Bài giảng Lý luận Nhà nước và pháp luật - Bài 6: Hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được biên soạn nhằm cung cấp các kiến thức về khái niệm hệ thống pháp luật; phân chia ngành luật và chế định pháp luật trong hệ thống pháp luật; các ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Trang 1Bài 6 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
Trong bài này, người học sẽ được tiếp cận
các nội dung:
• Khái niệm hệ thống pháp luật
• Căn cứ để phân chia ngành luật và chế
định pháp luật trong hệ thống
pháp luật
• Các ngành luật cơ bản trong hệ thống
pháp luật Việt Nam:
• Phân tích được một số nội dung cơ bản của ngành luật quốc tế đó là: Công pháp quốc tế
và Tư pháp quốc tế
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này sinh viên cần:
• Nắm được nguyên lý xác định ngành luật và chế định pháp luật, xu hướng phân chia hệ thống pháp luật;
• Cập nhật các văn bản pháp luật hiện hành: Luật viên chức, Luật cán bộ công chức, luật
xử lý vi phạm hành chính, Luật tố tụng hành chính; Bộ luật dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự;
Bộ luật hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự… có liên quan đến nội dung của các ngành luật: Hành chính, dân sự, hình sự
Trang 2TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP
Từ năm 2009, Diễn đàn Doanh nghiệp (DĐDN) đã có tọa đàm và nhiều bài viết khẳng định những hệ lụy liên quan đến “hình sự hóa các quan hệ kinh tế” Tuy vậy, đến thời điểm này, đây vẫn là vấn đề thời sự
Khẳng định với DĐDN, PGS TS Nguyễn Như Phát – Trọng tài Viên Trung tâm Trọng tài Quốc
tế Việt Nam (VIAC) – Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật:
“hành chính hóa”, “dân sự hóa” và “hình sự hóa” … tất cả những hiện tượng “hóa” đó đều được coi là áp dụng sai pháp luật và đều cần phải được loại bỏ trong trật tự nhà nước pháp quyền Trong đời sống pháp luật, người ta nhắc đến những hiện tượng như “hành chính hóa”, “dân sự hóa” và “hình sự hóa” Hay đơn cử, một hành vi vi phạm pháp luật doanh nghiệp lại bị truy tố hình sự như vụ “cà phê Xin chào” được gọi là “hình sự hóa” … Tất cả những hiện tượng “hóa”
đó đều được coi là áp dụng sai pháp luật và đều cần phải được loại bỏ trong trật tự nhà nước pháp quyền Theo nghĩa đó, không chỉ Chính phủ mà mọi cơ quan có chức năng thi hành, áp dụng pháp luật đều không được “hình sự hóa” mà không chỉ các quan hệ kinh tế Vì vậy, đây là chủ trương hòan toàn đúng đắn của Chính phủ nhằm khắc phục yếu kém vừa qua trong thực thi pháp luật và nhằm kiến tạo thị trường phát triển theo nhà nước pháp quyền
Bộ luật Hình sự được sửa theo hướng không hình sự hóa quan hệ kinh tế, tạo sự an toàn cho nhà đầu tư là quan điểm chỉ đạo Tuy nhiên, sự thể hiện tinh thần đó trong pháp luật vẫn còn một số vấn đề Rà soát Bộ luật hình sự 2015, lác đác vẫn còn những quy định đi ngược với tinh thần này gây bất an cho cộng đồng doanh nhân Sửa đổi về kỹ thuật các điều luật đó là điều tất nhiên, nhưng đúng là giải quyết gốc rễ câu chuyện này trong pháp luật cũng như trong thực tiễn cần phải dựa trên nền tảng lý thuyết nhất định
Vấn đề mấu chốt là, cần phân biệt hai loại quan hệ pháp luật công và pháp luật tư mà ở đó, khu vực pháp luật công, nơi mà nhà nước là người đại diện cho quyền và lợi ích công cộng (bị xâm hại) thì mới cần đến luật hình sự Còn hành vi xâm phạm đến lợi ích tư thì nên lấy roi vọt của thị trường (tiền bạc) thay thế cho hình phạt
Bên cạnh đó, cần lưu ý là, trong khi định hướng “phi tội phạm hóa” cần hòan thiện các thể chế kinh tế thị trường để không còn cơ hội và mảnh đất để tội phạm xuất hiện và như thế có thế không cần tội phạm hóa
Pháp luật tố tụng hình sự có nêu nguyên tắc “Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự” Theo đó, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được giải quyết song song trong cùng một vụ án, bởi các thẩm phán hình sự Tuy nhiên luật áp dụng cho nội dung dân sự và hình sự lại khác nhau, nguyên tắc và trình tự tố tụng cũng khác nhau Vì vậy, khi giải quyết “Vấn đề dân sự trong vụ án hình sự” vẫn phải áp dụng các nguyên tắc, các quy định của pháp luật dân sự Tuy nhiên, sẽ xuất hiện những vấn đề khó khăn về tính chuyên nghiệp và chuyên trách của thẩm phán và vụ án vụ
án hình sự
Trên thực tế, cơ quan tiến hành tố tụng có thể là thiếu thông tin hay có thể là chủ quan mà đánh giá chưa hết và đúng về nội dung của các quan hệ pháp luật kinh tế, dân sự nên kết luận trong các vụ án đó bị tranh cãi khá gay gắt Nếu khắc phục được điều này thì sẽ không có việc sự phàn nàn về việc giải quyết việc dân sự song song hay sau khi giải quyết vụ án hình sự gây bất bình đẳng trong quan hệ lợi ích công tư
http://viac.vn/hinh-su-hoa-cac-quan-he-kinh-te:-can-loai-bo-trong-nha-nuoc-phap-quyen-a589.html
Trang 31 Hệ thống pháp luật là gì?
2 Có những lĩnh vực pháp luật nào trong hệ thống pháp luật Việt Nam?
3 Căn cứ nào để xác định một quan hệ xã hội cụ thể thuộc đối tượng điều chỉnh
của lĩnh vực pháp luật nào?
4 Mỗi lĩnh vực pháp luật điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội nào?
?
Trang 4ính hệ thống của pháp luật là một trong những yếu tố cơ bản của việc hòan thiện nhà nước pháp quyền Tính hệ thống của pháp luật được xem xét dưới nhiều góc độ: Cấu trúc pháp luật, hình thức biểu hiện (nguồn) của pháp luật Nguồn gốc, bản chất và chức năng của nhà nước
Hệ thống pháp luật là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành có mối quan hệ nội tại thống nhất Hệ thống pháp luật được hình thành từ bộ phận nhỏ nhất là các quy phạm pháp luật, nhiều quy phạm pháp luật có tính chất đặc thù tạo thành chế định pháp luật, các chế định pháp luật có các đặc trưng giống nhau nhất định tạo thành các ngành luật… Về mặt nội dung, giữa các bộ phận của hệ thống pháp luật luôn có sự liên kết, ràng buộc, thống nhất và tác động qua lại lẫn nhau
Hệ thống pháp luật có thể được định nghĩa như sau: Hệ thống pháp luật là cấu trúc bên trong của pháp luật, biểu hiện ở sự liên kết, gắn bó thống nhất nội tại với nhau của các quy phạm pháp luật, được phân định thành chế định pháp luật, ngành luật, có mối quan
hệ qua lại chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể thống nhất1
Trước hết, hệ thống pháp luật là cấu trúc bên trong của pháp luật được hình thành một
cách khách quan, phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Cũng bởi vậy nên cấu trúc của hệ thống pháp luật được quyết định bởi chính các quan hệ xã hội mà chúng điều chỉnh
Thứ hai, hệ thống pháp luật được phân định thành các ngành luật, trong các ngành luật
có các chế định pháp luật và trong chế định pháp luật là các quy phạm pháp luật cụ thể
Thứ ba, hệ thống pháp luật luôn là một tập hợp có tính ổn định tương đối, nó luôn vận
động, thay đổi thông qua việc được bổ sung các quy phạm pháp luật mới, thay thế các quy phạm pháp luật không còn phù hợp, cho phù hợp với nhu cầu điều chỉnh pháp luật
và sự phát triển mọi mặt của một quốc gia
Thứ tư, giữa các bộ phận của hệ thống pháp luật luôn có mối quan hệ chặt chẽ, thống
nhất với nhau
xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Ngành luật là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh một loại quan hệ xã hội có những đặc điểm chung thuộc một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội, bằng những phương pháp nhất định
Mỗi ngành luật có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của riêng mình Đây chính là căn cứ để phân định các ngành luật trong hệ thống pháp luật
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, tr330, NXB Tư pháp 2016
T
Trang 5Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là những quan hệ xã hội được pháp luật tác động đến có chung tính chất, phát sinh trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội Các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của một ngành luật có thể biến động theo thời gian và phụ thuộc vòa quan điểm của các nhà làm luật, nhà nghiên cứu cũng như các điều kiện chính trị, xã hội…
Phương pháp điều chỉnh pháp luật là cách thức mà pháp luật tác động lên các quan hệ xã hội Phương pháp điều chỉnh của ngành luật phụ thuộc vào nội dung, tính chất của quan
hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật
Cách thức tác động của pháp luật lên các quan hệ xã hội có thể là: cấm đoán (cấm tiến hành những hành vi, hoạt động nhất định); bắt buộc (buộc phải thực hiện hoạt động hoặc hành vi nhất định); cho phép (được phép thực hiện những hoạt động, hành vi nhất định trong những phạm vi nhất định)
Mỗi ngành luật khác nhau, phụ thuộc vào các đặc điểm, tính chất của quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh sẽ có các phương pháp điều chỉnh không giống nhau Thông thường phương pháp điều chỉnh pháp luật có thể chia làm hai loại đặc trưng là phương pháp mệnh lệnh và tự định đoạt Trong đó, phương pháp mệnh lệnh điều chỉnh các quan
hệ xã hội mà trong đó có một bên nhân danh nhà nước, mang quyền lực nhà nước (quan
hệ pháp luật hành chính, quan hệ pháp luật hình sự…) Phương pháp tự định đoạt thường được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội mà các bên chủ thể luôn ở vị trí bình đẳng với nhau (quan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân và gia đình,…)
• Luật Hiến pháp (luật nhà nước) bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng nhất gắn liền với việc tổ chức quyền lực nhà nước
• Luật hành chính bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động chấp hành, điều hành của nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
• Luật hình sự bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, đồng thời xác định hậu quả đối với chủ thể thực hiện hành vi phạm tội
• Luật tố tụng hình sự bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và hoạt động kiểm sát việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự
• Luật dân sự bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất bình đẳng phát sinh giữa các cá nhân, pháp nhân với nhau
• Luật tố tụng dân sự bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tòa án giải quyết các vụ việc về dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh doanh thương mại của các cá nhân, pháp nhân
• Luật hôn nhân và gia đình bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản phát sinh từ việc kết hôn giữa nam và nữ
• Luật kinh tế bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức quản lý và thực hiện hoạt động kinh doanh giữa các doanh nghiệp với nhau và với các cơ quan quản lý nhà nước
Trang 6• Luật lao động bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa người lao động và người sử dụng lao động
• Luật tài chính bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng ngân sách nhà nước
• Luật đất đai bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai
a Khái niệm chung về Luật Hành chính
Trong chế độ xã hội có nhà nước thì phần lớn các công việc quan trọng của xã hội do
nhà nước quản lý và đó là hoạt động Quản lý nhà nước
Dưới giác độ pháp lý, hoạt động quản lý nhà nước được hiều theo hai nghĩa:
• Theo nghĩa rộng: Quản lý nhà nước là mọi hoạt động của nhà nước do các chủ thể có quyền nhân danh nhà nước tiến hành trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước
• Theo nghĩa hẹp: là hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp (gọi là quản
lý hành chính nhà nước)
b Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của Luật Hành chính
