĩa chứ không theo tiền lương thực tế Để xác định tiền lương danh nghĩa, các doanh nghiệp và công nhân dựa trên kỳ vọng về mức giá chung Cuối cùng, họ quyết định tiền lương danh nghĩa trên cơ sở sử dụng công thức sau:
e
W w P
Trong đó, w là mục tiêu về tiền lương thực tế
Giả thiết cuối cùng của mô hình là cầu về lao động quyết định số việc làm Nói cách khác, quá trình thương lượng giữa công nhân và doanh nghiệp không quyết định trước số lao động được thuê, mà trái lại công nhân đồng ý cung ứng số lao động mà các doanh nghiệp muốn thuê tại mức lương đã quyết định từ trước Theo lý thuyết tân cổ điển, họ sẽ lựa chọn bằng cách cân bằng sản phẩm cận biên của lao động với tiền lương thực tế thực hiện:
Trang 21có thể minh họa điều này bằng đồ thị thị trường lao động với tiền lương danh nghĩa được biểu diễn trên trục tung Trong trường hợp này, đường cầu lao động dịch chuyển khi mức giá thay đổi:
Hình 5.20 Mô hình tiền lương cứng nhắc: Sự gia tăng bất ngờ của mức giá
Mức tiền công danh nghĩa là W = w×Pe được biểu diễn trên trục tung Cầu lao động sẽ dịch chuyển khi mức giá thay đổi Mô hình này hàm ý rằng chúng ta có thể biểu diễn đường tổng cung bằng phương trình sau:
Như vậy, tổng cung phụ thuộc vào sản lượng tiềm năng Y*, mức giá chung P, và kỳ vọng về giá Pe
Mô hình nhận thức sai lầm của công nhân
Mô hình thứ hai về tổng cung tương tự như mô hình tiền lương cứng nhắc Mô hình nhận thức sai lầm của công nhân một lần nữa nhấn mạnh đến thị trường lao động Tuy nhiên, nó khác mô hình tiền lương cứng nhắc ở hai điểm Thứ nhất, trong mô hình này, tiền lương được giả thiết hoàn toàn linh hoạt, và do đó điều chỉnh đủ mạnh để cân bằng thị trường lao động Thứ hai, mô hình này giả thiết công nhân không thể nhận thức đúng
về mức giá và do đó cung về lao động phụ thuộc vào tiền lương thực tế dự kiến Vì công nhân và các doanh nghiệp có thông tin khác nhau về mức giá (các doanh nghiệp được giả thiết có thông tin chính xác về mức giá, trong khi công nhân chỉ có dự kiến về mức giá), do đó cầu về lao động phụ thuộc vào tiền lương thực tế thực hiện, trong khi đó cung
về lao động lại phụ thuộc vào tiền lương thực tế dự kiến
Nếu mức giá cao hơn mức công nhân dự kiến, thì họ sẽ sẵn sàng cung ứng nhiều lao động hơn tại mọi mức tiền lương thực tế, bởi vì họ tin rằng tiền lương thực tế của họ cao hơn mức thực hiện, và do đó sản lượng tạo ra nhiều hơn Điều ngược lại sẽ đúng nếu giá cả thấp hơn mức công nhân dự kiến Giống như trước, lập luận này có thể được biểu diễn trong một đồ thị với tiền lương danh nghĩa trên trục tung:
Trang 22Hình 5.21 Mô hình nhận thức sai lầm của công nhân – Sự gia tăng của mức giá
Đường tổng cung trong mô hình này dốc hơn so với mô hình tiền lương cứng nhắc (α nhỏ hơn), bởi vì tiền lương danh nghĩa thay đổi khi mức giá thay đổi Một câu hỏi được đưa ra là liệu có hợp lý không khi cho rằng công nhân có ít thông tin về mức giá hơn so với doanh nghiệp Công nhân quan tâm đến mức giá chung, một loại chỉ số giá của tất cả các hàng hóa mà họ mua
Kết luận rút ra từ mô hình này là đường tổng cung dốc lên Đường tổng cung trong mô hình này dốc hơn so với mô hình tiền lương cứng nhắc (nhỏ hơn), bởi vì tiền lương danh nghĩa thay đổi khi mức giá thay đổi Một câu hỏi được đưa ra là liệu có hợp lý không khi cho rằng công nhân có ít thông tin về mức giá hơn so với doanh nghiệp Công nhân quan tâm đến mức giá chung, một loại chỉ số giá của tất cả các hàng hóa mà họ mua Họ có thể không biết điều này một cách chắc chắn Ngược lại, các doanh nghiệp quan tâm trước hết đến giá bán đối với các sản phẩm của họ và nhìn chung họ có thể biết chính xác Trong phân tích kinh tế vĩ mô, chúng ta thường không cần phân biệt giá cả
mà các công ty cá biệt bán và mức trung bình trong nền kinh tế, nhưng trong trường hợp này sự phân biệt là cần thiết
