+ Th ủ tục phân tích: là việc so sánh các thông tin tài chính, các chỉ số, các t ỷ lệ, để phát hiện và nghiên cứu các trường hợp bất thường, việc phân tích này có th ể là: so sánh thôn[r]
Trang 1MỤC LỤC
Chương 1 GIỚI THIỆU Trang 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trang 1
1.1.1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Trang1
1.1.2 Căn cứ nghiên cứu Trang 2
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Trang 31.2.1 Mục tiêu chung Trang 31.2.2 Mục tiêu cụ thể Trang 31.3 CÁC CÂU HỎI CẦN NGHIÊN CỨU Trang 31.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU Trang 31.4.1 Không gian Trang 31.4.2 Thời gian Trang 3
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu Trang 41.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Trang 4
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP LU ẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C ỨU Trang 6
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN Trang 6
2.1.1 Khái niệm về phân tích kết quả hoạt động kinh doanh Trang 62.1.2 Nội dung của phân tích kết quả hoạt động kinh doanh Trang 62.1.3 Ý nghĩa của phân tích kết quả hoạt động kinh doanh Trang 72.1.4 Khái niệm doanh thu, chi phí, lợi nhuận Trang 82.1.4.1 Khái niệm doanh thu Trang 82.1.4.2 Khái niệm chi phí Trang 92.1.4.3 Khái niệm lợi nhuận Trang 92.1.5 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả kinh doanh Trang 102.1.5.1 Khả năng thanh toán Trang 102.1.5.2 Phân tích tình hình đầu tư và nguồn vốn kinh doanh Trang 112.1.5.3 Phân tích hiệu quả sinh lời của hoạt động kinh doanh Trang 11
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C ỨU Trang 122.2.1 Phương pháp thu th ập thông tin Trang 122.2.2 Phương pháp phân tích thông t in Trang 12
Trang 2Chương 3 MỘT SỐ TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA CÔNG TY TNHH XUẤT NHẬP KHẨU THUỶ SẢN THI ÊN MÃ Trang 16
3.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRI ỂN CỦA CÔNG TY Trang 163.1.1 Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của công ty Trang 173.1.1.1 Chức năng Trang 173.1.1.2 Nhiệm vụ Trang 17
3.1.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban Trang 173.1.2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Trang 17
3.1.2.2 Nhiệm vụ của các phòng ban Trang 193.1.3 Sản phẩm của công ty Trang 193.2 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN Trang 193.2.1 Thuận lợi Trang 19
3.2.2 Khó khăn Trang 203.3 PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY Trang 20
Chương 4 PHÂN TÍCH TH ỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH XUẤT NHẬP KHẨU THUỶ SẢN THI ÊN
MÃ QUA 3 NĂM (2006 - 2008) Trang 21
4.1 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG
TY QUA 3 NĂM (2006 - 2008) Trang 21 4.1.1 Đánh giá tổng quát kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Trang 21
4.1.2 Tình hình tổng doanh thu của công ty qua 3 năm (2006 - 2008) Trang 244.1.2.1 Phân tích doanh th u theo tỷ trọng các thành phần Trang 244.1.2.2 Phân tích các thành ph ần doanh thu theo kỳ kế hoạch Trang 264.1.2.3 Phân tích doanh thu t ừ hoạt động tài chính Trang 284.1.2.4 Phân tích doanh thu theo th ị trường Trang 294.1.3 Phân tích tình hình tổng chi phí của công ty Trang 354.1.3.1 Phân tích tổng chi phí theo các th ành phần Trang 354.1.3.2 Phân tích tổng chi phí theo kỳ kế hoạch Trang 394.1.4 Phân tích tình hình l ợi nhuận của công ty Trang 424.1.4.1 Phân tích lợi nhuận theo doanh thu và chi phí Trang 424.1.4.2 Phân tích lợi nhuận so với kỳ kế hoạch Trang 434.1.5 Phân tích hiệu quả kinh doanh qua các chỉ ti êu tài chính Trang 45
Trang 34.1.5.1 Phân tích tình hình ph ải thu và hàng tồn kho Trang 464.1.5.2 Phân tích khả năng thanh khoản Trang 464.1.5.3 Phân tích hiệu quả sinh lời của hoạt động kinh doanh Trang 474.2 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN T Ố ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦACÔNG TY Trang 494.2.1 Ảnh hưởng của nhân tố khối lượng sản phẩm Trang 524.2.2 Nhân tố giá bán trung bình và giá vốn hàng bán Trang 534.2.3 Ảnh hưởng của nhân tố chi phí bán h àng và chi phí quản lý doanh nghiệp Trang 56
Chương 5 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH XNH THUỶ SẢN THI ÊN
MÃ Trang 62
5.1 NHỮNG MẶT MẠNH CỦA CÔNG TY Trang 625.2 NHỮNG TỒN TẠI VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦACÔNG TY VÀ NGUYÊN NHÂN T ỒN TẠI CỦA NÓ Trang 625.3 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦACÔNG TY Trang 645.3.1 Giải pháp làm giảm chi phí Trang 645.3.2 Giải pháp nâng cao doanh thu Trang 665.3.3 Giải pháp nâng cao lợi nhuận Trang 67
Chương 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Trang 68
6.1 KẾT LUẬN Trang 686.2 KIẾN NGHỊ Trang 696.2.1 Kiến nghị đối với công ty Trang 696.2.2 Kiến nghị đối với Nhà nước Trang 70
Trang 4DANH MỤC BIỂU BẢNG
Bảng 1: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Thi ên Mã qua 3 năm(2006 – 2008) Trang 23Bảng 2: Tỷ trọng các loại doanh thu của công ty Thiên Mã qua 3 năm (2006 –2008) Trang 24Bảng 3: Doanh thu theo kỳ kế hoạch Trang 27Bảng 4: Doanh thu hoạt động t ài chính qua 3 năm của công ty (2006 – 2008) Trang 29Bảng 5: Doanh thu theo thị tr ường Trang 30Bảng 6: Doanh thu theo thị tr ường xuất khẩu của công ty Thi ên Mã qua 3 năm(2006 – 2008) Trang 31Bảng 7: Tổng chi phí của công ty qua 3 năm (2006 – 2008) Trang 37Bảng 8: Tổng chi phí thro kỳ kế hoạch Trang 41Bảng 9: Lợi nhuận theo kỳ kế hoạch Trang 44Bảng 10: Các chỉ tiêu tài chính Trang 45Bảng 11: Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận kinh doanh của công ty Trang 51Bảng 12: Tình hình chi phí giá vốn hàng bán của công ty Trang 54Bảng 13: Tình hình chi phí bán hàng c ủa công ty Trang 57Bảng 14: Tình hình chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty Trang 60
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty TNHH XN K thuỷ sản Thiên Mã Trang 18Hình 2: Tổng doanh thu của công ty qua 3 năm (2006 – 2008) Trang 25Hình 3: Cơ cấu thị trường xuất khẩu năm 2006 Trang 34Hình 4: Cơ cấu thị trường xuất khẩu năm 2007 Trang 34Hình 5: Cơ cấu thị trường xuất khẩu năm 2008 Trang 34Hình 6: Doanh thu thị trường nội địa qua 3 năm Trang 35
Trang 6CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Sự cần thiết nghiên cứu
Ngày nay, hòa cùng xu thế hội nhập kinh tế thế giới thì kiểm toán là một ngành không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường với vai trò mang lại độ tin cậy cho báo cáo tài chính Tuy nhiên trong quá trình kiểm toán luôn tiềm ẩn những rủi ro không phát hiện được gian lận và sai sót ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính Thêm vào đó sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp
nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ngày càng khốc liệt, vì thế các doanh nghiệp có xu
hướng gian lận trên báo cáo tài chính ngày càng tinh vi để phục vụ cho mục đích riêng của doanh nghiệp, điều này gây tác hại cho nền kinh tế chung
Một khía cạnh khác, trong thực tế luôn tồn tại sự khác biệt giữa kỳ vọng của
người sử dụng báo cáo và những gì mà kiểm toán viên cung cấp, vì một số hạn chế
vốn có và những rủi ro tiềm ẩn, do đó kiểm toán viên chỉ có thể cung cấp sự đảm
bảo cho báo cáo tài chính là trung thực và hợp lí một cách tương đối Để thu hẹp sự cách biệt nói trên cũng như làm giảm thiểu rủi ro kiểm toán, kiểm toán viên phải không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn và nâng cao khả năng phát hiện gian
lận và sai sót
Trong báo cáo tài chính, doanh thu là khoản mục nhạy cảm và dễ xảy ra gian
lận với các mục đích khác nhau và hoặc xảy ra những sai sót có thể ảnh hưởng trọng
yếu đến báo cáo tài chính Do đó việc nghiên cứu gian lận và sai sót đối với khoản
mục doanh thu là hết sức cần thiết nhằm làm giảm thiểu rủi ro kiểm toán; giúp ban giám đốc và hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp đưa ra các biện pháp ngăn
ngừa gian lận và sai sót hiệu quả, giúp kiểm toán viên đưa ra các thủ tục kiểm toán phù hợp từ đó đưa ra nhận định đúng đắn hơn về báo cáo tài chính trong quá trình
kiểm toán thực tế, giúp nhà nước tạo ra hành lang pháp lý nhằm bảo vệ lợi ích hợp
ười sử dụng báo cáo tài chính
Trang 7Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, sinh viên đã chọn đề tài “ Phân
tích thủ tục phát hiện gian lận sai sót khi kiểm toán khoản mục doanh thu tại công ty kiểm toán AISC- TP Hồ Chí Minh” với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về
các thủ tục phát hiện gian lận sai sót nhằm giảm bớt rủi ro cho doanh nghiệp, thỏa mãn phần nào kỳ vọng của khách hàng đối với kiểm toán viên trong việc phát hiện các gian lận và sai sót, cũng như giúp kiểm toán viên khi đưa ra ý kiến phù hợp với báo cáo tài chính
1.1.2 Căn cứ khoa học thực tiễn
Sau hồi chuông cảnh báo từ sự sụp đổ và phá sản của hàng loạt tập đoàn lớn
tầm cỡ thế giới như: Enron, Worldcom, Vivendi, Qwest,…mà nguyên nhân đằng sau
của nó là những vụ gian lận tài chính với qui mô lớn Những sự kiện trên đã làm thiệt hại nền kinh tế thế giới lên đến hàng trăm tỷ USD, sự phá sản của những công
ty về sau càng có qui mô lớn hơn và thủ đoạn gian lận càng tinh vi hơn những công
ty trước đó Liệu rằng trên thực tế còn bao nhiêu vụ gian lận tài chính tiềm ẩn nhưng
vẫn chưa được phát hiện? Đó chính là điều quan tâm của ngành kiểm toán hiện nay, làm thế nào để thiết kế những thủ tục kiểm toán phù hợp có thể phát hiện gian lận sai sót trọng yếu? Từ những vấn đề thực tiễn trên, sinh viên đã chọn đề tài “thủ tục phát hiện gian lận sai sót trong khoản mục doanh thu tại công ty kiểm toán AISC”
Do hạn chế về mặt thời gian nên sinh viên chỉ chọn khoản mục doanh thu làm đối
tượng nghiên cứu
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 8- Tìm hiểu những thủ tục kiểm toán phát hiện gian lận sai sót mà công ty
kiểm toán AISC áp dụng khi kiểm toán các khách hàng
- Nhận xét những ưu điểm và hạn chế đối với tình hình chung cũng như quy trình kiểm toán doanh thu phát hiện gian lận sai sót tại công ty kiểm toán AISC
- Đề xuất các thủ tục phát hiện gian lận sai sót trong khoản mục doanh thu
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Không gian
Phân tích thủ tục kiểm toán phát hiện gian lận sai sót tại công ty kiểm toán và
dịch vụ tin học AISC (trụ sở chính tại thành phố Hồ Chí Minh)
Trang 9CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
phần làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp”
(Điều 13 VAS 14 “ Doanh thu và thu nhập khác” )
b Nội dung
Doanh thu gồm có doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu tài chính và doanh thu khác
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là giá trị hàng hóa dịch vụ của
doanh nghiệp đã bán trong kỳ Doanh thu không bao gồm thuế GTGT (đối với các doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ), Doanh thu bao gồm thuế GTGT (đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp)
- Doanh thu tài chính: là các khoản thu nhập từ lĩnh vực tài chính như: tiền
lãi; cổ tức; lợi nhuận được chia; chiết khấu thanh toán được hưởng; lãi tỷ giá hối đoái; lãi do nhượng bán các khoản đầu tư vào công ty con, công ty liên kết, liên doanh;…
- Doanh thu khác: là khoản thu nhập từ những hoạt động ngoài hoạt động
tạo ra doanh thu
- Các khoản giảm trừ doanh thu:
+ Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết
cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn
+ Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hoá
kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu
Trang 10+ Giá trị hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định
là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đã được khấu trừ các khoản được
giảm trừ như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, giá trị hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu,… được gọi là doanh thu thuần
Điều cần quan tâm ở đây: doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là một khoản mục trọng yếu có liên quan đến nhiều khoản mục khác trên báo cáo tài chính
như: tiền, nợ phải thu, hàng tồn kho, thuế GTGT, …Vì thế doanh thu là khoản mục khá nhạy cảm và là đối tượng của nhiều sai phạm dẫn đến báo cáo tài chính bị sai
lệch trọng yếu vì những mục đích khác nhau:
- Doanh thu có liên quan mật thiết đến kết quả lãi lỗ, do đó những sai lệch về doanh thu dẫn đến việc phản ảnh sai lệch kết quả lãi lỗ và kết quả kin doanh trình bày không trung thực hợp lí
- Doanh thu còn là cơ sở đánh giá kết quả hoặc thành tích của doanh nghiệp,
hiện nay các doanh nghiệp có xu hướng cổ phần hóa thì kết quả kinh doanh càng có
ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao giá trị cổ phiếu, thuận lợi trong việc huy động vốn từ cổ đông và nâng cao vị thế doanh nghiệp,…Vì thế doanh nghiệp có xu
hướng thổi phồng doanh thu cao hơn thực tế
- Doanh thu có quan hệ chặt chẽ với thuế GTGT đầu ra, do đó khả năng doanh thu khai thấp hơn thực tế nhằm mục đích trốn thuế hoặc gian lận thuế là rất cao
2.1.1.2 Nguyên tắc kế toán ghi nhận doanh thu:
a Nguyên tắc ghi nhận
- Cơ sở dồn tích: Doanh thu phải được ghi nhận vào thời điểm phát sinh,
không căn cứ vào thời điểm thực tế đã thu hay chưa thu tiền
- Phù hợp: Khi ghi nhận doanh thu phải ghi nhận một khoản chi phí phù
hợp
- Thận trọng: Doanh thu chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về
khả năng thu được lợi ích kinh tế
Trang 11b Điều kiện ghi nhận
- Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi thỏa mãn tất cả 5 điều kiện sau:
+ Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua
+ Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lí hàng hóa như người
sở hữu hàng hóa hoặc người kiểm soát hàng hóa
+ Doanh thu được xác định một cách chắc chắn
+ Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng
+ Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
- Doanh thu cung cấp được xác định khi thõa mãn tất cả bốn điều kiện sau:
+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
+ Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó + Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán
+ Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó
- Doanh thu tài chính được ghi nhận khi thoả mãn đồng thời 2 điều kiện: + Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó Có nghĩa là khi không thể thu hồi được một khỏan mà trước đó đã ghi nhận thì khỏan không thu hồi
đó sẽ được ghi vào chi phí trong kì không ghi giảm doanh thu
+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
2.1.1.3 Mục tiêu kiểm toán khoản mục doanh thu
- Phát sinh: Các nghiệp vụ thu nhập được ghi nhận phải thực sự phát sinh
trong thực tế và thuộc về đơn vị,
- Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ phát sinh liên quan đến doanh thu và các khoản
giảm trừ đều được phản ánh trên sổ kế toán một cách đầy đủ, đúng kỳ, và đảm bảo không có sai sót trọng yếu phát sinh (Chú ý đến số thứ tự của các hoá đơn bán hàng)
Trang 12- Ghi chép chính xác: Doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu phải
được tính toán chính xác và thống nhất giữa sổ chi tiết, sổ cái và báo cáo tài chính
Phản ánh đúng trị giá thực và phù hợp với chứng từ gốc đi kèm
- Đánh giá: Doanh thu phải được phản ánh đúng số tiền
- Trình bày và công bố: Doanh thu phải được trình bày đúng đắn và khai
báo đầy đủ
2.1.2 Gian lận và sai sót trong khoản mục doanh thu
2.1.2.1 Khái niệm chung về gian lận – sai sót
a ) Gian lận: Là những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính
do một hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính
Gian lận có thể biểu hiện dưới các dạng tổng quát sau:
- Xuyên tạc, làm giả chứng từ, tài liệu liên quan đến báo cáo tài chính
- Sửa đổi chứng từ, tài liệu kế toán làm sai lệch báo cáo tài chính
- Biển thủ tài sản
- Che dấu hoặc cố ý bỏ sót các thông tin, tài liệu hoặc nghiệp vụ kinh tế làm sai lệch báo cáo tài chính
- Ghi chép các nghiệp vụ kinh tế không đúng sự thật
- Cố ý áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán, chính sách tài chính
- Cố ý tính toán sai về số học
b ) Sai sót: là những lỗi không cố ý có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính như:
- Lỗi về tính toán số học hoặc ghi chép sai
- Bỏ sót hoặc hiểu sai, làm sai các khoản mục, các nghiệp vụ kinh tế
- Áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán, chính sách tài chính nhưng không cố ý
(Trích: điều 04,05 chuẩn mực VSA 240 “Gian lận và sai sót”)
Trang 132.1.2.2 Mối quan hệ giữa gian lận và sai sót
Nhìn chung gian lận và sai sót đều là các sai phạm Trong lĩnh vực kế toán tài chính gian lận hay sai sót đều phản ánh sai lệch thông tin, phản ánh sai thực tế Cho
dù gian lận và sai sót được biểu hiện dưới bất kỳ hình thức nào thì quản lí tài chính,
kế toán tài chính, nhà quản lí nói chung vẫn phải chịu trách nhiệm về những gian lận sai sót trên
Mặc dù vậy, giữa gian lận và sai sót lại khác nhau về nhiều mặt Trước hết về
mặt ý thức, sai sót là hành vi không có chủ ý, chỉ là vô tình bỏ sót, hoặc do năng lực
hạn chế hoặc do thiếu thận trọng trong công việc…gây ra sai phạm Trong khi đó, gian lận là hành vi có tính toán có chủ ý,… gây ra sự sai lệch thông tin nhằm mục đích vụ lợi
Từ sự khác nhau về mặt ý thức dẫn đến khác nhau về mặt tinh vi của hai loại sai phạm này Gian lận là hành vi trải qua ba giai đoạn: giai đoạn đầu là hình thành ý
đồ gian lận, sau đó thực hiện hành vi gian lận, và cuối cùng là che giấu hành vi gian
lận Chính vì thế gian lận luôn được tính toán kỹ lưỡng và che giấu tinh vi nên rất khó phát hiện nhất là những gian lận gắn với những nhà quản lí cấp cao Trong khi
đó sai sót là hành vi không có chủ ý nên chúng rất dễ phát hiện ra
Một sự khác nhau giữa gian lận và sai sót là tính trọng yếu của sai phạm Nếu
đã là hành vi gian lận thì luôn được xem như là nghiêm trọng Còn đối với sai sót còn phải tùy thuộc vào qui mô và tính chất của sai phạm
2.1.2.3 Các yếu tố làm gian lận và sai sót nảy sinh
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 240 “THE AUDITOR’S RESPONSIBILITY TO CONSIDER FRAUD IN AN AUDIT OF FINANCIAL STATEMENTS” nguyên nhân dẫn đến gian lận và sai sót là: Opportunities (cơ hội), Incentives/Pressures (Động cơ và áp lực), Attitude/ Rationalizations (Cá tính/Thái độ)
- Cơ hội (Opportunities) : chính là thời cơ để thực hiện hành vi gian lận
Khi chức vụ càng cao trong tổ chức thì càng nhiều cơ hội gian lận
Ví dụ
Trang 14+ Nếu doanh nghiệp không có thủ kho quản lí, bảo quản hàng tồn kho thì hàng tồn kho bị mất hoặc bị ai đó biển thủ doanh nghiệp cũng không phát hiện được
+ Tiền mặt là thứ nhạy cảm và dễ bị đánh cắp, nếu tiền mặt không được phân công cho một người chịu trách nhiệm giữ và không được để trong két khóa kỹ thì dễ xảy ra rủi ro mất cắp
+ Phó giám đốc tài chính có thẩm quyền trong các quyết định đầu tư mà không có bất cứ sự giám sát nào, kiểm tra từ phía người khác…
- Động cơ và áp lực (Incentives/Pressures) được xem như một loại áp lực
có thể từ phía cá nhân người thực hiện hành vi gian lận hoặc bởi một người nào đó,
chẳng hạn, do có nhu cầu về tiền để trang trải các khoản thiếu hụt cấp thiết, hoặc trở nên giàu có nhanh, muốn nổi tiếng,…sẽ nảy sinh ý muốn gian lận hoặc bị ai đó xúi
giục
- Cá tính, thái độ (Attitude/ Rationalizations) chẳng hạn như sự thiếu liêm
khiết sẽ làm cho sự kết hợp giữa sự xúi giục và thời cơ biến thành hành động gian
lận Thông thường nếu giả sử thực hiện hành vi gian lận thì hiếm khi người gian lận
lại thừa nhận việc làm của mình Họ tìm mọi cách khác nhau để biện minh cho hành động của mình với những lí do có thể chấp nhận được
Đối với sai sót thì các yếu tố về năng lực, sức ép, cũng như lề lối làm việc có
thể gây ra sai sót, năng lực xử lí công việc yếu kém tất sẽ làm cho sai sót gia tăng Bên cạnh đó, yếu tố về mặt sức ép cũng là một yếu tố gây ra sai sót Chẳng hạn: áp
lực về mặt thời gian, cần phải hoàn thành công việc trong một thời gian ngắn, gấp rút, hoặc do sức ép về mặt tâm lí, áp lực về mặt môi trường không thoải mái, mâu thuẫn nội bộ,…Đều có thể dẫn tới sai sót, mặt khác lề lối làm việc cẩu thả, thiếu
thận trọng, thiếu ý thức trách nhiệm sẽ làm sai sót nảy sinh
2.1.2.4 Trách nhiệm của kiểm toán viên với gian lận và sai sót
Theo nguyên tắc chỉ đạo của kiểm toán quốc tế, trách nhiệm ngăn ngừa, phát
hiện, sửa chữa gian lận sai sót ở ban giám đốc doanh nghiệp thông qua việc thực
hiện và hoạt động không ngừng của một hệ thống kiểm soát nội bộ thích hợp
Đối với kiểm toán viên, về cơ bản theo công bố về chuẩn mực kiểm toán
Trang 15và sai sót, đánh giá khả năng gian lận sai sót xảy ra, đồng thời thiết kế các phương pháp kiểm toán phù hợp, lập kế hoạch và giám sát thực hiện công việc, kiểm toán
một cách thận trọng thích đáng nhằm đảm báo một cách hợp lí trong việc phát hiện các sai phạm trọng yếu, sau đó báo cáo các sai phạm trọng yếu phát hiện được cho ban quản lí, cho người sử dụng, cho cơ quan thẩm quyền có liên quan (có những ràng buộc nhất định)
Một cuộc kiểm toán chỉ đảm bảo một sự đảm bảo hợp lí, chứ không phải đảm
bảo tuyệt đối trong việc phát hiện các sai phạm trọng yếu trong đối tượng kiểm toán
Do sự hạn chế vốn có của kiểm toán, những sai phạm nghiêm trọng trong đối tượng
kiểm toán bắt nguồn từ sự gian lận và sai sót không phát hiện được Điều này có thể
dẫn tới các vụ kiện kiểm toán viên về trách nhiêm công việc Do đó cần tôn trọng
những nguyên tắc cơ bản khi tiến hành các bước kiểm toán
2.1.3 Trọng yếu và mối quan hệ với gian lận sai sót
2.1.3.1 Khái niệm
“Trọng yếu là thuật ngữ thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số
liệu kế toán) trong báo cáo tài chính
Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính Mức trọng yếu tuỳ thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin hay của sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Mức trọng yếu là
một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải
có Tính trọng yếu của thông tin phải xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính”
(Trích chuẩn mực 320 VAS “trọng yếu”)
Như vậy, báo cáo tài chính được xem là sai lệch trọng yếu khi bị sai lệch trên hai khía cạnh sau:
- Về mặt định lượng: sai lệch trên báo cáo tài chính đạt đến một số tiền nhất định là thay đổi nhận định người sử dụng
Trang 16- Về mặt định tính: sai lệch thể hiện về mặt số tiền tuy thấp nhưng bản chất
của sai lệch nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến những nghiệp vụ khác hoặc tính
chất quan trọng bên trong của sai lệch
2.1.3.2 Mối quan hệ giữa trọng yếu và gian lận – sai sót
- Đối với gian lận thì cho dù qui mô của nó như thế nào cũng được xem là
trọng yếu, cần mở rộng phạm vi kiểm toán để làm rõ vấn đề
- Đối với sai sót, kiểm toán viên cần xem xét cả hai mặt định lượng và định tính như đã nêu ở trên, đồng thời cần xem xét trường hợp có thể sai sót ở hiện tại là
nhỏ nhưng tổng hợp lại nhiều nghiệp vụ, nhiều kỳ, nhiều năm,… sẽ trở thành sai sót
trọng yếu? Bên cạnh đó cần phải đặt sai sót tổng thể trong mối quan hệ với sai sót
từng khoản mục, từng nghiệp vụ, để tìm hiểu những sai sót này có thể là dấu hiệu
của gian lận?
Trong thực tế ranh giới giữa gian lận và sai sót rất khó phân biệt, việc xác định đâu là gian lận? Đâu là sai sót? Điều này tùy thuộc vào nhiều khía cạnh khác nhau như: tính chất của các nghiệp vụ, sự ảnh hưởng của nó đến những vấn đề khác, nguyên nhân của những sai lệch, đối tượng gây ra sai lệch, tính hợp lí của các giải trình,…Để có thể phân tích những khía cạnh trên đòi hỏi khả năng phán đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên là nhân tố then chốt trong việc phát hiện các gian lận tiềm
ẩn
Tóm lại kiểm toán viên bằng kỹ năng xét đoán nghề nghiệp dựa vào những
yếu tố: nội dung, mức độ, phạm vi, tính chất, sự ảnh hưởng của sai lệch mà xác định
nó có trọng yếu hay không?
2.1.4 Mối quan hệ giữa gian lận – sai sót trọng yếu với rủi ro kiểm toán 2.1.4.1 Khái niện rủi ro kiểm toán
“Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý
kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có
những sai sót trọng yếu.”
(Đoạn 07 VSA 400 - Đánh giá rủi ro)
Trang 17Rủi ro kiểm toán là những rủi ro xảy ra sai lệch trọng yếu mặc dù ý kiến của
kiểm toán viên là trung thực hợp lí Rủi ro này xuất phát từ các sai lệch tiềm ẩn trong báo cáo tài chính mà hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị không phát hiện được và rủi ro do thử nghiệm cơ bản của kiểm toán viên không phát hiện được
2.1.4.2 Mối quan hệ giữa gian lận – sai sót trọng yếu với rủi ro kiểm toán
Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải luôn đánh giá những rủi ro gian lận sai sót có thể xảy ra làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, nhằm đảm bảo những gian lận sai sót trọng yếu đều được phát hiện
Qua nghiên cứu về trọng yếu và rủi ro kiểm toán ta thấy giữa mức trọng yếu
và rủi ro kiểm toán tỷ lệ nghịch với nhau Cụ thể nếu kiểm toán viên xác định mức
trọng yếu gian lận – sai sót thấp thì rủi ro kiểm toán sẽ cao, khi đó kiểm toán viên
cần mở rộng phạm vi kiểm toán và tăng cường các thử nghiệm cơ bản và ngược lại
Điều cần quan tâm đối với các kiểm toán viên là các rủi ro không phát hiện
những gian lận thường cao hơn rủi ro không phát hiện sai sót, vì gian lận là những hành vi cố tình che giấu thông tin, do đó rất khó phát hiện nếu kiểm toán viên không
có nhiều kinh nghiệm cộng thêm thái độ hoài nghi nghề nghiệp Vì vậy trong quá trình kiểm toán đòi hỏi kiểm toán viên phải xem xét kỹ những nghiệp vụ sai sót
trọng yếu có thể là dấu hiệu của những gian lận trọng yếu
Tóm lại: kiểm toán viên phải luôn xét đồng thời tính trọng yếu gian lận – sai sót và rủi ro kiểm toán, từ đó lập kế hoạch kiểm toán thích hợp, xác định nội dung,
thời gian, phạm vi của các thử nghiệm cơ bản, sao cho rủi ro kiểm toán nằm trong
mức trọng yếu có thể chấp nhận được
2.1.5 Chương trình kiểm toán doanh thu
Quy trình kiểm toán toàn báo cáo tài chính gồm 3 bước: chuẩn bị, thực hiện
và hoàn thành kiểm toán Các khâu quy trình của kiểm toán doanh thu đều nằm trong kiểm toán báo cáo tài chính nhưng ở các thử nghiệm cơ bản thì đối với từng khoản mục có những thử nghiệm riêng biệt nhau
* Giai đoạn chuẩn bị
- Tiền kế hoạch: là quá trình kiểm toán viên tiếp cận khách hàng để thu thập
những thông tin cần thiết nhằm giúp cho các kiểm toán viên hiểu được các nhu cầu
Trang 18của họ, đánh giá về khả năng phục vụ khách hàng, trên cơ sở đó kiểm toán viên và khách hàng và khách hàng sẽ ký hợp đồng kiểm toán hoặc thư cam kết kiểm toán
- Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm việc thu thập thông tin về đặc điểm kinh doanh, tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ, xác định mức trọng yếu,… để lập kế
hoạch và chương trình kiểm toán, mục đích để nâng cao tính hữu hiệu và hiệu quả
của cuộc kiểm toán
* Giai đoạn thực hiện kế hoạch
- Thử nghiệm kiểm soát (kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ): đây là loại thử nghiệm để thu thập những bằng chứng về tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội
bộ
- Thử nghiệm cơ bản: bao gồm các thủ tục thu thập các bằng chứng nhằm phát
hiện các sai lệch trọng yếu, có hai thử nghiệm là thử nghiệm phân tích và thử nghiệm chi tiết
+ Thử nghiệm phân tích:
Lập bảng doanh thu theo từng tháng, từng đơn vị trực thuộc,… xem xét các
trườmg hợp tăng giảm bất thường
So sánh doanh thu của kỳ này với kỳ trước theo từng thàng
Tính tỷ lệ lãi gộp của những mặt hàng, loại dịch vụ chủ yếu và so sánh với
năm trước Nếu phát hiện những dấu hiệu bất thường yêu cầu giải thích nguyên nhân
+ Thử nghiệm chi tiết
Kiểm tra sự có thực của các khoản doanh thu
Kiểm tra sự ghi chép đầy đủ
Kiểm tra sự chính xác về ghi nhận số tiền doanh thu
Kiểm tra việc phân loại doanh thu
Kiểm tra việc khoá sổ các nghiệp vụ bán hàng
Kiểm tra các khoản thu nhập khác đã được ghi nhận
Tìm kiếm các khoản thu nhập khác không được ghi nhận
* Giai đoạn hoàn thành kiểm toán
Trang 19Tổng kết, rà soát lại những bằng chứng đã thu thập được để kiểm toán viên hình thành ý kiến nhận xét trên báo cáo kiểm toán
2.1.6 Thủ tục phát hiện gian lận sai sót
2.1.6.1 Thủ tục phát hiện gian lận sai sót
Thủ tục kiểm toán là cách thức mà kiểm toán viên tiến hành trong quá trình
kiểm toán, trên thực tế thủ tục phát hiện gian lận sai sót là một phần nằm trong thủ
tục kiểm toán nhưng những thủ tục này sẽ tập trung vào những vấn đề gian lận sai sót là chủ yếu Cũng như thủ tục kiểm toán, thủ tục phát hiện gian lận sai sót chủ
yếu tập trung vào hai thủ tục chính: thủ tục kiểm soát và thủ tục cơ bản
- Thủ tục kiểm soát: kiểm toán viên tiến hành nghiên cứu hệ thống kiểm soát
nội bộ thông qua 4 bước sau:
+ Bước 1: Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ
+ Bước 2: Đánh giá sơ bộ rủi ro kiểm soát
+ Bước 3: Thiết kế và thực hiện thử nghiệm kiểm soát
+ Bước 4: Đánh giá rủi ro kiểm soát và điều chỉnh thử nghiệm cơ bản Sau khi thực hiện thủ tục kiểm soát kiểm toán viên sẽ nhận dạng được điểm
yếu kém của hệ thống kiểm soát nội ở những bộ phận nào và căn cứ vào đó kiểm toán viên tiến hành thử nghiệm cơ bản ở phần tiếp theo
- Thử nghiệm cơ bản: là thử nghiệm dùng để thu thập bằng chứng về những sai
lệch trọng yếu trong báo cáo tài chính, bao gồm hai thử nghiệm chính: thủ tục phân tích và thử nghiệm chi tiết
+ Thủ tục phân tích: là việc so sánh các thông tin tài chính, các chỉ số, các
tỷ lệ, để phát hiện và nghiên cứu các trường hợp bất thường, việc phân tích này có
thể là: so sánh thông tin tài chính giữa các kỳ, các niên độ, hoặc so sánh thông tin tài chính của đơn vị với thông tin trong ngành tương tự; mối quan hệ giữa các thông tin tài chính và phi tài chính
Ví dụ: Doanh thu trong năm 2008 cao hơn các năm trước một cách bất thường, trong khi đó doanh nghiệp đang thực hiện cổ phần hóa, với sự phân tích trên có khả
năng doanh nghiệp gian lận doanh thu với mục đích thu hút vốn đầu tư
Trang 20Thủ tục phân tích giúp kiểm toán viên nhận diện các biến động bất thường, tiếp theo kiểm toán viên tiến hành thử nghiệm chi tiết để thu thập bằng chứng chính xác
về những hoài nghi gian lận sai sót
+ Thử nghiệm chi tiết: là việc kiểm tra trực tiếp các nghiệp vụ hoặc các số
dư, bao gồm kiểm tra nghiệp vụ và kiểm tra số dư Kiểm tra nghiệp vụ là kiểm tra chi tiết một ít hay toàn bộ số phát sinh để xem xét mức độ trung thực của các khoản
mục, chỉ phù hợp với trường hợp tài khoản phát sinh ít Kiểm tra số dư là kiểm tra
để đánh giá mức độ trung thực của số dư tài khoản có nhiều nghiệp vụ phát sinh Tóm lại: Mỗi công ty kiểm toán đều có những thủ tục phát hiện gian lận sai sót rieng tùy thuộc vào từng trường hợp gian lận sai sót mà kiểm toán viên sẽ thiết kế
những thủ tục khác nhau Dù các thủ tục phát hiện gian lận sai sót giữa các công ty
kiểm toán có khác nhau về cách thực hiện nhưng phải đảm bảo thực hiện đúng như
hướng dẫn của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VAS 240 về gian lận sai sót
2.1.6.2 Những thủ tục tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu gian lận sai sót
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VAS 240 quy định như sau:
- Trong quá trình kiểm toán, khi xét thấy có dấu hiệu về gian lận hoặc sai sót,
kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải xem xét những ảnh hưởng của gian lận và sai sót đến báo cáo tài chính Trường hợp kiểm toán viên và công ty kiểm toán cho
rằng gian lận hoặc sai sót có thể ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính thì phải
thực hiện sửa đổi và bổ sung những thủ tục kiểm toán thích hợp
- Mức độ sửa đổi và bổ sung các thủ tục kiểm toán phụ thuộc vào sự đánh giá
của kiểm toán viên về:
a) Các loại gian lận và sai sót đã được phát hiện;
b) Tần suất xảy ra gian lận hoặc sai sót;
c) Khả năng tái diễn của một loại gian lận hoặc sai sót cụ thể có thể ảnh hưởng
trọng yếu đến báo cáo tài chính
Kiểm toán viên không được cho rằng các gian lận và sai sót xảy ra là đơn lẻ và
biệt lập, trừ khi đã xác định rõ ràng Nếu cần thiết, kiểm toán viên phải điều chỉnh
lại nội dung, lịch trình và phạm vi các thử nghiệm cơ bản
Trang 21- Việc thực hiện các thủ tục kiểm toán sửa đổi và bổ sung thường giúp cho
kiểm toán viên khẳng định hoặc xoá bỏ nghi ngờ về gian lận hoặc sai sót Trường
hợp kết quả của các thủ tục sửa đổi và bổ sung không xoá bỏ được nghi ngờ về gian
lận và sai sót, thì kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải thảo luận vấn đề này với Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán và phải đánh giá ảnh hưởng của nó đến báo cáo tài chính và Báo cáo kiểm toán
- Kiểm toán viên phải xem xét ảnh hưởng của các gian lận và sai sót trọng yếu trong mối liên hệ với những khía cạnh khác của cuộc kiểm toán, đặc biệt là độ tin
cậy trong các giải trình của Giám đốc Trường hợp hệ thống kế toán và hệ thống
kiểm soát nội bộ không phát hiện được gian lận và sai sót hoặc các gian lận và sai sót không được đề cập trong giải trình của Giám đốc thì kiểm toán viên phải xem xét
lại việc đánh giá rủi ro và độ tin cậy của các giải trình đó Khả năng phát hiện gian
lận và sai sót của kiểm toán viên sẽ tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa các sai phạm với
những hành vi cố tình che dấu sai phạm; giữa các thủ tục kiểm soát cụ thể của Ban Giám đốc và các nhân viên liên quan
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Thu thập tài liệu: trong quá trình thực tập sinh viên đã tiếp xúc và tham
khảo các hồ sơ kiểm toán xảy ra gian lận sai sót tại công ty AISC làm cơ sở dẫn
chứng cho số liệu nghiên cứu, đồng thời kết hợp với sách giáo khoa, báo chí và
những tài liệu cần thiết khác từ công ty kiểm toán làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu
- Quan sát: đối tượng quan sát là các anh chị kiểm toán viên có nhiều kinh nghiệm trong việc phát hiện gian lận sai sót trong quá trình kiểm toán với mục tiêu tìm hiểu các thủ tục phát hiện gian lận sai sót và học hỏi kinh nghiệm kinh nghiệm
kiểm toán mong muốn bổ sung cho những kinh nghiệm thức tế cho những kiến thức
đã được học
- Phỏng vấn các anh chị kiểm toán viên và khách hàng của công ty để thu
thập những thông tin cần thiết cho đề tài
- Từ các số liệu thu thập được, sinh viên tiến hành so sánh phân tích để tìm
ra những dấu hiệu gian lận sai sót và kiến nghị các thủ tục kiểm toán phù hợp.
Trang 22CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ DỊCH VỤ TIN HỌC AISC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 3.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Công ty kiểm toán và dịch vụ tin học AISC là một trong ba công ty lớn nhất
của Việt Nam được thành lập đầu tiên tại Việt Nam theo giấy phép số 673/TC/CĐKT ngày 21/03/1994 của Bộ Tài Chính Việt Nam và quyết định số 1292/QĐ-UB-TM của Uỷ Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh ngày 29/04/1994, theo giấy phép kinh doanh số 103020 ngày 04/05/1994 của trọng tài kinh tế Thành
phố Hồ Chí Minh
AISC thành lập trên cơ sở hai bộ phận thuộc Sở Tài Chính ghép lại: Trung tâm tính toán Sở Tài Chính và một phần nhân sự của khối quản lí tài vụ doanh nghiệp nhà nước ghép với bộ phận xây dựng cơ bản
Trụ sở chính 142 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
Hiện nay công ty không ngừng phát triển và mở rộng hoạt động Để phục cho nhu cầu ngày càng cao, công ty đã mở rộng chi nhánh miền Bắc đặt tại Hà Nội, chi nhánh miền Trung đặt tại Đà Nẵng, văn phòng đại diện tại Hải Phòng và văn phòng đại diện Miền Tây đặt tại Thành phố Cần Thơ
Ngoài ra công ty còn có một bộ phận liên doanh với công ty kiểm toán Price Waterhouse Coopers (là một trong bốn công ty kiểm toán hàng đầu –Big Four),
nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
Sự hình thành của công ty Price Waterhouse Coopers – AISC và hoạt động
hiệu quả của nó đã chứng minh trình độ, khả năng của các chuyên viên AISC có đội
ngũ chuyên viên với trình độ cao, được đào tạo tại Việt Nam, Anh, Bỉ, Ailen và có kinh nghiệp trong lĩnh vực tin học, tài chính, kế toán, kiểm toán,…100% tốt nghiệp Đại học, có kinh nghiệm từ 5 năm trở lên công tác trong các ngành tài chính, kế toán
là kế toán trưởng tại các công ty hoặc các chuyên viên quản lí doanh nghiệp, cán bộ thuế, cán bộ ngân hàng,…
Trang 23Công ty rất chú trọng đến việc cập nhật và nâng cao kiến thức của đội ngũ nhân viên Hàng tuần đều có những buổi thảo luận để các kiểm toán viên trao đổi kinh nghiệm và phổ biến những thông tin mới nhất Tại công ty còn có những khoá học
kế toán- tài chính do dự án EURO-TAPVIET và những giáo sư trong và ngoài nước
3.2 NGUYÊN TẮC VÀ MỤC TIÊU HOẠT ĐỘNG
3.2.1 Nguyên tắc hoạt động
AISC là một đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế độc lập, tuân thủ theo nguyên tắc chỉ đạo của kiểm toán và chuẩn mực
quốc tế phù hợp pháp luật và các quy định của nhà nước, được phép mở tài khoản
tại ngân hàng, có tài khoản ngoại tệ và con dấu để giao dịch
AISC hoạt động theo nguyên tắc độc lập, khách quan, chính trực, bảo vệ lợi ích
và bí mật kinh doanh của khách hàng như quyền lợi của chính bản than công ty trên
cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật, hoàn toàn chịu trách nhiệm và khả năng bồi
thường cho khách hàng (nếu AISC gây ra thiệt hại) Nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp và chất lượng dịch vụ cung cấp của công ty là những tiêu chuẩn hàng đầu mà
mỗi nhân viên kiểm toán của AISC phải luôn ghi nhớ và tuân thủ
3.2.2 Mục tiêu hoạt động
AISC giúp các doanh nghiệp, các đơn vị kinh tế thực hiện tốt công tác tài chính
kế toán theo đúng quy định nhà nước Việt Nam và các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán quốc tế, đảm bảo số liệu kế toán phản ánh đúng thực trạng quá trình sản xuất kinh doanh và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp kịp thời phát hiện, điều chỉnh các gian lận sai sót, phòng ngừa rủi ro và thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh
AISC góp phần giúp các doanh nghiệp trong và ngoài nước, các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức hoạt động tại Việt Nam nắm bắt kịp thời các quy định pháp lệnh của nhà nước Việt Nam về kế toán, tài chính, thuế, tin học trong
kế toán và quản lý, tổ chức tốt hệ thống kế toán của doanh nghiệp, giúp cho hoạt động của doanh nghiệp có nhiều thuận lợi, đạt hiệu quả, giúp cho nhà đầu tư có thêm động lực đầu tư vào Việt Nam
Trang 243.3 DỊCH VỤ VÀ TƯ VẤN DO CÔNG TY AISC CUNG CẤP
3.3.1 Kiểm toán
- Kiểm toán theo luật định, giúp cho các đơn vị nộp thuế và khoản phải nộp
- Kiểm tra rà soát lại các khoản nợ
- Giám định kế toán tài chính, giúp các doanh nghiệp trong việc liên doanh, liên kết hoặc kiện tụng tranh chấp tài sản, thanh lý tài sản
- Định giá tài sản và vốn góp
- Kiểm tra việc thực hiện và thanh lý các hợp đồng xây dựng
- Thẩm tra dự toán thi công, dự án đấu thầu cho các công trình xây dựng, phục
vụ cho việc quyết toán, thanh toán công trình
3.3.2 Tư vấn pháp lý- tài chính- kế toán thuế
- Hướng dẫn áp dụng chế độ kế toán tài chính, thống kê thuế theo luật định
- Lập kế hoạch kê khai thuế và các khoản phải nộp giúp cho đơn vị chấp hành đúng luật định
- Lập hồ sơ xin đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp, tư vấn trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản
- Giúp tư vấn và tuyển chọn nguồn nhân lực tại thị trường Việt Nam
- Làm kế toán, lập báo cáo tài chính, thống kê cho doanh nghiệp
- Đào tạo kế toán và kiểm toán viên nội bộ
- Tư vấn về việc cải tổ và việc đổi mới hệ thống kế toán, quản trị kinh doanh và môi trường kiểm soát nội bộ
3.3.3 Dịch vụ tin học
- Tư vấn việc lựa chọn các thiết bị tin học, cài đặt các hệ thống thông tin trong
quản trị kinh doanh sao cho tiện lợi và hiệu quả nhất, phù hợp với năng lực kinh tế
và điều kiện của khách hàng
- Tư vấn về việc sử dụng các phần mềm tin học và cung cấp các phần mềm
quản lý như: quản trị kinh doanh, kế toán doanh nghiệp, kế toán thương mại, quản lý
du lịch khách sạn, thuế, quản lý ngân sách, quản lý kho bạc, quảm lý các công trình
Trang 25xây dựng cơ bản,…theo hệ thống kế toán Việt Nam và một số hệ thống kế toán quốc
tế mà doanh nghiệp đuợc phép hạch toán
- Đào tạo chương trình viên, kỹ thuật viên máy tính,…
3.4 NHỮNG ĐIỂM NỔI BẬT VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY AISC
3.4.1 Những điểm nổi bật
AISC trong quá trình hoạt động đã tạo ra được một nét riêng, một sự khác biệt
so với công ty kiểm toán khác:
- Chất lượng dịch vụ mang tính chuyên nghiệp đem đến cho khác hàng những giá trị thực Hiện nay AISC đã có hơn 500 khách hàng sử dụng tất cả các dịch vụ do AISC cung cấp
- Kiểm toán ngân hàng cũng là một trong những thế mạnh của AISC Trên 15 ngân hàng mà AISC tham gia kiểm toán: Hệ thống ngân hàng đầu tư và phát triển
Việt Nam, ngân hàng Đệ Nhất (Đài Loan), ngân hàng Trung Quốc, ngân hàng phát triển nhà của Thành phố Hồ Chí Minh, ngân hàng Tân Việt, ngân hàng Gia Định,…
- Hiện nay, AISC đã cung cấp phần mềm phục vụ cho việc kiểm toán các công trình xây dựng cơ bản, do đó đã giúp được nhiều doanh nghiệp có được báo cáo kịp
thời, chính xác, tiết kiệm thời gian, chi phí,…Đây là thế mạnh của AISC trong việc xây dựng cơ bản
- Huấn luyện nghiệp vụ cho nhân viên các doanh nghiệp theo các khoá hạn về các vấn đề cấp thiết, phục vụ công tác quản lý doanh nghiệp mà AISC đang tiến hành như: phân tích báo cáo tài chính, thẩm định dự án đầu tư, kế toán thực hành chuyên nghiệp, kế toán trưởng theo chương trình Bộ Tài Chính
- Tin học hoá quản lý là một trong những đòi hỏi cấp thiết của doanh nghiệp
Hiện nay phần mềm AISC đã và đang được khách hàng tín nhiệm, đã đáp ứng hầu
hết các nhu cầu quản lý của doanh nghiệp
Trang 263.4.2 Phương hướng phát triển
Trên cơ sở phát triển của năm 2008 và khả năng phát triển trong năm 2009 công ty đã đặt ra mục tiêu kế hoạch năm 2009 với doanh thu 12,5 tỷ đồng, tăng 40% so với kế hoạch 2008
Để thực hiện kế hoạch 2009 nêu trên, công ty đã đề ra các biện pháp sau:
- Tăng cường bộ máy và nhân sự lãnh đạo cho công ty qua việc bổ nhiệm một
số trưởng, phó phòng và thành lập 2 phòng mới để đáp ứng nhu cầu công việc của công ty
- Tiếp tục phát động thi đua trong năm 2009, khen thưởng kịp thời thành tích
của cá nhân và tập thể
- Quan tâm cải tiến từng bước thu nhập của các nhân viên trong công ty, trước
mắt 01/01/2009 nâng lương cơ bản của công ty lên 10% so với tháng 12/2008 giúp cho các nhân viên ổn định đời sống và yên tâm công tác
- Tăng cường việc đào tạo nghiệp vụ trong công ty Tiếp tục đẩy mạnh công tác
tiếp thị khách hàng
3.5 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC VÀ BỘ MÁY HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY AISC 3.5.1 Cơ cấu tổ chức chung
Công ty AISC bao gồm các bộ phận sau:
- Kiểm toán tư và tư vấn tài chính kế toán
- Kiểm toán đầu tư xây dựng cơ bản
- Dịch vụ phần mềm kế toán
- Phòng kế toán và tổ chức hành chính
3.5.2 Sơ đồ tổ chức bộ phận kiểm toán
Trong công ty có nhiều nhóm kiểm toán, mỗi nhóm có khoảng 5 đến 6 nhân viên, được dẫn dắt bởi một nhóm trưởng (audit senior), là người có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán Các nhóm làm việc độc lập và được quản lý bởi các kiểm toán viên cao cấp (audit manager) Người chịu trách nhiệm ký báo cáo
kiểm toán là giám đốc kiểm toán (audit partner) và giám đốc điều hành (managing partner)
Trang 27Sơ Đồ 3.1 Tổ chức các bộ phận kiểm toán doanh nghiệp
Nguồn:Công ty kiểm toán và dịch vụ tin học AISC năm 2008
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN CẦN THƠ PHÒNG HÀNH CHÍNH
PHÒNG ĐÀO TẠO – TIẾP THỊ
Trang 28CHƯƠNG 4 THỰC TẾ TÌM HIỂU VỀ VẤN ĐỀ GIAN LẬN – SAI SÓT TẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ DỊCH VỤ TIN HỌC AISC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
4.1 TÌNH HÌNH CHUNG VÀ NHỮNG NHÂN TỐ LÀM TĂNG KHẢ NĂNG GIAN LẬN – SAI SÓT
4.1.1 Tình hình chung về việc phát hiện gian lận sai sót trong báo cáo tài chính trong quá trình kiểm toán của công ty AISC
Trong năm 2008 công ty đã thực kiểm toán khoảng gần 200 công ty khách hàng ở nhiều tỉnh trải dài từ : Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần
Thơ,…bao gồm nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau như: cổ phần, trách nhiệm
hữu hạn, công ty có 100% vốn nước ngoài, liên doanh,…các khách hàng kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau: sản xuất công nghiệp, xây dựng cơ bản, thương mại, gia công chế biến, xuất nhập khẩu,…
Qua khảo sát trên các hồ sơ kiểm toán năm 2008, có 27 trường hợp gian lận sai sót, trong đó có 7 trường hợp gian lận và 20 trường hợp sai sót Trong số 200 khách hàng thì có 75 khách hàng mới (25 khách hàng kiểm toán năm đầu tiên, 50 khách hàng còn lại đã qua kiểm toán các năm trước đó), và 125 khách hàng cũ
Qua việc nghiên cứu trên các hồ sơ kiểm toán tại công ty và phỏng vấn các anh chị kiểm toán viên, sinh viên đã thống kê tỷ lệ gian lận sai sót phát hiện được theo lĩnh vực kinh doanh trên các báo cáo kiểm toán được tóm tắt theo bảng dưới đây:
Trang 29Bảng 4.1 GIAN LẬN SAI SÓT THEO LĨNH VỰC KINH DOANH
(Đơn vị tính: Trường hợp)
DN sản xuất
DN gia công chế biến
DN thương mại
Đồ Thị 4.1 Tỷ lệ gian lận phát hiện được trong lĩnh vực kinh doanh
(Nguồn: Hồ sơ kiểm toán tại công ty kiểm toán AISC-2008)
DN s ản xuất DN gia công ch ế biến DN th ương mại DN xây l ắp Khác
Đồ Thị 4.2 Tỷ lệ sai sót phát hiện được trong lĩnh vực kinh doanh
(Nguồn: Hồ sơ kiểm toán tại công ty kiểm toán AISC-2008)
Trang 30Qua bảng khảo sát và biểu đồ thể hiện tỷ lệ gian lận sai sót phát hiện cho thấy điều đáng quan tâm ở đây là các doanh nghiệp sản xuất có tỷ lệ gian lận lẫn sai sót đều cao, gian lận chiếm 26% (7/27 trường hợp) và sai sót chiếm 74% (20/27 trường
hợp) trong tổng số gian lận và sai sót phát hiện được Trong số 200 khách hàng của công ty thì có 56 khách hàng là doanh nghiệp sản xuất, tức chiếm 28% trong tổng số khách hàng nhưng lại chiếm tỷ lệ gian lận 58% và tỷ lệ sai sót 60% là rất cao
Khi tìm hiểu về hình thức kinh doanh của các doanh nghiệp trên thì được biết
hầu hết các doanh nghiệp trên là những công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu
hạn Khi tìm hiểu nguyên nhân thì biết rằng: hầu hết là công ty mới cổ phần, do đó
để đạt được mục tiêu huy động các nguồn vốn từ cổ đông cũng như khuyếch trương
uy tín những công ty này đã “làm đẹp” báo cáo tài chính bằng mọi hành vi gian lận
Trường hợp ngược lại, những công ty trách nhiệm hữu hạn thường khai thiếu doanh thu với mục đích trốn thuế
Khi phỏng vấn các anh chị kiểm toán viên thì có đến 37% (tức 10 trường
hợp) gian lận sai sót được phát hiện một cách tình cờ, trong đó có khoảng 19% (tức
5 trường hợp) do hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị phát hiện được
Qua bảng số liệu trên cho thấy rằng số trường hợp sai sót (20 trường hợp) lớn
hơn số trường gian lận (7 trường hợp), nhưng không vì thế kiểm toán viên không quan tâm đến những vụ gian lận này; Vì thứ nhất, những gian lận phát hiện được
thường có giá trị lớn và gắn liền với những nhà quản lí cấp cao; thứ hai, những
trường hợp sai sót phát hiện được có thể trở thành hành vi gian lận nếu không phát
hiện được; thứ ba, nếu sai sót xảy ra thường xuyên sẽ trở thành sai sót trọng yếu ảnh
hưởng đến báo cáo tài chính
Qua các vụ gian lận cho thấy rằng các công ty có qui mô lớn là nơi dễ xảy ra
rủi ro gian lận hơn rủi ro sai sót và những gian lận này thường khó phát hiện vì nó
thường gắn liên với những nhà quản lí cấp cao, sau đây là bảng số liệu gian lận có liên quan đến vị trí lãnh đạo trong công ty
Trang 31Bảng 4.2 GIAN LẬN SAI SÓT THEO VỊ TRÍ LÃNH ĐẠO
(Nguồn: Hồ sơ kiểm toán năm 2008 công ty kiểm toán AISC)
Từ số liệu trên ta thấy rằng gian lận và sai sót xảy ra ở bất kỳ vị trí nào trong công ty, từ những nhân viên cho đến các nhà quản lí cấp cao Trong đó hành vi gian
lận thường tập trung ở những người quản lí cấp cao như: Hội đồng quản trị, Ban giám đốc,… với những thủ đoạn gian lận tinh vi và những thiệt hại gây ra rất lớn
Có nhiều cơ hội, động lực và nguyên nhân góp phần làm tăng gian lận, song chủ yếu là: sự thiếu liêm khiết của nhà quản lí, sự thông đồng giữa các cấp, hoặc năng lực
của Ban giám đốc,… Những hành vi gian lận này có thể vượt khỏi tầm kiểm soát
của hệ thống kiểm soát nội hoặc sự bất lực của hệ thống kiểm soát nội bộ trước thế
lực của nhà quản lí
Ngược lại với hành vi gian lận thường liên quan đến nhà quản lí cấp cao, đối
với hành vi sai sót thường gắn liền với những nhân viên bình thường hoặc nhà quản
lí cấp trung bởi các nguyên nhân khách quan như: năng lực và trình độ hạn chế, sự
bất cẩn hoặc thiếu trách nhiệm gây ra
Tóm lại, hành vi gian lận và sai sót được phát hiện trong quá trình kiểm toán
tại công ty kiểm toán AISC rất đa dạng và liên quan đến nhiều vị trí lãnh đạo khác nhau trong công ty, từ những nhà quản lí cấp cao cho đến những nhân viên bình
thường Những vụ gian lận sai sót xảy ra trên nhiều lĩnh vực kinh doanh và loại hình doanh nghiệp khác nhau, trong đó những doanh nghiệp sản xuất thuộc loại hình cổ
phần và trách nhiệm hữu hạn chiếm tỷ cao Với những động cơ và lí do khác nhau
mà những thủ đoạn gian lận sai sót được che dậy bởi những hành vi khác nhau để
thực hiện những mục đích khác nhau, song với những thủ tục kiểm toán hiệu quả và
Trang 32hữu hiệu cộng với khả năng phán đoán nghề nghiệp được áp dụng tại công ty kiểm toán AISC thì các gian lận sai sót đã được phát hiện nhanh chóng, kịp thời, chính xác, góp phần giúp kiểm toán viên đưa ra quyết định đúng đắn trên báo cáo kiểm toán
4.1.2 Tìm hiểu những nhân tố làm tăng khả năng gian lận sai sót
Dựa trên chuẩn mực VAS 240 “đánh giá rủi ro” đối với những tình huống và
sự kiện làm tăng khả năng gian lận sai sót, sinh viên đã thiết lập các bảng câu hỏi
phỏng vấn các anh chị kiểm toán viên tại công ty kiểm toán AISC về thực tế xảy ra gian lận khi kiểm toán các khách hàng của công ty
* Các vấn đề liên quan đến tính chính trực và năng lực của Ban giám đốc:
Công tác quản lí bị một người hoặc một nhóm người quản lí độc quyền,
thiếu sự giám sát có hiệu lực của Ban giám đốc và Hội đồng quản trị
10/27
Cơ cấu tổ chức của đơn vị được tổ chức một cách phức tạp 15/27
Hệ thống kế toán yếu kém nhưng không chịu sửa chữa (mặc dù những yếu
kém này có khả năng sửa chữa)
15/27
Hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém nhưng không khắc phục (mặc dù có
điều kiện)
22/27
Sự thay đổi thường xuyên kế toán trưởng hoặc những người có trách nhiệm
trong bộ phận kế toán và tài chính
5/27
Sự thiếu nhân viên kế toán trong một thời gian dài 9/27
Bố trí nhân viên kế toán không đúng chuyên môn, không có bằng cấp hoặc
bị pháp luật nghiêm cấm
12/27
Thay đổi thường xuyên chuyên gia tư vấn luật hoặc kiểm toán viên 11/27
Trang 33* Các sức ép bất thường trong đơn vị hoặc bên ngoài đơn vị
Đầu tư quá nhanh vào ngành nghề mới hoặc loại sản phẩm mới làm mất
cân đối tài chính
10/27
Doanh nghiệp bị lệ thuộc quá nhiều vào một số sản phẩm hoặc một số
khách hàng
8/27
Sức ép về tài chính từ những nhà đầu tư hoặc các cấp quản lý đơn vị 12/27
Sức ép đối với nhân viên kế toán phải hoàn tất báo cáo tài chính trong thời
gian quá ngắn
15/27
* Các nghiệp vụ và sự kiện không bình thường
Các nghiệp vụ đột xuất, đặc biệt xảy ra vào cuối niên độ kế toán có tác
động đến doanh thu, chi phí và kết quả
14/27
Các nghiệp vụ doanh thu hoặc phương pháp xử lý kế toán phức tạp 16/27 Các nghiệp vụ với các bên hữu quan 5/27 Các khoản doanh thu quá cao so với dịch vụ cung cấp 10/27
Trang 34* Những khó khăn liên quan đến thu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp
Tài liệu kế toán không đầy đủ hoặc không được cung cấp kịp thời (Ví dụ:
Không thu thập đủ chứng từ ; phát sinh chênh lệch lớn giữa sổ và báo cáo,
những nghiệp vụ ghi chép sai hoặc để ngoài sổ kế toán, )
12/27
Lưu trữ tài liệu không đầy đủ về các sự kiện và nghiệp vụ kinh tế (Ví dụ:
chứng từ chưa được phê duyệt, thiếu tài liệu hỗ trợ cho những nghiệp vụ
lớn hoặc bất thường)
20/27
Có chênh lệch lớn giữa sổ kế toán của đơn vị với xác nhận của bên thứ ba;
mâu thuẫn giữa các bằng chứng kiểm toán; không giải thích được sự thay
đổi của các chỉ số hoạt động
18/27
Ban Giám đốc từ chối cung cấp giải trình hoặc giải trình không thoả mãn
yêu cầu của kiểm toán viên
16/27
* Những nhân tố từ môi trường tin học liên quan đến các sự kiện nêu trên
Không lấy được thông tin từ máy vi tính 20/27
Có thay đổi trong chương trình vi tính nhưng không lưu tài liệu, không
được phê duyệt và không được kiểm tra
18/27
Thông tin, tài liệu in từ máy vi tính không phù hợp với báo cáo tài chính 15/27 Các thông tin in ra từ máy vi tính mỗi lần lại khác nhau 9/27
Trang 35Qua các câu trả lời của các anh chị kiểm toán viên dựa trên 27 trường hợp gian lận sai sót xảy ra thực tế khi kiểm toán được biết rằng có rất nhiều nhân tố ảnh
hưởng khác nhau hội tụ để tạo ra những vụ gian lận sai sót trong doanh nghiệp, từ
những nhân tố khách quan bên trong cho đến những yếu chủ quan bên ngoài doanh nghiệp Trong đó, hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém chính là kẻ hở giúp những hành vi gian lận phát triển, đây cũng chính là mối đe doạ nghiêm trọng dẫn tới sụp
đổ của nhiều doanh nghiệp khi một khi hàng rào chắn bên trong doanh nghiệp không
an toàn, nó tạo điều kiện cho những hành vi gian lận được thực hiện
Thực tế khảo sát ở hầu hết các công ty khách hàng cho thấy rằng, đa số các doanh nghiệp hầu như không quan tâm xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ bên trong đơn vị hoặc có chăng chỉ là hình thức và không phát huy được hiệu quả, tác
dụng của tổ chức này Trên tổng số 27 trường hợp gian lận sai sót được phát hiện thì
có đến 22 trường hợp là do hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém hoặc không có hệ
thống kiểm soát nội bộ Đa số các doanh nghiệp không quan tâm đến việc xây dựng
một hệ thống kiểm soát nội bộ chủ yếu là sợ phải bỏ ra một khoản chi phí khá cao cho bộ phận này, mặc khác cũng có những doanh nghiệp không ý thức được tầm quan trọng và cần thiết của bộ phận này
Do vậy, việc thiết kế và thực hiện các thử nghiệm kiểm soát nhằm kiểm tra sự
hữu hiệu và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ là khâu quan trọng trong tiến trình kiểm toán, giúp các kiểm toán viên có thể tập trung đi vào làm rõ những vấn đề quan trọng, làm tăng hiệu quả của cuộc kiểm toán
4.2 NHỮNG LOẠI GIAN LẬN – SAI SÓT ĐƯỢC PHÁT HIỆN KHI KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC DOANH THU TẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN AISC 4.2.1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
4.2.1.1 Gian lận
Theo kinh nghiệm của các kiểm toán viên cho rằng gian lận doanh thu chủ
yếu tồn tại dưới hai dạng: khai khống hoặc khai thiếu nhưng được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn gian lận khác nhau Sau đây là những trường hợp gian lận phát hiện trên thực tế:
Trang 36- Cố tình bỏ sót, không ghi nhận doanh thu trong kỳ vào sổ kế toán nhằm
mục đích làm giảm doanh thu và nợ phải thu
- Doanh thu được ghi nhận không có thật hoặc không đủ điều kiện, không
phát sinh trong thực tế, những khách hàng là ảo và không có thật, mục đích nhằm
thổi phòng doanh thu
- Doanh thu chưa được xác định chắn chắn đã tiêu thụ như: không có phiếu
xuất kho, không có phiếu giao hàng có chữ ký bên nhận,… nhưng đã ghi lên sổ kế toán khoản doanh thu và nợ phải thu
- Doanh thu ghi nhận không đúng niên độ, những trường hợp này thường xảy
ra vào cuối niên độ kế toán, doanh thu chuyển dịch từ cuối kỳ này sang đầu kỳ tiếp theo và ngược lại làm ảnh hưởng kết quả kinh doanh trong kỳ
- Doanh thu trên tờ khai thuế GTGT không khớp với số tiền trên hoá đơn
hoặc số tiền hạch toán trên sổ kế toán không khớp với hoá đơn GTGT, mục đích
nhằm gian lận thuế GTGT phải nộp
- Các khoản giảm trừ doanh thu như: chiết khấu, hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán,… ghi nhận không đúng niên độ, không đúng với qui định chung của đơn
vị và chuẩn mực kế toán
- Không lập hoá đơn khi bán hàng, mục đích che giấu và làm giảm doanh thu Trong số 7 trường hợp gian lận phát hiện được có 4 trường hợp khai khống doanh thu với mục đích chạy theo mục tiêu doanh thu và lợi nhuận (chủ yếu là công
ty cổ phần) và 3 trường hợp khai thiếu doanh thu nhằm mục đích trốn thuế (chủ yếu
là doanh nghiệp sản xuất và chế biến vừa và nhỏ) Mặt khác, trên thực tế thì số gian
lận không ít như thế nhưng vì một số hạn chế riêng biệt của ngành kiểm tóan cũng
như hành vi gian lận ngày càng tinh vi và hợp pháp hóa hơn nên hầu như dù đã áp
dụng hầu hết các thủ tục kiểm tóan nhưng vẫn không thể phát hiện được hết các gian
lận
4.2.1.2 Sai sót
Vì hành vi là hàng vi không cố ý và không được giấu giếm nên kiểm toán viên có thể dễ dàng phát hiện Nếu sai sót xảy ra thường xuyên và trọng yếu thì có
Trang 37thể ảnh hưởng trọng yếu đến kết quả kinh doanh, sau đây là những trường hợp sai sót thường xảy ra
- Sai số, do tính tóan sai, nhập số liệu không khớp, cộng dồn không đúng
- Bỏ sót doanh thu không ghi do quên hay ghi nhầm doanh thu hai lần
- Ghi nhầm đơn giá bán làm cho số tiền trên hóa đơn lệch so với sổ sách
- Ghi nhận doanh thu sai số tiền trên sổ sách do bất cẩn
- Phân lọai doanh thu không đúng do trình độ của người kế tóan hay sai sót trong quá trình hạch tóan
- Lập hóa đơn sai do: ghi nhằm số tiền, giá bán, tỷ giá, số lượng hoặc do tính toán sai
- Hạch toán nhầm các khoản doanh thu và giảm trừ doanh thu
Trong tổng số 200 khách hàng được kiểm toán thì có 20 trường hợp sai sót,
tức chiếm tỷ lệ khoản 10%, số lượng sai sót trên thực tế chưa phát hiện được thì không ít như thế, có những sai sót nhỏ chưa đến mức trọng yếu kiểm toán viên có
thể bỏ qua, hoặc có thể trong số những sai sót này là hành vi của gian lận nhưng do
sự hợp tác của khách hàng chấp nhận điều chỉnh nên kiểm toán viên cho đó là sai sót
4.2.1.3 Thủ tục phát hiện và ví dụ minh hoạ
a Tình huống gian lận tại công ty thuỷ hải sản Sea Food
Giới thiệu sơ lược về công ty Sea Food
- Công ty xuất cổ phần thuỷ hải sản Sea Food
- Trụ sở chính: Quốc lộ 1A, khu công nghiệp An Nghiệp, TP Sóc Trăng
- Giấy phép kinh doanh số: 110/GP-KCN-ST do Ban quản lí khu công nghiệp Thành phố Sóc Trăng cấp ngày 20/03/2002
- Ngành nghề kinh doanh: Chế biến các mặt hàng thuỷ hải sản xuất khẩu, sơ
chế và gia công các loại thuỷ hải sản,…
- Mục tiêu kiểm toán của công ty Sea Food công bố kết quả kinh doanh năm
2008 đến hội đồng cổ đông và chuẩn bị phát hành cổ phiếu mới năm 2009
- Ngày bắt đầu kiểm toán 20/01/2009
Trang 38- Tình hình kinh doanh qua các năm:
Bảng 4.3.DOANH THU THUẦN CÔNG TY THỦY SẢN SEAFOOD 2006-2008
Nguồn: (*) Số liệu theo biên bản quyết toán thuế 2006,2007 của cục thuế tỉnh Sóc Trăng
(**) Số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của SEAFOOD năm 2008
-Tình huống xảy ra
* Gian lận trong việc ghi hoá đơn khống doanh thu bán hàng
- Khi kiểm tra doanh số bán hàng, kiểm toán viên đã phát hiện ra một số nghiệp vụ bất thường xảy ra vào cuối niên độ: chỉ có một vài khách hàng mua chính
với trị giá lớn và những nghiệp vụ đều là bán chịu
- Theo hoài nghi của kiểm toán viên những nghiệp vụ bán chịu này không có
thực, do đó kiểm toán viên đã tiến hành kiểm tra những tài liệu có liên quan đến
những nghiệp vụ trên Những bằng chứng kiểm toán bao gồm những tài liệu có liên quan đến việc chi trả các khoản phải thu sau ngày kết thúc báo cáo tài chính Kiểm toán viên phát hiện những bằng chứng có liên quan đến việc giao hàng bằng đường thuỷ đã không được cung cấp mặc dù kế toán đã hạch toán trên sổ sách
- Khi phỏng vấn Kế toán trưởng thì nhận được câu trả lời là những hoá đơn
vận chuyển trên đã bị thất lạc (đây là lời giải thích bất hợp lí), kiểm toán viên yêu
cầu cung cấp địa chỉ của công ty vận chuyển đường thuỷ thì bị từ chối cung cấp thông tin
- Việc phát hiện này được trao đổi với Giám đốc Tài chính và Giám đốc Điều hành nhưng chỉ nhận được những lời giải thích không thuyết phục, thiếu chính xác