• Đối tượng điều chỉnh
Như đã nói ở trên, chức năng quản lý hành chính nhà nước trước hết và chủ yếu được giao cho hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý hành chính trên các lĩnh vực thì đều có thể làm phát sinh những quan hệ xã hội, những quan hệ này liên quan trực tiếp đến các quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nhà nước nói chung Những quan hệ xã hội trong quản lý nhà nước đều có tính chất chấp hành – điều hành và thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Hành chính
Những quan hệ xã hội do Luật hành chính điều chỉnh có thể khái quát chia thành bốn nhóm sau đây:
o Các quan hệ chấp hành – điều hành phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng quản lý hành chính trên mọi lĩnh vực của đờì sống xã hội;
o Các quan hệ chấp hành – điều hành hình thành trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước xây dựng, củng cố chế độ công tác nội bộ của cơ quan để ổn định
về tổ chức nhằm hòan thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình;
o Các quan hệ có tính chất chấp hành – điều hành phát sinh trong hoạt động tổ chức
và công tác nội bộ của các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát (cơ quan nhà nước khác);
Trang 7o Các quan hệ có tính chất chấp hành – điều hành phát sinh khi các cơ quan nhà nước khác, tổ chức xã hội hoặc cá nhân được nhà nước trao quyền thực hiện những nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước cụ thể do pháp luật quy định
Nhìn chung, những quan hệ xã hội do luật hành chính điều chỉnh đều liên quan đến việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước Trên tinh thần đó, có thể nói: Luật hành chính là ngành luật về quản lý nhà nước
Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa như sau: Luật hành chính là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động quản
lý hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và ổn định chế độ công tác nội bộ, các quan hệ xã hội phát sinh khi các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc cá nhân thực hiện hoạt động quản lý hành chính đối với các vấn đề cụ thể do pháp luật quy định
biện pháp cưỡng chế bảo đảm các quyết định của mình được thực hiện Tính chất
quyền lực - phục tùng như vậy là yêu cầu tất yếu của quản lý Vì vậy, phương pháp mệnh lệnh là phương pháp điều chỉnh chủ yếu của luật hành chính hay còn được gọi
Là một loại quan hệ pháp luật cụ thể, quan hệ pháp luật hành chính có tất cả những đặc điểm của quan hệ pháp luật nói chung: đó là các quan hệ ý chí, trong đó mỗi bên (chủ thể) có các quyền và nghĩa vụ pháp lý, tức là các chủ thể được và phải xử sự trong
Trang 8những mức độ, phạm vi nhất định mà nhà nước đã xác định trong các quy phạm pháp luật
Tuy nhiên, quan hệ pháp luật hành chính cũng có những đặc điểm riêng Những đặc điểm này xuất phát từ các đặc điểm của luật hành chính Trong đó, những đặc điểm chủ yếu là:
chính luôn gắn liền với hoạt động chấp hành, điều hành của quản lý nhà nước Các quyền và nghĩa vụ này chỉ phát sinh trong quá trình quản lý hành chính nhà nước trong các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội
• Thứ hai, quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh theo yêu cầu hợp pháp của
bất kỳ bên chủ thể nào, sự thỏa thuận của bên kia không phải là điều kiện bắt buộc phải có cho việc hình thành các quan hệ pháp luật hành chính
• Thứ ba, trong quan hệ pháp luật hành chính bao giờ cũng có ít nhất một chủ thể
mang quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước và để thực hiện quyền lực nhà nước Đây là chủ thể bắt buộc phải có, mà thiếu nó thì không thể hình thành quan hệ pháp luật hành chính Chủ thể này có thể là cơ quan hành chính nhà nước, là cán bộ, công chức hoặc các cơ quan, tổ chức khác được nhà nước trao quyền thực hiện những nhiệm vụ quản lý nhà nước cụ thể nào đó Do vậy, không thể hình thành một quan hệ pháp luật hành chính giữa các cá nhân, tổ chức xã hội với nhau nếu các cá nhân, tổ chức đó không được nhà nước trao quyền thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước Trong các quan hệ pháp luật hành chính, chủ thể nhân danh quyền lực nhà nước luôn
có quyền đơn phương đưa ra các quyết định quản lý và bên kia (các đối tượng bị quản lý) có nghĩa vụ bắt buộc phải chấp hành các quyết định đơn phương đó
• Thứ tư, phần lớn các tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính được
giải quyết theo thủ tục hành chính Một số ít các tranh chấp có tính chất phức tạp, sau khi đã giải quyết theo thủ tục hành chính mà không đạt kết quả, thì có thể được giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính Các quan hệ phát sinh trong tố tụng hành chính, có những đặc điểm riêng phù hợp với đặc điểm của quan hệ pháp luật hành chính và khác biệt với các quan hệ trong tố tụng dân sự, tố tụng hình sự
• Thứ năm, bên chủ thể vi phạm trong quan hệ pháp luật hành chính luôn phải chịu
trách nhiệm pháp lý trước nhà nước chứ không phải trước bên chủ thể kia Bởi vì, bản chất của sự vi phạm đó bao giờ cũng là vi phạm trật tự quản lý nhà nước nói chung
Khoa học Luật Hành chính chia các quan hệ pháp luật hành chính thành hai loại:
• Quan hệ pháp luật hành chính dọc hình thành giữa các chủ thể có quan hệ lệ thuộc
về mặt tổ chức; ví dụ: những quan hệ giữa Chính phủ với các bộ, cơ quan ngang bộ; giữa Chính phủ với uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
• Quan hệ pháp luật hành chính ngang hình thành giữa các chủ thể của luật hành chính
mà giữa họ không có sự lệ thuộc về mặt tổ chức, chẳng hạn như những quan hệ giữa các bộ, các ngành với nhau Giữa các cơ quan này có mối quan hệ phối hợp để cùng thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước trong phạm vi ngành hoặc các địa phương Cũng thuộc loại này là những quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức xã hội, với công dân, người nước ngoài
Trang 96.3.2 Một số nội dung cơ bản của pháp luật hành chính Việt Nam
a Cơ quan hành chính nhà nước
• Khái niệm và đặc điểm cơ quan hành chính nhà nước
Các cơ quan hành chính nhà nước là các chủ thể chủ yếu của quan hệ pháp luật hành chính Các cơ quan này là một bộ phận của bộ máy nhà nước, do nhà nước thành lập
để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước Đó là những cơ quan thực hiện các hoạt động chấp hành, điều hành các mặt hoạt động của đời sống xã hội Chính vì vậy, hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước cũng chính là hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước
Là một loại cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước có tất cả những đặc
điểm của cơ quan nhà nước nói chung, mà trong đó, đặc điểm quan trọng nhất là tính
quyền lực nhà nước Các cơ quan này khi hoạt động đều nhân danh nhà nước, vì lợi
ích nhà nước Nó có quyền đơn phương đưa ra các quyết định quản lý để thực hiện chức năng của mình Mặt khác, các quyết định đơn phương đó có hiệu lực bắt buộc thực hiện và cơ quan nhà nước có quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế cần thiết để đảm bảo thực thi các quyết định đơn phương đó
Một đặc điểm chung khác của các cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan hành
chính nhà nước là phạm vi thẩm quyền Thẩm quyền có thể được hiểu là tổng thể
những quyền và nghĩa vụ chung cũng như các quyền hạn cụ thể được pháp luật quy định để các cơ quan đó thực hiện chức năng của mình Thẩm quyền của mỗi cơ quan nhà nước bao giờ cũng được xác định giới hạn về phạm vi, đối tượng tác động cũng như về không gian, thời gian Trên cơ sở đó, các cơ quan nhà nước chỉ hoạt động trong phạm vi thẩm quyền của mình, nếu vượt khỏi phạm vi đó là vi phạm pháp luật Nhưng trong phạm vi đó, cơ quan hành chính nhà nước hoạt động độc lập, chủ động, sáng tạo Mặt khác, việc thực hiện thẩm quyền đã được quy định cũng là nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước Việc thực hiện các thẩm quyền đó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan, sự xét đoán riêng của bản thân một cơ quan nào cũng như của bất kỳ người lãnh đạo nào
Bên cạnh những đặc điểm chung của cơ quan nhà nước, các cơ quan hành chính nhà nước còn có một số đặc điểm riêng sau đây phân biệt với các hoạt động của các cơ luật pháp và tư pháp
o Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước luôn luôn là hoạt động chấp
hành của cơ quan quyền lực Hoạt động của các cơ quan này phải trên cơ sở và
để thực hiện Hiến pháp, luật và các nghị quyết của Quốc hội, lệnh và quyết định của Chủ tịch nước, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Ở địa phương, các cơ quan hành chính nhà nước phải chấp hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp Mặt khác, cơ quan hành chính nhà nước mỗi cấp còn phải chấp hành đối với văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên
Để đảm bảo tính chất chấp hành này các cơ quan hành chính phải báo cáo công việc của mình trước cơ quan quyền lực, chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực
o Hệ thống tổ chức các cơ quan hành chính nhà nước hình thành từ những mối quan
hệ qua lại chặt chẽ giữa các cơ quan, các bộ phận tạo thành với nhau, có quan hệ
trực thuộc với nhau Đó có thể là các quan hệ trực thuộc dọc, quan hệ trực thuộc
Trang 10ngang hoặc quan hệ trực thuộc hai chiều (chế độ song trùng trực thuộc) Trong hệ thống đó, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất Toàn bộ hệ thống
và mối quan hệ chặt chẽ giữa các cơ quan hành chính nhà nước tạo thành bộ máy hành chính quốc gia - bộ phận hợp thành quan trọng của bộ máy nhà nước
o Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới có hệ thống các đơn vị cơ sở trực thuộc (các trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu) Các đơn vị cơ sở này góp phần tích cực vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước
• Các loại cơ quan hành chính nhà nước
Các cơ quan hành chính nhà nước có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau
o Căn cứ theo cơ sở pháp lý của việc thành lập
Các cơ quan hành chính bao gồm:
Thứ nhất, các cơ quan hành chính mà việc thành lập được Hiến pháp quy định nên
còn gọi là các cơ quan hiến định Thuộc loại này có thể kể đến là:
▪ Chính phủ với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất
▪ Các Bộ, cơ quan ngang Bộ là các cơ quan của Chính phủ thực hiện quản lý một ngành, một lĩnh vực trong phạm vi cả nước
▪ Uỷ ban nhân dân các địa phương là các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Thứ hai, những cơ quan hành chính nhà nước được thành lập trên cơ sở các văn
bản dưới luật Đó là các cơ quan thuộc Chính phủ, các sở, phòng, ban trực thuộc các Ủy ban nhân dân các cấp Vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và chế độ pháp lý về tổ chức, hoạt động của các cơ quan này được quy định ngay trong các văn bản thành lập nên cơ quan đó (Nghị quyết, Nghị định, Quyết định)
o Căn cứ vào phạm vi thẩm quyền
Các cơ quan hành chính có thể phân chia thành:
▪ Các cơ quan hành chính nhà nước trung ương gồm Chính phủ, các Bộ, các cơ
quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ quản lý nhà nước về ngành hay lĩnh vực công tác Hoạt động quản lý của các cơ quan này bao trùm trong phạm vi toàn quốc Các quyết định quản lý do các cơ quan này ban hành có hiệu lực thi hành trên phạm vi cả nước
▪ Các cơ quan hành chính nhà nước địa phương gồm Uỷ ban nhân dân các cấp
