1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài giảng Kinh tế vĩ mô - Bài 1: Tổng quan về kinh tế học vĩ mô

24 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 805,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Kinh tế vĩ mô - Bài 1: Tổng quan về kinh tế học vĩ mô trình bày kiến thức đối tượng và phương pháp nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô; sự khan hiếm nguồn lực và đường giới hạn khả năng sản xuất; mục tiêu và các công cụ kinh tế vĩ mô.

Trang 1

Bài 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC VĨ MÔ

Trong bài này, người học sẽ được tiếp cận

các nội dung:

• Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

của kinh tế học vĩ mô

• Sự khan hiếm nguồn lực và đường

giới hạn khả năng sản xuất

• Mục tiêu và các công cụ kinh tế vĩ mô

• Bắt đầu cho sinh viên làm quen với cách tư duy kinh tế và khoa học kinh tế, phân biệt kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô

• Giúp sinh viên biết được mục tiêu, đối tượng,

và phạm vi nghiên cứu kinh tế vĩ mô

• Sinh viên hiểu và nắm vững được các khái niệm, các mục tiêu, các công cụ cơ bản nhất của kinh tế vĩ mô

• Vận dụng được một số phương pháp và công cụ cơ bản để phân tích các mô hình kinh tế

Hướng dẫn học

• Sinh viên nên đọc kỹ nguồn tài liệu tham khảo để chọn ra những tài liệu tham khảo hữu ích nhất

• Sinh viên cần xem các nguồn tài liệu và thứ tự tài liệu được cung cấp cho bài này để học tập

tốt hơn

• Bài 1 là bài khái quát về môn học Sinh viên chỉ cần nắm vững các khái niệm, các kiến thức cơ bản, để làm nền tảng nghiên cứu các bài sau

Trang 2

àng ngày, trên tivi và các phương tiện thông tin đại chúng, chúng ta có thể nghe và nhìn thấy rất nhiều các thông tin về hoạt động kinh tế vĩ mô của Việt Nam cũng như trên thế giới Chẳng hạn như:

• Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế Việt nam và thế giới

• Chỉ số giá tiêu dùng, lạm phát và thất nghiệp

• Các mục tiêu kinh tế vĩ mô của quốc gia

Những con số đó nói lên điều gì? Hành động của chính phủ các nước khi nền kinh tế của họ rơi vào suy thóai tác động như thế nào trên bình diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân? Tại sao khi chống suy giảm kinh tế lại phải đưa ra các gói kích cầu? Trong bài này chúng ta sẽ được giới thiệu những vấn đề cơ bản nhất về kinh tế học vĩ mô nói chung cũng như được giới thiệu các mục tiêu và công cụ kinh tế vĩ mô cơ bản Qua đó, chúng ta có thể hiểu được các chính sách kinh

tế mà chính phủ sử dụng để điều tiết kinh tế; hệ quả của những chính sách đó thông qua mô hình kinh tế vĩ mô

1.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu kinh tế vĩ mô

1.1.1 Khái niệm kinh tế học vĩ mô

Kinh tế học là môn khoa học xã hội nghiên cứu những sự lựa chọn mà các cá nhân, doanh nghiệp, chính phủ, và toàn xã hội đưa ra khi trong thực tế họ không thể có mọi thứ như mong muốn Kinh tế học bao gồm hai bộ phận là Kinh tế học vi mô và Kinh tế học vĩ mô

Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu sự vận động và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của

một đất nước trên bình diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân Kinh tế học vĩ mô là một môn

khoa học quan tâm đến việc nghiên cứu, phân tích và lựa chọn các vấn đề kinh tế tổng hợp của toàn bộ nền kinh tế như “một bức tranh lớn” Các nhà nghiên cứu kinh tế học

vĩ mô phát triển các mô hình để giải thích mối quan hệ giữa các yếu tố như thu nhập quốc gia, sản lượng, tiêu dùng, thất nghiệp, lạm phát, tiết kiệm, đầu tư, buôn bán đa quốc gia và tài chính đa quốc gia Các mô hình này và các dự báo do chúng đưa ra được cả chính phủ lẫn các tập đoàn lớn sử dụng để giúp họ phát triển và đánh giá các chính sách kinh tế và các chiến lược quản trị