Mô hình thông tin không hoàn hảo
Mô hình tổng cung thứ ba giống mô hình nhận thức sai lầm của công nhân, vì nó một lần nữa dựa trên giả thiết có sự nhầm lẫn giữa mức giá thực tế và mức giá dự kiến Tuy nhiên, lý thuyết này không phân biệt công nhân và các doanh nghiệp và không dựa vào giả thiết cho rằng một số người có được thông tin tốt hơn những người khác
Trong mô hình thông tin không hoàn hảo, mọi người không có đủ thông tin Mô hình này
do R Lucas đưa ra, một phần nhằm chính thức hóa mô hình nhận thức sai lầm của công nhân M.Friedman đưa ra mô hình nhận thức sai lầm của công nhân năm 1968 và R Lucas đưa ra mô hình thông tin không hoàn hảo vào đầu những năm 1970 Vì lý do này, đường tổng cung đưa ra dựa trên mô hình này đôi khi được gọi là đường tổng cung Lucas
Xét một tình huống trong đó những người sản xuất không thể phân biệt một cách hoàn hảo giữa một cú sốc về giá cả cho các sản phẩm của họ (làm thay đổi giá tương đối và do đó
họ phải thay đổi mức sản xuất) và cú sốc về mức giá chung (không làm thay đổi giá tương đối và do đó phản ứng tốt nhất là không thay đổi mức sản xuất) Giả sử một cú sốc nào đó
Trang 23làm tăng giá, phản ứng tốt nhất của người sản xuất có lẽ nằm đâu đó giữa hai khả năng trên Quyết định chính xác khối lượng sản phẩm cần sản xuất thêm phụ thuộc vào đánh giá của anh ta về cơ hội kiếm lợi nhuận từ mỗi cú sốc Nói một cách chính xác hơn, mô hình giả thiết rằng những người sản xuất có một dự kiến nhất định về mức giá chung (Pe) Sau
đó, họ sẽ quan sát giá cả mà họ có thể bán sản phẩm của mình Nếu mức giá đó cao bất thường, họ có thể kết luận rằng giá cả của mọi hàng hóa đã tăng (có thể do tăng cung tiền) Trong trường hợp này, họ sẽ điều chỉnh dự đoán của họ về mức giá chung và không thay đổi mức sản xuất của họ Trái lại, họ có thể nghĩ rằng cầu về sản phẩm của họ đã tăng, và
họ sẽ sản xuất nhiều hơn Bất cứ sự khác nhau nào giữa giá cả thực tế và dự kiến đều có thể do một hoặc cả hai khả năng này Trong những trường hợp đó, phản ứng tốt nhất của các doanh nghiệp với sự gia tăng giá cả không được dự kiến trước là tăng sản lượng Tóm lại, mô hình thông tin không hoàn hảo khẳng định rằng khi giá cả cao hơn mức dự kiến, các nhà cung cấp tăng sản lượng của họ Do vậy, mô hình có đường tổng cung dưới dạng mà chúng ta đã biết:
Mức giá chung P: Một sự gia tăng trong mức giá chung làm giá cả của các đối thủ
cạnh tranh và giá cả các yếu tố đầu vào tăng lên và do đó, doanh nghiệp cũng cần tăng giá cho các sản phẩm của mình
Tổng thu nhập Y: Mức thu nhập cao làm tăng cầu về sản phẩm của doanh nghiệp
Vì chi phí cận biên tăng khi mức sản xuất cao hơn, nên cầu càng lớn, thì doanh nghiệp càng muốn định giá cao hơn Chúng ta có thể viết giá mà doanh nghiệp muốn quy định như sau:
e
P P (Y Y*)
trong đó, là tham số lớn hơn không Phương trình này chỉ ra giá mong muốn P phụ thuộc vào mức giá chung và chênh lệch giữa sản lượng thực tế và sản lượng tự nhiên Bây giờ, giả thiết rằng có hai loại doanh nghiệp trong nền kinh tế Tỷ trọng (1 – s) có giá cả linh hoạt và điều chỉnh giá cả theo những điều kiện kinh tế hiện tại dựa trên cơ sở phương trình này Số còn lại, có tỷ trọng là s, được đặc trưng bởi giá cả cứng nhắc Họ ấn định giá cả trước và duy trì nó trong một khoảng thời gian nhất định có thể
do chi phí thực đơn hay vì một lý do nào khác Họ định giá trên cơ sở kỳ vọng về những
Trang 24điều kiện kinh tế tương lai Điều này liên quan đến dự đoán cả về cầu và mức giá chung
Để đơn giản, chúng ta giả định các doanh nghiệp này dự kiến sản lượng ở mức tự nhiên, nên biểu thức cuối cùng e *e
Kết luận đầu tiên mà chúng ta có thể rút ra từ phương trình này là nếu sản lượng ở mức