và các sở, phòng, ban thuộc Uỷ ban nhân dân, hoạt động quản lý trong phạm
vi lãnh thổ địa phương Các văn bản do các cơ quan này ban hành chỉ có hiệu lực pháp lý trong phạm vi lãnh thổ hoạt động của các cơ quan đó, đối với các
tổ chức và công dân tại địa phương đó
o Căn cứ theo thẩm quyền quản lý
Các cơ quan hành chính nhà nước được chia thành: cơ quan có thẩm quyền chung
và cơ quan có thẩm quyền riêng
Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung gồm Chính phủ và Uỷ ban
nhân dân các cấp Những cơ quan này, theo quy định của Hiến pháp có thẩm quyền quản lý chung đối với các ngành, các lĩnh vực khác nhau trong phạm vi cả nước hoặc trong từng địa phương Hoạt động của các cơ quan này đảm bảo sự
Trang 11phối hợp và sự phát triển thống nhất, nhịp nhàng giữa các ngành, các lĩnh vực, giữa các vùng trong phạm vi cả nước
Cơ quan hành chính có thẩm quyền riêng, còn gọi là thẩm quyền chuyên môn
gồm các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các sở, phòng, ban trực thuộc uỷ ban nhân dân là những cơ quan quản lý theo ngành hoặc theo chức năng, trực tiếp quản lý một ngành, một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực trên phạm vi cả nước hoặc ở từng địa phương
o Căn cứ theo chế độ lãnh đạo
Các cơ quan hành chính nhà nước có thể được tổ chức và hoạt động theo chế độ
lãnh đạo tập thể hoặc theo chế độ lãnh đạo cá nhân Thông thường, các cơ quan
hành chính có thẩm quyền chung thì hoạt động theo nguyên tắc lãnh đạo tập thể còn các cơ quan hành chính có thẩm quyền chuyên môn hoạt động theo nguyên tắc lãnh đạo cá nhân
Tuy nhiên, theo quy định của Hiến pháp 2013 thì có sự kết hợp giữa chế độ tập thể lãnh đạo với chế độ cá nhân lãnh đạo trong hoạt động của Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp Các cơ quan này thường quyết định những vấn đề quan trọng có liên quan đến nhiều lĩnh vực, do vậy cần có sự đóng góp trí tuệ tập thể trong bàn bạc và ra quyết định Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cũng có quyền quyết định những vấn đề thuộc phạm vi chức trách của mình, căn cứ vào nhiệm vụ quyền hạn được giao
Các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn tổ chức và hoạt động theo chế độ cá nhân lãnh đạo, theo đó, người đứng đầu mỗi cơ quan như Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có quyền ra các quyết định cá nhân để đặt ra những quy tắc quản lý nhà nước đối với ngành hay lĩnh vực cũng như để thực hiện chức năng nhiệm vụ mà pháp luật quy định
b Quy chế pháp lý hành chính của cán bộ, công chức, viên chức
Khái niệm cán bộ, công chức
Hoạt động quản lý nhà nước xét đến cùng được thực hiện thông qua hành vi của các cá nhân cụ thể, được Nhà nước trao cho việc thực hiện quyền lực nhà nước Từ đó mà hình thành phạm trù cán bộ, công chức - một chủ thể đặc biệt và quan trọng của Luật hành chính
Cán bộ, công chức là một đối tượng lao động đặc biệt, họ thiết lập quan hệ lao động với Nhà nước và thực hiện công vụ, nhiệm vụ do nhà nước giao
Theo pháp luật hiện hành, những người làm việc tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp
theo chế độ hợp đồng lao động được gọi là người lao động (người làm công ăn lương);
cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng lao động (gọi chung là người sử dụng lao động)
có trách nhiệm trả lương cũng như các đãi ngộ khác đối với họ và quy chế pháp lý điều chỉnh đối tượng này là pháp luật lao động Tuy cũng là những người lao động nhưng những người được tuyển dụng, bổ nhiệm, bầu hay cử làm việc tại các cơ quan nhà nước, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được gọi là cán bộ, công chức; những người được
tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập như trường học,
bệnh viện gọi là viên chức
Trang 12Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, khái niệm về cán bộ, công chức được phân biệt như sau:
Cán bộ(2) là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung
là cấp tỉnh), huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Công chức(3) là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân
mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm
kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên
môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Luật Cán bộ, Công chức cũng quy định về các chức vụ, chức danh của cán bộ, công chức cấp xã (Điều 61); nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức cấp xã (Điều 62); bầu cử, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã (Điều 63) và đánh giá, phân loại, xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm, thôi việc, nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức cấp xã (Điều 64)
Ở nước ta, đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị rất đa dạng, bao gồm những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội; những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào những chức danh, ngạch công chức trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập v.v… lại có sự đan xen giữa các chức vụ lãnh đạo trong Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội v.v… chịu sự điều chỉnh không chỉ bởi pháp luật mà còn phải tuân theo Điều lệ của các
tổ chức đó
Giữa cán bộ và công chức tuy có những điểm chung như: là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; cùng có các quyền, nghĩa vụ chung như trung thành với Đảng, Nhà nước, tận tụy với nhân dân, chịu trách nhiệm trước pháp luật
2 Điều 4, Khoản 1, Luật Cán bộ, Công chức năm 2008
3 Điều 4, Khoản 2, Luật Cán bộ, Công chức năm 2008
Trang 13về việc thi hành nhiệm vụ; đều được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Tuy nhiên, cũng có sự khác nhau giữa cán bộ, công chức đó là:
Cán bộ là những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm để giữ chức vụ lãnh đạo trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội các cấp Ở mỗi cấp, cán bộ là những người giữ trọng trách trong một cơ quan, tổ chức, do đó yêu cầu không thể thiếu là khả năng bao quát với tư duy, năng lực lãnh đạo, quản lý và trình độ chính trị đáp ứng và phù hợp với yêu cầu của cấp mà cán bộ đó là thành viên; còn công chức là người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào những vị trí lãnh đạo, quản lý, vào các ngạch, bậc khác nhau để thực hiện công việc mang tính chuyên môn, nghiệp vụ; yêu cầu có tính tiên quyết đối với họ là phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với chức vụ, ngạch, bậc, vị trí việc làm
Để trở thành cán bộ phải thông qua việc bầu cử, phê chuẩn hoặc bổ nhiệm; còn đối với công chức về cơ bản phải qua thi tuyển hoặc xét tuyển, bổ nhiệm với những tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể không giống nhau Chế độ đào tạo, bồi dưỡng, điều kiện bổ nhiệm vào những chức danh, chức vụ, ngạch, bậc đối với công chức vì thế có những yêu cầu khác với cán bộ
Công chức quy định tại Điều 32 của Luật Cán bộ, Công chức bao gồm: a) Công chức
trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội; b) Công chức trong cơ quan nhà nước; c) Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập; d) Công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp
Theo quy định của Điều 61 Luật Cán bộ, Công chức 2008, công chức cấp xã có các chức
danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa
chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội
So với các đối tượng lao động khác, cán bộ, công chức có những đặc trưng cơ bản là:
(1) Cán bộ, công chức phải là công dân Việt Nam thiết lập quan hệ lao động với Nhà nước thông qua chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm, bầu hay cử Họ làm việc tại các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
(2) Cán bộ, công chức bao giờ cũng là người thực hiện một công vụ, nhiệm vụ nào đó của Nhà nước Họ phải gánh vác một nghĩa vụ nhất định đối với Nhà nước và do vậy họ cũng được trao những quyền hạn nhất định để hòan thành nghĩa vụ của mình Trong quá trình thực hiện công vụ, nhiệm vụ, cán bộ, công chức chỉ được hành động trong phạm vi quyền hạn được giao
(3) Hoạt động thi hành công vụ, nhiệm vụ của cán bộ, công chức không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất mà đó là những hoạt động để thực hiện chức năng quản lý nhà nước nói chung
(4) Cán bộ, công chức là đối tượng lao động đặc biệt Họ thực thi quyền lực nhà nước trên ba mặt: lập pháp, hành pháp và tư pháp Do đó, quy chế pháp lý điều chỉnh đối với cán bộ, công chức được xác định theo Luật Hành chính
Trang 14(5) Cán bộ, công chức được hưởng lương và các chế độ đãi ngộ khác do ngân sách nhà nước chi trả
Như vậy, cán bộ, công chức là những người có quan hệ lao động với Nhà nước Trong quan hệ này luôn luôn tồn tại hai yếu tố: yếu tố tự nguyện của người lao động và yếu tố
ý chí của nhà nước Sự đồng ý của người lao động là yếu tố cần thiết, là điều kiện bước đầu để quan hệ này được hình thành Song, ý chí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới là yếu tố quyết định hình thành quan hệ pháp luật giữa hai bên
Người lao động không có quyền buộc Nhà nước phải trao cho mình một chức vụ hoặc những hoạt động nhất định Khi đã trở thành công chức nhà nước, họ không có quyền từ chối những công việc được giao Nhà nước có quyền thay đổi, điều động công tác, thậm chí chấm dứt quan hệ đó, trong các trường hợp nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước Các đối tượng là cán bộ, công chức được hưởng lương từ ngân sách nhà nước Riêng đối với công chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xă hội (trường học, bệnh viện công lập) được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn
vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn
vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Quy chế pháp lý điều chỉnh đối với những người là viên chức làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc thì áp dụng Luật Viên chức năm 2010 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành
Trách nhiệm pháp lý đối với cán bộ, công chức
Trách nhiệm pháp lý đối với cán bộ, công chức phát sinh khi họ có hành vi vi phạm
pháp luật hoặc vi phạm kỷ luật công vụ
Cán bộ, công chức có thể phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý với tư cách là cán bộ, công chức hoặc với tư cách công dân Nếu cán bộ, công chức vi phạm pháp luật với tư cách công dân thì về nguyên tắc, họ phải chịu trách nhiệm pháp lý bình đẳng như công dân khác vi phạm pháp luật Trong phạm vi chương này chỉ xem xét trách nhiệm pháp lý của
cán bộ, công chức trong quá trình thi hành nhiệm vụ, công vụ nhà nước Sau đây là các
loại trách nhiệm pháp lý có thể được áp dụng đối với cán bộ, công chức
Một là, trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với cán bộ, công chức khi họ thực hiện
hành vi phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự Nếu cán bộ, công chức thực hiện tội phạm có tính chất đặc thù gắn liền với nhiệm vụ, công vụ được giao thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tương ứng của chương XXIII và XXIV Bộ luật Hình sự năm 2015 Cán bộ, công chức phạm tội không có tính chất đặc thù (với tư cách công dân) thì khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi tư cách cán bộ, công chức là tình tiết tăng nặng để xử lý nghiêm khắc hơn so với các công dân cùng phạm tội đó
Hai là, trách nhiệm hành chính được áp dụng khi cán bộ, công chức có hành vi vi phạm
hành chính có tính chất đặc thù gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ Việc xử
