1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Tổng hợp đề quanh tác phẩm Đây Thôn Vĩ Dạ

12 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 446,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, với tư cách là một tác phẩm nghệ thuật, bài thơ còn đi xa hơn một con người, một miền quê cụ thể: nó là tượng trưng cho tình cảm, tình yêu tha thiết của nhà thơ đối với cuộc [r]

Trang 1

ĐÂY THÔN VĨ DẠ – HÀN MẠC TỬ

Đề 1: Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử

A.Mở bài

Trên bầu trời thơ mới, Hàn Mặc Tử nổi lên như một ngôi sao chói lọi diệu kì Thơ ông mang diện mạo hết sức phức tạp và bí ẩn bởi sự đan xen của cả những gì bản thân thuộc thanh khiết, thiêng liêng nhất; cả những gì ghê rợn, ma quái, cuồng loạn nhất Tuy nhiên đằng sau thế giới hình ảnh phức tạp kia vẫn hiện rõ một người chan chứa lòng yêu sống Ngay cả lúc linh hồn muốn rời bỏ trần gian để bay lên cõi siêu nhiên thì người ta vẫn thấy rõ một tình yêu đến đau đớn hướng về cuộc đời trần thế Nhưng đến Hàn Mạc Tử chúng ta không thể không nhớ đến “ Đây thôn Vĩ Dạ” ( Rút từ tập “đau thương”)

2 Thân bài

a.Xuất xứ:

Theo lời của bạn bè và người thân nhà thơ kể lại khi làm ở sở đạc điền ở Qui Nhơn, Hàn Mạc Tử đem lòng yêu cô gái tên là Hoàng Thị Kim Cúc mà chúng ta vẫn quen gọi là Hoàng Cúc Đây là cô gái con nhà viên chức lại có vẻ đẹp dịu dàng kín đáo kiểu chân quê Thực ra đây chỉ là mối tình đơn phương từ phía Hàn Mạc

Tử Khi Hoàng Cúc theo cha về Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử coi sự kiện này như làng đi lấy chồng và đã gửi trọn lòng của mình trong tập “ Gái quê” với những vần thơ:

“ Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ

Em lấy chồng rồi hết ước mơ

Tôi sẽ đi tìm mỏi đá trắng

Ngồi lên để tha cái hồn thơ”

Khi nhà thơ mắc bệnh nan y, ông đã nhận được tấm thiệp kèm lời hỏi thăm của Hoàng Cúc Thi sĩ đã viết bài thơ này để tặng cho cô gái

- Một bài thơ chữ tình bao giờ cũng có một giọng điệu đặc trưng Ở Đây thôn Vĩ

Dạ đó là giọng điệu tha thiết Tha thiết với người con gái anh thầm yêu, với cảnh

Trang 2

Huế, người Huế và trên hết với cuộc đời Những điều này đã biến tiếng nói nội tâm riêng tư của Hàn Mặc Tử trở thành tiếng lòng muôn đời của người trong cuộc đời Điều này giải thích vì sao, gần 80 năm qua Đây thôn Vĩ Dạ luôn nằm trong tâm hồn của các thế hệ yêu thơ

Khổ 1

“ Sao anh không về chơi thôn Vĩ”

Khổ thơ được mở đầu bằng những câu hỏi Đây là câu hỏi mà nhà thơ hỏi chính mình, hỏi để khẳng định: về Vĩ Dạ, thăm lại chốn cũ người xưa là điều vô cùng thú

vị Câu hỏi mang sắc thái lời mời, lời trách,lời nhắc nhở trong câu hỏi, ta bắt gặp chất giọng ngọt ngào của xứ Huế được khắc họa rất thành công bởi câu thơ có 6/7 tiếng là thanh bằng Câu thơ đưa ta về với một địa chỉ thân thương: Vĩ Dạ Đó là một làng nhỏ nằm ở bờ Nam sông Hương cách tư tâm thành phố Huế bằng những hình ảnh tản bộ Từ xưa Vĩ Dạ đã nổi tiếng với vẻ đẹp trầm lắng thanh tao của kiến trúc nhà vườn – những ngôi nhà xinh xinh như những bài thơ tư tuyệt ẩn hiện trong màu xanh lá không phải ngẫu nhiên, VĨ Dạ là nơi các quan chức Huế trước đây chọn làm nơi ở sau khi về hưu, là nơi các tao nhân mặc khách thường lui tới