Kinh tế học vĩ mô có sự khác biệt với kinh tế học vi mô - một môn học chuyên nghiên cứu những vấn đề kinh tế cụ thể của nền kinh tế (hay còn gọi là các tế bào trong nền kinh tế) Tuy nhiên, kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Chúng ta sẽ không thể hiểu được các hiện tượng kinh tế vĩ mô nếu không tính đến các quyết định kinh tế vi mô, vì những thay đổi trong toàn bộ nền kinh tế phát sinh từ các quyết định của hàng triệu cá nhân Chẳng hạn, một nhà kinh tế có thể nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt giảm thuế thu nhập đối với mức sản xuất hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế Để phân tích vấn đề này, anh ta phải xem xét ảnh hưởng của biện pháp cắt giảm thuế đối với quyết định chi tiêu mua hàng hóa và dịch vụ của các hộ gia đình

1.1.2 Đối tượng nghiên cứu

Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu sự lựa chọn của mỗi quốc gia trước những vấn đề kinh tế

cơ bản như: Tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, mức giá chung, cán cân thương

H

Trang 3

mại, sự phân phối nguồn lực và phân phối thu nhập giữa các thành viên trong xã hội, các chính sách kinh tế (chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập,…)

Phân tích kinh tế vĩ mô hướng vào giải đáp các câu hỏi như: Điều gì quyết định giá trị hiện tại của biến số này? Điều gì quy định những thay đổi của các biến số này trong ngắn hạn và dài hạn? Trong kinh tế vĩ mô, chúng ta sẽ khảo sát mỗi biến số ứng với mỗi khoảng thời gian khác nhau: hiện tại, ngắn hạn, và dài hạn Mỗi khoảng thời gian đòi hỏi chúng ta phải sử dụng các mô hình thích hợp để tìm ra các nhân tố quyết định các biến số kinh tế vĩ mô này

1.1.3 Phương pháp nghiên cứu

Trong khi phân tích các hiện tượng và mối quan hệ kinh tế quốc dân, kinh tế học vĩ mô

sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích cân bằng tổng hợp (tổng quát), do L Walras -

người Pháp phát triển từ năm 1874 Theo phương pháp này, kinh tế học vĩ mô khác với kinh tế học vi mô, xem xét sự cân bằng đồng thời của tất cả các thị trường của các hàng hóa và các nhân tố, xem xét đồng thời khả năng cung cấp và sản lượng của toàn bộ nền kinh tế; từ đó xác định đồng thời giá cả và sản lượng cân bằng - những yếu tố quyết định tính hiệu quả của hệ thống kinh tế

Kinh tế học vĩ mô sử dụng tích cực phương pháp mô hình hóa Gần như mỗi một hiện tượng kinh tế vĩ mô lại được mô tả bằng một mô hình riêng với những giả thiết riêng Do cách nhìn nhận các giả thiết khác nhau, nên trong kinh tế học vĩ mô tồn tại nhiều trường phái với các mô hình đi kèm với các giả thuyết khác nhau Kinh tế học vĩ mô hiện đại thường sử dụng các phương pháp kinh tế lượng để xây dựng và kiểm chứng các mô hình kinh tế dựa trên dữ liệu kinh tế

1.2 Sự khan hiếm nguồn lực và đường giới hạn khả năng sản xuất

1.2.1 Sự khan hiếm nguồn lực

Nguồn lực sản xuất là tất cả những yếu tố được sử dụng để sản xuất hàng hóa hay dịch vụ và có thể được gọi theo một tên khác là các yếu tố sản xuất Nguồn lực đầu vào để sản xuất hàng hóa và dịch vụ được chia thành bốn nhóm: tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động và tiến bộ kỹ thuật - công nghệ