lý vi phạm hành chính của cán bộ, công chức được tiến hành theo quy định của pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính
Ba là, trách nhiệm kỷ luật được áp dụng đối với cán bộ, công chức khi họ có hành vi vi
phạm kỷ luật trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ Đây là chế độ kỷ luật hành chính,
Trang 15khác với chế độ kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật lao động
Cán bộ, công chức vi phạm các quy định của pháp luật, nếu chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật(4) (trách nhiệm kỷ luật) theo quy định của Luật Cán bộ, công chức
(1) Đối với cán bộ, các hình thức kỷ luật bao gồm: a) Khiển trách; b) Cảnh cáo; c) Cách
chức; d) Bãi nhiệm
(2) Đối với công chức, các hình thức kỷ luật bao gồm: a) Khiển trách; b) Cảnh cáo; c)
Hạ bậc lương; d) Giáng chức; đ) Cách chức; e) Buộc thôi việc
Một điểm mới về trách nhiệm của công chức(5) theo Luật Cán bộ, Công chức năm 2008
là nếu công chức hai năm liên tiếp hòan thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có hai năm liên tiếp, trong đó một năm hòan thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và một năm không hòan thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bố trí công tác khác
Công chức hai năm liên tiếp không hòan thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết thôi việc
Bốn là, trách nhiệm vật chất là trách nhiệm bồi thường bằng tiền của cán bộ, công chức
cho cơ quan, tổ chức, đơn vị bị thiệt hại về tài sản do cán bộ, công chức đó làm mất mát,
hư hỏng hoặc gây ra Việc xử lý trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức được thực hiện theo Nghị định số 118/2006/NĐ-CP ngày 10-10-2006 của Chính phủ Cán bộ, công chức bị xử lý trách nhiệm vật chất có quyền khiếu nại về quyết định bồi thường thiệt hại của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo Trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức suy cho cũng là một dạng đặc biệt của trách nhiệm dân sự
Năm là, trách nhiệm bồi thường của nhà nước là trách nhiệm của nhà nước về việc bồi
thường những thiệt hại mà các cá nhân, tổ chức đã phải gánh chịu do cán bộ, công chức gây ra khi thi hành nhiệm vụ, công vụ trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án Việc bồi thường của nhà nước cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại được thực hiện theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009 Kinh phí bồi thường được đảm bảo từ ngân sách nhà nước Cán bộ, công chức có hành vi vi phạm pháp luật trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ gây thiệt hại cho người khác phải hòan trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền
c Văn bản hành chính nhà nước
• Khái niệm và đặc điểm của văn bản hành chính nhà nước
Văn bản hành chính nhà nước là những văn bản do các chủ thể quản lý nhà nước ban hành nhằm thực hiện hoạt động chấp hành điều hành của mình Tính chất, đặc điểm của văn bản hành chính nhà nước bắt nguồn từ tính chất, đặc điểm của quản lý hành
4 Luật Cán bộ, Công chức 2008: Điều 78-79
5 Xem Điều 58,Luật Cán bộ, Công chức 2008
Trang 16chính và hiệu lực của nó tuỳ thuộc vào địa vị pháp lý của các cơ quan hành chính nhà nước đã ban hành văn bản
Văn bản hành chính nhà nước là một loại văn bản nhà nước nên nó có những đặc điểm của văn bản nhà nước nói chung, đặc biệt là tính chất pháp lý của nó Nhiều văn bản hành chính nhà nước ở cấp trung ương và địa phương là văn bản quy phạm pháp luật nên việc xây dựng và ban hành cũng phải thực hiện theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như đã nghiên cứu trong Bài 3 Ngoài văn bản quy phạm
pháp luật ra, các cơ quan hành chính còn ban hành một số lượng lớn những văn bản
hành chính, văn bản chuyên ngành để chấp hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh và các
nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan quyền lực cùng cấp cũng như để chấp hành văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên Đó là các văn bản áp dụng quy phạm pháp luật Đây là đặc điểm chung của văn bản hành chính nhà nước
• Phân loại văn bản hành chính nhà nước
Văn bản hành chính nhà nước được ban hành bởi nhiều chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, do đó có số lượng lớn, hình thức đa dạng và phạm vi áp dụng khác nhau
Căn cứ vào cơ quan ban hành (6), văn bản hành chính nhà nước là văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:
o Văn bản của Chính phủ: Nghị định;
o Văn bản của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định;
o Văn bản của Bộ trưởng; thủ trưởng cơ quan ngang Bộ: Thông tư;
o Văn bản của Tổng Kiểm toán Nhà nước: Quyết định;
o Văn bản của Uỷ ban nhân dân các cấp: Quyết định;
o Văn bản của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Thông tư;
o Văn bản liên tịch (Nghị quyết liên tịch và Thông tư liên tịch), gồm có:
▪ Nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
▪ Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Căn cứ vào tính chất pháp lý và phạm vi đối tượng áp dụng, có thể chia thành ba loại
văn bản hành chính nhà nước(7) là:
o Văn bản quy phạm pháp luật: nghị định, quyết định, thông tư… Mục đích của việc ban hành các văn bản này là để các chủ thể quản lý nhà nước đặt ra quy tắc quản lý nhà nước về những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình theo quy định của pháp luật
6 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015
7 Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thư
Trang 17o Văn bản áp dụng quy phạm pháp luật (văn bản hành chính cá biệt) như: nghị quyết, quyết định, chỉ thị… Các văn bản này được ban hành để giải quyết các công việc cụ thể theo thủ tục hành chính trong các lĩnh vực của quản lý nhà nước
o Các văn bản hành chính thông thường khác như: thông cáo, thông báo, chương trình, kế hoạch, phương án, đề án, báo cáo, biên bản, tờ trình, hợp đồng, công văn, công điện, giấy chứng nhận, giấy uỷ nhiệm, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy đi đường, giấy biên nhận hồ sơ, phiếu gửi, phiếu chuyển…
Đối với các loại văn bản hành chính nhà nước là văn bản quy phạm pháp luật, các nguyên tắc và trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành đã được trình bày trong Chương III của giáo trình này Các văn bản áp dụng quy phạm pháp luật trong quản lý nhà nước thường được ban hành khi kết thúc một thủ tục hành chính; các văn bản hành chính thông thường khác được ban hành dưới hình thức và theo thủ tục phù hợp với tính chất pháp lý, đặc điểm nội dung, thẩm quyền và tính chất của công việc hành chính theo quy định của pháp luật hành chính
Để nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng ngừa và chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước; ngày 20/6/2012 tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật xử lý vi phạm hành chính
Điều 2, Luật Xử lý vi phạm hành chính – ngày 20/6/2012 xác định khái niệm vi phạm hành chính như sau: “Vi phạmhành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”
Như vậy, vi phạm hành chính là một dạng cụ thể của vi phạm pháp luật, tuy mức độ nguy hiểm của nó thấp hơn tội phạm hình sự nhưng vi phạm hành chính là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, của tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn xã hội; gây mất trật tự, kỷ cương trong các lĩnh vực quản lý nhà nước
Để phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm và các vi phạm pháp luật khác, có thể nhận thấy vi phạm hành chính có các đặc điểm sau đây:
o Vi phạm hành chính là loại vi phạm pháp luật thường xảy ra trong các lĩnh vực của quản lý nhà nước, nhưng mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm hình sự
o Chủ thể vi phạm hành chính rất đa dạng, có thể là các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân (công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch)
Trang 18o Vi phạm hành chính thường xâm hại các quy tắc quản lý nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
• Trách nhiệm hành chính
Khi một cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật, về nguyên tắc, họ phải gánh chịu trách nhiệm những hậu quả pháp lý bất lợi nhất định theo quy định của pháp luật Như vậy, trách nhiệm hành chính là một loại trách nhiệm pháp lý áp dụng
để xử lý các cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm hành chính xâm hại quy tắc quản lý nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
So với các loại trách nhiệm pháp lý khác, trách nhiệm hành chính có các đặc điểm riêng, bao gồm:
o Trách nhiệm hành chính là hình thức trách nhiệm pháp lý áp dụng để xử lý các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước
o Chủ thể có thẩm quyền áp dụng trách nhiệm hành chính chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước và cán bộ, công chức của các cơ quan đó
o Đối tượng bị áp dụng trách nhiệm hành chính là các tổ chức, cá nhân (Việt Nam
và nước ngoài) khi họ có hành vi vi phạm pháp luật hành chính
o Trách nhiệm hành chính là trách nhiệm pháp lý mà tổ chức, cá nhân phải gánh chịu trước nhà nước khi họ vi phạm hành chính
o Việc truy cứu trách nhiệm hành chính được tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật hành chính và theo thủ tục hành chính
Theo nghĩa chung, trách nhiệm hành chính trước hết là những hình thức xử lý vi phạm hành chính, theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 Ngoài ra, còn bao gồm trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức theo Luật Cán bộ, công chức 2008 đã được đề cập ở phần trên Trong phần này, chỉ đề cập trách nhiệm hành chính do vi phạm hành chính
▪ Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị
xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;
▪ Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;
▪ Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả
vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;
▪ Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần Nhiều người cùng thực hiện hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều
Trang 19bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó Một người thực hiện nhiều hành
vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm;
▪ Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính;
▪ Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân
(2) Nguyên tắc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
▪ Cá nhân chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu thuộc một trong các đối tượng quy định tại các Điều 90, 92, 94 và 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;
▪ Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;
▪ Việc quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;
▪ Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính, cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính
o Đối tượng bị xử lý viphạm hành chính
Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình
thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện
hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Bao gồm tất cả cá nhân, tổ chức Việt Nam; cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trên các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính nhà nước,
chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự Các đối tượng bị xử phạt vi
phạm hành chính bao gồm:
Đối với cá nhân: Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi
phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì chỉ bị xử phạt cảnh cáo
Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động
có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử lý
Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình
gây ra
Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng
tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã
Trang 20hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác
o Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là cá nhân theo quy định tại các Điều 90, 92, 94 và 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính
Các biện pháp xử lý hành chính không áp dụng đối với người nước ngoài
• Các hình thức xử lý vi phạm hành chính
Hình thức xử lý vi phạm hành chính bao gồm các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả, các biện pháp xử lý hành chính Ngoài ra, để tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính và tạo điều kiện cho việc xử lý vi phạm hành chính được tiến hành thuận lợi, Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 còn quy định các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính
(1) Xử phạt vi phạm hành chính (Xử phạt hành chính)
Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:
không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ 8 và theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản
o Phạt tiền (Điều 23-24): Được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành
chính và không thuộc trường hợp bị xử phạt cảnh cáo Mức phạt tiền quy định chung trong xử phạt vi phạm hành chính từ 50.000 (năm mươi ngàn) đồng đến 1.000.000.000 (một tỷ) đồng đối với cá nhân, từ 100.000 (một trăm ngàn) đồng đến 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng đối với tổ chức
Mức phạt tiền tối đa trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước được thực hiện theo điều 24, Luật xử lý vi phạm hành chính Đối với khu vực nội thành của thành phố trực thuộc trung ương thì mức phạt tiền có thể cao hơn, nhưng tối đa không quá
02 lần mức phạt chung đối với cùng hành vi vi phạm trong các lĩnh vực giao thông đường bộ, bảo vệ môi trường, an ninh trật tự, an toàn xã hội
Ngoài ra, Luật Xử lý vi phạm hành chính còn trao quyền cho Chính phủ, Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương quy định khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt trong một số lĩnh vực cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước và tính đặc thù của địa phương Tiền xử phạt vi phạm hành chính được nộp vào ngân sách nhà nước
o Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ
hoạt động có thời hạn (Điều25) : Tước quyền sử dụng giấy phép, chứngchỉ hành nghề có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề
8 Xem: Luật Xử lý vi phạm hành chính – 20.6.2012
Trang 21Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; cá nhân,
tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó
Đình chỉ hoạt động có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính khi thực hiện những hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường và trật tự, an toàn xã hội
o Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (Điều 26): là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền, hàng hóa, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính, được áp dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng do lỗi
cố ý của cá nhân, tổ chức Việc tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật Không tịch thu tang vật, phương tiện bị cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính chiếm đoạt, sử dụnh trái phép mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng hợp pháp Việc xử xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu được thực hiện theo quy định tại điều 82, Luật Xử lý vi phạm hành chính
o Trục xuất (Điều 27): là hình thức xử phạt buộc người nước ngoài có hành vi vi
phạm hành chính tại Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Các hình thức xử phạt: Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có
thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; Trục xuất có thể được quy định là hình thức xử phạt bổ sung
hoặc hình thức xử phạt chính tùy theo từng trường hợp cụ thể, do người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính quyết định
Đối với mỗi vi phạm hành chính, cá nhân tổ chức vi phạm chỉ bị xử phạt một lần, bằng một hình thức xử phạt chính Ngoài hình thức xử phạt chính, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà cơ quan hoặc người có thẩm quyền còn có thể áp dụng kèm theo một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung
(2) Các biện pháp khắc phục hậu quả
Đối với mỗi vi phạm hành chính, ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính có thể bị áp dụng kèm theo một hoặc nhiều biện pháp
khắc phục hậu quả sau đây: (1) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; (2) Buộc tháo
dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc không đúng với giấy phép; (3) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; (4) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hoá, vật phẩm, phương tiện; (5) Buộc tiêu huỷ hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi, cây trồng, văn hoá phẩm có nội dung độc hại; (6) Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn; (7) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm; (8) Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng; (9) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật
Trang 22Ngoài ra, biện pháp khắc phục hậu quả còn có thể được áp dụng độc lập trong các trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản
(3) Các biện pháp xử lý hành chính
Các biện pháp xử lý hành chính chỉ áp dụng đối với các cá nhân là công dân Việt
Nam vi phạmpháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức bị truy
cứu trách nhiệm hình sự Mục đích áp dụng các biện pháp này là nhằm giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của đối tượng vi phạm; giáo dục và tạo điều kiện cho người
vi phạm trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và ngăn ngừa khả năng tái phạm của họ.Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính phải do người có thẩm quyền tiến hành, đúng đối tượng và theo đúng thủ tục do pháp luật quy định Các biện pháp xử lý hành chính bao gồm: (1) Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; (2) Đưa vào trường giáo dưỡng; (3) Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc; (4) Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Nội dung cụ thể của các biện pháp xử lý hành chính; thẩm quyền, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính… được quy định tại Phần thứ ba (Chương 1- Chương 5) của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012
(4) Các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo xử lý vi phạm hành chính
Bên cạnh các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả và các biện pháp xử lý hành chính; trong trường hợp cần ngăn chặn kịp thời hoặc
để đảm bảo việc xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền còn có thể áp dụng
các biện pháp sau đây theo thủ tục hành chính: (1) Tạm giữ người; (2) Áp giải người
vi phạm; (3) Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề; (4) Khám người; (5) Khám phương tiện vận tải, đồ vật; (6) Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; (7) Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất; (8) Giao cho gia đình, tổ chức quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính; (9) Truy tìm đối tượng đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong trường hợp bỏ trốn
Nội dung, thẩm quyền và thủ tục áp dụng áp dụng các biện pháp này được quy định tại Phần thứ tư (Chương 1- Chương 2) Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật có liên quan
• Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính
o Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả
Trang 23Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thuộc về các cơ quan nhà nước sau đây: (1) Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp (Điều 38); (2) Công an nhân dân (Điều 39); (3) Bộ đội biên phòng (Điều 40); (4) Cảnh sát biển (Điều 41); (5) Hải quan (Điều 42); (6) Kiểm lâm (Điều 43); (7) Cơ quan thuế (Điều 44); (8) Quản lý thị trường (Điều 45); (9) Thanh tra (Điều 46); (10) Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ hàng không, Cảng vụ đường thủy nội địa (Điều 47); (11) Tòa án nhân dân (Điều 48); (12) cơ quan thi hành án dân sự (Điều 49); (13) Cục quản lý lao động ngoài nước (Điều 50); (14) Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được uỷ quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (Điều 51); (15) Ngoài ra, Thủ trưởng và cán
bộ, công chức đang thi hành công vụ của các cơ quan, đơn vị nói trên cũng có quyền nhân danh cá nhân xử lý các vi phạm hành chính trong phạm vi thẩm quyền theo quy định của pháp luật
o Thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
▪ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
▪ Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
o Thẩm quyền và thủ tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính được quy định tại Chương 2, Phần thứ tư của Luật Xử lý vi phạm hành chính
còi, hiệu lệnh, văn bản hoặc hình thức khác theo quy định của pháp luật
o Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản
Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp
xử phạt bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức Người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt tại chỗ
Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị
kỹ thuật nghiệp vụ thì phải lập biên bản
Quyết định xử phạt hành chính tại chỗ phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định;
họ tên, địa chỉ của cá nhân vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi
vi phạm; địa điểm xảy ra vi phạm; chứng cứ và tình tiết liên quan đến việc giải quyết vi phạm; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định xử phạt; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng Trường hợp phạt tiền thì trong quyết định phải ghi rõ mức tiền phạt Cá nhân, tổ chức vi phạm nộp tiền phạt tại Kho bạc nhà
Trang 24nước, hoặc trong những trường hợp pháp luật quy định có thể nộp tiền phạt cho người có thẩm quyền xử phạt và được nhận biên lai thu tiền phạt
o Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính
Xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức không thuộc trường hợp trên
Việc xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản phải được người có thẩm quyền
xử phạt lập thành hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính Hồ sơ bao gồm biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt hành chính, các tài liệu, giấy tờ có liên quan
và phải được đánh bút lục Hồ sơ phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản khái quát được tiến hành như sau:
▪ Phát hiện và lập biên bản về vi phạm hành chính (Điều 58): Khi phát hiện vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản Biên bản vi phạm hành chính phải được lập thành ít nhất 02 bản và phải giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm 01 bản
Trong trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ thì việc lập biên bản vi phạm hành chính được tiến hành ngay khi xác định được tổ chức, cá nhân vi phạm