tự nhiên, giá cả thực tế đúng bằng mức dự kiến Điều này rất có ý nghĩa Các doanh nghiệp với giá cả cứng nhắc đơn giản định giá cho sản phẩm của họ bằng mức giá dự kiến, trong khi nếu sản lượng ở mức tự nhiên, các doanh nghiệp với giá cả linh hoạt định giá đúng bằng mức giá thực tế
Phương trình này cũng chỉ ra rằng nếu tổng cầu cao, do đó Y cao hơn Y*, thì mức giá thực tế sẽ cao hơn mức giá dự kiến Cầu cao làm cho các doanh nghiệp có giá cả linh hoạt tăng giá Nếu mọi doanh nghiệp điều có giá cả linh hoạt, thì sản lượng sẽ không bao giờ vượt quá mức tự nhiên Hành vi của các doanh nghiệp với mức giá cả cứng nhắc có vai trò hạn chế sự biến động của giá cả Sự phản ứng của mức giá chung đối với các cú sốc về sản lượng phụ thuộc vào hỗn hợp giữa hai loại doanh nghiệp trong nền kinh tế Khi chúng ta biến đổi phương trình này, chúng ta nhận được phương trình quen thuộc biểu diễn đường tổng cung:
Y Y (P P )
Trong đó:
s (1 s)
Giống như các mô hình khác, mô hình giá cả cứng nhắc cũng hàm ý rằng đường tổng cung ngắn hạn dốc lên Phương trình này chỉ ra đường tổng cung thoải hơn (sản lượng phản ứng mạnh hơn với sự thay đổi giá cả) khi s lớn và nhỏ Khi có nhiều doanh nghiệp với giá cả cứng nhắc trong nền kinh tế, mức giá sẽ ở gần mức giá dự kiến của nó ngay cả khi sản lượng ở rất xa mức tự nhiên Trên một số phương diện mô hình này về đường tổng cung rất khác so với ba mô hình trước đây Trong khi hình dáng đường tổng cung thực ra giống nhau, nhưng luận cứ không phải là giá cả cao bất thường dẫn đến mức sản lượng cao mà trái lại là khi sản lượng cao, giá cả có xu hướng cao Tuy nhiên, hãy ghi nhớ là cả mức giá và sản lượng đều là các biến nội sinh
5.4 Giới thiệu hệ thống kinh tế vĩ mô
5.4.1 Hệ thống kinh tế vĩ mô
Có nhiều cách mô tả họat động của nền kinh tế Theo cách tiếp cận hệ thống, nền kinh tế được xem là như một hệ thống - gọi là hệ thống kinh tế vĩ mô Hệ thống này - như
Trang 25P.A.Samuelson mô tả - được đặc trưng bởi ba yếu tố: đầu vào, đầu ra và hộp đen kinh tế
vĩ mô Các yếu tố đầu vào bao gồm:
Những tác động từ bên ngoài, bao gồm chủ yếu các biến số phi kinh tế: thời tiết, dân
số, chiến tranh,
Những tác động của các biến số kinh tế như các chính sách, bao gồm các công cụ của Nhà nước nhằm điều chỉnh hộp đen kinh tế vĩ mô, hướng tới các mục tiêu đã định trước Các yếu tố đầu ra bao gồm: sản lượng, việc làm, giá cả, xuất nhập khẩu Đó là các biến
do họat động của hộp đen kinh tế vĩ mô tạo ra Yếu tố trung tâm của hệ thống là hộp đen kinh tế vĩ mô, còn gọi là nền kinh tế vĩ mô (Macroeconomy) Họat động của hộp đen như thế nào sẽ quyết định chất lượng của các biến đầu ra Hai lực lượng quyết định sự họat động của hộp đen kinh tế vĩ mô là tổng cung và tổng cầu
Tổng cung và tổng cầu là hai thuật ngữ được các nhà kinh tế sử dụng khá thường xuyên Chúng là những lực lượng làm cho nền kinh tế thị trường hoạt động Mô hình tổng cung
và tổng cầu chỉ ra sản lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra và mức giá chung của nền kinh tế Bây giờ, chúng ta sẽ lần lượt xem xét qua các khái niệm cơ bản và các yếu
tố tác động đến tổng cung và tổng cầu
5.4.2 Giới thiệu về tổng cầu (AD)
Tổng cầu là tổng khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà các
tác nhân trong nền kinh tế muốn mua và có khả năng
mua ở mức giá cả, thu nhập và các biến số kinh tế khác
nhau đã cho Tổng khối lượng hàng hóa và dịch vụ trong
nền kinh tế quốc dân là tổng giá trị nền kinh tế quốc dân
Ví dụ: Năm 2017 tổng sản phẩm quốc dân (tổng giá trị)
hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam là 200 tỷ USD
Đường tổng cầu AD là đường dốc xuống, có độ dốc âm;
trục tung biểu thị mức giá chung (chẳng hạn là chỉ số CPI) ký hiệu là P, còn được gọi là mặt bằng giá; Y là sản lượng (hoặc thu nhập), ta thường dùng GNP thực tế để tính