1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Đáp án đề thi HSG tỉnh Ngữ Văn 12 sở GD&ĐT Hải Dương

5 266 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 199,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nữ sĩ Quỳnh Dao trong một bài tản văn có nói: “Chỉ khi nào bạn biết tôn trọng và yêu thương chính mình thì bạn mới thực sự biết yêu thương, quý trọng người khác một cách.. sâu sắc.”?[r]

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HẢI DƯƠNG

KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 12 THPT

NĂM HỌC 2018 - 2019 MÔN THI: NGỮ VĂN Ngày thi: 04/10/2018

Thời gian làm bài: 180 phút (Không kể thời gian giao đề)

(Đề gồm có: 02 câu, 01 trang)

Câu 1 (4,0 điểm)

Có ý kiến cho rằng:“Hãy quên mình đi để yêu thương người khác sâu sắc hơn”

Nữ sĩ Quỳnh Dao trong một bài tản văn có nói: “Chỉ khi nào bạn biết tôn trọng và yêu thương chính mình thì bạn mới thực sự biết yêu thương, quý trọng người khác một cách sâu sắc.”

Suy nghĩ của anh/chị về những ý kiến trên

Câu 2 (6,0 điểm)

“Cái đẹp mà văn học đem lại không phải là cái gì khác hơn là cái đẹp của sự thật đời sống được khám phá một cách nghệ thuật.” (Dẫn theo Lí luận văn học, Hà Minh Đức

chủ biên, NXB Giáo dục, trang 57)

Anh/chị hiểu nhận định trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ vấn đề bằng một số tác phẩm Thơ mới đã học

……… Hết………

Họ và tên thí sinh:……… Số báo danh:………

Chữ ký giám thị 1:……… Chữ ký giám thị 2:………

ĐỀ CHÍNH THỨC

Trang 2

SỞ GIÁO DỤC VÀ TÀO TẠO

HẢI DƯƠNG

HƯỚNG DẪN CHẤM THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 12 THPT

NĂM HỌC 2018 - 2019 MÔN THI: NGỮ VĂN

(Đáp án gồm 02 câu, 04 trang)

A YÊU CẦU CHUNG

- Giám khảo phải nắm được nội dung trình bày trong bài làm của thí sinh, tránh đếm ý

cho điểm Vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm, sử dụng nhiều mức điểm một cách hợp

lí; khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo

- Thí sinh có thể làm bài theo nhiều cách riêng nhưng cần đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của hướng dẫn chấm, diễn đạt tốt vẫn cho đủ điểm

Lưu ý: Điểm bài thi có thể cho lẻ đến 0,25 điểm và không làm tròn số

B YÊU CẦU CỤ THỂ Câu 1 (4,0 điểm)

a Yêu cầu về kĩ năng:

Thí sinh nắm vững và biết cách làm kiểu bài nghị luận xã hội

Kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận… dẫn chứng tiêu biểu, chọn lọc, lí lẽ thuyết phục

Bố cục rõ ràng, mạch lạc, hành văn trong sáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu

b Yêu cầu về kiến thức:

Thí sinh có thể trình bày suy nghĩ của mình theo nhiều cách khác nhau nhưng phải hợp lý, có sức thuyết phục và cần tập trung làm rõ những nội dung cơ bản sau:

-Ý kiến 1 nhắc nhở “hãy quên mình”, biết kìm nén, gác lại cái Tôi cá nhân

để tình yêu thương ở mức độ “sâu sắc hơn”

-Ý kiến 2 nhấn mạnh biết “tôn trọng và yêu thương chính mình”, đề cao và

trân quí bản thân; từ “chỉ khi nào” khẳng định đó là yếu tố cơ sở để mỗi cá

nhân biết “thực sự” yêu thương người khác - thể hiện trọn vẹn, đầy đủ và

bản chất nhất của sự yêu thương

=> Hai ý kiến trên đề cập đến lòng yêu thương người khác một cách sâu sắc,

tình yêu thương không chỉ dành cho người thân mà còn cho cả những người

xung quanh một cách sâu lắng, mãnh liệt

- Mối quan hệ của hai ý kiến:

+ Hai ý kiến không đối lập mà có sự bổ sung cho nhau, phản ánh hai cách

ứng xử khác nhau của mỗi cá nhân với bản thân để hướng tới một tình cảm

Trang 3

nhân văn cao đẹp Nhận định nhắc nhở, gợi mở cho mỗi người những con

đường khác nhau để yêu thương mọi người một cách sâu sắc nhất

+ Cả hai ý kiến đều đúng, đều là những lời khuyên thấm thía: Muốn yêu

thương người khác, trước hết cần yêu thương, trân trọng bản thân mình;

nhưng trong những hoàn cảnh cụ thể, cần biết quên mình để yêu thương

người khác

3.1 Tại sao phải biết“quên mình đi để yêu thương người khác một cách

sâu sắc hơn”?