Vi phạm hành chính xảy ra trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa thì người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu có trách nhiệm tổ chức lập biên bản và chuyển ngay cho người có thẩm quyền xử phạt khi tàu bay, tàu biển, tàu hỏa
về đến sân bay, bến cảng, nhà ga
Biên bản vi phạm hành chính phải có đầy đủ các nội dung mà pháp luật quy định và chuyển cho người có thẩm quyền để tiến hành
xử phạt
▪ Xem xét và ra quyết định xử phạt (Điều 59, 60, 61, 66, 67, 68): Người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể
từ ngày lập biên bản Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp, cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người
có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày
Trong quá trình xem xét và ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc có thể tiến hành xác minh các tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính; xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt; xem xét ý kiến giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm; có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm
xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật
Trang 25Cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt vi phạm hànhchính Trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó Quá thời hạn trên, nếu đương sự không tự nguyện thi hành thì có thể bị cưỡng chế thi hành bằng các hình thức như: (1) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của
cá nhân, tổ chức vi phạm; (2) Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt
để bán đấu giá; (3) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản; (4) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật
Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và khiếu kiện hành chính
o Thủ tục xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
Thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được quy định tại Phần thứ ba (Chương 2, 3, 4) Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012
• Khiếunại và chế độ pháp lý về giải quyết khiếu nại
o Khái niệm, đặc điểm khiếu nại
Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục
do pháp luật quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Như vậy, trên khía cạnh pháp lý, việc khiếu nại có các đặc điểm sau đây:
▪ Phạm vi những người có quyền khiếu nại là rất rộng, bao gồm mọi cá nhân,
cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức bị kỷ luật
▪ Đối tượng của việc khiếu nại là các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý nhà nước và quyết định kỷ luật cán bộ, công chức Vì vậy,
có thể nói khiếu nại theo quy định của Luật Khiếu nại chủ yếu là việc khiếu nại hành chính
▪ Mục đích của người khiếu nại là để nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi họ có căn cứ cho rằng những quyền và lợi ích đó bị các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ, công chức xâm hại
▪ Các khiếu nại chủ yếu được giải quyết theo thủ tục hành chính và thuộc thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước
o Đối tượng khiếu nại
Đối tượng của việc khiếu nại là các quyết định hành chính, hành vi hành chính và
quyết định kỷ luật cán bộ, công chức
Trang 26Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể
Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật
Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức thuộc
quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức
o Thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Theo Luật Khiếu nại 2011, các cơ quan sau đây có thẩm quyền liên quan đến việc giải quyết khiếu nại: (1) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (Điều 17); (2) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện (Điều 18); (3) Thủ trưởng cơ quan thuộc Sở và cấp tương đương (Điều 19); (4) Giám đốc Sở và cấp tương đương (Điều 20); (5) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Điều 21); (6) Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ (Điều 22); (7) Bộ trưởng (Điều 23); (8) Tổng Thanh tra Chính phủ (Điều 24); (9) Chánh thanh tra các cấp (Điều 25); (10) Thủ tướng Chính phủ (Điều 26); (11) Mỗi cơ quan nhà nước nói trên có thẩm quyền liên quan đến việc giải quyết các khiếu nại thuộc phạm vi quản lý nhà nước theo sự phân cấp quản lý do pháp luật quy định (Mục 1, Chương 3 - Luật Khiếu nại)
• Tố cáo và giải quyết tố cáo
o Khái niệm, đặc điểm của tố cáo
Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do pháp luật quy định, báo cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Việc tố cáo khác với khiếu nại ở một số đặc điểm sau đây:
▪ Người tố cáo là cá nhân công dân thực hiện quyền tố cáo Việc tố cáo có thể
gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của người khác, vì vậy, để phòng ngừa, ngăn chặn sự lợi dụng quyền tố cáo nhằm vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, pháp luật quy định chỉ có cá nhân mới có quyền thực hiện việc tố cáo Các tổ chức không phải là chủ thể của quyền tố cáo
▪ Đối tượng của việc tố cáo là những hành vi phạm pháp luật của mọi cơ quan,
tổ chức và cá nhân mà người tố cáo biết được Với trách nhiệm công dân mà pháp luật quy định, người tố cáo thông báo về hành vi vi phạm pháp luật đó, đồng thời yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nhằm bảo đảm kỷ cương và trật tự an toàn xã hội
▪ Khi thực hiện việc tố cáo, người tố cáo không vì lợi ích của bản thân mà với mục đích để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức và các nhân khác
o Chế độ pháp lý về giải quyết tố cáo
Trang 27Luật Tố cáo ngày 11/11/2011 phân chia thành hai loại tố cáo:
(1)Tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
▪ Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc
thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
▪ Nguyên tắc xác định thẩm quyền (Điều 12) được quy định như sau:
Tố cáo hành vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết
Tố cáo hành vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan tổ chức đó giải quyết
Tố cáo hành vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức bị tố cáo phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan giải quyết
Tố cáo hành vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự
▪ Thẩm quyền giải quyết tố cáo (Từ Điều 13 đến Điều 17):
Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước là: Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã; Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện; Người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Tổng cục trưởng, Cục trưởng và cấp tương đương; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; Thủ tướng Chính phủ Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức trong cơ quan khác nhà nước là: Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp; Tổng Kiểm toán nhà nước; Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành, Kiểm toán nhà nước khu vực (Điều 14)
Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập là người đứng đầu đơn vị vị sự nghiệp công lập và người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập
Người đứng đầu cơ quan của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức do mình quản lý trực tiếp
Người đứng đầu cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà không phải là cán bộ, công chức, viên chức có thẩm
Trang 28quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người đó trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
(2) Tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
▪ Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực là
việc công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về hành
vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với việc
chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
▪ Thẩm quyền giải quyết tố cáo (Điều 31) quy định như sau:
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong
cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Tố cáo có nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của nhiều cơ quan thì các cơ quan có trách nhiệm phối hợp để xác định thẩm quyền giải quyết hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước cấp trên quyết định giao cho một cơ quan chủ trì giải quyết; tố cáo có nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan thì cơ quan thụ lý đầu tiên có thẩm quyền giải quyết
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành
tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự
(3) Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo
▪ Việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo trình tự sau: (1) Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo; (2) Xác minh nội dung tố cáo; (3) Kết luận nội dung tố cáo; (4) Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo; (5) Công khai kết luận nội dung
tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo
▪ Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp (Điều 19) Người tố cáo phải gửi đơn tố cáo có đầy đủ các nội dung theo quy định của pháp luật đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; đơn tố cáo phải ghi rõ
họ, tên, địa chỉ người tố cáo Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người có trách nhiệm tiếp nhận phải ghi lại nội dung tố cáo, họ, tên, địa chỉ của người tố cáo, có chữ ký của người tố cáo Các tố cáo nặc danh là bất hợp pháp, không được xem xét, giải quyết Tuy nhiên, khi nhận được đơn tố cáo nặc danh, các cơ quan có thẩm quyền cũng phải có trách nhiệm kiểm tra, xác minh để kịp thời phát hiện vi phạm pháp luật mà xử lý hoặc để bảo vệ uy tín, danh dự của người bị tố cáo
▪ Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày, đối với vụ việc phức tạp không quá 60 ngày
Trang 29▪ Khi nhận được tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, cơ quan hoặc người có thẩm quyền phải thụ lý để giải quyết Trong trường hợp cấp thiết, cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo phải báo ngay cho cơ quan có trách nhiệm để áp dụng biện pháp ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật; áp dụng biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn cho người tố cáo khi họ yêu cầu
Cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận, giải quyết tố cáo phải giữ bí mật cho người tố cáo; không được tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và các thông tin khác có hại cho người tố cáo
▪ Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm xác minh nội dung tố cáo, kết luận và giải quyết việc tố cáo; công khai kết luận nội dung tố cáo và thông báo kết quả giải quyết cho người tố cáo khi được yêu cầu Việc giải quyết tố cáo cũng phải được lập thành hồ sơ và được lưu giữ theo quy định của pháp luật
▪ Trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết thì người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo theo thời hạn và thủ tục do Luật Tố cáo quy định Các cơ quan Thanh tra trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ cũng có thẩm quyền xác minh hoặc xem xét, kết luận về các nội dung tố cáo; đồng thời kiến nghị với người có thẩm quyền về biện pháp xử lý tố cáo theo quy định của pháp luật
Nếu xét về đối tượng và phạm vi điều chỉnh của các quan hệ pháp luật thì nét đặc trưng lớn nhất của pháp luật dân sự là tính chất luật tư của nó Pháp luật dân sự được hiểu là lĩnh vực luật tư điển hình, bao gồm những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội mà ở đó, lợi ích của các bên chủ thể được Nhà nước thừa nhận và bảo hộ