Ba câu thơ tiếp theo tập trung khắc họa cảnh vườn – nét đặc sắc riêng của không gian Vĩ Dạ:

“ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”

Câu thơ có hai chữ “nắng”, chữ “nắng” sau bổ sung và làm rõ nét nghĩa cho chữ nắng trước: Nắng mới lên là nắng mới bắt đầu cho một ngày Ở thời điểm đó, những sắc xanh vừa mới được hồi sinh bóng tối đón nhận ánh nắng mới lên của bình minh thanh tân khôi, gợi nhắc lại những câu thơ của Tố Hữu:

Nắng xuân tưới trên thân dừa xanh dịu

Tàu cau non thấp thoáng muôn gợn xanh

Ánh nhởn nhơ đùa quả non trắng phếu

Và chảy tan qua kẽ lá cành chanh

Hàn Mặc Tử đã viết một câu thơ gợi ấn tượng về sự tinh khôi với vườn như

“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

Trang 3

Chữ “mướt” nói lên trạng thái óng ả mượt mà của cây lá đang độ phát triển non tơ Một từ “quá” ở liền đó đã đẩy cảnh của nhân vật chữ tình lên đến độ cao nhất của cao trào gợi vườn thôn Vĩ Dạ như một viên ngọc không chỉ dời dợi sắc xanh mà còn tỏa vào không gian những sắc xanh

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Nét tài của thi sĩ đã gợi ra vẻ đẹp hài hòa gợi cảm: lá trúc (thanh), mặt chữ điền (vuông vức) Câu thơ còn gợi ra một quan niệm về cảnh đẹp đậm chất Á Đông: cảnh đẹp là sự hài hòa giữa người và thiên nhiên “mặt chữ điền” là một biểu tượng phúc hậu có từ thuở ca dao:

“ Mặt em vuông tượng chữ điền

Da em thì trắng áo đen mặc ngoài

Lòng em có đất có trời

Có câu nhân nghĩa có lời thủy chung

Anh thương em không thương bạc thương tiền

Mà anh thương cái khuôn mặt chữ điền của em”

Ba câu thơ, mỗi câu là một chi tiết trong vườn Tất cả hợp lại, ánh lên vẻ bình dị, cao sang, tươi tắn đầy sức sống Bức tranh cảnh vật ấy chỉ có thể là sản phẩm của một tâm hồn yêu đời khao khát sống Vậy mà khi viết những câu thơ này Hàn Mặc

Tử đang mắc bệnh nan y, cảnh vật hết sức bi thương

“ Tôi đang còn đây hay ở đâu

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu”

Thậm chí, Hàn Mặc Tử còn ví mình là cung nữ bị bỏ quên

“ Ngoài kia xuân đã thắm hay chưa

Trời ở trong đây chẳng có mùa

Chẳng có niềm trăng hay ý nhạc

Trang 4

Có những cung nữ nhớ thương vua”

Tấm bưu thiếp và lời hỏi thăm của Hoàng Cúc với Hàn Mặc Tử thực sự là thuốc tiên dược để kẻ bất hạnh được nhìn đời bằng con mắt yêu đời khiến cái gì cũng biếc rờn, tươi non tràn đầy sức sống Vĩ Dạ trở thành tín hiệu của cuộc đời trần thế

ấm lòng tình người, về Vĩ Dạ là về với cuộc đời

Ẩn chứa bên trong bức tranh phong cảnh tươi đẹp là nỗi buồn man Đầu từ “ai” (trong “vườn ai”) gợi một vẻ đẹp quá tầm tay, hành trình về Vĩ Dạ trở thành hành trình không thể thực hiện được

Tiểu kết: Của nhận và đón nhận tình người với tất cả sự khao khát trân trọng Đó chính là giá trị nhân bản thứ nhất của bài thơ này

Khổ 2

Tiếp nối mạch cảm xúc của khổ một, dường như ở khổ thơ thứ hai nhà thơ dành để đặc tả cảnh sông nước mây trôi xứ Huế:

“ Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Cảnh sông nước mang nỗi buồn li tán Gió mây đôi ngả Thi sĩ lãng mạn vốn nhạy cảm với sự chia li Hàn Mạc Tử trong cảnh ngộ riêng của mình đã thấy: sự chia li can thiệp vào những thứ vốn không thể chia li Câu thơ đầu cho thấy: chữ “gió” đóng khung gió, hai chữ “mây” đóng khung mây, giữa gió và mây là hai sự chia lìa cách trở Dòng nước sông Hương êm đềm từng đi vào câu thơ rất đỗi chân tình của

Tố Hữu:

“Hương Giang ơi! Dòng sông êm

Quả tim ta vẫn ngày đêm tự tình”

Giờ đây chỉ còn dòng nước buồn thiu, nỗi buồn nhẹ nhàng sâu lắng, lặng vào tâm tưởng và chứa cả nỗi chán chường Hoa bắp với màu sắc ảm đạm và động thái lay, gợi sự sống yếu ớt càng góp thêm vào cái u buồn sông nước Cõi nhân gian ăm ắp

sự sống, biêng biếc sắc màu đã nhường chỗ cho một vũ trụ lạc điệu, hiu hắt, vô sai,

vẽ của tâm trạng tăm tối u buồn : thân bệnh – tâm bệnh Đây chính là thực trạng thân phận của thi sĩ

Trang 5

Khi nghệ sĩ lãng mạn buồn đời mà không chán đời: không tìm thấy sự đồng điệu trong cõi thực, nhà thơ đi tìm sự hài hòa trong cõi mộng:

“Thuyền ai chở bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay”

Những chi tiết thực (thuyền sông, trăng) đã góp phần tạo lên cảnh ảo: một con thuyền một dòng sông bọc trong trăng, vạn vật như rũ bỏ hết màu sắc đường nét phàm trần để thấm đẫm ánh trăng Nó gợi cho ta nhớ đến câu thơ rất đỗi phong lưu của Nguyễn Công Trứ:

“Gió trăng chứa một thuyền đầy

Của kho vô tận biết ngày nào rơi”

Và người đọc cũng không quên trong thơ Hàn Mặc Tử, trang là hình tượng luôn trở đi trở lại, là máu thịt là tài sản của thi nhân Thi sĩ chẳng đã từng rao bán

Ai mua trăng tôi bán trăng cho,

Chẳng bán tình duyên ước hẹn hò

Tuy nhiên bên trong bức tranh phong cảnh rất mộng ảo lại chứa đựng những từ ngữ cụ thể, mộc mạc: kịp- tối nay “Tối nay” như thu bớt quỹ thời gian cho thấy một thực tại ngắn ngủi Chữ “kịp” gợi cảm giác khắc khoải âu lo vì sợ muộn Câu thơ thẫm đẫm cảm giác mong manh, chứa đầy linh cảm về sự mất mát lỡ làng Khổ thơ cho thấy cảnh chuyển từ rất xa rất nhanh - một đặc điểm của thơ Hàn Mặc

Tử

Dẫu cuộc đời lìa bỏ phũ phàng, vẫn níu kéo tha thiết cuộc đời, đó chính là thông điệp nhân văn của khổ thơ này

Khổ 3

Những người con gái trong thơ Hàn Mặc Tử bao giờ cũng hiện thân cho vẻ đẹp thuyệt đỉnh của trần thế Ở khổ thơ này cũng tập trung vào hình ảnh của thiếu nữ Hình ảnh gần gũi thân thương của “em” đã trở thành nhân cách, xa vời, hư ảo Để rồi tất cả chỉ còn lại trong:

Áo em trắng quá nhìn không ra

Trang 6

Câu thơ như đã dẫn tới những cách hiểu khác nhau: do lần vào sương khói, đó là cách cực tả sắc trắng ở mức độ tuyệt đối, tận cùng Cách hiểu thứ hai có vẻ hợp lý hơn cả Hàn Mạc Tử vốn sành tả sắc trắng với một cảm quan đặc biệt Trong “Mùa xuân chín” là một sắc trắng đến nhức mắt:

Chị ấy năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang

Nhà thơ quay trở lại với lòng mình

“ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà”

Trong mạch văn bản, “ở đây” không phải là Huế hay Quy Nhơn mà là nói đang có

sự tái hiện của anh, nơi anh đang sống trong sự chia lia cách trở, để hướng về nơi

ấy, cõi nhân gian ăm ắp sự sống, biêng biếc sắc màu, ấm lòng tình người mà còn ý thức được mình chỉ là kẻ đứng ngoài trong một bài thơ khác thi sĩ đã viết:

Anh đứng cách xa nghìn thế giới

Lặng nhìn trong mộng miệng em cười

Em cười anh cũng cười theo nữa

Để nhắn hồn anh đã đến nơi

Giữa anh và nơi ấy là khoảng cách của sương khói: sương khói không gian, thời gian sương khói của mối tình vô vọng Ở câu thơ cuối hai đại từ “ai” chỉ hai người trong mối quan hệ khăng khít Tín hiệu tình người có nhưng chưa đủ để cứu rối linh hồn, nhất là những linh hồn bất hạnh Nhà thơ mong cái tuyệt đỉnh của tình người: đậm đà Câu thơ có chút hờn giận nhẹ nhàng, có phủ bòng hoài nghi và trên hết là sự ghi nhận một tấm lòng

Khổ thơ là ba bức tranh phong cảnh: khổ một- bức tranh phong cảnh tươi sáng đầy sức sống, Khổ 2 – cảnh mộng ảo, Khổ ba – cảnh hư ảo Ba khổ thơ đều chứa trong

nó những câu hỏi Vì thế âm điệu của những câu hỏi

Trang 7

Khổ một : khát vọng từ bên trong lại được tái hiện như một lời mời gọi từ bên ngoài

Khổ hai: hy vọng vủa lóe sáng lập tức chuyển thành vô vọng

Khổ ba: một ước vọng vừa lóe rạng ngời

3.Tổng kết

Gần 80 năm qua, Đây thôn Vĩ Dạ vẫn xanh tươi trong vườn thơ Việt Nam Nó góp phần đưa Hàn Mặc Tử vào vị trí là một trong những đỉnh cao của Thơ mới Với bài thơ này, ta hiểu vì sao Chế Lan Viên lại nhận xét: “Tôi dám chắc với các người rằng, sau này những gì tầm thường mực thiết kia sẽ tan biến đi, còn lại một chút gì của thời này đó là Hàn Mặc Tử”

Đề 2: Có ý kiến cho rằng: “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử chỉ thể hiện tình yêu đối với một người con gái xứ Huế” Hãy bình luận ý kiến trên

I.Mở bài

Hàn Mạc Tử là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào Thơ mới Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ tiêu biểu cho sự sáng tạo đó của ông Bài thơ sáng tác năm 1938 in trong tập Thơ Điên Bài thơ đã gây xôn xao

dư luận, gợi nhiều cách hiểu khác nhau, có người cho rằng bài thơ chỉ thể hiện tình yêu của tác giả đối với người con gái xứ Huế Vậy cách hiểu này đúng, sai chúng

ta tìm hiểu nội dung bài thơ

II Thân bài

a Xuất xứ:

Bài thơ gợi hứng từ mối tình của Hàn Mạc Tử với cô gái quê ở Vĩ Dạ (Huế) đó là Hoàng Thị Kim Cúc Một lần, khi biết tin Hàn bị lâm trọng bệnh, Kim Cúc gửi cho Hàn một tấm thiếp vẽ cảnh Huế có người chèo đò trên sông Hương với lời thăm chúc thi sĩ mau chóng bình phục

b Phân tích

Khổ 1:

Trang 8

Câu mở đầu là câu hỏi tu từ nhưng gợi nhiều cách hiểu “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”, có thể là lời trách nhẹ nhàng, lời mời gọi tha thiết của nhà thơ hay đúng hơn là lời tự vấn, tự trách, tự hỏi mình của nhà thơ

Tác giả miêu tả cảnh đẹp ở Huế: với những hàng cau thẳng tắp, cao vút, vượt lên những cây khác, nhưng cái đẹp của thôn Vĩ không phải do nắng hay hàng cau mà

là do sự kết hợp “nắng hàng cau”, và cái nắng ở đây là “nắng mới”, cái nắng tươi rói, trong trẻo, tinh khiết Hình ảnh “vườn ai mướt quá, xanh như ngọc” càng làm cho thôn Vĩ trở nên tươi tắn lạ thường

Hình ảnh con người xuất hiện càng làm cho bức tranh trở nên sinh động, nhưng con người hiện lên kín đáo: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” - ý nghĩa tượng trưng cho vẻ đẹp con người xứ Huế

Khổ 2: “Gió theo lối gió ”

Cảnh thực: Trên sông Hương, có lối gió đường mây cuối chân trời, có thuyền đậu bến sông trăng, và thuyền chở đầy trăng Đó là cảnh tượng mơ hồ huyền ảo rất hợp với cảnh xứ Huế

Ý nghĩa tượng trưng: Những câu thơ miêu tả tâm trạng “Lối gió, đường mây’’ là những ẩn dụ ý nói đôi lứa mỗi người một ngã Sự tinh tế của câu thơ là ở chỗ ẩn dụ không hoàn toàn, thể hiện tình cảm chưa rõ rệt, đúng với trong thực tế

Tác dụng của những câu hỏi tu từ: “Thuyền ai Có chở trăng về kịp tối nay?" làm cho ý thơ có gì như hối hả, giục giã; và có những ẩn ý do không nói hết căn nguyên của câu hỏi, nên câu thơ càng huyền bí hơn

Khổ 3: “Mơ khách đường xa, khách đường xa ”

Các hình ảnh mờ ảo, cách viết bí ẩn nhưng nhiều sức gợi

Người ta thường nói Huế tím, Huế trắng để chỉ màu áo cúa các thiếu nữ, có phải vậy mà Hàn Mạc Tử phái bối rối thốt lên, bởi áo em trắng hay sương khói mờ nhân ảnh

Câu cuối cùng mang chút hoài nghi mà chan chứa niềm yêu thiết tha: “Ai biết tình

ai có đậm đà?”

Trang 9

Khái quát: Đây thôn Vĩ Dạ có sự thành công đặc biệt về cảnh Huế, trầm mặc, cổ kính nên nó mang một vẻ đẹp buồn, tao nhã, quý phái Cảnh Huế rất sinh động, có hồn

Nhận xét, đánh giá

Bài thơ trước hết thể hiện tình cảm của nhà thơ với một người con gái thôn Vĩ nó khởi điểm và kết thúc đều luôn gắn liền với câu chuyện có thật về mối tình đơn phương giữa thi sĩ với cô con gái ông chủ Sở Đạc điền Quy Nhơn Tuy vậy, với tư cách là một tác phẩm nghệ thuật, bài thơ còn đi xa hơn một con người, một miền quê cụ thể: nó là tượng trưng cho tình cảm, tình yêu tha thiết của nhà thơ đối với cuộc đời này, nhất là khi nhà thơ đã lâm trọng bệnh, cảm nhận được cái thiêng liêng của cuộc đời Điều sâu sắc cuối cùng mà thi sĩ muốn gửi đến tất cả chúng ta

là tình yêu sâu nặng và thiêng liêng của ông đối với cuộc sống

III Kết bài

Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ có xuất xứ và cảm hứng chủ đạo hướng về một người con gái, một miền quê cụ thể, nhưng với sức khái quát hóa nghệ thuật, bài thơ vượt qua ranh giới những gì cụ thể để đến với một miền quê, với tất cả chúng ta Đó là tình yêu tha thiết và sâu nặng của nhà thơ đối với con người, với quê hương, với cuộc sống và với tất cả cuộc đời này

Đề 3: “Đây thôn Vĩ Dạ” là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước; là tiếng lòng của một thi sĩ tha thiết yêu đời, yêu người

Anh/ chị hãy phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử để làm sáng

tỏ ý kiến trên

1/ Giới thiệu vấn đề :

- Giới thiệu khái quát về Hàn Mặc Tử và bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

- Giới thiệu luận đề : “Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước;

là tiếng lòng của một thi sĩ tha thiết yêu đời, yêu người.”

2/ Phân tích

a Bức tranh đẹp về một miền quê đất nước :

Trang 10

- Khổ thơ thứ nhất :

+ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Câu hỏi làm sống dậy kỷ niệm về thôn Vĩ, nói rộng hơn về xứ Huế, trong tâm hồn đằm thắm và thơ mộng của Hàn Mặc Tử Cảnh buổi sớm nơi thôn Vĩ: Nắng mới lên, chiếu sáng, lấp loáng những hàng cau

Vĩ Dạ có những hàng cau thẳng tắp thân cao vượt lên trên các mái nhà và những tán cây Những tàu cao con bóng loáng sương đêm như hút lấy ánh sáng lúc ban mai

+ “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” là câu thơ không có gì đặc sắc tân kỳ lắm về mặt sáng tạo hình ảnh và từ ngữ, nhưng càng nghĩ càng thấy tả những vườn cây tươi tốt, xum xuê của Vĩ Dạ cũng chỉ có thể nói như thế mà thôi Mỗi ngôi nhà ở

Vĩ Dạ, nói chung ở Huế, được gọi là những nhà vườn Vườn bọc quanh nhà, gắn với ngôi nhà xinh xinh thường là nhà trệt, thành một cấu trúc thẩm mĩ chặt chẽ Xuân Diệu gọi mỗi cấu trúc ấy là một bài thơ tứ tuyệt Vì thế vườn được chăm sóc chu đáo

– Những cây cảnh và cây ăn quả đều xanh tốt mơn mởn và sạch sẽ, dường như được cắt tỉa, lau chùi, mài giũa thành những cành vàng lá ngọc Sự ví von ở đây được nâng lên theo hướng cách điệu hoá Khuynh hướng cách điệu hóa được đẩy lên cao hơn nữa ở câu thứ tư: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” Đã gọi là cách điệu hóa thì không nên hiểu theo nghĩa tả thực, tuy rằng cách điệu hoá cũng xuất phát từ sự thực: thấp thoáng đằng sau những hàng rào xinh xắn, những khóm trúc,

có bóng ai đó kín đáo, dịu dàng, phúc hậu

- Khổ thơ thứ hai, dòng kỷ niệm vẫn tiếp tục Nhớ Huế không thể không nhớ dòng sông Hương

Dòng sông Hương, gió và mây Con thuyền ai đó đậu dưới ánh trăng nơi vắng Bốn câu thơ như diễn tả cái nhịp điệu nhẹ nhàng, chậm rãi của Huế

Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Cái tinh tế ở đây tả làn gió thổi rất nhẹ, không đủ cho mây bay, không đủ cho nước gợn, nhưng gió vẫn run lên nhè nhẹ cho hoa bắp lay Tất nhiên đây phải là cảnh sông Hương chảy qua Vĩ Dạ lững lờ trôi về phía cửa Thuận Đúng là nhịp điệu của Huế rồi

Ngày đăng: 08/01/2021, 18:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w