Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinh
Trang 1I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
Để đáp ứng được yêu cầu này, cần phải nâng cao chất lượng giáo dục, tăngcường bồi dưỡng cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu quêhương gia đình, lòng biết ơn, lòng nhân ái, tinh thần hiếu học, biết kế thừa, pháthuy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Mục tiêu của bộ môn Lịch sử
ở trường phổ thông nhằm góp phần vào việc đào tạo con người Việt Nam pháttriển toàn diện Trong quá trình hội nhập, môn Lịch sử, đặc biệt là lịch sử dân tộcrất cần được coi trọng để giúp thế hệ trẻ hình thành nhân cách, bản lĩnh conngười, để giữ gìn bản sắc dân tộc
Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi bàn về công tác
giáo dục đã chỉ rõ, phải “ lựa chọn những nội dung có tính cơ bản, hiện đại.Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức và nhân văn, lịch sử dân tộc
và bản sắc văn hóa dân tộc; ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân và tiền đồ đất nước ” Do dó, nhiệm vụ của bộ môn lịch sử lại càng trở nên quan trọng
trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức cho học sinh Mỗi sự kiện lịch sửđều gắn liền với tên đất, tên người cụ thể, gần gũi với cuộc sống, qua đó mà gợi ởcác em niềm tự hào, lòng biết ơn, góp phần bồi dưỡng tình yêu quê hương, đâycũng là cội nguồn của lòng yêu nước, tự hào dân tộc
Bên cạnh đó trong những năm gần đây, tình trạng sút kém về chất lượngmôn Lịch sử ở trường phổ thông thật đáng báo động Có nhiều nguyên nhân dẫnđến tình trạng trên: Thứ nhất do cơ chế thị truờng đã len lỏi vào nhận thức củahọc sinh và phụ huynh, các em cũng như gia đình chỉ chú tâm đầu tư vào học cácmôn tự nhiên các em xem nhẹ môn lịch sử, đến lớp chỉ học qua loa, mang tínhchất đối phó; Thứ hai bản thân một số giáo viên dạy Lịch sử xem nhẹ môn củamình, cho là môn phụ, đến lớp chỉ truyền thụ những kiến thức có sẵn trong sáchgiáo khoa với phương pháp “thầy đọc trò chép” dẫn đến tiết học khô khan, chỉthông báo các sự kiện, số liệu một cách cứng nhắc không gây hứng thú học tậpcho học sinh khiến học sinh chán học môn lịch sử; Thứ ba do năng lực của một
số giáo viên có hạn hay không tâm huyết với nghề hoặc do hạn chế về tài liệutham khảo; Thứ tư do các cấp quản lí cấp trên cũng cho rằng môn Lịch sử là môn
Trang 2phụ nên không quan tâm đến đời sống giáo viên dạy môn Sử và đầu tư cho mônhọc này và chỉ tổ chức thi tìm hiểu về Lịch sử khi cần thiết, không tổ chức các kìthi thường xuyên như môn Văn, Toán, Anh nên tạo cho học sinh thói quen coimôn Sử là môn phụ không cần phải học Hơn nữa học sinh không thích họcLịch sử, không phải do môn Lịch sử gây ra mà chính là do quan niệm và phươngpháp dạy học của chúng ta chưa thật sự phù hợp Bởi Lịch sử là nguồn cảm hứngmạnh mẽ đối với mọi người, vì qua lịch sử mà ta nhận thấy được gương mặt củaquá khứ, hình ảnh của hiện tại và bước phát triển của tương lai Đã có nhiều cuộchội thảo ở nhiều cấp bàn bạc về vấn đề trên, nhưng thực tế vẫn chưa mang lại kếtquả như mong đợi Việc nghiên cứu tìm ra biện pháp cải thiện tình trạng hiện tại
là hết sức cần thiết và cấp bách Xuất phát từ lương tâm, trách nhiệm nghề nghiệp, bản thân nhận thấy cần phải góp tiếng nói của mình để cùng đồng nghiệp trongtrường, trong tỉnh tìm ra được giải pháp phù hợp với thực tiễn hiện nay để cảithiện tình hình
Từ những lý do trên trong những năm học qua bằng kinh nghiệm của bảnthân trong quá trình giảng dạy bộ môn lịch sử, tôi đã đúc kết lại và viết sáng kiến
“Sử dụng hệ thống sơ đồ, lược đồ, tư liệu tranh ảnh trong thiết kế bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển các năng lực của học sinh.”
II Mô tả giải pháp kỹ thuật:
II.1 Mô tả giải pháp kĩ thuật trước khi tạo ra sáng kiến:
Với kinh nghiệm của một giáo viên trực tiếp đứng lớp nhiều năm hiểu rất
rõ về tác dụng của việc kết hợp các dạng sơ đồ, tranh ảnh, phim tư liệu lịch sửtrong việc truyền tải kiến thức đến cho học sinh góp phần tích cực trong công tácđổi mới phương pháp dạy, giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng
sơ đồ hoá các kiến thức được học để các em có một cách ghi nhớ kiến thức mớilâu hơn, khoa học hơn, đồng thời giúp các em có niềm tin, niềm vui, hứng thúhọc tập bộ môn lịch sử
Trong chương trình Lịch sử lớp 7 ở bậc THCS Trong năm học 2017 - 2018
Trang 3bài giảng lịch sử lớp 7 nhằm hình thành và phát triển năng lực cơ bản của họcsinh và tôi đã được tập trung vào những phương pháp sau:
- Phương pháp vẽ sơ đồ thời gian để giúp nắm bắt được các mốc thời gian,
sự kiện quan trọng trong một bài, một giai đoạn lịch sử
- Phương pháp vẽ sơ đồ so sánh các nội dung về quân sự, pháp luật,vănhoá, giáo dục nằm giúp HS không bị nhầm lẫn, quên giữa các thời kì, các giaiđoạn lịch sử
- Phương pháp khai thác hệ thống hình ảnh, phim tư liệu cùng với các mẩutruyện liên quan đến nhân vật, sự kiện lịch sử nhằm tạo biểu tượng sinh động cho
HS trong quá trình học tập
- Phương pháp khai thác, sử dụng lược đồ một cách hiệu quả giúp HS cóthể nắm chắc kiến thức ngay khi nghe giảng trên lớp nhất là đối với các cuộckhởi nghĩa, các cuộc kháng chiến lớn của dân tộc
II.2 Mô tả giải pháp kỹ thuật sau khi có sáng kiến:
II.2.1 Phương pháp vẽ sơ đồ thời gian: giáo viên thiết kế các sơ đồ về
mặt thời gian nhằm giúp học sinh ghi nhớ được các mốc thời gian, sự kiện quantrọng trong một bài, một giai đoạn lịch sử mà không bị nhầm lẫn, dễ học, lâuquên
VD khi dạy bài 10 : Nhà Lý đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước.
Giáo viên có thể vẽ sơ đồ sau để HS nhớ được các sự kiện quan trọng
Trang 4Để ụn cho HS chương III Nước Đại Việt thời Trần (Thế kỉ XIII – XIV) Giỏo viờn cú thể hướng dẫn học sinh thảo luận theo nhúm, cỏc nhúm tự vẽ
sơ đồ thời gian sao cho dễ nhớ, dễ học nhất Cuối cựng giỏo viờn đưa ra sơ đồcho học sinh tham khảo
1009
Lý Công Uẩn lên ngôi Nhà Lý thành lập
1010 dời đô
về Đại
La (Hà Nội)
1042 ban hành
bộ Hình
Th
1054
đổi tên n ớc
là
Đại Việt
Năm 1226 nhà Trần thành lập
1287 - 1288 kháng chiến lần thứ ba chống quân xâm l ợc Nguyên
Trang 5Khi dạy xong bài 19 Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Giáo viên nên vẽ sơ đồ
thời gian sau để HS ghi nhớ một cách khoa học các mốc thời gian :
1416 1418 1421 1423 1424 1425 9/1426 11/1426 10/1427
Ví dụ khi dạy bài 25 : Phong Trào Tây Sơn Giáo viên có thể sử dụng sơ
đồ dạng tia sau để giúp học sinh ghi nhớ các mốc thời gian :
1771Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ
NghÜa qu©n trë l¹i c¨n cø Lam S¬n
Gi¶i phãng NghÖ An
Gi¶i phãng T©n B×nh, ThËn Hãa
TiÕn qu©
n ra B¾c
ChiÕ
n th¾ng Tèt
Chóc
§éng-§éng
ChiÕn th¾ng Chi L¨ng –
X ¬ng Giang
Khëi nghÜa Lam S¬n (1418 – 1427) 1427)
Phong Trµo
T©y S¬n
Trang 6II.2.2 Phương pháp vẽ sơ đồ so sánh: các nội dung về quân sự, pháp
luật, văn hoá, giáo dục nằm giúp học sinh không bị nhầm lẫn, quên giữa các thời
th ªm
Bæ
su ng th ªm
Trang 7II.2.3 Phương pháp vẽ và sử dụng sơ đồ tư duy: để nắm khái quát toàn
bộ kiến thức của bài, chương, HS phát huy được khả năng ghi nhớ thông tin mộtcách khoa học, chính xác
Với phương pháp này, yêu cầu giáo viên phải có phần mềm vẽ sơ đồ tưduy hoặc đơn giản hơn là chuẩn bị giấy khổ A0, bảng phụ, bút màu hoặc phấnmàu Khi thực hiện, giáo viên nên cho học sinh thảo luận nhóm, các nhóm tựthống nhất cách vẽ sơ đồ sau đó giáo viên nhận xét từng sơ đồ, chấm điểmkhuyến khích cách em
Các bài học trong chương trình lịch sử lớp 7 nên sử dụng sơ đồ tư duy:+ Bài 17 Ôn tập chương II và chương III
+ Bài 21 Ôn tập chương IV
+ Bài 29 Ôn tập chương V và chương VI
Thực hiện :
Ví dụ khi dạy bài 17 Ôn tập chương II và chương III (chỉ đề cập đến
phần nội dung có sử dụng Bản đồ tư duy)
a Với mục tiêu 1 của bài ôn tập: Giúp học sinh củng cố những kiến thức
cơ bản về lịch sử dân tộc thời Lý, Trần, Hồ với những cuộc kháng chiến chốngquân Tống, quân Mông - Nguyên đầy oanh liệt và lập được nhiều chiến côngvang dội, bảo vệ được trọn vẹn chủ quyền của dân tộc Từ đó củng cố, nâng caohơn lòng yêu nước, niềm tự hào và tự cường dân tộc, biết ơn tổ tiên để noigương học tập, rèn kỹ năng vẽ sơ đồ tư duy
Tôi đã nghiên cứu và thiết kế sơ đồ như sau :
* Ví dụ khi dạy lịch sử Việt Nam từ 1009 – 1047 (sơ đồ hệ thống các
cuộc kháng chiến chống ngoại xâm) :
Hệ thống câu hỏi dẫn dắt, khai thác, xây dựng bản đồ:
- Lịch sử Việt Nam từ năm 1009 đến 1407 đã trải qua những thời kì nào?
- Thời nhà Lý – Trần nhân dân ta phải đương đầu với những cuộc xâm
lược nào? (thời gian ? lực lượng quân xâm lược ?)
Trang 8Bản đồ tư duy
* Ví dụ vẽ bản đồ tư duy diễn biến cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống thời Lý:
Hệ thống câu hỏi dẫn dắt, khai thác, xây dựng bản đồ:
- Thời gian bắt đầu và kết thúc của cuộc kháng chiến chống xâm lượcTống là khi nào?
- Nhà Lý có đường lối kháng chiến đối với nhà Tống như thế nào ?
- Hãy kể những tấm gương tiêu biểu về lòng yêu nước bất khuất trong cuộckháng chiến chống xâm lược Tống?
- Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chốngxâm lược Tống là gì?
Bản đồ tư duy
Trang 9* Ví dụ về bản đồ tư duy diễn biến cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên của nhà Trần :
- Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chốngxâm lược Mông -Nguyên là gì?
Trang 10Bản đồ tư duy :
Trong quá trình lên lớp bằng hệ thống câu hỏi cho học sinh xây dựng bài,sau khi hoàn thiện thành sơ đồ như trên tôi cho học sinh vẽ lại ở phần củng cốlàm bài tập
* Khi dạy bài 21 Ôn tập chương IV (nội dung sử dung bản đồ tư duy ở
phần đầu hệ thống hóa kiến thức)
Mục tiêu : Giúp học sinh hệ thống kiến thức cơ bản cũng như các thành
tựu của một thời đại lịch sử Thấy được sự phát triển toàn diện của đất nước ta ởthế kỉ XV So sánh điểm giống và khác nhau giữa thời thịnh trị nhất (thời Lê sơ)với thời Lý - Trần Từ đó bồi dưỡng lòng tự hào tự tôn dân tộc về một thời thịnhtrị của phong kiến Đại Việt ở thế kỉ XV cũng như rèn kỹ năng vẽ sơ đồ tư duy
Trang 11Bằng hệ thống cõu hỏi để học sinh hệ thống lại kiến thức cơ bản củachương IV sau đú vẽ Bản đồ tư duy.
Vớ dụ bài 29 ễn tập chương V và chương VI.
Mục tiờu: Học sinh khỏi quỏt, hệ thống được kiến thức cơ bản của 2
chương là: Từ thế kỉ XVIII- XVI tỡnh hỡnh chớnh trị cú nhiều biến động, nhà nước
rơI vào tay giặc Minh
nh ng cuộc khởi nghĩa
của quý tộc Trần vẫn
còn tiếp diễn.
Đây là cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi, cuộc khởi nghĩa
b ớc đầu vô cùng gian nan vất vả nếm mật nằm gai song nghĩa quân đ ợc nhân dânn ủng hộ
đẫ đánh đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi,
đất n ớc hoàn toàn
Trang 12phong kiến tập quyền thời Lê Sơ suy sụp, nhà Mạc thành lập các cuộc chiến tranhphong kiến Nam - Bắc triều và chiến tranh Trịnh - Nguyễn, sự chia cắt ĐàngTrong- Đàng Ngoài Phong trào nông dân Tây Sơn bùng nổ lần lượt đánh đổ cáctập đoàn phong kiến mục nát Nguyễn ,Trịnh, Lê, đánh tan quân Xiêm - Thanh.Mặc dù tình hình chính trị đất nước có nhiều biến động nhưng tình hình kinh tế,văn hoá vẫn có những bước phát triển mạnh Từ đó giáo dục học sinh: Tinh thầnlao động cần cù, sáng tạo của nhân dân trong việc phát triển kinh tế, văn hoá củađất nước Tự hào về truyền thống dân tộc với thắng lợi trong kháng chiến chốngxâm lược Rèn kỹ năng vẽ sơ đồ tư duy.
Hệ thống câu hỏi để xây dựng bản đồ:
- Chương IV và chương V chúng ta tìm hiểu về lịch sử Việt Nam ở thời kìnào?
- Tình hình nước Đại Việt ở các thế kỉ XVI – XVIII diễn ra như thế nào?
- Điều gì chứng tỏ sự suy yếu của nhà nước phong kiến tập quyền?
- Hãy kể tên các cuộc khởi nghĩa tiêu nông dân tiêu biểu thời kì đó? cuộckhởi nghĩa nào tiêu biểu nhất và đã mang lại kết quả gì?
- Nước việt Nam nửa sau thế kỉ XIX có những biến đổi như thế nào? Cuộcsống nhân dân dưới triều Nguyễn ra sao?
- Tình hình kinh tế văn hóa dưới triều Nguyễn có những nét nổi bật nàođáng kể?
Bản đồ tư duy :
Trang 13II.2.4 Phương pháp khai thác hệ thống hình ảnh Cùng với khai thác
kênh tư liệu này, giáo viên nên sưu tầm các mẩu truyện liên quan đến nhân vật,
sự kiện lịch sử nhằm tạo biểu tượng sinh động cho HS trong quá trình học tập Biểu tượng lịch sử “là hình ảnh về những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiệnđịa lí, được phản ánh trong óc HS với những nét chung nhất, điển hình nhất”
Do đặc trưng của bộ môn Lịch sử- biểu tượng lịch sử (được tạo nên thông quanhững hình ảnh cụ thể, sinh động có sức gợi cảm của đồ dùng trực quan) là cơ sởhình thành khái niệm lịch sử, tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của HS
để các em có thể hình dung được những sự kiện lịch sử, những nhân vật lịch sửnhư thế nào Ví dụ trong quá trình học Lich sử lớp 7, GV có thể giới thiệu cácnhân vật lịch sử như Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần QuốcToản, Lê Lợi Quang Trung…HS sẽ thấy xúc động và thêm kính phục trước lòngdũng cảm, biết ơn trước những công lao của cha ông đối với dân tộc ta Từ đónảy sinh trong HS lòng yêu chuộng hòa bình, lòng căm thù quân cướp nước, có ýthức bảo vệ, giữ gìn độc lập dân tộc, có trách nhiệm xây dựng đất nước ngày mộtgiàu đẹp hơn, đoàng hoàng hơn để không uổng phí những hi sinh của lớp lớpngười dân đất Việt Đồng thời kích thích sự say mê, hứng thú cho các em tronggiờ học Lịch sử
Trang 14Biểu tượng lịch sử được phản ánh đúng sự thật lịch sử- là bằng chứng chânthực của quá khứ, đánh giá đúng khách quan lịch sử Khi xây dựng biểu tượnglịch sử phải sử dụng nhịp nhàng kết hợp với truyền thụ kiến thức đồng thời phảiđảm bảo tính sư phạm, tính tư tưởng và khoa học Phương pháp đặc trưng trongviệc tạo biểu tượng lịch sử là lời nói của GV (giải thích, tường thuật, miêu tả,giới thiệu) Lời nói của GV khi tạo biểu tượng lịch sử phải phù hợp với biểutượng là nhân vật hay sự kiện lịch sử Đối với nhân vật lịch sử là các anh hùngdân tộc, các lãnh tụ cách mạng, GV phải làm nổi bật tính cách, hành động, việclàm của nhân vật ấy thông qua việc mô tả hình thức bên ngoài hoặc nêu ngắn gọntiểu sử hay mô tả chân thực việc làm với kết quả tác động của những việc làmcủa họ đối với quá trình đấu tranh của dân tộc Qua đó kích thích hứng thú họctập của các em, khơi dậy ở các em lòng kính trọng, cảm phục, biết ơn về nhữngcống hiến của họ đối với dân tộc và loài người.
Ví dụ khi dạy Bài 11: Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống( 1075 -1077) Cùng với việc tường thuật trận chiến đấu oanh liệt bên bờ
sông Như Nguyệt cần kết hợp xây dựng biểu tượng anh hùng dân tộc Lý ThườngKiệt Trước khi giới thiệu về nhân vật giáo viên có thể đặt câu hỏi:
? Khi quân Tống sang xâm lược thì nhà Lý đã có biện pháp đối phó nhưthế nào? Ai được cử làm chỉ huy cuộc kháng chiến?
Sau khi HS trả lời theo định hướng thì giáo viên tạo biểu tượng sinh động
về Lý Thường Kiệt bằng việc đưa 2 hình ảnh sau và mêu tả:
Trang 15Lý Thường Kiệt chỉ huy quân tấn công
thành Ung Châu
Tượng đài Lý Thường Kiệt
Lý Thường Kiệt họ Ngô tên Tuấn, tự là Thường Kiệt, sinh năm Kỷ Mùi
1019, quê ở phủ Thái Hoà, thành Thăng Long (Hà Nội) Từ nhỏ, Ông đã có chíhướng, ham đọc sách, say sưa nghiên cứu binh thư, luyện tập võ nghệ Ông có tàivăn, võ; Năm 23 tuổi được bổ nhiệm làm quan theo hầu vua Lý Thái Tông Trảiqua 3 triều vua: Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Ông có nhiềucông lao trong việc chống Tống bình Chiêm, đóng góp xây dựng đất nước phồnvinh
Năm 1061, các tù trưởng ở miền Thanh Hoá, Nghệ An nổi lên quấy rối,chống lại triều đình Vua Lý Thánh Tông cử Ông giữ chức Kinh phòng sứ, saumột thời gian Ông đã đem lại trật tự yên vui cho miền này Vua rất quý Ông vàban cho Quốc tính Từ đó, Ông mang họ Lý Lịch sử cũng đã lưu lại tư tưởngquân sự vô cùng táo bạo và thần tốc của Ông: “Ngồi yên đợi giặc không bằngđem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc” Ông đã chỉ huy quân đội nhanhchóng đánh chiếm hai Châu Khâm, Liêm, rồi hạ thành Ung Châu của giặc Tống,phá tan các vị trí tập kết quân và lương thảo chuẩn bị xâm lược nước ta
Trang 16Tháng 4 năm 1076 , Ông rút quân về lập phòng tuyến sông Cầu Tại khúcsông Như Nguyệt thuộc phòng tuyến này, ở vào lúc gay go nhất, Ông đã làm mộtbài thơ bất hủ, cổ vũ tinh thần quyết chiến quyết thắng của quân dân ta Bài thơkhẳng định quyền độc lập dân tộc tự chủ thiêng liêng của Tổ quốc Bài thơ đã đivào lịch sử của dân tộc ta như một bản tuyên ngôn độc lập thứ nhất :
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư, Như hà nghịch lỗ, lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
Khi dạy Bài 14: Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên (thế kỉ XIII) Mục II: Cuộc kháng chiến lần thứ hai chống quân xâm lược nguyên (1285) Giáo viên tạo biểu tượng về Trần Hưng Đạo bằng việc đưa ra
hình ảnh sau và giới thiệu:
Trần Hưng Đạo đang khuyên nhủ
Trang 17? Khi biết tin quân Nguyên chuẩn bị sang xâm lược nước ta lần thứ 2 thì ai
là người có đủ tài năng để vua Trần tin tưởng giao trọng trách chỉ huy cuộc khángchiến ?
Sau khi HS trả lời, giáo viên đưa hình ảnh trên và miêu tả:
Trần Hưng Đạo tên thật là Trần Quốc Tuấn, con trai thứ 3 của Khâm
Minh đại vương Vương Trần Liễu, gọi Trần Thái Tông bằng chú ruột, mẹ ông làThiện Đạo quốc mẫu, một người trong tôn thất họ Trần Ông có người mẹ nuôiđồng thời là cô ruột, Thụy Bà công chúa Ông sinh ra ở kinh đô Thăng Long, quêquán ở phủ Long Hưng, tỉnh Thái Bình ngày nay Năm 1237, khi lên 5 tuổi ônglàm con nuôi cô ruột là Thụy Bà Công Chúa, vì cha là Trần Liễu chống lại TriềuĐình.(Trần Thủ Độ)
Đại Việt sử ký toàn thư mô tả ông là người có dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, nhờ được những người tài giỏi đến giảng dạy mà ông sớm trở thành người đọc thông hiểu rộng, có tài văn võ.
Tháng 4 năm đó, Trần Liễu ốm nặng Lúc sắp mất, Trần Liễu cầm tay Trần
Quốc Tuấn, trăng trối rằng: "Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được" Trần Quốc Tuấn ghi để trong lòng,
nhưng không cho là phải
Hoặc giáo viên có thể khai thác hình Trần Quốc Toản và giới thiệu thêm
để giáo dục thế hệ trẻ ngày nay:
Trang 18GV: có thể khai thác hình ẳnh bằng câu hỏi:
? Nghe tin quân Nguyên mượn đường đánh Cham-pa, Vua trần đã triệu tậphội nghị gì?
? Trong hội nghị trên nhân vật nào không được mời đến dự? Dựa vào SGK
em hãy miêu tả đôi nét về nhân vật đó?
HS sẽ đọc đoạn trích SGK trang 58 về Trần Quốc Toản, sau đó GV sẽ bậthình ảnh và bổ sung:
Trần Quốc Toản sinh năm 1267, là con trai của Trung Thành Vương (sửliệu không ghi rõ Trung Thành vương có tên thật là gì), nên được phong là HoàiVăn hầu
Trước nguy cơ giặc Nguyên Mông đánh chiếm Đại Việt hiện hữu, tháng 10năm 1282, vua Trần Nhân Tông triệu tập Hội nghị Bình Than để bàn phươnghướng kháng chiến, tiến cử và quyết định nhân sự cho cuộc kháng chiến khiNguyên Mông xua quân đánh chiếm nước ta Hội nghị này bao gồm quan lại,
Trang 19tuổi như bây giờ thì khi ấy, Trần Quốc Toản mới 15 tuổi), nên Hoài Vương hầukhông được mời dự Hội nghị Tuy vậy, Hoài Vương hầu vẫn tới bến Bình Than,đòi được vào dự Hội nghị Bị lính canh chặn cửa, Hoài Văn hầu vặn hỏi:
- Ta là Hoài Văn hầu, quan gia truyền gọi tất cả vương, hầu tới họp Ta là hầu, cớ sao không cho vào?
Thấy chuyện ầm ĩ bên ngoài, Trần Nhân Tông hỏi ra mới biết chuyện, bèncho người mang ban cho Hoài Văn hầu một quả cam và khuyên Hoài Văn hầu luibước vì chưa đến tuổi bàn việc nước Về chuyện này, Đại Việt sử ký toàn thưchép lại như sau: Vua thấy Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, Hoài Nhân VươngKiện đều còn trẻ tuổi, không cho dự bàn Quốc Toản trong lòng hổ thẹn, phẫnkích, tay cầm quả cam, bóp nát lúc nào không biết
Trở về từ Hội nghị Bình Than, Hoài Văn hầu vẫn quyết tâm tìm cách đánhgiặc cứu nước Chàng thiếu niên có vóc dáng vạm vỡ hơn người do sớm thaoluyện võ nghệ bèn quy tập gia nhân, trai tráng trong vùng được hơn 1000 người,rèn luyện binh khí, tích trữ lương thảo, ngày đêm luyện võ, tập trận Trần Quốc
Toản còn cho thêu trên một lá cờ lớn 6 chữ vàng: “Phá cường địch, báo hoàng ân”.
Ví dụ khi dạy bài 19: Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1427) Mục I: Thời Kỳ ở miền tây Thanh Hoá (1418 – 1423) Giáo viên khai thác hình ảnh Lê
Lợi bằng cách dẫn dắt từ kiết thức tiết trước để vào bài cùng với các câu hỏi:
Giặc Minh sang xâm lược, nước tra, cuộc chiến đấu đơn độc của nhà Hồ đãnhanh chóng thất bại, giặc Minh đã gây nhiều tội ác đối với nhân dân ta, nhiềucuộc khởi nghĩa của quý tộc Trần đã bùng nổ nhưng cuối cùng đều bị thất bại
? Trong hoàn cảnh đó thì ai là người có đủ tài năng, uy tín lãnh đạo nhândân ta đứng lên kháng chiến?
HS: Lê Lợi
Giáo viên đưa ra hình ảnh Lê Lợi và miêu tả:
Trang 20Anh hùng dân tộc Lê Lợi Tượng đài Lê Lợi ở Thanh Hoá
Lê Lợi sinh ngày 10-9-1385 (6-8 năm ất Sửu) tại Lam Sơn (Kẻ Cham), naythuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, trong một gia đình "đời đời làm quân trưởngmột phương" Ông là con út của Lê Khoáng và Trịnh Thị Ngọc Hương (anh lớncủa ông tên Học, anh thứ là Trư) Ông nối nghiệp cha làm chúa trại Lam Sơn.Khi quân Minh chiếm đất nước, ông nuôi chí lớn đánh đuổi xâm lăng Quân nhàMinh nghe tiếng ông, dụ cho làm quan, ông không chịu khuất Ông nói: "Làmtrai nên giúp nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chớ sao lại chịu bo bolàm đầy tớ người?" Năm Lê Lợi 21 tuổi cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn quânsang xâm lược nước Việt Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ thấtbại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh Trước cảnh đấtnước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổichúng ra khỏi bờ cõi
Cùng với việc miêu tả về Lê Lợi, giáo viên có thể đặt thêm câu hỏi:
? Khi những người yêu nước ở các địa phương về Lam Sơn tụ nghĩa thì LêLợi đã tổ chức một Lễ hội lớn ? đó là lễ hội gì và ở đâu?
Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với
18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quêhương Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách
Tin Lê Lợi dựng cờ nghĩa, chiêu mộ hiền tài bay xa, thu hút các anh hùng
Trang 21các tầng lớp xã hội và thành phần dân tộc khác nhau, với những đại biểu ưu túnhư: Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Chích, Nguyễn Xí, Lê Lai, CầmQuý, Xa Khả Tham Sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, LêLợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứnglên đánh giặc cứu nước Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩaấy.
Khi dạy bài 25: Phong trào Tây Sơn Mục I.2 Khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ hoặc phần II.2 Chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút, giáo viên nên tạo
biểu tượng sinh động về người anh hùng Quang Trung-Nguyễn Huệ như sau:
Quang Trung chỉ huy trận đánh
Ngọc Hồi-Đống Đa
Tượng đài Quang Trung
Nguyễn Huệ sinh năm 1753 Thuở nhỏ Nguyễn Huệ còn có tên là Thơm,sau gọi là Bình Cả ba anh em đều theo học thầy Hiến, một nhà nho bất đắc chí,
vì phản đối chính sách hà ngược của Trương Phúc Loan nên bỏ trốn vào QuyNhơn mở trường dạy học ở ấp Yên Thái
Nguyễn Huệ tóc quăn, da sần, mắt như chớp sáng, tiếng nói sang sảng nhưtiếng chuông, nhanh nhẹn, khỏe mạnh, can đảm Sách Tây Sơn thuật lược cònmiêu tả đôi mắt Quang Trung "ban đêm khi ngồi không có đèn thì ánh sáng từmắt soi sáng cả chiếu"
Trang 22Dưới quyền của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc, ông được phong làm LongNhương tướng quân khi mới 26 tuổi Là một tay thiện chiến, hành quân chớpnhoáng, đánh đâu được đấy, Nguyễn Huệ nhanh chóng trở thành vị tướng trụ cộtcủa vương triều Tây Sơn Khi mà vua Thái Đức đang phải lo củng cố xây dựngtriều đình, thì Nguyễn Huệ là người được trao cầm quân đánh Đông dẹp Bắc Tất
cả những chiến thăng lớn vang dội của quân Tây Sơn đều gắn liền với tên tuổicủa vị tướng trẻ tài ba này
Nguyễn Huệ là nhà quân sự thiên tài Trong hoạt động quân sự, ông chủđộng tập trung lực lượng đánh vào những mục tiêu chiến lược trọng yếu nhất vàhành động liên tục, bất ngờ, chớp nhoáng, quyết liệt làm cho đối phương khôngkịp đối phó
Nguyễn Huệ còn là nhà chính trị sáng suốt Từ mục tiêu trước mắt củaphong trào nông dân là đánh đổ chế độ áp bức Trịnh - Nguyễn, Nguyễn Huệ đãvươn lên nhận thức được nhiệm vụ dân tộc là thống nhất đất nước và đánh đuổingoại xâm Ông phê phán tội ác chia cắt đất nước : "Mỗi họ tự ý gây dựng bờ cõiriêng mình, kỷ cương, trời đất một phen đổ nát không dựng lên được " (Chiếulên ngôi)
Quang Trung cũng ra sức xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc, ban
bố Chiếu lập học, khuyến khích các xã mở trường học Tiếng nói dân tộc đượccoi trọng Quang Trung muốn đưa chữ Nôm lên địa vị chữ viết chính thức củaquốc gia Lập Viện Sùng chính để dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm Các văn kiệncủa Nhà nước dần dần viết bằng chữ Nôm
Ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (1792) vào khoảng 11 giờ khuya, QuangTrung từ trần, ở ngôi 5 năm, thọ 40 tuổi, miếu hiệu là Thái tổ Vũ hoàng đế Thihài ông được táng ngay trong thành, tại phủ Dương Xuân
II.2.5 Phương pháp khai thác, sử dụng lược đồ một cách hiệu quả:
Trang 23Trước tiên khi sử dụng lược đồ, yêu cầu giáo viên phải đầu tư thời giannghiên cứu bài học, tìm hiểu các kiến thức có liên quan đến nội dung lược đồ, cáccâu truyện, sự kiện có liên quan và nhất là phải có tâm huyết với bài dạy.
Để chuẩn bị cho việc hướng dẫn trên lược đồ, giáo viên cần làm theo trình
tự các bước sau:
Bước 1: Xác định nội dung kiến thức cần sử dụng lược đồ
Bước 2: Yêu cầu học sinh (hoặc giáo viên) đọc tên lược đồ
Bước 3: Giáo viên giải thích các ký hiệu trên lược đồ hoặc yêu cầu 1 họcsinh đứng lên đọc trên lược đồ cho các bạn
Bước 4: Giáo viên giới thiệu vị trí địa lý, địa hình và tường thuật sinh độngtrên lược đồ (đối với các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến) hoặc giới thiệu các vấn
đề về văn hóa, kinh tế, chính trị, phân định biên giới
Bước 5: Giáo viên gọi học sinh lên trình bày trên lược đồ ngắn gọn lại chocác bạn cùng nghe nhằm rèn cho các em năng lực nhận thức và thuyết trình trướctập thể
Ví dụ khi dạy bài 11 Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống (1075 – 1077) Phần II.2 Cuộc chiến trên phong tuyến Như Nguyệt, Giáo
viên sử dụng lược đồ trận chiến tại phòng tuyến Như Nguyệt và tường thuật:
Lược đồ trận chiến tại phong tuyến Như Nguyệt
Quân Tống tấn công lần thứ nhất
Trang 24Quân Tống dưới sự chỉ huy của Quách Quỳ tiến tới bờ bắc sông NhưNguyệt không khó khăn lắm Quách Quỳ thấy vậy cũng muốn thực hiện chiếnlược đánh nhanh thắng nhanh mà vua Tống đã đề ra Nhưng vì thủy binh chưađến, Quách Quỳ quyết định cho quân đóng trại tại bờ bắc sông Như Nguyệt đốidiện với phòng tuyến của quân nhà Lý để chờ thủy binh hỗ trợ cho việc vượtsông Quách Quỳ không hề biết rằng cánh thủy quân do Dương Tùng Tiên chỉhuy đã bị thủy quân Đại Việt do Lý Kế Nguyên chỉ huy đã chặn đánh quyết liệt,liên tục tập kích hơn 10 trận Đặc biệt với thảm bại tại sông Đông Kênh, thủyquân Tống buộc phải rút lui về đóng án binh bất động ở cửa sông.
Sau một khoảng thời gian chờ đợi không thấy thủy quân đến hội sư,khoảng đầu tháng 2 năm 1077, Quách Quỳ dự định tổ chức vượt sông mà không
có sự hỗ trợ của thủy quân Tuy nhiên vì trước trại của Quách Quỳ tại Thị Cầu cómột trại quân mạnh của nhà Lý án ngữ khiến ông không dám cho quân vượt sông
ở Thị Cầu Cùng lúc, tướng Miêu Lý đóng tại Như Nguyệt báo với Quách Quỳrằng quân Lý đã trốn đi và xin lệnh đem binh vượt sông Quách Quỳ chấp nhận
và tướng Vương Tiến bắc cầu phao cho đội xung kích của Miêu Lý khoảng 2.000người vượt sông
Lợi dụng được yếu tố bất ngờ, cuộc vượt sông đã thành công, đội xungkích của quân Tống đã chọc thủng được phòng tuyến của quân Lý, sẵn đà thắng,Miêu Lý định tiến nhanh về Thăng Long nhưng đến vùng Yên Phụ, Thụy Lôi thì
bị phục kích, bao vây, và chặn đánh dữ dội tại cầu Gạo, núi Thất Diệu Miêu Lýcùng những binh sĩ còn sống chạy về phía Như Nguyệt nhưng đến nơi thì cầuphao đã bị hủy và gặp quân nhà Lý đón đánh và bị diệt gần hết, dù quân Tốngđóng bên bờ bên kia có cố gắng cho bè sang hỗ trợ Thất bại của Miêu Lý đã làmcho Quách Quỳ hết sức tức giận và định xử tử viên “tướng kiêu” này Mô tả trậnđánh này, một tác giả đời Tống viết: “Binh thế dứt đoạn, quân ít không địch nổinhiều, bị giặc ngăn trở, rơi xuống bờ sông”
Quân Tống tấn công lần thứ hai
Sau thất bại này, Quách Quỳ nhận ra quân nhà Lý không bỏ bất cứ đoạnnào trên phòng tuyến, nên ông không dám vượt sông mà không có thủy binh nữa
Trang 25ngoài biển nên không tiến vào được, buộc Quách Quỳ phải tổ chức đợt tấn cônglần hai mà không có sự hỗ trợ của thủy binh Lần này, quân Tống dùng một lựclượng mạnh hơn nhiều so với lần trước và đóng bè lớn với sức chưa khoảng 500quân để vượt sông.
Quân Tống gặp phải sự kháng cự quyết liệt từ quân dân nhà Lý
Quân Tống ồ ạt đổ sang bờ nam nhưng họ phải vừa ra sức chặt lớp trại ràotre, vừa phải chống lại các đợt phải công mãnh liệt của quân nhà Lý mà số binhtiếp viện lại không qua kịp nên quân bị vỡ trận và thiệt hại nặng Đợt tấn công lầnhai lại kết thúc với thất bại Việc này đã khiến Quách Quỳ thấy rằng, nếu không
có thủy binh hỗ trợ sẽ không thể vượt sông được, buộc phải ra lệnh đưa quân vềthế phòng thủ và tuyên bố rằng: “Ai bàn đánh sẽ chém!”, phá sản ý định đánhnhanh thắng nhanh của nhà Tống Họ chỉ dám thỉnh thoảng dùng máy bắn đá bắnsang bờ nam
Với tình thế này, cộng với nhiều khó khăn vì các lý do về tình hình nhàTống, sự quấy rối của dân binh địa phương, và việc thiếu lương thực do các cơ sởtiếp vận đã bị phá hủy trong cuộc tấn công năm 1075 của Lý Thường Kiệt, vàkhâu tiếp vận cho 10 vạn lính và 1 vạn ngựa vốn dĩ cần ít nhất 40 vạn phu, quásức 20 vạn phu mà quân Tống đang có; đã khiến họ trở nên bị động và suy giảmsức chiến đấu
Quân nhà Lý phản công