a Đối tượng điều chỉnh
Muốn thoả mãn nhu cầu về vật chất, tinh thần, các nhu cầu trong kinh doanh hay phục
vụ đời sống hàng ngày, mỗi cá nhân, tổ chức đều phải thực hiện các hoạt động trao đổi, giao dịch với các cá nhân, tổ chức khác trong xã hội Việc thoả mãn các nhu cầu của mình thông qua các quan hệ đó chính là việc chúng ta thiết lập các quan hệ dân sự Theo quy định của Điều 1 Bộ luật Dân sự năm 2015, đối tượng điều chỉnh của luật dân
sự Việt Nam là những quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm Các quan hệ tài sản và nhân thân do Luật dân sự điều chỉnh tồn tại trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống
xã hội Đó có thể là hoạt động tiêu dùng, hoạt động kinh doanh, thương mại hay trong lĩnh vực lao động hoặc lĩnh vực hôn nhân và gia đình cũng như các lĩnh vực khác mà ở
đó sự xác lập các mối quan hệ mang tính chất bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản
và tự chịu trách nhiệm của các bên chủ thể
• Quan hệ tài sản
Quan hệ tài sản là quan hệ giữa các chủ thể thông qua tài sản hay lợi ích vật chất nhất định
Trang 30Quan hệ tài sản cũng như quan hệ nhân thân có thể là đối tượng điều chỉnh của pháp luật nhưng tùy thuộc vào tính chất và nội dung của quan hệ xã hội được điều chỉnh
mà mức độ can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ đó được xác định khác nhau Quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh chủ yếu bao gồm quan hệ tài sản mà ở đó xác định một tài sản đang thuộc về chủ thể xác định Chủ thể đó có thể nắm giữ, quản lý, chi phối, sử dụng hoặc định đoạt tài sản theo ý chí của mình; quan hệ về chuyển dịch tài sản từ người này sang người khác được xác lập do sự thỏa thuận của các bên; quan hệ về chuyển dịch tài sản của người chết cho những người còn sống thông qua ý chí của người chết hoặc theo quy định của pháp luật; quan hệ tài sản xuất hiện do hành vi gây thiệt hại cho người khác dẫn đến phải bồi thường
Các quan hệ tài sản do pháp luật dân sự điều chỉnh có những đặc điểm chung nhất định
o Trong các quan hệ dân sự, các chủ thể có vị trí độc lập, bình đẳng, tự nguyện, tự
do cam kết, thỏa thuận, chủ động, sáng tạo và tự chịu trách nhiệm về rủi ro và về tài sản nhằm thỏa mãn nhu cầu và vì lợi ích của các chủ thể trong các quan hệ dân
Quan hệ tài sản do pháp luật dân sự điều chỉnh phần lớn là các quan hệ phát sinh trên thị trường do vậy, sự đền bù tương đương, trao đổi ngang giá là đặc trưng phổ biến của các quan hệ tài sản do pháp luật dân sự điều chỉnh Một chủ thể của quan hệ dân
sự muốn được hưởng một giá trị tài sản thì phải đổi lại bằng một giá trị tương đương
Ví dụ trong quan hệ mua bán, trao đổi tài sản, các chủ thể muốn có tài sản phải trao đổi bằng một khoản tiền, hay một tài sản khác có giá trị tương đương
• Quan hệ nhân thân
Nhân thân là những đặc điểm về thân thế, tính cách, cuộc sống, họ, tên, giới tính, độ tuổi, dân tộc, quốc tịch, thành phần xã hội, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, hòan cảnh gia đình, quá trình hoạt động xã hội… của con người Nhân thân là các giá trị tinh thần của một chủ thể nhất định
Quan hệ nhân thân là quan hệ được hình thành từ một giá trị tinh thần của một cá nhân hay pháp nhân và luôn gắn liền với các cá nhân hay pháp nhân đó Các quyền nhân thân là những quyền dân sự tuyệt đối của chủ thể nghĩa là mọi chủ thể khác đều
có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền nhân thân của người khác
Khác với quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân do pháp luật dân sự điều chỉnh có các đặc điểm là:
Trang 31o Giá trị nhân thân luôn gắn liền với một chủ thể Về nguyên tắc, quyền nhân thân không tách rời một chủ thể và không thể chuyển dịch được cho các chủ thể khác trừ trường hợp luật có quy định khác
Các giá trị về tinh thần như danh dự, uy tín, nhân phẩm, họ tên, quốc tịch, dân tộc, giới tính, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, hình ảnh, của một chủ thể, gắn liền với chủ thể đó Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, quyền nhân thân có thể được chuyển giao hay thay đổi theo quy định của luật Ví dụ: quyền công bố tác phẩm của tác giả có thể chuyển giao; quyền được thay đổi tên, dân tộc…
o Các quan hệ nhân thân không xác định được bằng tiền tệ, không có sự trao đổi ngang giá giữa quyền nhân thân và tiền tệ Đây là điểm khác biệt rõ nét giữa quan
hệ tài sản và quan hệ nhân thân do pháp luật dân sự điều chỉnh Do không thể xác định bằng tiền, những quan hệ này còn được gọi là quan hệ nhân thân phi tài sản Xét về phương diện tổng thể, quyền nhân thân của cá nhân được quy định trong Bộ luật dân sự thể hiện hoặc xuất phát từ các quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp Trong Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể các quyền nhân thân về dân sự của cá nhân (từ Điều 25 đến Điều 39) Ngoài Bộ luật Dân sự, quyền nhân thân của cá nhân còn được quy định trong các văn bản pháp luật dân sự khác Đồng thời, quyền nhân thân về dân sự không chỉ được ghi nhận và bảo vệ đối với cá nhân mà pháp luật dân sự còn ghi nhận và bảo vệ quyền nhân thân của pháp nhân Sự điều chỉnh và bảo vệ bằng pháp luật dân sự đối với các quyền nhân thân của chủ thể không giống với sự điều chỉnh và bảo vệ quyền này bởi các quy định trong các lĩnh vực pháp luật khác
Quan hệ nhân thân do pháp luật dân sự điều chỉnh được chia làm hai nhóm :
o Nhóm quan hệ nhân thân không liên quan đến tài sản Đây là các quan hệ nhân thân thuần tuý không có mối liên hệ với quan hệ tài sản như: họ, tên gọi của cá nhân, dân tộc, giới tính, quốc tịch, quyền khai sinh, khai tử, quyền kết hôn, quyền
ly hôn, quyền được khai sinh, quyền xác định dân tộc, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể, …
o Nhóm quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản Các quan hệ nhân thân ở nhóm này là tiền đề làm phát sinh các quan hệ tài sản khi có những sự kiện pháp lý nhất định Nói khác đi, những giá trị nhân thân khi được xác lập làm phát sinh các quyền tài sản Ví dụ: Quyền tác giả (người sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học) Trong đó, yếu tố phi tài sản là đặt tên cho tác phẩm, đứng tên thật hay bút danh trên tác phẩm còn yếu tố tài sản là quyền được hưởng nhuận bút hay thù lao khi tác phẩm được sử dụng
• Phương pháp điều chỉnh
Do đặc trưng của các quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh nên cách thức tác động của nhà nước vào những quan hệ xã hội đó có những đặc trưng riêng Nói khác đi, phương pháp điều chỉnh của mỗi lĩnh vực pháp luật mang tính đặc thù
Phương pháp điều chỉnh của pháp luật dân sự là những biện pháp, cách thức tác động của nhà nước lên các quan hệ tài sản, các quan hệ nhân thân bằng các qui phạm pháp luật dân sự theo định hướng, ý chí của nhà nước
Trang 32Quan hệ pháp luật dân sự hướng tới việc bảo vệ lợi ích của các chủ thể trong quan hệ
đó, do vậy Nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật dân sự thừa nhận việc quyết định tham gia và giải quyết các quan hệ dân sự trên cơ sở cam kết, thỏa thuận của chính các bên chủ thể Nói khác đi, phương pháp điều chỉnh đặc trưng của pháp luật dân sự là thỏa thuận
Đặc điểm của phương pháp điều chỉnh của pháp luật dân sự là:
o Các chủ thể tham gia vào các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân do Luật dân sự điều chỉnh độc lập, bình đẳng với nhau về tổ chức và về tài sản Sự độc lập
về tổ chức và về tài sản đó là tiền đề để tạo ra sự bình đẳng trong các quan hệ mà
họ tham gia
o Các chủ thể xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự trên cơ sở tự do,
tự nguyện cam kết, thỏa thuậnnhằm vào những lợi ích nhất định của họ Quyền tự định đoạt của các chủ thể được thực hiện trong một giới hạn nhất định Giới hạn
đó là "không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội" và "không xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác"
o Ngoài những qui phạm cấm, qui phạm mệnh lệnh cùng với những định nghĩa pháp lý cần thiết có liên quan thì phần lớn các qui phạm pháp luật dân sự là loại qui phạm tùy nghi mang tính hướng dẫn, định hướng cho hành vi của các bên chủ thể
o Đặc trưng của phương pháp giải quyết các tranh chấp trong quan hệ dân sự là hòa giải, tự lựa chọn và quyết định nội dung, cách thức giải quyết các tranh chấp phát sinh Trong trường hợp các bên không thể thỏa thuận hoặc hòa giải được thì có thể giải quyết các tranh chấp đó bằng con đường Tòa án, Trọng tài theo trình tự, thủ tục tố tụng luật định và chủ yếu là trên cơ sở yêu cầu, khởi kiện của các bên
o Bên vi phạm trong quan hệ dân sự sẽ phải gánh chịu những chế tài đặc trưng của Luật dân sự Các chế tài chủ yếu là: Buộc chấm dứt hành vi vi phạm; Buộc xin lỗi cải chính công khai; Buộc thực hiện nghĩa vụ; Buộc bồi thường thiệt hại; Phạt vi phạm hợp đồng
a Tài sản và quyền sở hữu
• Tài sản
Khái niệm chung về tài sản
Tài sản là một khái niệm được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội Theo nghĩa thông thường, tài sản được dùng để chỉ tiền bạc, của cải vật chất dùng để sản xuất hoặc tiêu dùng
Trên góc độ pháp lý, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản (Điều 105 Bộ
luật dân sự năm 2015)
Thứ nhất, tài sản bao gồm vật Vật là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại một cách
khách quan mà con người có thể nhận biết được bằng các giác quan của mình, ví dụ: đất đai, nhà, công trình xây dựng, máy móc, phương tiện vận tải, đồ dùng sinh
Trang 33hoạt… Vật được coi là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, nhằm đáp ứng nhu cầu nhất định của con người, có giá trị và là đối tượng của giao lưu dân sự
Thứ hai, tài sản là tiền Theo kinh tế chính trị học, tiền là vật ngang giá chung dùng
để trao đổi lấy hàng hóa, dịch vụ Tài sản là tiền có thể là tiền Việt Nam hoặc ngoại
tệ, nhưng phải là đồng tiền đang có giá trị lưu hành
Thứ ba, tài sản là giấy tờ có giá Giấy tờ có giá là giấy tờ trị giá được thành tiền và
được phép giao dịch như cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, séc…
Thứ tư, tài sản còn gồm quyền tài sản Nếu như ba loại tài sản trên là những tài sản
hữu hình thì quyền tài sản là tài sản vô hình Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác (Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015)
Hình thức thể hiện của tài sản trong thực tiễn rất đa dạng và phong phú Tùy thuộc vào các tiêu chí phân loại tài sản, tài sản có thể được phân chia thành những loại khác nhau Bộ luật dân sự năm 2015 đưa ra các cách phân loại tài sản như sau:
o Bất động sản và động sản: Đây là cách thức phân loại tài sản căn cứ chủ yếu vào
thuộc tính tự nhiên của tài sản là có thể di, dời được một cách cơ học hay không Bất động sản là tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; Tài sản khác theo quy định của pháp luật Động sản là những tài sản không phải là bất
động sản
o Tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai: Đây là cách thức phân loại
tài sản căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản hay thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với tài sản Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm: Tài sản chưa hình thành; tài sản
đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch
o Hoa lợi và lợi tức: Cách phân loại tài sản này căn cứ vào cách thức khai thác để
có sự gia tăng tài sản Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại Lợi tức là khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản
o Vật chính và vật phụ: Vật chính là vật độc lập, có thể khai thác công dụng theo
tính năng Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính, nhưng có thể tách rời vật chính Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính thì phải chuyển giao cả vật phụ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
o Vật chia được và vật không chia được: Vật chia được là vật khi bị phân chia vẫn
giữ nguyên tính chất và tính năng sử dụng ban đầu Vật không chia được là vật khi bị phân chia thì không giữ nguyên được tính chất và tính năng sử dụng ban đầu Khi cần phân chia vật không chia được thì phải trị giá thành tiền để chia
o Vật tiêu hao và vật không tiêu hao: Vật tiêu hao là vật khi đã qua một lần sử dụng
thì mất đi hoặc không giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu Vật tiêu hao không thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng
Trang 34cho mượn Vật không tiêu hao là vật khi đã qua sử dụng nhiều lần mà cơ bản vẫn giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu
o Vật cùng loại và vật đặc định: Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính
chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những đơn vị đo lường Vật cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế cho nhau Vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định thì phải giao đúng vật đó
o Vật đồng bộ: Vật đồng bộ là vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ
với nhau hợp thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc
có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ thì phải chuyển giao toàn bộ các phần hoặc các bộ phận hợp thành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
• Quyền sở hữu
Trong khoa học pháp lý, quyền sở hữu có thể được hiểu theo hai phương diện:
o Theo nghĩa rộng, quyền sở hữu được hiểu là một bộ phận của pháp luật dân sự, là
hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
o Theo nghĩa hẹp, quyền sở hữu được hiểu là mức độ xử sự do pháp luật quy định
cho mỗi chủ thể để thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản Theo nghĩa này, quyền sở hữu chính là quyền dân sự của chủ thể đối với tài sản, xuất hiện dựa trên cơ sở các quy phạm pháp luật về sở hữu
Nội dung của quyền sở hữu
Nội dung của quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật (Điều 158 Bộ luật dân sự năm 2015) Trong đó:
o Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, chi phối của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc
sở hữu của mình Khi thực hiện quyền chiếm hữu tài sản, chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình, nhưng không được trái pháp luật, đạo đức
xã hội Khi không trực tiếp thực hiện quyền chiếm hữu, chủ sở hữu có thể chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản cho người khác thông qua việc ủy quyền hoặc thông qua các giao dịch dân sự song phương như cho mượn, cho thuê, gửi giữ tài sản… Khi đó, người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản hoặc người được giao tài sản phải thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó trong phạm vi, theo cách thức, thời hạn do chủ sở hữu xác định, phù hợp với mục đích, nội dung của giao dịch về tài sản
o Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản
Chủ sở hữu tài sản có quyền sử dụng tài sản theo ý chí của mình, nhưng không được gây thiệt hại và làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Người không phải là chủ sở hữu tài sản cũng có quyền sử dụng tài sản trong trường hợp quyền sử dụng tài sản được chuyển giao cho người đó theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật
Trang 35o Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu,
tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản Chủ sở hữu có thể thực hiện quyền định đoạt thông qua các giao dịch dân sự như bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế tài sản (định đoạt pháp lý) hoặc thông qua các hình thức định đoạt khác như tiêu dùng, tiêu hủy, từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản (định đoạt thực tế) Người không phải là chủ sở hữu tài sản cũng có quyền định đoạt tài sản nhưng chỉ trong trường hợp được chủ sở hữu ủy quyền hoặc luật quy định Việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện không trái quy định của pháp luật Trường hợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì việc định đoạt phải tuân theo trình tự, thủ tục đó Quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong trường hợp do luật quy định Khi tài sản đem bán là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì Nhà nước có quyền ưu tiên mua Trường hợp cá nhân, pháp nhân có quyền ưu tiên mua đối với tài sản nhất định theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền
ưu tiên mua cho các chủ thể đó (ví dụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung)
• Quyền khác đối với tài sản
Bên cạnh quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản, Bộ luật dân sự năm 2015 còn ghi nhận một số quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản, được gọi
là quyền khác đối với tài sản Việc ghi nhận các quyền này nhằm mục đích tạo cơ sở pháp lý cho việc khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả đối với tài sản, thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển
Theo Điều 159 Bộ luật dân sự năm 2015, quyền khác đối với tài sản là quyền của
chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác
Quyền khác đối với tài sản bao gồm:
o Quyền đối với bất động sản liền kề: Quyền đối với bất động sản liền kề là quyền được thực hiện trên một bất động sản (gọi là bất động sản chịu hưởng quyền) nhằm phục vụ cho việc khai thác một bất động sản khác thuộc quyền sở hữu của
người khác (gọi là bất động sản hưởng quyền) (Điều 245 Bộ luật dân sự
năm 2015)
Căn cứ xác lập, chấm dứt quyền đối với bất động sản liền kề, nguyên tắc thực hiện quyền đối với bất động sản liền kề, hiệu lực và nội dung của quyền đối với bất động sản liền kề được quy định tại các Điều 246 - Điều 256 Bộ luật Dân sự
năm 2015
o Quyền hưởng dụng: Quyền hưởng dụng là quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong một thời hạn nhất định (Điều 257Bộ luật dân sự năm 2015)
Căn cứ xác lập, chấm dứt quyền hưởng dụng, hiệu lực, thời hạn và nội dung của quyền hưởng dụng được quy định tại các Điều 258 - Điều 266 Bộ luật dân sự
Trang 36Căn cứ xác lập, chấm dứt quyền bề mặt, hiệu lực, thời hạn và nội dung của quyền
bề mặt được quy định tại các Điều 268 - Điều 273 Bộ luật dân sự năm 2015
• Bảo vệ quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản
Bên cạnh việc ghi nhận quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản, pháp luật cũng
có cơ chế bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản cho các chủ thể có quyền Bảo vệ quyền sở hữu và quyền đối với tài sản được hiểu là các biện pháp tác động bằng pháp luật đến hành vi xử sự của con người, nhằm phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi xâm hại đến quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, khắc phục những thiệt hại vật chất cho chủ sở hữu và chủ thể quyền đối với tài sản
Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản có thể được bảo vệ bằng các biện pháp hành chính, hình sự hay dân sự Bộ luật dân sự năm 2015 đã dành riêng mục 2 trong chương XI quy định về các biện pháp, cách thức bảo vệ quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản
Về nguyên tắc, không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường Khi quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bị xâm phạm, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có thể thực hiện một trong các phương thức sau đây để bảo vệ quyền của mình:
khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật
khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành
vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
và yêu cầu bồi thường thiệt hại
b Nghĩa vụ dân sự
• Những vấn đề chung về nghĩa vụ dân sự
Khái niệm nghĩa vụ dân sự
Thông thường, nghĩa vụ là xử sự của một người phải thực hiện trước một hoặc nhiều người khác Nghĩa vụ có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, nghĩa vụ có thể
là một nghĩa vụ xã hội hoặc một nghĩa vụ pháp lý
Điều 274, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)
Trang 37Nghĩa vụ dân sự theo đó là một quan hệ pháp luật có sự xác định cụ thể, rõ ràng về chủ thể Chủ thể của quan hệ nghĩa vụ dân sự là người (hoặc những người) có quyền và người (hoặc những người) có nghĩa vụ Người có nghĩa vụ phải thực hiện những hành vi nhất định để bảo đảm lợi ích của người có quyền Quyền dân sự của chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ dân sự chỉ có thể được thỏa mãn thông qua hành vi của người có nghĩa vụ do đó, nghĩa vụ dân sự có được thực hiện hay không phụ thuộc vào khả năng thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ Thông thường, quyền
và nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ dân sự có mối liên hệ hữu cơ, tương ứng Đối tượng của nghĩa vụ dân sự có thể là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện vì thế nghĩa vụ dân sự có thể là nghĩa vụ về tài sản hoặc không phải
là quan hệ về tài sản
Căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự
Quan hệ pháp luật về nghĩa vụ dân sự được phát sinh dựa trên những sự kiện pháp lý nhất định Theo Điều 275, Bộ luật dân sự năm 2015, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ những trường hợp sau đây: (1) Hợp đồng; (2) Hành vi pháp lý đơn phương; (3) Thực hiện công việc không có ủy quyền; (4) Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; (5) Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật
Trong những trường hợp khác do pháp luật quy định, quan hệ nghĩa vụ dân sự cũng
có thể được phát sinh
• Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Việc thực hiện nghĩa vụ dân sự phụ thuộc vào hành vi của bên có nghĩa vụ Vì thế, nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên có quyền, dễ dẫn đến tổn thất cho họ Để bảo đảm rằng, nếu có sự vi phạm của bên có nghĩa vụ cũng không gây ra thiệt hại cho bên có quyền, pháp luật quy định các bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự được sử dụng các biện pháp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ dân sự cũng nhằm nâng cao trách nhiệm của các bên trong những quan hệ đó Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là những biện pháp được quy định trong Bộ luật dân sự do các bên thỏa thuận áp dụng trong quan hệ nghĩa vụ dân sự nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của bên có quyền trong trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng
Vấn đề bảo đảm nghĩa vụ dân sự được quy định từ Điều 292 - Điều 350 Bộ luật Dân
sự năm 2015 Theo đó, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm:
o Cầm cố tài sản là việc bên cầm cố giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho
bên nhận cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
o Thế chấp tài sản là việc bên thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận thế chấp và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp
o Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý
hoặc vật có giá trị khác trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng
Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc