+ Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn cung cấp thêm căn cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội nóichung và phát triển nông thôn mới, quản l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HOUNNACHAMPA SOMVIXAY
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH XAY SOM BOUN, NƯỚC
CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HOUNNACHAMPA SOMVIXAY
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH XAY SOM BOUN, NƯỚC
CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGÔ THÚY QUỲNH
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là chính là công trình nghiên cứu khoahọc của cá nhân tôi Các số liệu, bảng biểu và nội dung nêu trong luận văn làtrung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Người viết luận văn
HOUNNACHAMPA SOMVIXAY
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian làm Luận văn, tác giả đã cố gắng tìm tòi và phát triểncác cơ sở lý luận khoa học của các nhà khoa học, các tác giả có những điểmchung về vấn đề, tác giả chân thành cảm ơn ghi nhận Ngoài ra, để hoàn thànhLuận văn này, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của người hướngdẫn; sự giảng dạy của các thầy giáo, cô giáo của Học viện Hành chính Quốcgia; sự giúp đỡ của Sở Nông lâm nghiệp tỉnh Xay Som Boun; sự ủng hộ củađồng nghiệp, bạn bè
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS NGÔ THÚYQUỲNH, người đã tận tình hướng dẫn cho tác giả, cảm ơn các cán bộ của SởNông lâm nghiệp, Sở Kế hoạch và đầu tư của tỉnh Xay Som Boun và đồngnghiệp đã cung cấp, hỗ trợ và giúp đỡ xử lý số liệu để tác giả hoàn thành bàiLuận văn của mình./
Người viết luận văn
HOUNNACHAMPA SOMVIXAY
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 4
6 Kết cấu của luận văn 4
7 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 10
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 10 1.1.1 Nhận thức, quan niệm về nông thôn mới 10
1.1.2 Nhiệm vụ chủ yếu của việc xây dựng nông thôn mới ở nước CHDCND Lào 13
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 16 1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước và quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới 16
1.2.2 Mục đích của quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới 17
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới 18
1.2.4 Đánh giá quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới 28
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 34
1.3.1 Thể chế, chính sách, hệ thống quản lý của nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội và về xây dựng nông thôn mới 34
1.3.2 Thị trường, công nghệ, ảnh hưởng của cả nước, của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế 35
1.3.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 37
Trang 71.3.4 Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật 38Tiểu kết chương 1 39Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚIXÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH XAY SOM BOUN, NƯỚCCHDCND DÂN LÀO 402.1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH XAY SOM BOUN 402.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên 402.1.2 Khái quát tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Xay SomBoun 412.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XÂY DỰNGNÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH XAY SOM BOUN 492.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới đã thực hiện49
2.2.2 Đánh giá quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới ở tỉnhXay Som Boun 56Tiểu kết chương 2 65Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝNHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH XAYSOM BOUN, CHDCND LÀO 663.1 PHƯƠNG HƯỚNG TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐIVỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH XAY SOM BOUN 663.1.1 Bối cảnh phát triển của nước CHDCND Lào đến 2020, 2025 663.1.2 Quan điểm chỉ đạo việc đổi mới quản lý nhà nước đối với xây dựngnông thôn mới ở tỉnh Xay Som Boun 683.1.3 Phương hướng tăng cường quản lý nhà nước đối với xây dựng nôngthôn mới ở tỉnh Xay Som Boun 753.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐIVỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH XAY SOM BOUN 77
Trang 83.2.1 Rà soát quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và chương trình xây
dựng nông thôn mới ở tỉnh Xay Som Boun 78
3.2.2 Hoàn thiện chính sách phát triển nông thôn mới ở tỉnh Xay Som Boun 80
3.2.3 Hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Xay Som Boun 83
3.2.4 Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Xay Som Boun 86
3.2.5 Phát triển đội ngũ doanh nghiệp và tổ chức sản xuất ở khu vực nông thôn 88
3.2.6 Hợp tác liên tỉnh để tăng cường quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Xay Som Boun 92
3.2.7 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động xây dựng NTM 94
Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Xay Som Boun 43Bảng 2: Một số chỉ tiêu tổng hợp của tỉnh Xay Som Boun 43Bảng 3: Tổng hợp một số chỉ tiêu về hiệu quả phát triển kinh tế 60của tỉnh Xay Som Boun giai đoạn 2013-2017
Bảng 4: Tổng hợp một số chỉ tiêu về phát triển kinh tế của tỉnh 62Xay Som Boun giai đoạn 2013-2017
Bảng 5: Đánh giá tính hiệu lực và tính bền vững của việc quản lý 63nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Xay Som Boun
Bảng 6: Dự báo nhu cầu đầu tư xây dựng NTM ở tỉnh Xay Som 82Boun Giai đoạn 2018-2020
Trang 10đô thị theo quy hoạch Từ đó, tạo ra xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắcvăn hóa dân tộc, dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, hệthống chính quyền từng cấp ở nông thôn được củng cố và thực hiện thànhcông đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân của Đảng.
Trong thời gian vừa qua, triển khai thực hiện chủ trương, đường lối pháttriển nông thôn mới tuy đã thu được một số thành quả nhưng thực tế chỉ rarằng, còn nhiều vấn đề lý luận đang vướng mắc, nguồn vốn thiếu, đời sốngcủa bộ phận không nhỏ nông dân còn khó khăn Nhìn chung kinh tế nông thôn
ở Lào vẫn trong tình trạng phổ biến là tự cung, tự cấp, sản xuất nhỏ lẻ, cuộc sống của người dân còn lạc hậu,
Tỉnh Xay Som Boun, CHDCND Lào là tỉnh mới thành lập ở Lào, diệntích 8,300 km2, là tỉnh thuộc vùng núi cao, vùng sâu vùng xa Tỉnh có 05 huyện,dân số khoảng 85,168 người (trong đó đân tộc H’Mông chiếm 71.1%) Đa sốngười dân có đời còn lạc hậu, kinh tế hộ gia đình tự cung tự cấp, quy mô nhỏ vànhiều nơi đang chủ yếu đang trong tình trạng khai thác tự nhiên là chính
Trước tình hình như vậy, tác giả chọn vấn đề “Quản lý nhà nước về xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Xay Som Boun, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý công.
Trang 112 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a) Mục đích nghiên cứu
Làm rõ thêm những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với xâydựng nông thôn mới để vận dụng vào việc nghiên cứu định hướng, giải phápđẩy mạnh xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Xay Som Boun của CHDCND Lào
b) Nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu
- Làm rõ môt số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với pháttriển nông thôn mới
- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ởtỉnh Say Som Boun
- Đề xuất định hướng và giải pháp thúc đẩy quản lý của nhà nước vềxây dựng nông thôn mới ở tỉnh Xay Som Boun
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở tỉnhXay Som Boun Nói cách khác cụ thể hơn là, luận văn nghiên cứu xây dựngnông thôn mới và QLNN về xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Xay Som Boun
b- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về xâydựng nông thôn mới, nghiên cứu cả hiện trạng (giai đoạn 2013 – 2017) vànghiên cứu tương lai quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địabàn tỉnh Xay Som Boun
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên
cứu a) Phương pháp luận
Luận văn xem vấn đề xây dựng nông thôn mới là một trong những bộphận trong hệ thống nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Xay SomBoun Đồng thời, xem quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới là
Trang 12bộ phận quan trọng của quản lý nhà nước nói chung để phát triển kinh tế - xãhội tỉnh Xay Som Boun.
Xây dựng nông thôn mới là một hệ thống các công việc liên quan đếnphát triển kinh tế - xã hội của nông thôn Mỗi hoạt động phát triển đều có liênquan đến các hoạt động khác Tính tương tác ấy chỉ ra rằng, các hoạt độngphát triển kinh tế - xã hội không được tách rời nhau
Quản lý nhà nước đối với xây dựng NTM là một bộ phận của công tácquản lý nhà nước đối với các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàntỉnh Vì thế việc quản lý nhà nước đối với xây dựng NTM không thể tách rờiquản lý phát triển nói chung ở địa bàn tỉnh Vì thế, quản lý nhà nước đối vớixây dựng NTM phải tuân theo lý luận chung về quản lý nhà nước Tức là phảinhắm tới các câu hỏi: Ai quản lý, Nhà nước quản lý xây dựng NTM là quản
lý cái gì (hay nội dung quản lý là gì); Nhà nước quản lý xây dựng NTM bằngcông cụ gì và để thực hiện tốt chức năng quản lý đối với xây dựng NTM Cơquan nhà nước cần làm tốt những viêc gì
Nguyên lý Nhân – Quả sẽ được quán triệt để nghiên cứu giữa kết quả
đã đạt được với những việc đã thực thi và để nghiên cứu giữa mục tiêu và giảipháp để đạt được mục tiêu đề ra
Trong quá trình nghiên cứu Luận văn tôn trọng quan điểm duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử và lôgic khoa học để hoàn thành công trình nghiên cứunày
b) Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, tác giả sử dụng những phương pháp chủ yếusau đây:
- Phương pháp phân tích hệ thống: Sử dụng để phân tích QLNN nhưmột hệ thống quản lý; coi nông thôn mới như là một hệ thống với những đặc điểm mới, tiến bộ
Trang 13- Phương pháp phân tích thống kê: được sử dụng để phâp tích hiện trạng xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Xay Som Boun.
- Phương pháp so sánh: sử dụng để so sánh kết quả xây dựng nông thônmới qua các năm của tỉnh Xay Som Boun
- Phương pháp chuyên gia: sử dụng để lấy thêm thông tin và để thẩmđịnh thêm các kết quả nghiên cứu của tác giả cũng như thẩm định các nhậnđịnh của tác giả trong quá trình nghiên cứu vấn đề QLNN về xây dựng nôngthôn mới ở tỉnh Xay Som Boun
- Phương pháp phân tích chính sách: Sử dụng để phân tích, đánh giá tácđộng của chính sách đã ban hành và những chính sách mà tác giả đề xuất cho
giai đoạn tới trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Xay Som Boun
- Phương pháp biểu, bảng, sơ đồ: sử dụng để minh họa trong các phần thuyết minh trong luận văn
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
+ Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần hoàn thiện thêm những vấn đề cơ
bản về lý luận đối với quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
+ Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn cung cấp thêm
căn cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội nóichung và phát triển nông thôn mới, quản lý nhà nước về xây dựng nông thônmới ở tỉnh Xay Som Boun Đồng thời, luận văn có thể sử dụng làm tài liệutham khảo cho các địa phương để xây dựng nông thôn mới
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, Kết luận, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quanđến đề tài, luận văn có 3 chương
Chương 1 Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước đối với xây dựng
nông thôn mới
Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở
tỉnh Xay Som Boun, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Trang 14Chương 3 Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước
về xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Xay Som Boun, nước Cộng hòa dân chủnhân dân Lào
7 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Tác giả luận văn đã thu thập được 30 tài liệu tham khảo Qua tổng quancho thấy, vấn đề nông thôn và quản lý nhà nước (QLNN) về xây dựng nôngthôn mới đã có tương đối nhiều công trình nghiên cứu nhưng vấn đề QLNN
về xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Xay Som Boun thì chưa có công trìnhnghiên cứu
7.1 Các công trình nghiên cứu ở nước CHDCND Lào
Khamla Keodavanh (2016) khi nghiên cứu về “Giải pháp quản lý nhà nước về phát triển nông thôn ở tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” đã chỉ ra nội hàm của QLNN về xây dựng nông thôn mới là
Chính quyền tỉnh đề ra chương trình xây dựng nông thôn mới, đề ra kế hoạchhuy động vốn để xây dựng nông thôn mới và xác định tiến triển khai xâydựng nông thôn mới ở tỉnh Xiêng Khoảng Đồng thời, xác định rõ bản chấtchất của việc xây dựng nông thôn mới là tìm giải pháp phát triển kinh tế, xãhội, môi trường, kết cấu hạ tầng kỹ thuật cho khu vực nông thôn của tỉnh Tácgiả này còn chỉ rõ trách nhiệm quan trọng hàng đầu của Chính quyền tỉnh đốivới việc xây dựng nông thôn mới
Khamhack Phonkhamxao (2016) Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư nông nghiệp và phát triển nông thôn bằng nguồn ngân sách nhà nước tại huyện Pak Xeng, tỉnh Luang Prabang, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, đã cho biết không ngừng nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước đối với các dự án đầu tư nông nghiệp và phát triển nông thôn
bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước không chỉ ở cấp huyện mà còn ở cả cấptỉnh
Khăn Khăm Phôm Ma Lan (2015), Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Xan Xay, tỉnh At Ta Pư, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, đã
Trang 15khảng định vai trò quan trọng hàng đầu của chính quyền huyện đối với vấn đề
sử dụng đất đai Để quản lý tốt quỹ đất trên địa bàn huyện cần có quy hoạch
sử dụng đất, chế tài đối với các hoạt động sử dụng đất trên địa bàn tất cả cáchuyện chứ không thể chỉ ở một huyện nào Muốn QLNN đối với đất đai trênđịa bàn huyện nhất thiết phải có sự quản lý của cơ quan nhà nước hữu trách.Chính quyền huyện ngoài việc đưa ra quy hoạch sử dụng đất còn phải có kếhoạch sử dụng đất hàng năm và trên cơ sở đó có chính sách hạn chế tình trạng
sử dụng lãng phí đất đai và có chế tài mạnh đối với các hành vi lãng phí đất,
sử dụng đất sai mục đích
Phômma Phănthalăngsý (2002), trong công trình nghiên cứu “ Phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Khăm Muộn, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” đã đề cập thực trạng và giải pháp thúc đẩy sản xuất nông nghiệp
hàng hóa. Coi phát triển nông nghiệp hàng hóa là một trong những nội dunghết sức quan trọng của xây dựng nông thôn mới Muốn xây dựng nông thônmới thì không chỉ phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, phát triển nhân lực, xâydựng cộng đồng văn hóa mà nhất thiết phải coi trọng việc phát triển nôngnghiệp hàng hóa, coi đây là con đường duy nhất đúng để nâng cao sự pháttriển kinh tế - xã hội của địa phương và từ đó đời sống của người nông dânmới có thể cải thiện được
Bunthong Buahom (2010), trong tác phẩm “Khuyến nông là nhiệm vụ của toàn dân”, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Viêng Chăn đã cho biết ởCHDCND Lào, dân số sống ở nông thôn còn chiếm tỷ lệ lớn, số người sốngbằng nông nghiệp còn rất nhiều nên khuyến nông là một trong những giảipháp phát triển nông thôn mới Việc khuyến nông phải được triển khai khi cóchính sách thích đáng và đầy đủ
Bunthong Buahom (2012), trong cuốn “Phát triển nông lâm nghiệp một cách bền vũng”, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Viêng Chăn cho thấy giá trị đặc
Trang 16biệt quan trọng của phát triển nông lâm nghiệp trong quá trình xây dựng nôngthôn mới; đồng thời chỉ ra vai trò to lớn của QLNN đối với phát triển nônglâm nghiệp bền vững cũng như trong việc xây dựng nông thôn mới ởCHDCND Lào.
Bộ Nông Lâm nghiệp Lào (2010), trong báo cáo “Tổng kết kết hoạch pháttriển nông-lâm nghiệp giai đoạn (2006-2010)”, Bộ Nông Lâm nghiệp Lào(2013), Nhà xuất bản Nông nghiệp, Viêng Chăn và “Tổng kết kết hoạch pháttriển nông-lâm nghiệp giai đoạn (2010-2013)” đã cho biết việc phát triển nônglâm nghiệp phải gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới mới đem lạikết quả như mong muốn Nếu phát triển nông lâm nghiệp không gắn với côngcuộc xây dựng nông thôn mới thì dễ dẫn tới lãng phí vốn tài chính và có thểlàm chậm quá trình phát triển nông, lâm nghiệp và kinh tế tổng hợp ở khu vựcnông thôn
Phôm Ma (2001) trong công trình nghiên cứu “Nền kinh tế hàng hóa nông nghiệp của tỉnh Khăm Muộn trong giai đoạn hiện nay: thực trạng và giải pháp cũng như tác giả Phômma Phănthalăngsý đã đề cập ở trên cùng quan điểm cho rằng, việc phát triển nông nghiệp hàng hóa phải trên cơ sở hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn và không thể không gắn kết với việc xâydựng nông thôn mới
7.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Nguyễn Sinh Cúc, Đinh Phí Hổ, Hoàng Sĩ Kim, Đặng Kim Sơn, HoàngThu Hòa đều coi trọng phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Đồng thờinhấn mạnh vai trò quyết định của Nhà nước đối với công cuộc phát triển kinh
tế nông nghiệp, nông thôn Để phát triển nông nghiệp phải gắn với công cuộcphát triển nông thôn cũng như gắn với công cuộc đổi mới cơ cấu kinh tế nôngthôn theo hướng chuyển dần lao động nông nghiệp sáng làm việc trong khuvực phi nông nghiệp (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ)
Trang 17Nguyên Quốc Khanh, Bùi Thanh Tuấn, Kiêu Anh Vũ khi bàn về quản
lý nhà nước nhằm phát triển nông nghiệp bền vững đã nhấn mạnh vai tròQLNN đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam Vai trò đó thểhiện ở việc xác định đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn và ban hành
kế hoạch huy động vốn đầu tư, mở rộng thị trường, lôi kéo các nhà khoa học
và các nhà chế biến để phát triển nông nghiệp, nông thôn
Đỗ Hoàng Toàn, Mai Văn Bưu Phạm Kim Giao đã đề cập khá đầy đủ,toàn diện những vấn đề lý luận về QLNN đối với phát triển kinh tế ở ViệtNam Các ông chỉ rõ bản chất của QLNN là cơ quan hữu trách sử dụng công
cụ pháp luật để quản lý kinh tế ở cả cấp quốc gia và cấp địa phương
Phan Đại Đoàn, Phạm Kim Giao, Nguyên Văn Thụ, Pham Đại Doẵng,
Nguyên Quang Ngọc trong các công trình nghiên cứu “Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay - một số vấn đề và giải pháp” và QLNN về nông thôn
đã cho biết quản lý xã hội nông thôn có một nội dung quan trọng là phát triểnnông nghiệp, phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn gắn với xây dựng nôngthôn mới, xây dựng cộng đồng văn hóa
Nguyễn Văn Thụ, Đỗ Đức Viên, Vũ Trọng Khải khi nghiên cứu xã hội nông thôn dưới tác động đô thị hóa và tích tụ ruộng đất, Nhà xuất bản Đồng
Nai, 2009 đã chỉ ra rằng, muốn nông thôn có biến đổi theo hương mong muốnphải gắn với việc xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế hàng hóa chokhu vực nông nghiệp, nông thôn
Đỗ Đức Viên, Quy hoạch xây dựng và phát triển điểm dân cư nông thôn, Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội, 1997 đã cho thấy ý nghĩa to lớn của
việc gắn kết giữa xây dựng nông thôn mới với hoàn thiện các điểm dân cưnông thôn
- Tổng kết lý luận và thực tiễn quá trình phát triển nông nghiệp, nôngthôn Việt Nam qua các thời kỳ, có nghiên cứu của Đặng Kim Sơn, Hoàng
Thu Hòa, Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp và nông thôn (2002);
Trang 18Nguyễn Sinh Cúc, Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986 2002) (2003); Nguyễn Kế Tuấn, Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam con đường và bước đi (2006); Nguyễn Danh Sơn, Vấn
-đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại (Báo cáo tổng hợp) (2010) Những nghiên cứu này
cho rằng vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn, vai trò, mục tiêu của nótrong nền kinh tế quốc dân cũng như việc đem lại thu nhập cho người nôngdân là những nội dung mà chính sách cho nông nghiệp, nông dân, nông thôncủa Việt Nam hiện nay cần quan tâm
- Nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với nông nghiệp và phát triển
nông nghiệp có Luận án tiến sỹ của Hoàng Sỹ Kim, Đổi mới quản lý nhà
nước đối với nông nghiệp Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế (2007); Luận án tiến sỹ của Đoàn Tranh, Phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2010 - 2020 (2012) Các tác phẩm này không những làm rõ vị
trí, đặc điểm của nông nghiệp mà còn đi sâu vào phát triển nông nghiệp bềnvững, các chủ thể kinh tế nông nghiệp, các nguồn lực và sự tác động của tiến
bộ khoa học, yếu tố thị trường, chính sách phát triển cũng như quản lý nhànước về nông nghiệp Thể hiện rõ nhận thức lý luận về quản lý nhà nước đốivới nông nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, làm rõ những căn
cứ, nội dung đổi mới quản lý nhà nước về nông nghiệp trước yêu cầu hộinhập
Nguyễn Thế Nhà và Hoàng Văn Hoan khi nghiên cứu kinh nghiệm pháttriển nông thôn ở Thái Lan đã khẳng định vai trò quyết định của Nhà nước.Nhà nước phải đưa ra chủ trương phát triển nông thôn, nông nghiệp hànghóa và chính sách khuyến nông đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn
Rất tiếc các công trình nêu trên chưa nghiên cứu về quản lý nhà nướcđối với xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Xay Som Boun của CHDCND Lào
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.1.1 Nhận thức, quan niệm về nông thôn mới
a) Nông nghiệp là hoạt động phát triển nông sản đáp ứng nhu cầu của xã hội
ngày càng đa dạng, chất lượng cao hơn Đó là quá trình sản xuất ra lương thực, thực phẩm cung cấp cho con người và tạo ra của cải cho xã hội Nói cách khác, nông nghiệp là lĩnh vực sử dụng đất nông nghiệp, nước, các tài nguyên khác có liên quan để tạo ra những nông sản hàng hóa đáp ứng nhu cầu của thị trường và của khoa học công nghệ Đối với phát triển nông nghiệp nhà nước có vai trò quyết định bao trùm và doanh nghiệp và người nông dân, các nhà khoa học, các nhà chế biến, các ngân hàng, các nhà bảo hiểm có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Nông nghiệp là một trong những hoạt động kinh tế -xã hội chủ yếu ở khu vực nông thôn Khi đề cập tới vấn đề nông thôn thì có nhiều ý kiến khác nhau và ở những quốc gia khác nhau thì các ý kiến cũng khác nhau Song dù thế nào thì các quan niệm
về nông thôn chỉ mang tính chất tương đối, điều đó phụ thuộc vào đặc điểm cũng như các cách tiếp cận khác nhau về khái niệm nông thôn và quan niệm này cũng thay đổi theo thời gian Nhìn chung, hiện nay quan điểm được nhiều người thừa nhận và sử dụng thì nông thôn là khái niệm để phân biệt với đô thị mà ở nơi đó có cộng đồng dân
cư sinh sống chủ yếu là nông dân, làm nông nghiệp là chính; ở đây mật độ dân cư thấp hơn, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn thành thị… Tóm lại, nông thôn chính là nơi
ở, nơi cư trú của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó chủ yếu là nông dân Nông thôn là nơi nền sản xuất chủ yếu dựa vào nông nghiệp.
b) Nông thôn mới
Có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau về Nông thôn mới, dưới góc
độ nghiên cứu, học thuật thì chúng ta cần phải tìm hiểu về nhiều góc độ khác
Trang 20nhau Trong thời gian học tập, nghiên cứu ở Việt Nam, có nhiều ngày nghiêncứu về lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và cũng có nhiều tổ chức đưa ranhững khái niệm về nông thôn mới khác nhau Có quan điểm cho rằng nôngthôn mới trước hết phải là nông thôn, khác với nông thôn hiện tại và sau đó,cũng như nông thôn truyền thống Hay nói cách khác đó là khu vực phản ánhcác mối quan hệ kinh tế, xã hội mới, diện mạo mới ở khu vực nông thôn, nóbiểu hiện cho sự phát triển, hoàn thiện hơn ở khu vực nông thôn.
Theo như chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới ởViệt Nam thì họ coi việc xây dựng nông thôn mới là xây dựng cộng đồng xãhội văn minh, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng hoàn thiện, có cơcấu kinh tế hợp lý với các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến nhất Bên cạnh
đó thì tại Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 tại Hội nghịlần thứ 7 Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá X vềnông nghiệp, nông dân và nông thôn cũng xác định: nông thôn mới là khu vựcnông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, có cơ cấu kinh tế và cáchình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển côngnghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắcvăn hoá dân tộc, dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, hệthống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam được tăngcường Xây dựng nền nông nghiệp hiện đại phục vụ sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá
Ở nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, quan niệm về nông thôn mới
cơ bản cũng giống như ở Việt Nam Nhìn chung, các ý kiến thống nhất rằng,nông thôn mới là ám chỉ nông thôn với những sự phát triển tiến bộ hơn và tiến
bộ không ngừng mà trong đó cải thiện đời sống người dân được xem là vấn đềnòng cốt và then chốt Ở giai đoạn sau mức độ “mới” là cao hơn ở giai đoạntrước đó Nông thôn sẽ không ngừng mới mẻ và tiến bộ, nó không hề bị dừng
Trang 21lại đứng ở góc độ tiến bộ và giàu có hơn Nông thôn mới thể hiện rõ nhất ở các mặt chủ yếu:
- Có kinh tế phát triển hiệu quả, bền vững hơn; tạo ra sự thịnh vượngngày càng lớn hơn, đem lại cuộc sống ấm no hạnh phức và an sinh hơn cho ngườidân Nội dung cụ thể là có sự phát triển sản phẩm hàng hóa ngày càng lớn hơn
- Có hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, trong đó có nhà ở ngày càng phát triển tốt hơn
- Cộng đồng dân cư tiến bộ hơn, văn minh hơn và gắn kết hơn
- Gắn kết tốt với phát triển của các đô thị tạo ra sức mạnh tổng hợp cho quá trình phát triển của các huyện, các tỉnh và cho cả nước
Dù nói thế nào thì khi bàn về nông thôn mới cũng xoay quanh vấn đềnông nghiệp, sản xuất nông nghiệp và mở mang phát triển phi nông nghiệp củangười dân vùng nông thôn, các biện pháp, cách thức tiến hành để không ngừngnâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần củangười dân, đồng thời cũng tìm ra cơ chế, chính sách đảm bảo cho nông thôn mớichính là nông thôn mà trong đó đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của ngườidân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thànhthị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnhchính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới
Nông thôn mới phải là nông thôn trong trạng thái có kinh tế phát triểntoàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, pháttriển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch
vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trườngsinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảmbảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội Trên cơ sở đó có thể nhậnthấy các đặc trưng của nông thôn mới ở Lào được biểu hiện như: Nông thôn
có làng bản sạch sẽ, đẹp và có cơ sở hạ tầng hiện đại, có nền sản xuất nông
Trang 22nghiệp theo hướng phát triển hàng hoá, bền vững, đời sống vật chất và tinhthần của người dân khu vực nông thôn được nâng cao, gìn giữ được bản sắcvăn hoá của dân tộc.
c, Xây dựng nông thôn mới: Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách
mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xâydựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuấttoàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môitrường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinhthần của người dân được nâng cao Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệpcách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Nông thôn mớikhông chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp.Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tíchcực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp,dân chủ, văn minh Như vậy, có thể thấy rằng xây dựng nông thôn mới chính
là việc xây dựng người nông dân mới và nền nông nghiệp mới: Nông thôn mới = Nông dân mới + Nền nông nghiệp mới.
d, Yêu cầu của xây dựng nông thôn mới
Yêu cầu của quá trình xây dựng nông thôn mới là cần phải tiếp tục xâydựng và phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn tạo nền tảng kinh tế -
xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá,xây dựng và bảo vệ đất nước Trên cơ sở đó thì xây dựng NTM cần đảm bảoyêu cầu khách quan, bám sát thực tiễn và bám sát mục tiêu của xây dựngNTm chung của cả nước
1.1.2 Nhiệm vụ chủ yếu của việc xây dựng nông thôn mới ở nước CHDCND Lào
Nhìn chung nhiệm vụ hướng tới của dây dựng Nông thôn mới là:
Trên cơ sở khái niệm và một số đặc trưng cơ bản của nông thôn mớiđược nêu trên, có thể thấy một số nhiệm vụ mà vấn đề xây dựng nông thônmới ở Lào hướng tới là:
Trang 23- Thứ nhất, phát triển kinh tế có hiệu quả và bền vững (trước hết là
nông nghiệp hàng hóa, tiểu thủ công nghiệp hàng hóa và dịch vụ đáp ứng yêu cầuphát triển của cộng đồng dân cư nông thôn); xây dựng, tổ chức phát triển kinh tếnông thôn theo hướng từng bước văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc
văn hoá và môi trường sinh thái đem lại đời sống ấm no hạnh phúc cho ngườidân
Nông thôn chính là vùng tập trung sản xuất nông nghiệp chủ yếu, là địabàn tập trung các cư dân khu vực nông thôn Để xây dựng và phát triển nôngthôn theo hướng xây dựng nông thôn mới cần hướng các mũi nhọn trongquản lý làm sao xây dựng được mô hình hợp lý và tổ chức cuộc sống củangười dân theo hướng hiện đại, bắt kịp với cư dân thành thị về mức sống,chất lượng sống Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng phải đảm bảo giữ gìn và pháthuy tốt văn hoá truyền thống của người dân khu vực nông thôn, đảm bảo pháttriển kinh tế - xã hội, thúc đẩy sản xuất và các dịch vụ khác phát triển đi đôivới bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan khu vực nông thôn
- Thứ hai, phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội nông
thôn phù hợp với quy hoạch không gian xây dựng làng, bản Khu vực nông thôn ởLào hiện nay còn giữ được vẻ đơn sơ, các hệ thống đường xá, cầu cống, trạmđiện, trạm y tế, trung tâm văn hoá… còn chưa phát triển, chưa được chú trọng đầu
tư nhiều Phần vì sự quan tâm của nhà nước, của các cấp
còn chưa đúng mức, phần vì do hạn chế của điều kiện ngân sách nhà nước,ngân sách của mỗi tỉnh Chính vì vậy, trong thời gian tới, mục tiêu, nhiệm vụtrong xây dựng Nông thôn mới đề ra là làm sao đảm bảo xây dựng và hoànthiện, kiện toàn hệ thống hạ tầng kinh tế, xã hội về các mặt đường đi, cầu bắcqua các con sông, suối, trạm y tế, trung tâm văn hoá của người dân, hệ thốngnước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn, hệ thống đài phát thanh, truyềnhình… cần chú trọng phát triển đồng bộ, là nhân tố cơ bản thay đổi diện mạokhu vực nông thôn
Trang 24- Thứ ba, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và tổ chức tốt đời sống
văn hoá cơ sở Cư dân nông thôn vốn là những người lao động chủ yếu trong nôngnghiệp như chăn nuôi, trồng trọt, buôn bán nhỏ ở nông thôn… trình độ dân trí của họkhông cao, đa phần có trình độ học vấn thấp, tiếp xúc với văn hoá khoa học hiện đạicòn nhiều hạn chế Do đó chất lượng nguồn nhân lực chưa cao chủ yếu lao động thủcông, trình độ công nghiệp hoá, ứng dụng khoa học trong sản xuất nông nghiệp chưanhiều Chính vì vậy nhiệm vụ
của nông thôn mới là làm sao có thể tổ chức khoa học, không ngừng nâng caotrình độ dân trí, trình độ học vấn, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ vàosản xuất, đời sống nhân dân là yêu cầu cơ bản và cấp thiết Chỉ có như vậymới có thể tổ chức tốt được đời sống nhân dân ở cấp cơ sở, không ngừngnâng cao chất lượng cư dân nông thôn
- Thứ tư, xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu
của nền nông nghiệp hiện đại, sản xuất hàng hoá Đây có lẽ là nhiệm vụ cơ
bản và quan trọng nhất trong việc định hình nền sản xuất nông nghiệp theohướng hàng hoá, nâng cao chất lượng nông sản ở Lào Cùng với các nhiệm
vụ nêu trên thì việc làm sao để tổ chức được dây truyền sản xuất khoa học,linh hoạt và hợp lý, phù hợp với cư dân khu vực nông thôn là nhiệm vụ thenchốt Các hình thức tổ chức sản xuất phải đảm bảo tận dụng tối đa nguồn nhânlực hiện có, tạo them nhiều việc làm tại chỗ, tăng thu nhập cho người dân.Không những vậy, việc nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp, nâng caotrình độ tiếp nhận và ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, giúp chongười dân, doanh nghiệp đầu tư ở nông thôn có mối quan hệ qua lại, đảm bảolợi ích thực sử của người lao động và doanh nghiệp sử dụng lao động, gópphần phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn nông thôn
- Thứ năm, đổi mới quản lý nhà nước trên địa bàn theo hướng ngày càng
đem lại hiệu lực, hiệu quả cao hơn đối với phát triển nông thôn mới Cải cách
Trang 25hành chính là khâu then chốt trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở tỉnhXay Som Boun.
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước và quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới
Theo giáo trình quản lý học đại cương của Học viện Hành chính Quốcgia (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội – 2001, tr 18) thì “Quản lý là sự tác động
có tổ chức, có đích hướng của chủ thể lên các khách thể nhằm đạt được mụctiêu định trước”
Trên cơ sở khái niệm trên, chúng ta có thể đi đến khái niệm quản lý nhànước trên góc độ của khoa học quản lý như sau: Quản lý nhà nước (QLNN)
là một dạng của quản lý, chứa đựng bên trong nhiều kỹ năng thuộc về quản lýnhư mọi tổ chức khác đã vận dụng QLNN mang tính quyền lực nhà nước, nóhướng tới những đối tượng nhất định Theo cách hiểu chung nhất, đứng trêngóc độ quản lý công thì QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tínhquyền lực nhà nước
Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là một dạng của quản lýnhà nước Đã là quản lý nhà nước thì có chủ thể quản lý và đối quản lý Ở đâyđối tượng quản lý là hoạt động xây dựng nông thôn mới và chủ thể quản lý chính
là hệ thống các cơ quan nhà nước, đội ngũ cán bộ công chức được giao quyềnquản lý thông qua các chính sách, các quy định và các quyền được giao đi đôivới trách nhiệm của mình Hay nói cách khác: Quản lý nhà nước về xây dựngnông thôn mới là cách thức, biện pháp mà nhà nước, cụ thể là các cơ quan nhànước sử dụng các công cụ của mình, bộ máy của mình thông qua các công cụ,chính sách, nhân lực của mình để hoàn thành mục tiêu và định hướng đề ra trongviệc xây dựng nông thôn mới hiệu quả nhất trong từng gia đoạn cụ thể Như vậy,
có thể thấy có nhiều cách tiếp cận và cách hiểu khac
Trang 26nhau về QLNN đối với xây dựng nông thôn mới (xây dựng NTM) nhưng xéttrên góc độ của quản lý thì đó chính là cách thức Nhà nước tiến hành quản lýchung nhất, toàn diện nhất.
Tác giả cho rằng QLNN đối với xây dựng nông thôn mới là việc cơquan Nhà nước sử dụng bộ máy, công cụ của mình để thực hiện chức năngQLNN đối với xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thuộc trách nhiệm củamình theo sự phân công của Chính quyền trung ương và theo nội dung xâydựng nông thôn mới như tác giả đã đề cập ở trên
1.2.2 Mục đích của quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới
Mục đích cơ bản của QLNN đối với xây dựng nông thôn mới là để khuvực nông thôn có kinh tế phát triển hơn, hiệu quả hơn, bền vững trên cơ sởphát huy tốt nhất các tiềm năng, thế mạnh, lợi thế so sánh của địa phương Từ
đó nâng cao không ngừng đời sống của người dân trong địa bàn và góp phầnvào việc phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước Nói cách khác, QLNNđối với xây dựng nông thôn mới là làm cho các hoạt động phát triển kinh tế -
xã hội – môi trường trong địa bàn diễn ra có trật tự, hài hòa, cân đối và đạtđược hiệu quả tổng hợp cao; đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho ngườidân khu vực nông thôn
Đảm bảo cho hoạt động xây dựng nông thôn mới đi đúng định hướng,tránh những sai sót Đồng thời góp phần thực hiện hiệu quả các chỉ tiêu, mụctiêu đặt ra trong xây dựng nông thôn mới một cách hiệu quả và khoa học nhất,nhanh nhất Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu tài sản quốc gia sẽ có chứcnăng quản lý, vận hành và phân bổ các nguồn lực trong vấn đề xây dựng nôngthôn mới đạt hiệu quả cao nhất Đồng thời mục đích quản lý nhà nước vềnông thôn mới cũng chỉ ra rằng: Nhà nước can thiệp vào việc xây dựng nôngthôn mới thông qua các công cụ, chính sách, cơ chế vận hành và hành langpháp lý quan trọng để đảm bảo tối đa hoá các phúc lợi xã hội đối với người
Trang 27dân, thúc đẩy sản xuất phát triển, tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấukinh tế nói chung, chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp nói riêng; góp phầnchăm sóc sức khoẻ nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội ở các vùng nông thôn,phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao chấtlượng cuộc sống cho người dân vùng thôn bản.
Chủ thể của xây dựng nông thôn mới chính là các cơ quan quản lý nhànước ở trung ương và địa phương có chức năng và nhiệm vụ, quyền hạnđược quy định bởi các văn bản pháp luật của nhà nước, thực hiện nhiệm vụđược giao trong lĩnh vực xây dựng NTM ở những nơi, những vùng phụ trách
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới
Khi đề cập tới các nội dung của quản lý nhà nước về xây dựng nôngthôn mới chính là việc đề cập tới vấn đề trong việc xây dựng mục tiêu,chương trình nông thôn mới Đồng thời, nội dung quản lý nhà nước cũng cầnquản lý về đối tượng, nguồn lực, hệ thống và các tiêu chí cơ bản trong xâydựng nông thôn mới Bởi lẽ khi tiến hành xây dựng nông thôn mới thì nhànước không chỉ thực hiện việc xây dựng một vài con đường giao thông nôngthôn hay một vài trường học, bệnh xá nhỏ lẻ hoặc là đưa nước sạch về vùngnông thôn… xây dựng nông thôn mới chính là cách thức nhà nước triển khailàm mới nông thôn, phát triển đồng bộ khu vực nông thôn từ nhận thức đếnthực tiễn, từ thay đổi về đời sống vật chất lẫn tinh thần, thay đổi diện mạovùng nông thôn, rút ngắn khoảng cách với thành thị Như vậy, xây dựng nôngthôn mới chính là chương trình tổng thể các mặt của văn hoá, xã hội, kinh tế,
an ninh, quốc phòng… chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước Lào coi trọng xâydựng, phát triển nông thôn, tạo tiền đề, cơ sở thúc đẩy phát triển xã hội
Trong khuôn khổ nghiên cứu và thực tiễn ở nước CHDCND Lào hiệnnay, QLNN về xây dựng nông thôn mới tập trung vào một số nội dung chủyếu sau:
Trang 28- Thứ nhất, QLNN về mục tiêu, chương trình xây dựng nông thôn mới:
Để đảm bảo phát triển bền vững khu vực nông thôn, các mục tiêu vàchương trình xây dựng nông thôn mới phải được chỉ rõ và thực hiện một cáchnghiêm túc, đúng tinh thần chỉ đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào và nhànước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Trong các mục tiêu, phải đảm bảo thựchiện trên tinh thần của mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể ở mỗi giai đoạnnhất định Bên cạnh đó, các mục tiêu cũng cần phải căn cứ trên những nguồnlực của từng địa phương, tránh đề ra mục tiêu quá cao mà không thực hiệnđược hoặc mục tiêu quá thấp, không phản ánh đúng trình độ phát triển của địaphương Trên cơ sở mục tiêu, thì chương trình xây dựng nông thôn mới cũngcần có lộ trình hợp lý và nhất quán Quản lý nhà nước cần tập trung vào cácnội dung mà chương trình đã định trước, bám sát vào mục tiêu và chươngtrình thì sẽ đảm bảo hiệu quả của xây dựng nông thôn mới
Ở CHDCND Lào các mục tiêu đề ra trên cơ sở thực tiễn đất nước, bốicảnh phát triển chung ở khu vực nông thôn Trên cơ sở tham khảo và học hỏi môhình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam, hiện nay mục tiêu chung mà
Đảng và Nhà nước Lào đang hướng tới trong xây dựng nông thôn mới là:
Xây dựng cộng đồng xã hội văn minh, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xãhội ngày càng hoàn thiện; cơ cấu kinh tế hợp lý, các hình thức tổ chức sảnxuất tiên tiến; gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ và
du lịch; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo qui hoạch; từng bước thựchiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; Xây dựng xã hộinông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; trình độ dân tríđược nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ; Hệ thống chính trị cơ sởvững mạnh; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần củangười dân không ngừng được cải thiện và nâng cao
Như vậy, có thể thấy rằng: Chương trình mục tiêu quốc gia về xâydựng nông thôn mới là một chương trình phát triển nông thôn toàn diện và là
Trang 29chương trình khung định hướng các nội dung cần thiết phải thực hiện để xâydựng các xã, các bản đạt chuẩn nông thôn mới Chương trình sẽ được triển khaitrên địa bàn các xã, bản trong cả nước, nhằm xây dựng nông thôn phát triển toàndiện, bao gồm nhiều nội dung liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội,môi trường, hệ thống chính trị ở cơ sở và an ninh trật tự xã hội ở khu vực nôngthôn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhân dân cách
mạng Lào đã xác định: "Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại” Mục tiêu cụ thể của xây dựng nông thôn mới tuỳ thuộc vào từng tỉnh, từng vùng khác nhau ở mỗi địa
phương trong cả nước mà đặt ra Do mức độ phát triển không đồng đều giữa cácvùng, các tỉnh ngay trong khu vực nông thôn cũng khác nhau Trong điều kiệnmặt bằng chung khu vực nông thôn ở nước CHDCND Lào hiện nay thì các mụctiêu chung là định hướng cơ bản để bám vào đó triển khai thực hiện mục tiêuphát triển, xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại Từ đó hướng đến năm
2025 cơ bản hoàn thành mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới Chính vì
lẽ đó mà công tác QLNN đối với mục tiêu, chương trình xây dựng nông thônmới cần được chú trọng và đặc biệt quan tâm để đảm bảo sự phát triển đúnghướng, xây dựng nông thôn mới đúng với tinh thần chỉ đạo của Đảng và phápluật của Nhà nước
- Thứ hai, QLNN về đối tượng trong thực hiện xây dựng nông thôn mới:
Đối tượng trong thực hiện xây dựng nông thôn mới chính là tất cả các
cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình đều là đối tượng thực hiện các hoạtđộng của Chương trình xây dựng nông thôn mới Chính vì vậy mà công tácQLNN về đối tượng trong thực hiện xây dựng NTM cần được chú trọng vàquan tâm để đảm bảo đúng định hướng, đúng quy định của pháp luật, theođúng tinh thần của chương trình xây dựng nông thôn mới ở nước CHDCNDLào giai đoạn hiện nay Đồng thời, phát huy được sức mạnh, ưu điểm của tất
Trang 30cả các đối tượng và hạn chế những khuyết điểm, hạn chế trong sự nghiệp xâydựng nông thôn mới.
- Thứ ba, QLNN về nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới:
Nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới chính là các yếu tố cơ bảngóp phần thực hiện thành công trong công tác xây dựng nông thôn mới hiệnnay Khi đề cập đến nguồn lực chúng ta cần đặc biệt chú ý tới hai yếu tố cơbản đó là nhân lực và vật lực Bên cạnh đó các yếu tố này có thể được hiểu cụthể hơn ở từng bộ phận như nguồn lực về con người, nguồn lực về tài chính,nguồn lực về cơ chế, chính sách, nguồn lực hạ tầng kỹ thuật… tất cả nhữngnguồn lực đó nếu như được quản lý tốt sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển
và hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới Ngược lại, nếunhư các yếu tố về nguồn lực thiếu hoặc cản trở quá trình xây dựng nông thônmới thì sẽ làm ảnh hưởng lớn đến tiến độ, kế hoạch và tiêu chí trong xâydựng nông thôn mới Do vậy, để đảm bảo tận dụng tối đa mọi nguồn lực, côngtác QLNN cần bám sát và chủ động trong vấn đề tiếp cận và sử dụng cácnguồn lực nêu trên
- Thứ tư, QLNN về hệ thống tổ chức xây dựng nông thôn mới:
Hệ thống tổ chức xây dựng NTM là xây dựng hệ thống tổ chức chínhtrị xã hội vững mạnh ở các cấp khác nhau trong chương trình xây dựng nôngthôn mới Nó bao gồm bốn yếu tố cơ bản về tổ chức như: Cán bộ thực hiệntốt; có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở; Đảng bộ, chính quyềnđịa phương đạt trong sạch, vững mạnh; các tổ chức đoàn thể chính trị trong
xã, bản đều đạt tiên tiến Như vậy đây chính là các yếu tố cơ bản về hệ thống
tổ chức xây dựng nông thôn mới
Xây dựng Nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng lâu dài của toànĐảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Vì vậy, hệ thống tổ chức đoàn thểcần chú trọng công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, tổ chức tốt cácphong trào thi đua để vận động đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân
Trang 31hưởng ứng, chung tay, góp sức xây dựng Nông thôn mới bằng những việclàm cụ thể, thiết thực với chính bản thân, gia đình, thôn bản mình và góp phầncùng địa phương thực hiện tốt các tiêu chí Qua đó, cần có giải pháp cụ thể đểnâng cao và duy trì chất lượng hoạt động của hệ thống và các đoàn thể chínhtrị - xã hội để luôn đạt danh hiệu tiên tiến trở lên, nhằm cùng Đảng bộ, chínhquyền xã xây dựng Hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, góp phần thựchiện thành công công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay Trong đó, côngtác QLNN đối với các hệ thống, các bước tiến hành cần chú trọng, địnhhướng cụ thể và chính xác.
- Thứ năm, QLNN về các tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới:
Có nhiều cách tiếp cận và hiểu khác nhau về tiêu chí Theo cá nhân tácgiả thì: Tiêu chí (criterion) là các tiêu chuẩn dùng để kiểm định hay để đánhgiá một đối tượng, mà bao gồm các yêu cầu về chất lượng, mức độ, hiệu quả,khả năng, tuân thủ các qui tắc và qui định, kết quả cuối cùng và tính bền vữngcủa các kết quả đó Như vậy, tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới chính làcác quy định, các chuẩn mực về xây dựng nông thôn mới cần được thực hiện.Căn cứ vào đặc điểm tình hình chung cũng như tình hình cụ thể của từng địaphương sẽ có sự vận dụng và đặt ra các tiêu chí cho phù hợp Ở nướcCHDCND Lào, các tiêu chí về xây dựng NTM cơ bản giống như ở Việt Nam,
do có sự tương đồng về chế độ chính trị, về đặc điểm của cư dân nôngnghiệp, đa phần sinh sống ở nông thôn Hiện nay, Ở Lào các tiêu chí cũngđược chia thành các nhóm khác nhau và chia ra thành bộ tiêu chí chung của
cả nước Các nhóm tiêu chí cơ bản như: Nhóm tiêu chí về quy hoạch; về hạtầng kinh tế - xã hội; về kinh tế và tổ chức sản xuất; về văn hóa - xã hội - môitrường và về hệ thống chính trị Trên cơ sở các nhóm trên, sẽ chia ra thànhtừng tiêu chí cụ thể Trong công tác QLNN về xây dựng NTM các nhà quản
lý bám sát vào bộ tiêu chí đó để định hướng và đánh giá mức độ hoàn thànhhay chưa hoàn thành của từng địa phương trong xây dựng NTM
Trang 32Theo Quyết định 1980/QĐ-TTg, ngày 17/10/2016 của Thủ tướng chínhphủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc ban hành bộ tiêu chíđánh giá về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 đã chỉ rõ gồm 19 tiêu chí
cơ bản thể hiện 19 lĩnh vực quan trọng của một xã đạt chuẩn nông thôn mới.Trên cơ sở đó ở Lào cũng triển khai thực hiện theo bộ tiêu chí này Mỗi tiêuchí có một số chỉ tiêu phản ánh Đó là:
1 Quy hoạch (có quy hoạch và quy hoạch đã được công bố công khai)
2 Giao thông (có đường xã, đường từ trung tâm xã tới đường huyện
được nhựa hóa hay bê tông hóa đi lại thuận tiện quanh năm, đườngtrục thôn, bản, ấp ít nhất được cứng hóa; đường ngõ xóm sạch, khônglầy lội vào mùa mưa; đường trục chính nội đồng đảm bảo vận chuyểnhàng hóa thuận lợi quanh năm)
3 Thủy lợi (Tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới, tiêuchuẩn động đạt từ 80% trở lên; Đảm bảo đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu dân sinh vàtheo quy định của phòng chống thiên tai tại chỗ)
4 Điện (Hệ thống điện đạt chuẩn, Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên,
định; Tỷ lệ thôn, bản, ấp có nhà văn hóa hoặc nơi sinh hoạt văn hóa, thểthao phục vụ cộng đồng)
7 Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn (Xã có chợ nông thôn hoặc nơi mua bán, trao đổi hàng hóa)
Trang 338 Thông tin và truyền thông (Xã có điểm phục vụ bưu chính, Xã có dịch
vụ viễn thông, internet, Xã có đài truyền thanh và hệ thống loa đến các thôn, Xã cóứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành)
9 Nhà ở dân cư (không còn nhà tạm, dột nát, Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn theo quy định đạt quy định)
10 Thu nhập (Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đến năm
2020 (triệu đồng/người)
11 Hộ nghèo (Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 đạt chuẩn
theo quy định đối với từng vùng miền)
12 Lao động có việc làm (Tỷ lệ người có việc làm trên dân số trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động đạt chuẩn theo quy định)
13 Tổ chức sản xuất (Xã có hợp tác xã hoạt động theo đúng quy định củaLuật Hợp tác xã năm 2012; ã có mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nôngsản chủ lực đảm bảo bền vững)
14 Giáo dục và đào tạo (hổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, xóa mùchữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; phổ cập giáo dục trung
học cơ sở; Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục họctrung học (phổ thông, bổ túc, trung cấp); Tỷ lệ lao động có việc làm quađào tạo)
15 Y tế (Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy
định; Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế; Xã đạt tiêu chí quốc gia
về y tế; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiềucao theo tuổi)
16 Văn hóa (Tỷ lệ thôn, bản, ấp đạt tiêu chuẩn văn hóa theo quy định)
17 Môi trường và an toàn thực phẩm (Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệsinh và nước sạch theo quy định; Tỷ lệ cơ sở sản xuất - kinh doanh, nuôi trồng thủysản, làng nghề đảm bảo quy định về bảo vệ môi trường;
Trang 34Xây dựng cảnh quan, môi trường xanh - sạch - đẹp, an toàn; Mai tángphù hợp với quy định và theo quy hoạch; Chất thải rắn trên địa bàn vànước thải khu dân cư tập trung, cơ sở sản xuất - kinh doanh được thugom, xử lý theo quy định; Tỷ lệ hộ có nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nướcsinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo 3 sạch; Tỷ lệ hộ chăn nuôi có chuồngtrại chăn nuôi đảm bảo vệ sinh môi trường; Tỷ lệ hộ gia đình và cơ sởsản xuất, kinh doanh thực phẩm tuân thủ các quy định về đảm bảo antoàn thực phẩm
18 Hệ thống chính trị (Cán bộ, công chức xã đạt chuẩn, Có đủ các tổ chứctrong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định, Đảng bộ, chính quyền xã
đạt tiêu chuẩn "trong sạch, vững mạnh, Tổ chức chính trị - xã hội của
xã đạt loại khá trở lên, Xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy định,Đảm bảo bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình; bảo vệ và hỗtrợ những người dễ bị tổn thương trong các lĩnh vực của gia đình vàđời sống xã hội)
19 Quốc phòng an ninh (Xây dựng lực lượng dân quân “vững mạnh, rộngkhắp” và hoàn thành các chỉ tiêu quốc phòng, Xã đạt chuẩn an toàn về
an ninh, trật tự xã hội và đảm bảo bình yên: không có khiếu kiện đôngngười kéo dài; không để xảy ra trọng án; tội phạm và tệ nạn xã hội (matúy, trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút) được kiềm chế, giảm liên tục so vớicác năm trước)
Trong 19 nhóm tiêu chí về xây dựng NTM nêu trên, tuy đã đề cập tiêuchí thu nhập nhưng chưa đề cập một cách cụ thể tiêu chí về phát triển kinh tế:
cơ cấu ngành nghề, năng suất lao động, sản phẩm chủ lực Tác giả cho rằng,nếu đề cập rộng hơn, đầy đủ hơn về tiêu chí kinh tế thì rõ hơn mục tiêu xâydựng nông thôn mới
Việc đánh giá QLNN đối với xây dựng NTM nên có sự so sánh mứcđạt được của các tiêu chí và chỉ tiêu về NTM qua các năm thì hơn
Trang 35- Thứ sáu, QLNN về công tác tuyên truyên, vận động xây dựng NTM Xây dựng NTM là chương trình quốc gia rộng lớn, với những tiêu chí cơ
bản theo bộ tiêu chí quốc gia, với mục tiêu quốc gia và các bước tiến hành khoahọc cùng đội ngũ đông đảo các nhà quản lý, nhà khoa học, người nông dân,…chính vì vậy mà công tác tuyên truyền, vận động xây dựng NTM cần được đặtlên hàng đầu, bởi lẽ khi và chỉ khi người dân hiểu về nông thôn mới một cáchtường tận thì mới có thể tiến hành xây dựng thành công nông thôn mới Do tínhphức tạp của vấn đề cũng như đối tượng hướng tới của xây dựng NTM rất rộnglớn, nhiều tầng lớp khác nhau, hiểu biết và trình độ dân trí cũng khác nhau Vớimục tiêu làm sao cho tất cả mọi người đều hiểu và thực hiện chủ trương, chínhsách lớn của Đảng, Nhà nước về xây dựng NTM thì vai trò của công tác tuyêntruyền vận động đóng vai trò then chốt QLNN về công tác này cũng vậy, cầnphải có những quy định, thiết chế cụ thể với những điều kiện, chế độ hợp lý Qua
đó, người dân sẽ hiểu đúng đắn về chương trình, thay đổi nếp nghĩ, tư duy, khắcphục tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào nhà nước Từ đó phát huy tính tích cực, chủđộng và sáng tạo trong nhân dân, biến chương trình thành phong trà rộng lớntrong cả nước và trong từng địa phương
- Thứ bảy, tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc xây dựng NTM:
Nếu như không có kiểm tra, thanh tra, giám sát thì mọi hoạt động trong xãhội sẽ dần đi chệch định hướng định trước bởi tính phức tạp của xã hội Tronghoạt động xây dựng NTM cũng vậy, kiểm tra, giám sát giúp cho việc thực thichương trình một cách bài bản và đúng với chủ trương, chính sách, pháp luậtcủa Đảng và Nhà nước QLNN đối với công tác này chính là việc các Ban Chỉđạo, cơ quan quản lý nhà nước ở mỗi cấp tiến hành kiểm tra, giám sát để đánhgiá tình hình, tính hiệu quả, tính thực tiễn của đường lối, chủ trương, chính sách
đề ra ban đầu Công tác này được tiến hành đều đặn và hiệu quả sẽ là nhân tốphát hiện những khó khăn, vướng mắc trong quá trình
Trang 36thực hiện và kịp thời đề xuất biện pháp điều chỉnh, sửa chữa những sai sóttrong xây dựng NTM Về cáh thức tiến hành kiểm tra, giám sát theo định kỳhoặc đột xuất thông qua các Hội nghị đánh giá, báo cáo kết quả triển khai củacác đơn vị được phân công theo dõi, đôn đốc và phụ trách ngành và lĩnh vực
đó ở từng cấp, từng địa phương
Ở phương diện khác, QLNN đối với xây dựng NTM có nội dung chủyếu như sau:
a) QLNN đối với các hoạt động phát triển kinh tế: Các hoạt động kinh
tế trong việc phát triển, xây dựng nông thôn mới diễn ra hết sức phức tạp, trênnhiều lĩnh vực khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, ở cácngành nghề khác nhau có sự tác động khác nhau, điều đó cũng cần có biệnpháp quản lý khác nhau cho phù hợp Để thúc đẩy chương trình xây dựngNTM nhanh chóng hoàn thành, không ngừng triển khai các hoạt động sảnxuất, kinh doanh, phát triển các ngành nghề ở nông thôn, các dịch vụ trongsản xuất nông nghiệp… là cách tốt nhất và nhanh nhất để ổn định và nâng caochất lượng cuộc sống, nâng cao thu nhập cho nhân dân vùng nông thôn Đểtiến hành QLNN tốt đối với hoạt động kinh tế này thì cần có những chế tài cụthể, rõ ràng để quản lý, đưa các hoạt động đó vào khuôn khổ hành lang pháp
lý định sẵn, đồng thời cũng có những biện pháp, chủ trương, chính sách hỗtrợ, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phát triển để thúc đẩy kinh tế khuvực nông thôn phát triển
b) QLNN đối với các hoạt động phát triển dân số, lao động, văn hóa
xã hội, môi trường Đây được xem là các hoạt động cơ bản đảm bảo sự phát
triển toàn diện các mặt ở khu vực nông thôn Tất cả các lĩnh vực về dân số,lao động đều là những vấn đề hết sức nóng bỏng, có tác động trực tiếp đến đờisống, chất lượng cuộc sống của nhân dân, đặc biệt là khu vực nông thôn.Quản lý tốt sẽ hạn chế di cư tự do, quan tâm tới lao động, giải quyết việc làmcho nhân dân Khi thực hiện tốt các vấn đề này thì các vấn đề về văn hóa xã
Trang 37hội sẽ được điều chỉnh theo hướng tích cực Đồng thời, khi ý thức của ngườidân được nâng cao thì sẽ là điều kiện đảm bảo giữ được môi trường sinh thái.
c) QLNN đối với các hoạt động trật tự xã hội, an ninh quốc phòng: Vấn đề về an
ninh, an toàn trật tự xã hội có vai trò to lớn đối với sự ổn định và pháttriển của mỗi địa phương, nếu không có trật tự, an ninh thì khó có thể cóđược sự phát triển theo đúng nghĩa, nhất là về phát triển kinh tế, xã hội trongnhân dân QLNN nhằm đảm bảo rằng sẽ có định hướng, quy định các vấn đề,tạo ra các khuôn khổ pháp lý để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh, pháttriển trong xã hội, ở mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi quốc gia nhất định Vàđiều đó chỉ được thực hiện trên cơ sở tuân thủ hiến pháp và pháp luật
d) QLNN đối với các hoạt động hành chính Các hoạt động hành chính
luôn luôn diễn ra song hành cùng với các hoạt động kinh tế, xã hội khác trongcùng thời điểm, trên những địa bàn nhất định Các hoạt động này được thựchiện thông qua các cơ quan hành chính nhà nước, bởi hệ thống cán bộ côngchức nhà nước thực thi công vụ Như vậy, để cho hoạt động hành chính diễn
ra một cách thuận lợi, nhanh chóng thì các thủ tục hành chính, các văn bảnhành chính, các quan hệ hành chính… cần được tuân thủ và đơn giản, gọnnhẹ, đảm bảo hoạt động hiệu lực và hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực của hànhchính nhà nước Qua đó, sẽ phát huy được mặt tích cực, hạn chế những tiêucực, thủ tục rườm rà, tạo đà cho phát triển kinh tế, xã hội
1.2.4 Đánh giá quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới
1.2.4.1 Nhận thức về tầm quan trọng và nội dung của việc đánh giá quản lý nhà nước đối với xây dựng NTM
Để có thể có những đánh giá chính xác và khách quan về công tácQLNN đối với xây dựng NTM hiện nay ở nước CHDCND Lào là hết sức khókhăn Bởi lẽ, trong giai đoạn hiện nay mới là đang bắt đầu triển khai tiến hànhchương trình quốc gia về xây dựng NTM, chưa kết thúc và cũng chưa hoànthành Do đó, đây là vấn đề còn một số những vướng mắc nhất định Tuy
Trang 38nhiên, trong quá trình thực hiện chương trình xây dựng NTM ở mỗi giai đoạnđều cần có những đánh giá nhất định Việc đánh giá công tác QLNN về xâydựng NTM cần phải dựa vào các chỉ tiêu, các tiêu chí cơ bản để đánh giá, có nhưvậy mới đảm bảo tính chính xác và khách quan của vấn đề được đánh giá.
Xét về mục tiêu thì xây dựng NTM chính là làm cho khu vực nông thônhiện nay tốt hơn trong tương lai Tốt hơn trong tương lai dựa trên các mặt vềkinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, thu nhập và chất lượng cuộc sống khôngngừng được nâng cao của nhân dân vùng nông thôn Thế nhưng làm thế nào
để biết được quản lý nhà nước đối với xây dựng NTM như thế nào thì đó lại
là vấn đề nhìn nhận với góc độ quản lý các vấn đề trong xây dựng NTM Nhưvậy, trên góc độ lý thuyết, nghiên cứu thì đánh giá hiệu quả quản lý nhà nướcđối với xây dựng NTM chính là đánh giá hiệu quả phát triển kinh tế, xã hội vàcác mặt ở khu vực nông thôn Và đề đánh giá thì chúng ta cần phải nhìn nhậntrên hai phương diện cơ bản đó là những mặt đã đạt được và những mặt cònhạn chế Từ đó chỉ ra được nguyên nhân dẫn đến những thành công cũng nhưhạn chế đó để có biện pháp điều chỉnh trong thời gian tiếp theo Tuy nhiên,trong những năm qua kết quả đạt được trong việc thực hiện chương trình làchưa nhiều, cần có những điều chỉ trong giai đoạn tiếp theo đến năm 2020 và
2025 Về cơ bản, đánh giá công tác QLNN về xây dựng nông thôn mới cầnđược phân tích trên cơ sở một số tiêu chí chủ yếu sau:
Thứ nhất, sự chuyển đổi cơ cấu lao động, kinh tế theo hướng chuyển
dân sang khu vực dịch vụ trong nông nghiệp, cải thiện và gia tăng tốc độ pháttriển kinh tế khu vực nông thôn Đây được xem như là những dấu hiệu, tiêuchí cơ bản để khẳng định phát triển, xây dựng NTM đã và đang chiếm vị tríquan trọng trong bộ phận cư dân khu vực nông thôn và vùng nông thôn Côngtác QLNN đã định hướng, điều chỉnh các quan hệ kinh tế theo đúng chủtrương của Đảng nhân dân cách mạng Lào và Nhà nước Lào Đồng thời, các
cơ quan quản lý cũng đã có nhiều cơ chế, chính sách hạn chế tiêu cực, thúc
Trang 39đẩy các nhân tố mới góp phần thay đổi diện mạo kinh tế khu vực nông thôn.
Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch tại chỗ, theo hướng tích cực, không có sựdịch chuyển dân cư sang khu vực thành thị, mà dịch chuyển ngay tại địa bàn,góp phần giảm tải sức ép về dân nhập cư ra thành thị, khai thác có hiệu quảnguồn lực tại chỗ khu vực nông thôn Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số hạnchế trong việc chậm chuyển đổi cơ cấu lao động, dân cư trong sản xuất nôngnghiệp, dịch vụ trong nông nghiệp, thiếu cơ chế và chính sách cụ thể, ưu đãiđối với những cá nhân, hộ gia đình trong phát triển sản xuất nông nghiệp hànghoá ở địa phương để góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tắc sức phát triểncủa kinh tế khu vực nông thôn
Thứ hai, sự tăng lên về thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Tất cả các chính sách phát triển của nhà nước đều có điểm chung
hướng đến là nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, mà cách nângcao thiết thực nhất là làm tăng thu nhập của người dân Chương trình pháttriển, xây dựng NTM cũng không ngoại lệ, mục tiêu chung mà nhà nướchướng tới trong vấn đề xây dựng NTM mới chính là làm thay đổi bộ mặt khuvực nông thôn, nâng cao chất lượng cuộc sống của đa phần nhân dân sống ởnông thôn, tăng việc làm, nâng cao thu nhập của người dân Để làm đượcđiều đó các cơ quan quản lý nhà nước cần những đòn bảy, những chính sáchphát triển thúc đẩy sản xuất, tăng sản lượng nông nghiệp, xây dựng nền nôngnghiệp phát triển theo hướng hàng hoá Trên cơ sở đó triển khai xây dựng,phát triển hạ tầng giao thông vận tải, liên lạc, giải quyết vấn đề đầu ra cho sảnphẩm nông sản, là đầu mối ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nôngnghiệp, tháo gỡ khó khăn về vốn, nhân lực… Đây chính là nhân tố cơ bảnđảm bảo sự phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân vùngnông thôn QLNN đã và đang thực hiện có hiệu quả vai trò của mình Tuynhiên, để có thể có bước tiến vượt bậc, nâng cao nhanh và bền vững hơn thìtrong thời gian tới cần có nhiều chính sách và cơ chế thông thoáng hơn đặcbiệt là vấn đề tiếp cận vốn và kinh nghiệm, khoa học tiên tiến vào sản xuất
Trang 40Thứ ba, giảm số người nghèo và hộ nghèo, giảm tình trạng thất nghiệp.
Đây được xem là tiêu chí cơ bản phản ánh mức độ phát triển và trình độ quản
lý của nhà nước Nếu như thực hiện tốt tiêu chí nâng cao thu nhập, nâng caochất lượng cuộc sống của người dân thì đó chính là biện pháp hữu hiệu thựchiện tiêu chí giảm nghèo, giảm thất nghiệp trong nhân dân Hai tiêu chí này cóquan hệ mật thiết với nhau và là sự phản ánh lẫn nhau QLNN đối với xâydựng NTM chính là làm sao để thực hiện hiệu quả hai tiêu chí này Đánh giá
sự thành công hay thất bại trong xây dựng NTM thì chính là việc đi giải quyếtbài toán nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao thu nhập của nhân dân, tựnhiên sẽ giảm người nghèo, giảm thất nghiệp Vài trò của QLNN sẽ được thểhiện rõ nét khi các nhà quản lý đưa ra được các giải pháp thực hiện phù hợp
Thứ tư, giảm các vấn đề tệ nạn xã hội, an ninh, an toàn xã hội được bảo đảm Tiêu chí này là tiêu chí chung để đánh giá một xã hội phát triển theo
đúng nghĩa ở các nước phát triển, dân chủ và công bằng Chương trình xâydựng NTM hướng tới những điều tốt đẹp, xây dựng xã hội tốt đẹp ngay trênđịa bàn vùng nông thôn chậm phát triển, hạn chế về nhiều mặt Đánh giáQLNN đối với phát triển nông thôn mới dựa trên tiêu chí này sẽ phản ánhthực chất của phát triển Bởi lẽ, một môi trường, một xã hội phát triển là phảiđảm bảo được sự ổn định, an toàn và nhân văn Đồng thời, các tệ nạn xã hộigiảm chính là môi trường thúc đẩy sự phát triển xã hội lành mạnh, bởi mặttrái của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, phát triển thì mặt trái của
nó là những tệ nạn, sức ép về dân số, nhà ở… QLNN thực hiện tốt vai trò củamình chính là góp phần ổn định xã hội, phát triển bền vững Tuy nhiên, nếukhông quản lý tốt, không thực hiện được vai trò của mình thì đây chính làmầm mống nảy sinh và phát triển tiêu cực trong xã hội
Thứ năm, bảo đảm giữ vững môi trường sinh thái, cảnh quan và môi trường văn hoá khu vực nông thôn Đây là tiêu chí cốt lõi của phát triển nông
thôn mới Nếu như xây dựng NTM mà làm tổn hại đến môi trường sinh thái,