1,0

- Bởi lẽ:

+ Cuộc sống không thể thiếu vắng tình yêu thương, bản chất của sự yêu

thương là san sẻ, độ lượng, bao dung, hi sinh

+ Nhưng cái Tôi của mỗi người đôi khi lớn đến mức người ta không còn biết

đến ai ngoài chính mình

+ Mặt khác, lợi ích cá nhân của mỗi con người luôn là cái thiết thực, hấp dẫn

khiến người ta thường sống cho mình hơn là hi sinh cho người khác, nhất là

khi đang gặp khó khăn

- Quên mình để sống mình vì mọi người mới đặt lợi ích của người khác cao

hơn lợi ích, quyền lợi của chính mình, chấp nhận sự thiệt thòi về mình

- Quên mình mới có thể hi sinh, nhường nhịn, cống hiến cho mọi người, cho

cuộc đời một cách tự nguyện, thành tâm

3.2 Tại sao “Chỉ khi nào biết yêu thương quý trọng chính mình, chúng ta

mới có thể yêu thương quý trọng người khác một cách sâu sắc.”?

1,0

- Biết yêu thương quý trọng chính mình nghĩa là đề cao và quý trọng những

giá trị tốt đẹp của mình, biết giữ gìn những gì thuộc về chính mình

- Biết yêu thương quý trọng chính mình là cơ sở hiểu thấu giá trị của người

khác, biết trân trọng những gì thuộc về người khác

- Yêu thương, trân trọng bản thân là cảm xúc chân thành nhất, là cội nguồn

nuôi dưỡng những tình cảm đẹp đẽ khác như: nâng niu, kính trọng, quí mến

những giá trị tốt đẹp của mọi người xung quanh; bao dung tha thứ khi người

khác mắc sai lầm; xúc động, cảm thương khi thấy người khác gặp khó khăn,

hoạn nạn

- Có sự đồng cảm, nảy sinh cảm xúc với người khác như với chính bản thân

mình đã trải nghiệm: “Thương người như thể thương thân”

- Khi vô cảm với bản thân, tâm hồn cũng sẽ chai lỳ, dửng dưng với mọi

người xung quanh Nếu có tình yêu thương với người khác cũng chỉ là tình

cảm giả dối, hời hợt, xáo rỗng, gượng gạo mà thôi

* (Lưu ý: Mỗi luận điểm trên đều có dẫn chứng kết hợp với lý lẽ để làm sáng

tỏ Dẫn chứng phải tiêu biểu, toàn diện, xác đáng)

- Phê phán những người chưa biết quên mình trong mối quan hệ với mọi

Trang 4

người, hoặc những người chưa biết trân trọng mà coi thường bản thân

- Quên mình để yêu thương con người, khác với đánh mất bản thân mình;

Yêu thương tôn trọng bản thân khác với sự vị kỉ

- Quên mình và yêu thương, quý trọng chính mình để yêu thương, quý trọng

người khác một cách trọn vẹn, sâu sắc hơn

- Từ quan niệm trên đặt ra vấn đề cần làm gì để có cách ứng xử nhân văn và

tạo dựng các mối quan hệ tốt đẹp

Câu 2 (6,0 điểm)

a.Về kỹ năng

Thí sinh tạo lập được một bài văn nghị luận văn học, vận dụng tốt các thao tác lập luận

Biết cách chọn và phân tích dẫn chứng làm sáng tỏ vấn đề nghị luận

Bài viết mạch lạc, trong sáng, có cảm xúc; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp

b Về kiến thức

Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo được các ý

cơ bản sau:

- Cái đẹp mà văn học mang lại: là cái đẹp nghệ thuật được sáng tạo do tài

năng của người nghệ sĩ Cái đẹp trong tác phẩm văn học chủ yếu thể hiện ở

nội dung tư tưởng cao cả; hình thức nghệ thuật hấp dẫn, độc đáo

- Cái đẹp của sự thật cuộc sống: cái đẹp bắt nguồn từ hiện thực; là vẻ đẹp

của thiên nhiên, cuộc sống, con người được kết tinh, chắt lọc từ hiện thực

- Cái đẹp được khám phá một cách nghệ thuật: cái đẹp trong cuộc sống

được nhà văn khám phá và cảm nhận ở chiều sâu tư tưởng, tình cảm để rồi

khắc họa qua sự tìm tòi, sáng tạo mới mẻ, độc đáo; tạo nên sự hài hòa giữa

nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật; đem lại những giá trị thẩm mĩ

cao đẹp

=> Ý nghĩa khái quát: Khẳng định cái đẹp của sáng tạo nghệ thuật trong

mối quan hệ với hiện thực cuộc sống và tài năng của nhà văn đối với việc

khám phá sáng tạo cái đẹp

- Ý kiến trên đề cập đến đặc trưng của văn chương, nghệ thuật: lấy cái đẹp

của hiện thực làm chất liệu, đề tài, cảm hứng sáng tác Mọi sáng tạo nghệ

thuật đều bắt nguồn từ đời sống

- Tác phẩm văn học chỉ có thể làm rung động trái tim người đọc khi chứa

đựng giá trị thẩm mỹ: khả năng văn học phát hiện và miêu tả những vẻ đẹp

của cuộc sống một cách sinh động, giúp con người cảm nhận và biết rung

động một cách tinh tế, sâu sắc trước vẻ đẹp đó

Trang 5

- Giá trị thẩm mĩ của văn học được thể hiện ở nội dung: mang lại cho người

đọc vẻ đẹp muôn hình muôn vẻ của cuộc đời, khám phá vẻ đẹp sâu xa trong

nội tâm con người

- Cái đẹp trong nghệ thuật còn thể hiện ở hình thức, được biểu đạt qua hình

tượng nghệ thuật riêng biệt độc đáo, không lặp lại, sự sáng tạo các yếu tố

nghệ thuật phong phú

=> Nhận định đúng đắn, sâu sắc, khẳng định tiêu chí để đánh giá một tác

phẩm văn học chân chính Đồng thời, nhận định cũng đặt ra yêu cầu đối với

người sáng tác: phải phản ánh chân thật cái đẹp của cuộc sống nhưng đó

không phải là cái đẹp thuần túy mà là cái đẹp chân - thiện - mĩ

4 Giới thiệu các tác phẩm tiêu biểu lựa chọn để phân tích

- Lựa chọn được ít nhất hai tác phẩm Thơ mới có giá trị thẩm mỹ trong

chương trình THPT đã học để làm sáng tỏ nhận định

- Giới thiệu chung về tác giả, vị trí, giá trị của tác phẩm

0,25

5 Phân tích làm sáng tỏ ý kiến qua một số bài Thơ mới 3,5 5.1 Cái đẹp mà văn học đem lại không phải cái gì khác hơn là cái đẹp

của sự thật đời sống

- Hiện thực đời sống được miêu tả tinh tế, gợi cảm (Có thể phân tích: Bức

tranh mùa xuân tươi đẹp trong Vội vàng; Cảnh sông Hồng mênh mang sóng

nước trong Tràng giang; Cảnh Vĩ Dạ thơ mộng hữu tình trong Đây thôn Vĩ

Dạ )

- Bộc lộ chân thực tư tưởng, nhận thức sâu sắc của nhà thơ về cuộc sống và

con người (Có thể phân tích: quan niệm về hạnh phúc, thời gian, quan điểm

sống vội vàng trong thơ Xuân Diệu; )

- Thể hiện những tình cảm cao quý, sâu sắc của tác giả (như: tình yêu nhiên

nhiên, yêu quê hương đất nước, tình yêu cuộc đời và con người trong các

bài thơ)

=> Cho thấy rõ nhận thức của nhà thơ về vai trò của cá nhân trong sáng tạo

nghệ thuật

5.2 Cái đẹp của sự thật đời sống được khám phá một cách nghệ thuật

qua sự sáng tạo phong phú của mỗi nhà thơ

- Đề tài, thể thơ…

- Cách diễn đạt, dùng từ, hình ảnh mới mẻ, sáng tạo, độc đáo, mới lạ…

- Lời thơ giàu tính nhạc, cách ngắt nhịp linh hoạt…

2,5

1,0

- Ý kiến đã định hướng cho người tiếp nhận các tác phẩm văn học đúng đắn,

phải gắn giá trị thẩm mĩ của tác phẩm văn học với hiện thực cuộc sống và sự

sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ

- Nhấn mạnh tính hoàn chỉnh của cái đẹp nghệ thuật ở cả phương diện nội

dung và hình thức của tác phẩm văn học

Ngày đăng: 08/01/2021, 19:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w