• Tài nguyên thiên nhiên là tất cả các nguồn lực trong và trên mặt đất, ví dụ: Rừng, khoáng sản, đất trồng trọt, đất xây dựng,…

• Lao động là số lượng người lao động, chất lượng, kỹ năng trình độ của người lao động

• Vốn không chỉ đề cập đến tiền mà còn bao gồm những hàng hóa có thời gian sử dụng lâu dài và nhằm sản xuất ra hàng hóa hay dịch vụ khác Ví dụ: nhà xưởng, trang thiết

bị, dây chuyền sản xuất

• Tiến bộ kỹ thuật - công nghệ là khả năng tạo ra công nghệ sản xuất mới Khả năng kết hợp vốn – lao động – đất đai, tài nguyên thiên nhiên nhằm đạt được hiệu quả Vấn đề ở đây không phải là có bao nhiêu đất đai, bao nhiêu lao động hay bao nhiêu vốn mà vấn đề là sử dụng chúng như thế nào cho hiệu quả

Khan hiếm là tình trạng hàng hóa, dịch vụ hoặc nguồn lực không đủ so với mong muốn hay nhu cầu Nguồn lực là khan hiếm vì số lượng nguồn lực được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ là có hạn ngày một cạn kiệt Chúng ta có thể thấy sự cạn kiệt tài

Trang 4

nguyên khoáng sản, đất đai, lâm sản, hải sản, Trong khi đó, nhu cầu hàng hóa và dịch vụ là vô hạn, ngày càng tăng, càng đa dạng và phong phú, nhất là nhu cầu về chất lượng ngày càng cao Chẳng hạn, nhu cầu về phương tiện đi lại của con người từ xe đạp đến xe máy, ô tô, máy bay Do vậy, vấn đề lựa chọn kinh tế tối ưu ngày càng phải đặt ra một cách nghiêm túc, gay gắt và thực hiện một cách rất khó khăn

Con người phải đối mặt với sự khan hiếm nguồn lực nên luôn phải lựa chọn tối ưu Việc lựa chọn sẽ đưa con người vào sự đánh đổi – muốn sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa này thì phải từ bỏ một lượng hàng hóa khác Đây chính là chi phí cơ hội để sản xuất một

hàng hóa Chi phí cơ hội là giá trị của phương án tốt nhất bị bỏ qua khi thực hiện sự lựa

chọn Chi phí cơ hội luôn xuất hiện khi tình trạng khan hiếm nguồn lực xảy ra, vì khi đó

người ta sẽ buộc phải đánh đổi, nếu tiến hành hoạt động này thì phải bỏ qua hoạt động khác Chính vì vậy, khi đưa ra bất cứ sự lựa chọn kinh tế nào, chúng ta cũng phải cân nhắc, so sánh các phương án với nhau dựa theo chi phí cơ hội của các phương án đó với nguyên tắc chọn phương án có chi phí cơ hội là nhỏ nhất

Ví dụ: Chi phí cơ hội của việc tự kinh doanh hay đi làm thuê, chi phí cơ hội của sản xuất

ô tô và nhập khẩu ô tô,

Chi phí cơ hội không phải là tổng giá trị các lựa chọn bị bỏ lỡ mà chỉ là giá trị của lựa chọn tốt nhất có thể, bởi vì người ta không thể nào cùng một lúc sử dụng nhiều lựa chọn thay thế được Với nguồn lực khan hiếm thì năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế sẽ được biểu diễn như thế nào Chúng ta sẽ nghiên cứu khái niệm đường giới hạn khả năng sản xuất

1.2.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất

Quá trình sản xuất luôn cần có nguồn lực nhưng những nguồn lực và công nghệ hiện có

là có giới hạn chứ không phải là những con số vô hạn Do đó, xã hội không thể có mọi thứ mà họ muốn vì bị giới hạn bởi khả năng sản xuất Xây dựng đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) sử dụng phương pháp trừu tượng hóa, đơn giản hóa để nghiên cứu bản chất vấn đề với những giả thiết

Xem xét một nền kinh tế chỉ có 4 lao động tập trung sản xuất hai loại hàng hóa là lương thực, quần áo trong một năm với những giả định dưới đây:

Thứ nhất: Nền kinh tế chỉ sản xuất hai loại hàng hóa (quần áo và lương thực)

Thứ hai: Số lượng nguồn lực sẵn có trong nền kinh tế là cố định

Thứ ba: Trình độ công nghệ là cố định

Khả năng sản xuất tối đa quần áo và lương thực được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.1 Khả năng sản xuất lương thực và quần áo trong giới hạn nguồn lực

Đơn vị: sản phẩm

Lao động Sản lượng Lao động Sản lượng

Trang 5

Chúng ta biểu diễn các khả năng sản xuất trên ở một hệ trục tọa độ với trục tung đo lường sản lượng quần áo và trục hoành đo lường sản lượng lương thực Nối các điểm này lại, ta được một đường gọi là đường giới hạn khả năng sản xuất

Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) là một tập hợp các phối hợp tối đa số lượng

các sản phẩm mà nền kinh tế có thể sản xuất được, là đường gồm tập hợp tất cả các điểm biểu thị sự kết hợp các nguồn lực thích hợp để sản xuất ra một khối lượng sản phẩm nhất định Đường PPF cho biết các mức phối hợp tối đa của sản lượng mà nền kinh tế có thể sản xuất được khi sử dụng toàn bộ nguồn lực sẵn có

• Những phương án nằm trên đường PPF như (A, B, C, D, E) là những phương án tối

ưu Đường PPF có dạng cong lõm về gốc tọa độ Các khoảng dịch chuyển từ A đến

B, B đến C, C đến D,… mỗi đoạn tương ứng với việc chuyển một lao động từ ngành quần áo sang ngành sản xuất lương thực và mỗi lần chuyển này làm giảm sản lượng trong ngành quần áo nhưng lại tăng sản lượng trong ngành lương thực Với mỗi một lần chuyển lao động như vậy, chúng ta nhận được ít sản lượng lương thực hơn và phải chịu mất một lượng nhiều hơn về sản lượng quần áo

Hình 1.1 Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF)

• Những điểm nằm phía ngoài đường PPF (ví dụ như phương án N) là những phương

án sản xuất không thể đạt tới với nguồn lực và công nghệ hiện có do sự khan hiếm của nguồn lực So sánh phương án N với B, ta thấy nền kinh tế không thể đạt được mức sản lượng sản xuất tại N Với mức sản lượng 40 triệu bộ quần áo, doanh nghiệp hiện tại chỉ có thể sản xuất tối đa 11 triệu tấn lương thực tức là tối đa tại điểm B

• Sự khan hiếm về các nguồn lực buộc xã hội phải chọn các điểm nằm trong hoặc trên đường PPF Để đạt được các phương án tối ưu, cần phải tìm cách đẩy đường PPF ra ngoài bằng các biện pháp như: Đổi mới công nghệ, thực hiện các chính sách kinh tế,…

• Các phương án, như phương án M nằm phía trong, là những phương án sản xuất không hiệu quả vì ở đó xã hội bỏ phí các nguồn lực Lý luận tương tự như việc so sánh vị trí của M, B, và D, với nguồn lực chỉ để đầu tư sản xuất 11 triệu tấn lương thực/năm, doanh nghiệp có thể sản xuất 40 triệu bộ quần áo (tại B) thay vì chỉ sản xuất được 16 triệu bộ quần áo (tại M) Doanh nghiệp có thể tăng thêm sản lượng của một mặt hàng mà không đòi hỏi phải cắt bớt sản lượng mặt hàng khác, như vậy

nguồn lực chưa được sử dụng hiệu quả

Trang 6

Đường giới hạn khả năng sản xuất minh họa cho sự khan hiếm: Qua việc phân tích

những điểm nằm ngoài đường PPF với giả định công nghệ là cố định là những điểm mà doanh nghiệp không thể đạt được do nguồn lực khan hiếm Như vậy, PPF chính là công cụ để biểu diễn cho sự khan hiếm nguồn lực của doanh nghiệp

Đường giới hạn khả năng sản xuất minh họa cho sản xuất hiệu quả: Như chúng ta đã biết,

tính hiệu quả được thể hiện khi doanh nghiệp không thể sản xuất thêm sản lượng của một hàng hóa này mà sản lượng hàng hóa kia tăng hoặc không đổi Đường PPF minh họa cho sự hiệu quả vì với số lượng nguồn lực có hạn, doanh nghiệp muốn tăng sản lượng lương thực phải giảm sản lượng quần áo Điều này thể hiện qua sự dịch chuyển các phương án sản xuất từ A đến B, đến C và đến D Ví dụ, khi chuyển từ phương án A sang phương án

B, có thể tăng 11 triệu tấn lương thực, nhưng phải từ bỏ 8 triệu bộ quần áo Với những căn cứ đã đề cập có thể kết luận rằng, những điểm nằm phía trong đường PPF như điểm M là những điểm sản xuất và sử dụng nguồn lực không hiệu quả

Các yếu tố làm dịch chuyển đường PPF: Đạt được các điểm nằm ngoài đường PPF, nền

kinh tế cần phải tìm cách lựa chọn các phương án nằm ngoài đường PPF, xác định đường PPF mới Đường PPF dịch chuyển phụ thuộc vào các yếu tố chính như: Sự tăng lên của nguồn lực về chất lượng hoặc số lượng, tiến bộ của khoa học công nghệ hay những chính sách vĩ mô của nhà nước tác động làm cải thiện nguồn lực và công nghệ

Hình 1.2 Các nguyên nhân làm cho đường PPF dịch chuyển ra phía ngoài

1.2.3 Khái niệm và bản chất chi phí cơ hội

a Đường giới hạn khả năng sản xuất minh họa cho chi phí cơ hội

Việc xác định chi phí cơ hội cho việc sản xuất một triệu tấn lương thực thông qua đường PPF như sau:

Trang 7

Hình 1.3 Xác định chi phí cơ hội trên đường PPF

Từ điểm A đến điểm B: Để sản xuất thêm 11 triệu tấn lương thực thì phải đánh đổi bằng

việc giảm 8 triệu bộ quần áo Chi phí cơ hội để sản xuất thêm 11 tấn lương thực là 8 triệu bộ quần áo Chi phí cơ hội để sản xuất thêm 1 triệu tấn lương thực = 8/11 triệu bộ quần áo

Ta có chi phí cơ hội:

1

1 1

Y tg X

= 

 = |Độ dốc đường PPF|

Từ điểm B đến điểm C: Để sản xuất thêm 5 triệu tấn lương thực thì phải đánh đổi bằng

việc giảm 8 triệu bộ quần áo Chi phí cơ hội để sản xuất thêm 5 triệu tấn lương thực = 8 triệu bộ quần áo Chi phí cơ hội để sản xuất thêm 1 triệu tấn lương thực = 8/5 triệu bộ quần áo

Ta có chi phí cơ hội:

2

2 2

YtgX

= 

 = |Độ dốc đường PPF|

Từ điểm C đến điểm D: Để sản xuất thêm 5 triệu tấn lương thực thì phải đánh đổi bằng

việc giảm 16 triệu bộ quần áo Chi phí cơ hội để sản xuất thêm 5 triệu tấn lương thực =

16 triệu bộ quần áo Chi phí cơ hội để sản xuất thêm 1 triệu tấn lương thực = 16/5 triệu

bộ quần áo

Ta có chi phí cơ hội:

3

3 3

YtgX

= 

 = |Độ dốc đường PPF|

Trang 8

Từ điểm D đến điểm E: Để sản xuất thêm 3 triệu tấn lương thực thì phải đánh đổi bằng

việc giảm 16 triệu bộ quần áo Chi phí cơ hội để sản xuất thêm 3 triệu tấn lương thực =

16 triệu bộ quần áo Chi phí cơ hội để sản xuất thêm 1triệu tấn lương thực = 16/3 triệu

bộ quần áo

Ta có chi phí cơ hội:

4

4 4

YtgX

 = |Độ dốc đường PPF|

Chi phí cơ hội sản xuất 1 tấn lương thực:

YtgX

= 

 = |Độ dốc đường PPF|

Vậy, đường giới hạn khả năng sản xuất biểu thị chi phí cơ hội thông qua trị tuyệt đối của

độ dốc của các điểm trên đường PPF Từ việc phân tích chi phí cơ hội khi thực hiện các phương án từ A đến E trên đường giới hạn khả năng sản xuất, ta có thể tổng hợp chi phí

cơ hội để sản xuất thêm 1 tấn lương thực thông qua bảng sau:

Bảng 1.2 Tính toán chi phí cơ hội giữa quần áo và lương thực

Phương án Sản xuất

Quần áo (C) Triệu bộ/năm

Lương thực (F) Triệu tấn/năm

b Quy luật chi phí cơ hội

Quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng được phát biểu: Để sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa này, xã hội sẽ phải từ bỏ ngày càng nhiều các đơn vị của loại hàng hóa khác

Do sự chuyển hóa các nguồn lực khi chuyển từ sản xuất hàng hóa này sang sản xuất hàng hóa khác là không hoàn toàn phù hợp Có thể đó là nguồn lực tốt để sản xuất hàng hóa này nhưng nó lại không phải là nguồn lực tốt để sản xuất hàng hóa kia Qua phân tích sự thay đổi các phương án sản xuất từ A đến E (dọc theo đường PPF từ trên xuống dưới), các doanh nghiệp sẽ phải đánh đổi nhiều sản lượng quần áo hơn để có thể sản xuất thêm được 1 đơn vị lương thực, chi phí cơ hội là ngày càng tăng (xem hình 1.3) Do quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng mà chi phí cơ hội lại được tính bằng |độ dốc đường PPF| nên đường giới hạn khả năng sản xuất là một đường cong lõm về phía gốc

tọa độ

Trang 9

1.3 Mục tiêu và các công cụ kinh tế vĩ mô

1.3.1 Mục tiêu kinh tế vĩ mô

Thành tựu kinh tế vĩ mô của một đất nước thường được đánh giá theo chỉ tiêu chủ yếu: ổn định, tăng trưởng và công bằng xã hội

• Sự ổn định kinh tế là kết quả của việc giải quyết tốt những vấn đề kinh tế cấp bách như lạm phát, suy thóai, thất nghiệp trong thời kì ngắn hạn

• Tăng trưởng kinh tế đòi hỏi giải quyết tốt những vấn đề dài hạn hơn, có liên quan đến việc phát triển kinh tế

• Công bằng trong phân phối vừa là vấn đề xã hội vừa là vấn đề kinh tế

Để có thể đạt được sự ổn định, tăng trưởng, công bằng, các chính sách kinh tế vĩ mô phải hướng tới các mục tiêu cụ thể sau:

a Mục tiêu đạt mức sản lượng cao và tốc độ tăng trưởng nhanh

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Tuy vậy ở một số quốc gia, mức độ bất bình đẳng kinh tế tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người cao nhưng nhiều người dân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ, ) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ) Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn

Đạt được sản lượng thực tế cao, tương ứng với mức sản lượng tiềm năng:

o Mỗi quốc gia có điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau nên mức sản lượng không thể giống nhau

o Sản lượng tiềm năng (Y*) là mức sản lượng tối đa mà các quốc gia có thể sản xuất ra trong điều kiện toàn dụng nhân công và không gây nên lạm phát

Hình 1.4 Mức sản lượng tiềm năng Y*

Trang 10

• Đạt được mức sản lượng Y* không được gây nên lạm phát → nền kinh tế bình ổn về giá cả, tỷ lệ lạm phát coi như bằng không → mọi người đều có việc làm → tỷ lệ thất nghiệp bằng tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên

• Đạt được Y* nhưng không được làm ảnh đến tự nhiên, môi trường, tài nguyên, thiên nhiên

Đạt được tốc độ tăng trưởng cao và bền vững: Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm

hay sự gia tăng về quy mô sản lượng của một nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm) đó là kết quả của các hoạt động sản xuất - kinh doanh các loại hàng hóa và dịch vụ do nền kinh tế tạo ra Mỗi quốc gia muốn phát triển thì phải có sự tăng trưởng sản lượng, điều này nhằm đảm bảo mối quan hệ kinh tế ổn định, đảm bảo sự phát triển của nền kinh tế

Công thức xác định tốc độ tăng trưởng kinh tế:

t t 1 t

Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng GDP thế giới1

Các tổ chức này cũng dự báo, kinh tế Trung Quốc dự kiến tăng trưởng chỉ đạt mức 6,3% giảm so mức 6,9% của năm 2015 Kinh tế khu vực đồng tiền chung châu Âu dự kiến đạt

1 Nguồn: IMF- World Economic Outlook, tháng 10/2015 và WEO cập nhật tháng 01/2016

Trang 11

1,7%, trong đó Pháp 1,3% và Đức là 1,7% Khối OECD dự kiến tăng trưởng 1,9% trong năm 2016, trong đó, Nhật được dự kiến tăng trưởng chỉ ở mức 1,2%

Biểu đồ 2: Tăng trưởng GDP ở một số thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam

Nguồn: Các Báo cáo triển vọng kinh tế cập nhật 2015 của IMF, WB, ADB, OECD

Về lạm phát, dự kiến lạm phát cơ bản toàn cầu vẫn trong xu thế ổn định và giảm dần do giá cả các mặt hàng nguyên, nhiên liệu (dầu thô2, than đá, thực phẩm) vẫn đang giao động

ở mức thấp và sự sụt giảm tăng trưởng của các nền kinh tế lớn như Trung Quốc, Ấn Độ kéo theo tổng cầu suy giảm đối với các hàng hóa là đầu vào sản xuất và tiêu dùng

Khi các nhà kinh tế nghiên cứu tăng trưởng kinh tế, họ quan tâm đến tăng trưởng của sản lượng thực tế (hay sản lượng trên mỗi đầu người) qua một thời kỳ dài để có thể xác định được các yếu tố làm tăng GDP thực tế tại mức tự nhiên trong dài hạn

b Công ăn việc làm nhiều và tỷ lệ thất nghiệp thấp

Thất nghiệp là hiện tượng một bộ phận của lực lượng lao động không có việc làm và đang tích cực tìm việc làm Như vậy, những người không có nhu cầu làm việc hoặc không tìm việc làm là những người không thuộc lực lượng lao động Thất nghiệp là vấn đề bức xúc mà tất cả các quốc gia đều phải đương đầu Thất nghiệp ảnh hưởng rộng lớn đến tất cả các vấn đề kinh tế và xã hội Thất nghiệp ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, làm giảm thu nhập và mức sống của dân cư, hạn chế tăng sản lượng quốc dân Thời kỳ thất nghiệp cao là thời kỳ sản lượng thực tế nhỏ hơn sản lượng tiềm năng, nền kinh tế không đạt được sản lượng tối ưu Thiếu việc làm và thu nhập thấp ở nông thôn tác động tiêu cực và lâu dài đến phát triển kinh tế xã hội Thu nhập thấp làm cho người dân không được đảm bảo sự chăm sóc về dinh dưỡng và y tế, ảnh hưởng đến sức khoẻ và giống nòi, hạn chế trong việc học tập và rèn luyện nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng lao động từ

đó lao động với năng suất thấp, không có khả năng sáng tạo trong việc tự kiếm việc làm lại dẫn tới thu nhập thấp, đó là cái vòng luẩn quẩn khó phá bỏ Thiếu việc làm và thu nhập thấp còn dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội, ảnh hưởng tới trật tự an toàn xã hội

Vì thế, một đất nước muốn phát triển kinh tế bền vững cần phải:

2 Cục Năng lượng của Mỹ dự kiến giá dầu 2016 chỉ dao động quanh mức $56/ thùng, tăng nhẹ $2/thùng so với mức giá 2015

Trang 12

• Tạo được nhiều công ăn, việc làm tốt cho xã hội

• Hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp (và duy trì ở mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên) nhằm tạo ra mức sản lượng cao cho xã hội

c Ổn định giá cả và tỷ lệ lạm phát thấp

• Trên thị trường tự do, giá cả được xác định bởi quy luật cung cầu trong một mức độ lớn nhất có thể được và chính phủ tránh không kiểm soát giá cả của từng mặt hàng riêng lẻ Đồng thời, ngăn chặn không cho mức giá chung lên xuống quá nhanh vì sự thay đổi đột ngột của giá sẽ bóp méo các quyết định kinh tế của các hãng và cá nhân

• Phải ổn định được giá cả và kiềm chế được lạm phát trong điều kiện thị trường tự do

• Giá cả là mục tiêu đầu ra của nền kinh tế, sản xuất, tiêu dùng Giá cả biến động sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế → Muốn bình ổn về giá cả thì nhà nước phải can thiệp

d Mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại

• Cân bằng cán cân thanh toán quốc tế

Cán cân thanh toán là một bảng kết toán tổng hợp luồng bán buôn hàng hóa và dịch vụ, luồng chu chuyển về vốn giữa một công dân, một quốc gia với các quốc gia còn lại trên thế giới

o Khi cán cân thanh toán mất cân đối → nền kinh tế không ổn định

o Muốn cân bằng cán cân thanh toán thì phải ổn định tỷ giá hối đoái

• Ổn định tỷ giá hối đoái:

Tỷ giá hối đoái là giá cả tiền tệ của một quốc gia được tính bằng tiền tệ của một quốc gia khác Giá ngoại tệ không ổn định sẽ ảnh hưởng đến những hoạt động của nền kinh tế Vì thế, quốc gia phải có chính sách ổn định được tỷ giá hối đoái và bảo đảm cán cân thanh toán quốc tế

e Phân phối công bằng trong thu nhập

Phân phối công bằng trong thu nhập vừa là mục tiêu kinh tế vừa là mục tiêu chính trị - xã hội, nó đề cập đến việc hạn chế sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Dân cư đều phải được chăm só sức khoẻ, chăm sóc giáo dục và văn hóa thông qua các hàng hóa công cộng của quốc gia Một số nước coi mục tiêu phân phối công bằng là một trong các mục tiêu quan trọng

Nghiên cứu các mục tiêu trên đây, chúng ta cần lưu ý:

• Đó là những mục tiêu thể hiện một trạng thái lí tưởng, trong đó sản lượng đạt được ở mức toàn dụng nhân công, lạm phát thấp, cán cân thanh toán quốc tế cân bằng và tỷ giá hối đoái là cố định Trên thực tế, các chính sách kinh tế vĩ mô chỉ có thể tối thiểu hóa sai lệch giữa thực tiễn so với ý niệm mà con người mơ tưởng

• Các mục tiêu trên thường bổ sung cho nhau và trong chừng mực nhất định, chúng hướng vào việc đảm bảo sự tăng trưởng sản lượng của nền kinh tế Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, có thể xuất hiện các xung đột hoặc mâu thuẫn cục

bộ Do vậy, các nhà hoạch định chính sách phải lựa chọn thứ tự ưu tiên và đôi khi phải chấp nhận một sự “hy sinh” nhất định trong một thời kì ngắn hạn

Ngày đăng: 09/01/2021, 08:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm