1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh lào cai

99 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 224,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều sinh viên coi các môn họcpháp luật trong trường đại học, cao đẳng chỉ là môn học phụ, thậm chí có nhữngsinh viên chưa phân biệt được hành vi hợp pháp với hành vi không hợp pháp, gi

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Mai Thị Lan Hương

Trang 2

TS Lê Anh Xuân

Mai Thị Lan Hương

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 7

1.1 Quan niệm về giáo dục pháp luật cho sinh viên trường đại học, cao đẳng 71.2 Quan niệm về tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên trườngđại học, cao đẳng 191.3 Các yếu tố bảo đảm tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viêntrường đại học, cao đẳng 25

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI 29

2.1 Khái quát chung các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai

và đặc thù sinh viên các trường đại học, cao đẳng 292.2 Thực tiễn tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên các trườngđại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai 372.3

các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai 60

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM TỔ CHỨC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI 66

3.1 Quan điểm bảo đảm tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viêncác trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai 663.2 Giải pháp đổi mới tổ chức giáo dục pháp luật cho sinh viên các trườngđại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai 69

KẾT LUẬN 90 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 4

GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

HSSV Học sinh sinh viên

PBGDPL Phổ biến giáo dục pháp luật

CBGV Cán bộ giáo viên

TCGDPL Tổ chức giáo dục pháp luật

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng học viên đã được đào tạo tại khoa Pháp lý từ ngày

thành lập đến nay 40

Bảng 2.2 Kết quả học tập môn Pháp luật 42

Bảng 2.3 Chương trình đào tạo môn học Pháp luật 45

Bảng 2.4 Chương trình đào tạo môn học Luật hành chính 47

Bảng 2.5 Kết quả rèn luyện của học sinh, sinh viên 59

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giáo dục pháp luật là một hoạt động có vai trò to lớn đối với sự phát triểntoàn diện của Việt Nam, trong đó có việc hình thành ý thức pháp luật và văn hóapháp lý trong nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ

Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ hội nhập thì việc giáodục pháp luật cho các đối tượng nói chung và cho sinh viên trường đại học, caođẳng nói riêng đã được coi là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu Các trường học đã xácđịnh đây là một hoạt động giáo dục quan trọng, cụ thể, không thể thiếu và gắn bóhữu cơ với hoạt động giáo dục nói chung, mang tính định hướng, có tổ chức, có chủđích của các chủ thể giáo dục pháp luật Thông qua các hoạt động giáo dục chínhkhóa và ngoại khóa, bằng các phương pháp giáo dục khác nhau nhằm trang bị trithức pháp luật cơ bản, định hướng, phát triển nhân cách và tư cách công dân, nângcao nhận thức, góp phần điều chỉnh hành vi, hình thành thói quen tự giác xử sựđúng pháp luật, có ý thức tuân thủ pháp luật và có tri thức pháp luật về chuyên mônnghiệp vụ, ngành nghề lĩnh vực mình được đào tạo

Thực tiễn cho thấy, giáo dục pháp luật trong các nhà trường, đặc biệt trongcác trường đại học và cao đẳng đã góp phần đào tạo nguồn nhân lực, hình thành mộtcách vững chắc những thế hệ công dân đáp ứng những yêu cầu của xã hội hiện tại

và tương lai Do đó, trong đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng vàNhà nước thường xuyên quan tâm đến hoạt động này thông qua việc ban hành cácloại nghị quyết, chỉ thị, trong đó xác định rõ muốn xây dựng và nâng cao ý thứcpháp luật cho nhân dân cần đưa việc giáo dục pháp luật vào các trường học, các cấphọc, từ phổ thông đến đại học, trung học chuyên nghiệp cùng toàn thể nhân dân

Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị vềmột số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới chỉ rõ cần:

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật với nhiều hìnhthức phong phú, sinh động, đặc biệt là thông qua các phiên toà xét xử lưu động vàbằng những phán quyết công minh để tuyên truyền, nâng cao ý thức pháp luật chocán bộ và nhân dân [1]

Trang 7

Chỉ thị số 32 - CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng vềtăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp

hành pháp luật của cán bộ, nhân dân đã khẳng định: “Phổ biến, giáo dục pháp luật

là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ

hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng” [2].

Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII cũng nhấn mạnh: “coi trọng công tác giáo dục tuyên truyền, giải thích pháp luật, đưa việc dạy pháp luật vào hệ thống các trường của Đảng, của Nhà nước (kể cả các trường phổ thông, đại học) của các đoàn thể nhân dân” [4].

Trên tinh thần ấy, các cơ quan chức năng đã phối hợp, từng bước triển khai việcđưa phổ biến, giáo dục pháp luật vào các trường học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.Đổi mới chương trình, mục tiêu giáo dục ở các hệ đại học, cao đẳng, trung học chuyênnghiệp và dạy nghề Trong các chương trình chính khóa, phổ biến, giáo dục pháp luậttrong nhà trường được thực hiện thông qua việc dạy và học các môn học pháp luật;pháp luật đại cương hoặc lồng ghép, tích hợp vào các môn học có liên quan Bên cạnh

đó, phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên được nhà trường thực hiệnthông qua các hoạt động ngoại khóa, giáo dục ngoài giờ lên lớp

Trong thời kỳ hiện nay, có rất nhiều học sinh, sinh viên có ý chí vươn lêntrong học tập, có hoài bão khát khao lớn Tuy nhiên, dưới tác động của nền kinh tếthị trường, kinh tế mở cửa, sự du nhập của nhiều nền văn hóa và do nhiều nguyênnhân khác, hành vi lệch chuẩn của thanh thiếu niên có xu hướng ngày càng tăng.Hiện tượng vi phạm pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự ngày càng trở thànhnhững vấn đề nhức nhối của xã hội Một số hành vi vi phạm pháp luật của sinh viênkhiến gia đình và xã hội lo lắng như: vi phạm giao thông, đua xe trái phép, cờ bạc,rượu chè, quay cóp bài… có lối sống hưởng thụ, chạy theo đồng tiền, xa hoa, lãngphí, lười lao động và học tập dẫn đến những hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hộinhư: cướp của, giết người, hiếp dâm Những hành vi ấy là hậu quả của giáo dụckhông đồng bộ giữa nhà trường, gia đình và xã hội Bên cạnh đó, trong thời giankhá dài, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên còn hạn chế, chưa thực

Trang 8

sự được quan tâm dẫn tới tình trạng vi phạm pháp luật trong giới trẻ nói chung vàsinh viên nói riêng có chiều hướng gia tăng Một tỷ lệ không nhỏ học sinh, sinh viêncòn hiểu về pháp luật một cách sơ sài, hời hợt Nhiều sinh viên coi các môn họcpháp luật trong trường đại học, cao đẳng chỉ là môn học phụ, thậm chí có nhữngsinh viên chưa phân biệt được hành vi hợp pháp với hành vi không hợp pháp, giữacác loại vi phạm pháp luật hành chính, dân sự, hình sự… dẫn đến hành vi vi phạmpháp luật một cách đáng tiếc.

Mặc dù những hạn chế nêu trên do nhiều nguyên nhân khác nhau tác độngnhưng trong đó không thể không kể đến việc nhận thức về vai trò, vị trí, tầm quantrọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở một số trường chưa đúng mức;chương trình nội dung giáo dục pháp luật cho sinh viên còn dàn trải, chưa thốngnhất; hình thức và phương thức giáo dục còn chậm đổi mới; hoạt động giáo dụcngoại khóa còn đơn điệu, thiếu hấp dẫn; đội ngũ nhà giáo và cán bộ làm công tácgiáo dục pháp luật còn thiếu cả về số lượng và chất lượng Thể hiện ở vấn đề nănglực của một số cán bộ, giảng viên chưa đáp ứng được nhu cầu trong công việc; cơchế phối hợp giữa các chủ thể giáo dục pháp luật còn thiếu đồng bộ… chính vì

những lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho

sinh viên trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai” để đưa ra một số

giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và ý thức pháp luật nóiriêng cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Phổ biến giáo dục pháp luật luôn giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội.Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay, hoạt động phổ biến giáodục pháp luật càng có vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.Đây là một trong những nội dung mà các nhà khoa học pháp lý đặc biệt quan tâm.Thể hiện qua các công trình nghiên cứu như:

- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong thời ký đổi mới Đề tài khoa học cấp Bộ, mã số 92 - 98 - 223 - ĐT của viện nghiên cứu khoa

học pháp lý - Bộ Tư pháp

Trang 9

- Bàn về giáo dục pháp luật, của tác giả Trần Ngọc Đường và Dương

Thanh Mai

- Giáo dục pháp luật trong các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề ở nước ta hiện nay, Luận án Phó tiến sĩ của Đinh Xuân Thảo, 1996.

- Xây dựng ý thức và lối sống pháp luật, do GS.TSKH Đào Trí Úc chủ biên, 1995.

- Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách, Nxb Tư pháp,

Hà Nội

- Đổi mới giáo dục pháp luật hệ đào tạo trung học chính trị ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Ngọc Hoàng, 2000.

- Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội ở nước ta, Đề

tài khoa học cấp Bộ, Hoàng Thị Kim Quế chủ nhiệm, năm 2002

- Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách, Nguyễn Đặng

Đình Lục, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2005

- “Sự hình thành ý thức pháp luật và giải pháp nâng cao ý thức pháp luật ở nước ta trong thời kỳ đổi mới” - Đào Duy Tấn, Nxb Chính trị Quốc gia, 2004;

- “Giáo dục pháp luật cho học viên ở trường bồi dưỡng nghiệp vụ công an

nhân dân” - Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tiến Công, 2013;

- “Chất lượng giáo dục pháp luật cho học viên ở trường sỹ quan lục quân 1

- Quân đội nhân dân Việt Nam” - Luận văn thạc sỹ của Trịnh Văn Hưng, 2014; Cho

đến nay có rất nhiều đề tài nghiên cứu xung quanh vấn đề về tổ chức

thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên Mỗi đề tài nghiên cứu, có các cách tiếpcận và mục tiêu khác nhau Tuy nhiên, chưa có một tác giả nào nghiên cứu cơ bản

về tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học và caođẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai Vì vậy, tác giả đã nghiên cứu có hệ thống và tươngđối hoàn thiện về tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đạihọc, cao đẳng trên địa bàn tỉnh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Trên cơ sở phân tích lý luận và đánh giá thực trạng GDPL cho

sinh viên các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai, luận văn đề xuất

Trang 10

một số giải pháp nhằm bảo đảm tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn xác định các nhiệm

vụ nghiên cứu như sau:

- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận tổ chức thực hiện GDPL cho sinh viên cáctrường đại học và cao đẳng

- Nghiên cứu, đánh giá về thực trạng tổ chức thực hiện GDPL cho sinh viêncác trường đại học và cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai, chỉ ra kết quả, hạn chế và nguyên nhân

- Đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện GDPL chosinh viên các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về tổ chức thực

hiện GDPL cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Caidưới góc độ Quản lý Hành chính công

- Phạm vi nghiên cứu: Công tác tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho

sinh viên trường đại học và cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong khoảng 10 nămtrở lại đây

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận

là lý luận Mác - Lê nin với phép biện chứng duy vật khoa học và biện chứng khoahọc lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng những quan điểm cơ bản của ĐảngCộng sản Việt Nam về việc đề cao vai trò của pháp luật trong xây dựng nhà nướcpháp quyền; đề cao nhân tố con người, đào tạo con người phát triển toàn diện phục

vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu

cụ thể: phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử - cụ thể; phươngpháp khảo sát thực tế…

Trang 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận có liên quan đến hoạt động tổ chức thựchiện giáo dục pháp luật cho sinh viên, chỉ rõ đặc thù của GDPL cho sinh viên

trường đại học, cao đẳng

- Luận văn có giá trị tham khảo đối với các cơ quan nhà nước, các trườngđại học, cao đẳng trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện GDPL cho cho sinh

viên nói chung, sinh viên trường đại học, cao đẳng nói riêng

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy về GDPL tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu pháp luật

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên trường đại học, cao đẳng

Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

1.1 Quan niệm về giáo dục pháp luật cho sinh viên trường đại học, cao đẳng

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm sinh viên các trường đại học, cao đẳng

Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp Ở đó họđược truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau nàycủa họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học

Sinh viên các trường các trường đại học, cao đẳng là một bộ phận thanh niêncủa cả nước, là lực lượng thanh niên tương lai hùng hậu trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa Sau khi ra trường họ sẽ làm việc trong các cơquan, tổ chức, đơn vị trong hầu hết các ngành nghề của xã hội

Xét dưới góc độ đối tượng để giáo dục pháp luật thì sinh viên các trường đạihọc, cao đẳng có các đặc điểm cơ bản sau:

Một là, sinh viên hầu hết có động cơ học tập, rèn luyện đúng đắn và xu

hướng nghề nghiệp rõ ràng, có khả năng nhận thức nhanh

Để được học tập, rèn luyện tại các trường đại học, cao đẳng, mọi sinh viên phảitrải qua quá trình nỗ lực phấn đấu, được lựa chọn và trải qua thi tuyển nghiêm túc, chặtchẽ Những thí sinh có đủ điểm trúng tuyển, được gọi nhập học và được công nhận làsinh viên đại học, cao đẳng theo mô hình, mục tiêu đào tạo của từng trường đều nhậnthức đầy đủ giá trị của sự phấn đấu của bản thân, từ đó xây dựng động cơ, thái độ tráchnhiệm học tập, rèn luyện đúng đắn, xác định xu hướng nghề nghiệp rõ ràng

Hơn nữa, kết quả, chất lượng học tập, rèn luyện của sinh viên ở các trườngđại học, cao đẳng sẽ liên quan trực tiếp đến việc sắp xếp, bố trí sử dụng, cân nhắc đềbạt đội ngũ đó khi tốt nghiệp ra trường Do vậy, mỗi sinh viên đều có động lựcmạnh mẽ, trực tiếp thôi thúc họ học để làm việc, trở thành người có ích Mặt khác,sinh viên các trường đại học, cao đẳng được sinh ra, lớn lên trong thời kỳ đấ

Trang 13

thuận lợi để học tập, lĩnh hội tri thức, tiếp thu những kiến thức pháp luật ở trườnghọc cũng như qua các kênh thông tin, truyền thông để tiếp cận những vấn đề mới.Khả năng nhận thức, ý thức tự lập, tự chủ cao hơn các thế hệ trước Đó là điều kiệnthuận lợi cho việc bồi dưỡng GDPL, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của cáctrường đại học, cao đẳng.

Hai là, sinh viên các trường đại học, cao đẳng là một nhóm xã hội dân cư có

tính phức hợp rất cao, hàm chứa trong đó nhiều sự đa dạng về độ tuổi, giới tính, tâmlinh và các mô hình ứng xử và lựa chọn xã hội Bởi lẽ nó hàm chứa trong đónhững cá thể ở độ tuổi trưởng thành có nguồn gốc xuất thân từ nhiều vùng miền,dân tộc, khác nhau, thuộc mọi giai tầng trong xã hội dưới sự tác động của nhiềuđịnh hướng ý thức hệ, tư tưởng, truyền thống, mô hình ứng xử và với nhiều loại thóiquen, tập tục khác nhau Vì vậy, trong nghiên cứu về giáo dục pháp luật đối với sinhviên cần phải đặc biệt lưu ý đến tính phức hợp và tính đa dạng cao của nhóm xã hội

- dân cư này, đồng thời phải luôn luôn đặt nhóm đó trong mối liên hệ với các nhóm

xã hội - dân cư, hoặc những cộng đồng dân cư khác nhau để xem xét, tham chiếu

Thứ ba, tính trẻ, năng động, ưa thử nghiệm và dễ phạm sai lầm và xung đột với

thế hệ đi trước cũng là đặc điểm chung của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ởmọi thời đại, mọi quốc gia - dân tộc Cái chung, cái thống nhất căn bản nhất của “sinhviên” chính là ở tuổi trẻ, ở độ tuổi “thanh niên” Trong cuộc đời của mỗi con người thìtuổi sinh viên có ý nghĩa vô cùng quan trọng Xét từ góc độ tâm - sinh lý thì

đây là giai đoạn con người chuyển biến từ một đứa trẻ thành một người trưởng thànhvới sự hoàn thiện cơ thể về mặt sinh học và những chuyển biến về tâm - sinh lý, tìnhcảm rất điển hình của “tuổi dậy thì” Xét từ góc độ “con người - xã hội” thì tuổi thanhniên chính là giai đọan mỗi con người chuẩn bị hành trang cho toàn bộ cuộc đời mình:học vấn, nghề nghiệp, thử nghiệm và lựa chọn văn hóa, kinh nghiệm, lối sống trên cở

sở định hình dần hệ giá trị của riêng mình, trở thành công dân thực thụ với đầy đủnhững quyền lợi và nghĩa vụ do luật định Tuy nhiên, vì họ là thế hệ của những ngườitrẻ tuổi, là sản phẩm đích thực của thời đại mà họ đang sống chứ không phải thuần túychỉ là sản phẩm đào tạo, bồi dưỡng của thế hệ đi trước Vì vậy họ là

Trang 14

lớp người vô cùng năng động, luôn luôn chủ động, tích cực trong việc chuẩn bịhành trang cho tương lai của bản thân mình và của quốc gia - dân tộc Bên cạnhnhững gì họ bị ảnh hưởng do tiếp nhận những sự trao truyền, giáo dục của thế hệ đitrước thì họ luôn luôn có lựa chọn của riêng mình và thế hệ mình Ngoài ảnh hưởngcủa thế hệ “cha chú” trong cộng đồng gia đình hay quốc gia - dân tộc, trong thời đạitoàn cầu hóa, họ còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố văn hóa, tri thức, kinhnghiệm, giá trị và lựa chọn của các cộng đồng và cá nhân khác trên thế giới.

Xuất phát từ lý do này, sinh viên các trường đại học, cao đẳng thường có xuhướng thử nghiệm nhiều khả năng, nhiều lựa chọn, ngay cả khi họ còn chưa đượcchuẩn bị đủ tốt cho những thử nghiệm đó, vì đối với họ, dù có phạm sai lầm vẫn cóthời cơ làm lại, thử nghiệm lại Hơn nữa, phần đông sinh viên thường có xu hướngkiểm chứng lại những lựa chọn, chế định và quan niệm của thế hệ đi trước, thậm chí

cố tình phủ nhận, làm khác, coi đó như một phương thức để khẳng định tư cách

“người lớn” của mình Đó là nguyên nhân thường dẫn đến những “lệch chuẩn”trong suy nghĩ, nhận thức và hành động của sinh viên

Bốn là, sinh viên được học tập, rèn luyện trong môi trường chính quy, mẫu

mực, hoạt động trong hệ thống tổ chức hết sức chặt chẽ Các trường đại học khôngchỉ là nơi đào tạo, bồi dưỡng thanh niên mà còn là những đơn vị mẫu mực, tiêu biểu

về quản lý, rèn luyện kỷ luật, xây dựng nếp sống chính quy Trong những năm gầnđây, các trường đại học luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, đầu tư cơ sở vật chất,xây dựng hệ thống giảng đường hiện đại; đội ngũ cán bộ giảng viên được đào tạo cơbản, trình độ mọi mặt được nâng

trường đại học, cao đẳng càng có điều kiệnthuận lợi để bồi dưỡng GDPL, rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật cho học viên

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm giáo dục pháp luật cho sinh viên trường đại học, cao đẳng

1.1.2.1 Khái niệm

Theo từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng năm 1997) thì “Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp

Trang 15

hay thông qua hình thức nào đó” [35, tr.3] hoặc làm cho mọi người đều biết đến, còn “Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội” [35, tr3].

So với phổ biến thì giáo dục cũng nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm songnội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng xác định hơn,mục đích lớn hơn Xét dưới góc độ nhất định thì phổ biến chính là các phương thứcgiáo dục cụ thể

Trong các tài liệu khoa học về pháp luật ở nước ta hiện nay, các tác giả đã kháthống nhất với khái niệm giáo dục pháp luật: Giáo dục pháp luật là hoạt động có địnhhướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dụcmột cách có hệ thống và thường xuyên, nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức phápluật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành

Theo cách hiểu chung nhất về giáo dục pháp luật có hai nghĩa:

- Theo nghĩa hẹp: Giáo dục pháp luật là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng

nhằm nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ýthức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng

- Theo nghĩa rộng: Giáo dục pháp luật là một khâu của hoạt động tổ chức

thực hiện pháp luật, là hoạt động định hướng có tổ chức, có chủ định thông qua cáchình thức giáo dục, thuyết phục, nêu gương nhằm mục đích hình thành ở đốitượng tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi xử sự phù hợp với các đòi hỏi của hệthống pháp luật hiện hành với các hình thức, phương tiện, phương pháp đặc thù

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả đồng ý với khái niệm chungnhất: “

”.

Trang 16

Từ phân tích trên có thể hiểu giáo dục pháp luật cho sinh viên trường đại học,

cao đẳng là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể GDPL, tác động một cách có hệ thống và thường xuyên, tinh thần, nội dung pháp luật nhằm mục đích giúp cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng hiểu và hình thành

ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành.

GDPL với ý nghĩa là một dạng giáo dục đặc thù, có vị trí độc lập tương đối,được hiểu là hoạt động cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm, thái độ đúngđắn với pháp luật một cách có định hướng, có tình cảm, có chủ định lên mỗi thành viêncủa xã hội, nhằm hình thành một cách bền vững ý thức pháp luật luật và những thóiquen tích cực trong mọi hành vi xử thế của công dân trong đời sống xã hội

1.1.2.2 Đặc điểm

Một là, giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng trước

hết là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng

Hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng làmột bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là trách nhiệm của toàn bộ hệthống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự điều phối, tổchức thực hiện của các cơ quan nhà nước và các tổ chức, đoàn thể Chính vì thế,việc giáo dục pháp luật đối với sinh viên các trường đại học, cao đẳng luôn có vị trí

và vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩahiện nay, là khâu then chốt, quan trọng để chủ trương, chính sách của Đảng, phápluật của nhà nước thực sự đi vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức, hành động củatừng cá nhân sinh viên trong xã hội Hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng phải

Trang 17

luôn thấm nhuần quan điểm chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trongnhận thức và hành động của mỗi người dân nói chung và thế hệ thanh niên và sinhviên các trường đại học, cao đẳng nói riêng Và các quy định pháp luật chính là sự

cụ thể hóa quan điểm chủ nghĩa Mac - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cũng nhưđường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam mỗi thời kỳ Chính vì thế, khigiáo dục pháp luật đối với sinh viên các trường đại học, cao đẳng cũng chính là mộthoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng Chỉ thị số 32 - CT/TW ngày 09/12/2003 củaBan Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tácgiáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân (Chỉthị số 32 - CT/TW) đã khẳng định: “Phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phậncủa công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trịđặt dưới sự lãnh đạo của Đảng”

Thứ hai, giáo dục pháp luật đối với sinh viên các trường đại học, cao đẳng có

mối liên hệ chặt chẽ với công tác xây dựng, thực hiện pháp luật

Nếu không nhận thức đầy đủ vị trí quan trọng và không thực hiện tốt côngtác giáo dục pháp luật thì dù công tác xây dựng pháp luật có làm tốt đến mấy cũngkhông đạt được hiệu quả thực thi pháp luật Giáo dục pháp luật là cầu nối để chuyểntải pháp luật vào cuộc sống Nói cách khác, quá trình đưa pháp luật vào cuộc sốngđược bắt đầu bằng hoạt động tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật Thực hiện phápluật dù bằng hình thức nào - tuân thủ, thi hành (chấp hành) pháp luật, sử dụng (vậndụng) pháp luật hay áp dụng pháp luật

Pháp luật của Nhà nước không phải khi nào cũng được mọi người trong xãhội biết đến, tìm hiểu, đồng tình ủng hộ và thực hiện nghiêm chỉnh Tuy rằng, bảnchất pháp luật của Nhà nước ta là tốt đẹp, nó phản ánh ý chí, nguyện vọng, mongmuốn của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội Tuy nhiên, dù những quyđịnh pháp luật có tốt đẹp nhưng không được nhân dân biết đến thì vẫn không đi vàocuộc sống Chính vì vậy giáo dục pháp luật chính là phương tiện truyền tải nhữngthông tin, những yêu cầu, nội dung và các quy định pháp luật đến với thanh niên nóichung sinh viên các trường đại học, cao đẳng nói riêng, giúp cho sinh viên các

Trang 18

trường hiểu biết, nắm bắt pháp luật kịp thời mà không mất quá nhiều thời gian, côngsức cho việc tự tìm hiểu, tự học tập Đó chính là phương tiện hỗ trợ tích cực để nângcao hiểu biết pháp luật cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng Từ đó giúp chosinh viên các trường đại học, cao đẳng có những nhận thức đúng đắn để tránh viphạm pháp luật Đặc biệt, với sinh viên các trường đại học, cao đẳng - lứa tuổi cònchưa có sự nhận thức chín chắn, hành động đôi khi còn theo cảm tính, nông nổi cóthể dễ lôi kéo vào con đường phạm pháp.

Ba là, quá trình giáo dục được tiến hành trong một trật tự nghiêm túc, đây là

điều kiện tiên quyết trong giáo dục của nhà trường, có tác động mạnh mẽ đến việc hìnhthành ở sinh viên ý thức kỷ luật, tính tổ chức và tinh thần đoàn kết cao Đó là nhữngyếu tố rất gần gũi với mục tiêu GDPL, tạo ra những khả năng lớn cho việc vận dụng, ápdụng những hình thức giáo dục mang tính tổng hợp, có hiệu quả giáo dục cao

Bốn là, giáo dục pháp luật đối với sinh viên các trường đại học, cao đẳng đòi

hỏi phải sự dụng các phương pháp, hình thức giáo dục pháp luật phù hợp với trình

độ, sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc điểm về nhận thức, lối sống, văn hóacủa sinh viên các trường đại học, cao đẳng Bởi lẽ, về nguyên tắc, chủ thể giáo dụcpháp luật phải căn cứ vào mục đích, nội dung chương trình và đặc biệt là đặc điểmđối tượng tiếp nhận để lựa chọn và sử dụng phương pháp, hình thức giáo dục phápluật sao cho phù hợp Điều đó cũng có nghĩa là “trang bị cái mà đối tượng của giáodục cần chứ không phải là trang bị cái mà nhà giáo dục pháp luật có” Với đối tượnggiáo dục pháp luật là sinh viên các trường đại học, cao đẳng - là những người chủtương lai của đất nước, những người sống trong môi trường quy củ, năng động, sángtạo dễ dàng tiếp thu sự tiến bộ của khoa học công nghệ, có lối sống tác phong côngnghiệp vì vậy, cần đặc biệt quan tâm giáo dục, rèn luyện họ trở thành những conngười phát triển toàn diện, có kiến thức pháp luật và trách nhiệm công dân cao Bêncạnh những phương pháp giáo dục pháp luật truyền thống cần tăng cường áp dụngcác phương pháp hiện đại, có sử dụng công nghệ để tác động nhanh vào nhận thứccủa sinh viên các trường đại học, cao đẳng Sinh viên các trường đại học, cao đẳng

đa số là những người có khả năng tiếp thu nhanh các văn bản pháp luật vì vậy chủthể giáo dục pháp luật cần có nhiều hình thức để phù hợp với từng loại đối tượng

Trang 19

Năm là, nội dung giáo dục pháp luật trong các trường đại học, cao đẳng là

truyền đạt những kiến thức pháp luật và các quy định của hệ thống pháp luật hiệnhành, đặc biệt là những kiến thức pháp luật về lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bồidưỡng tình cảm và hành vi hợp pháp cho sinh viên

1.1.3 Mục đích của giáo dục pháp luật cho sinh viên trường đại học, cao đẳng

Việc xác định mục đích cụ thể của giáo dục pháp luật nói chung và giáo dụcpháp luật đối với sinh viên nói riêng phải đảm bảo phản ánh được các nhu cầu cụthể của xã hội, phù hợp các điều kiện khách quan, chủ quan trong từng thời kỳ đểcho mục đích đó có thể trở thành hiện thực Đồng thời, bản thân mục đích nàykhông thể là sự xác định chủ quan “duy ý chí” mà phải phản ánh được trong nó hiệnthực tiến hành công tác giáo dục pháp luật, phải có quan hệ trực tiếp với công tácnày Từ đó, việc xác định đúng đắn mục đích phổ biến, giáo dục pháp luật đối vớisinh viên sẽ giúp ích cho việc xác định nội dung, hình thức, biện pháp tổ chức thựchiện giáo dục pháp luật, nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục pháp luật nóichung và giáo dục pháp luật đối với sinh viên các trường đại học, cao đẳng nóiriêng Vì vậy, căn cứ vào các đòi hỏi khi xác định mục đích giáo dục pháp luật,nhiều nhà nghiên cứu thống nhất các mục đích cơ bản sau đây:

Thứ nhất, hình thành và từng bước mở rộng hệ thống tri thức pháp luật cho

sinh viên các trường đại học, cao đẳng

Thông qua việc tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật, sinh viên được trang bịnhững tri thức cơ bản về pháp luật như giá trị của pháp luật, vai trò điều chỉnh củapháp luật, các chuẩn mực pháp luật trong từng lĩnh vực đời sống Hình thành trithức pháp luật là nền móng cơ bản để xây dựng tình cảm pháp luật, là nền tảng giúpsinh viên biết cách hành động phù hợp với các chuẩn mực đặt ra

Trên cơ sở kiến thức pháp luật được trang bị, từng bước mở rộng và làm sâu sắctri thức pháp luật, giúp thanh niên am hiểu hơn về pháp luật và biết cách đánh giá mộtcách đúng đắn các hành vi pháp lý Tri thức pháp luật góp phần định hướng cho lòngtin đúng đắn vào các giá trị của pháp luật, tạo cơ sở hình thành hành vi hợp pháp

ở mỗi cá nhân Tri thức pháp luật giúp sinh viên điều khiển, kiềm chế hành vi của mình trên cơ sở các chuẩn mực pháp lý, tri thức pháp luật đã nhận thức được

Trang 20

Thứ hai, hình thành, bồi dưỡng, phát triển niềm tin pháp luật cho sinh viên

các trường đại học, cao đẳng

Niềm tin vào pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng hành

vi Lòng tin vững chắc vào pháp luật là cơ sở để hình thành động cơ của hành vihợp pháp Trong cuộc sống, có nhiều trường hợp những người có kiến thức phápluật nhưng không có lòng tin vào pháp luật, sẵn sàng chà đạp lên pháp luật, lợi dụng

kẽ hở của pháp luật để trục lợi Vì vậy, khi thanh niên tin vào tính công bằng củanhững đòi hỏi của quy phạm pháp luật thì không cần một sự tác động bổ sung nàocủa Nhà nước để thực hiện những đòi hỏi đó Có lòng tin vào tính công bằng củapháp luật, con người sẽ có hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật một cáchđộc lập, tự nguyện

Thứ ba, giáo dục ý thức nhân cách, rèn luyện thói quen, hành vi tuân thủ

pháp luật cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng

Tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật là nhằm hình thành ý thức pháp luậtcho sinh viên Kết quả cuối cùng của giáo dục pháp luật phải được thể hiện ở hành

vi xử sự phù hợp pháp luật của mỗi sinh viên Giáo dục tri thức pháp luật, bồidưỡng niềm tin pháp luật là tiền đề để giáo dục ý thức nhân cách rèn luyện thóiquen, hành vi tuân thủ pháp luật hình thành động cơ và hành vi tích cực pháp luật

Tóm lại, giữa các mục đích có quan hệ qua lại thống nhất chặt chẽ, từ ý thứcpháp luật đến tính tự giác, từ tính tự giác tới tính tích cực, từ tính tích cực đến thóiquen xử sự theo pháp luật và từ thói quen hành động, sử dụng pháp luật lại xuấthiện nhu cầu lĩnh hội tri thức pháp luật Nếu giáo dục pháp luật được tiến hành thỏamãn cả ba mục đích này thì từ chỗ là yếu tố tác động từ bên ngoài đối với đối tượng,

nó sẽ trở thành nội tâm của chính đối tượng Đây là một đòi hỏi rất quan trọng màcông tác giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật cho sinh viên nói riêngphải đáp ứng

1.1.4 Vai trò của giáo dục pháp luật cho sinh viên trường đại học, cao đẳng

Tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học, caođẳng có vị trí, vai trò quan trọng, cụ thể như sau:

Trang 21

Một là, GDPL trang bị cho sinh viên hệ thống tri thức về pháp luật đồng thời

bồi dưỡng tình cảm và thói quen tuân thủ pháp luật ở sinh viên GDPL giúp sinhviên nâng cao hiểu biết về pháp luật, hình thành thói quen sống và làm việc theoHiến pháp và pháp luật, biết cách xử sự hợp pháp, chủ động phòng ngừa, ngăn chặncác hiện tượng vi phạm pháp luật, điều lệnh, quy định, quy chế, đặc biệt là quy chếhuấn luyện, lễ tiết, tác phong…đồng thời giúp sinh viên tự ý thức về mình một cáchđúng đắn Họ có thể tự kiểm tra, tự nhận thức, xét đoán về những suy nghĩ, hành vi,ứng xử pháp luật của mình đối với xã hội và tập thể

GDPL trực tiếp góp phần xây dựng động cơ, hành vi đúng đắn cho sinh viên trong quá trình học tập, rèn luyện tại nhà trường Nhờ đó, người học hiểu r

sinh viên định hướng được những giá trị, chuẩn mực của người chủ tương lai

Trên cơ sở những kiến thức pháp luật được trang bị, giúp cho sinh viên quántriệt, nhận thức đúng về mục tiêu, yêu cầu đào tạo, hình thành nhu cầu động cơ học tậpđúng đắn, luôn tích cực học tập, rèn luyện, có ý chí quyết tâm, tích cực chủ độngnghiên cứu sáng tạo ra nhiều phương pháp học tập Không thể có sinh viên học giỏi,rèn nghiêm khi ở họ ý thức tự giác chấp hành pháp luật, quy chế, quy định yếu kém

Thực tiễn cho thấy, nếu sinh viên không được giáo dục nâng cao ý thức phápluật thì trước tác động của hoàn cảnh, họ sẽ dễ bị thụ động, thiếu trách nhiệm trongthực hiện nhiệm vụ, thậm chí là có những hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm kỷluật nhà trưởng

Hai là, GDPL cho sinh viên góp phần quan trọng xây dựng nếp sống chính

quy, môi trường văn hóa lành mạnh và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, nhàtrường chính quy, tiên tiến, mẫu mực

Pháp luật là phương tiện để quản lý xã hội GDPL cho sinh viên ở các trườngđại học, cao đẳng sẽ tác động trực tiếp tới xây dựng lớp học, xây dựng nhà trườngchính quy, mẫu mực Trong các trường đại học, cao đẳng, GDPL tốt sẽ là cơ sở để sinhviên thực hiện nghiêm pháp luật, kỷ luật, xây dựng đoàn kết ở đơn vị, thực hiện

Trang 22

nghiêm kỷ cương phép nước, đấu tranh phòng ngừa và loại bỏ những tiêu cực, lạchậu ra khỏi đời sống đơn vị.

Ba là, GDPL góp phần nâng cao ý thức pháp luật của sinh viên Ý thức pháp

luật được hình thành từ hai yếu tố đó là tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật Trithức pháp luật là sự hiểu biết pháp luật của các chủ thể có được qua việc học tập,tìm hiểu pháp luật, qua quá trình tích luỹ kiến thức của hoạt động thực tiễn và côngtác Tình cảm pháp luật chính là trạng thái tâm lý của các chủ thể khi thực hiện và

áp dụng pháp luật, họ có thể đồng tình ủng hộ với những hành vi thực hiện đúngpháp luật, lên án các hành vi vi phạm pháp luật

Ý thức tự giác chấp hành pháp luật của sinh viên chỉ có thể được nâng caokhi hoạt động tổ chức giáo dục pháp luật được tiến hành thường xuyên, kịp thời và

có tính thuyết phục Tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật không đơn thuần là phổbiến các văn bản pháp luật đang có hiệu lực mà còn lên án các hành vi vi phạm phápluật, đồng tình ủng hộ các hành vi thực hiện đúng pháp luật, hình thành dư luận vàtâm lý đồng tình ủng hộ với hành vi hợp pháp, lên án các hành vi vi phạm pháp luật

Tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật nhằm hình thành, củng cố tình cảm tốtđẹp của sinh viên với pháp luật, đồng thời ngày càng nâng cao sự hiểu biết đối vớicác văn bản pháp luật và các hiện tượng pháp luật trong đời sống, từ đó nâng cao ýthức tự giác chấp hành pháp luật của sinh viên

Bốn là, GDPL cho sinh viên góp phần trực tiếp ngăn ngừa, khắc phục sự suy

thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống, chống văn hóa xấu độc, vi phạm pháp luật, hoànthiện nhân cách người sinh viên

Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự giao lưu hội nhập kinh tế quốc

tế đã tạo nhiều thời cơ để phát triển đất nước, song mặt trái của nó tác động khôngnhỏ đến đời sống xã hội nói chung và đời sống của sinh viên trong các trường đạihọc, cao đẳng nói riêng Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang tiến hànhchiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng nước ta.Vì vậy, GDPLcho sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng càng có vai trò quan trọng hơn baogiờ hết Trình độ kiến thức pháp luật của sinh viên càng được nâng cao thì bản lĩnh

Trang 23

chính trị của họ luôn giữ vững, kiên quyết chống lại những tiêu cực của xã hội tácđộng vào Việt Nam.

1.1.5 Nội dung giáo dục pháp luật cho sinh viên trường đại học, cao đẳng

Nội dung giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng làyếu tố quan trọng của quá trình giáo dục pháp luật Xác định đúng nội dung, giáodục pháp luật là đảm bảo cần thiết để giáo dục pháp luật có hiệu quả Đó là toàn bộnhững gì mà chủ thể giáo dục pháp luật cần truyền đạt, chuyển tải cho sinh viên cáctrường đại học, cao đẳng, giúp họ có những kiến thức, hiểu biết nhất định về phápluật; trên cơ sở đó, hình thành, phát triển ý thức pháp luật, niềm tin đối với pháp luật

và lối sống theo pháp luật cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng

Theo Điều 10 của Luật phổ biến, giáo dục pháp luật thì việc tổ chức thựchiện giáo dục pháp luật tập trung vào các nội dung sau:

- Quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là cácquy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bìnhđẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y tế, quốcphòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn vàtrách nhiệm của cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức, các văn bản quy phạm phápluật mới được ban hành

- Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các thỏa thuận quốc tế

- Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật

- Những kiến thức cơ bản về nhà nước và pháp luật, tổ chức bộ máy nhànước, thực thi pháp luật, cơ chế bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;

- Các quy định, trình tự, thủ tục liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ, quyền hạn,trách nhiệm của chính quyền cơ sở;

- Các trình tự, thủ tục pháp lý để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp và thựchiện các nghĩa vụ của công dân, đặc biệt là các trình tự, thủ tục liên quan đến giảiquyết khiếu nại, tố cáo; quy chế tiếp công dân; quy chế dân chủ cơ sở;

Trang 24

- Cập nhật những thông tin pháp luật mới ban hành, đặc biệt là những thôngtin pháp luật liên quan trực tiếp và mật thiết đến hoạt động của chính quyền cấp cơ

sở, các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương

- Cập nhật những thông tin pháp luật; Những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về pháp luật ở địa phương

Cần phải lưu ý rằng, giáo dục pháp luật đối với sinh viên các trường đại học,cao đẳng không có nghĩa là yêu cầu hay bắt buộc họ học thuộc các điều luật, mà làgiúp họ hiểu được nội dung, tinh thần của các quy phạm pháp luật, nhận thức đầy

đủ về vai trò, sự cần thiết của pháp luật trong đời sống xã hội, hiểu được lý lẽ sâu xacủa pháp luật thực định Trên cơ sở đó, sinh viên các trường đại học, cao đẳng biếtcách vận dụng linh hoạt, chủ động và sáng tạo các quy phạm pháp luật vào quá trình

xử lý công việc

1.2 Quan niệm về tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên trường đại học, cao đẳng

1.2.1 Khái niệm tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên

trường đại học, cao đẳng

Hiện nay, trong các nghiên cứu của các nhà khoa học, khái niệm tổ chức được hiểu theo hai nghĩa cơ bản như sau:

- Tổ chức là một hệ thống: Tổ chức là một cơ cấu liên kết những cá nhântrong một hệ thống nhằm thực hiện những mục tiêu của hệ thống dựa trên nhữngnguyên tắc và quy tắc nhất định

- Tổ chức là một hoạt động quản lý: Theo đó, tổ chức là một trong nhữngchức năng quan trọng của quản lý Tổ chức là một quá trình sắp xếp, tác động vàđiều khiển các nhiệm vụ và nguồn lực để đạt được mục tiêu đã vạch ra

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tổ chức được dùng với tư cách làmột hoạt động quản lý

Đối với các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam, công tác tổ chức thực hiệnGDPL được coi là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nhằm xây dựngthái độ, động cơ, bản lĩnh chính trị, ý thức pháp luật cho mỗi sinh viên Thông qua hoạt

Trang 25

động tổ chức thực hiện GDPL để mọi sinh viên nắm được các quy định của pháp luật,

từ đó điều chỉnh hành vi xử sự của mình phù hợp với các yêu cầu của pháp luật

Từ những đặc điểm và thực tiễn hoạt động GDPL trong các trường đại học,

cao đẳng ở Việt Nam, chúng ta có thể hiểu: Tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng là hoạt động có tính định hướng được

tổ chức chặt chẽ, khoa học theo một hệ thống thống nhất, cung cấp kiến thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm và hành vi hợp pháp nhằm hình thành cho sinh viên ý thức pháp luật, tình cảm pháp luật đúng đắn, tuân thủ pháp luật và tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành pháp luật.

1.2.2 Chủ thể tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng

Chủ thể tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đạihọc, cao đẳng là tất cả những người theo chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xãhội tham gia hoặc góp phần thực hiện các mục đích của giáo dục pháp luật Vớicách hiểu như vậy có thể thấy chủ thể tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật đối vớisinh viên các trường đại học, cao đẳng rất đa dạng Đây là lực lượng lao động trí tuệ

có chất lượng cao trong xã hội

Việc tổ chức hệ thống quản lý, việc chỉ đạo công tác trong các nhà trườngđều được đặt dưới sự chỉ đạo chung của Bộ Giáo dục và các Bộ, cơ quan chuyênngành Việc chỉ đạo, quản lý từng trường, từng mặt công tác nhà trường được thựchiện theo sự phân công của người có thẩm quyền

đội ngũ giáo viên; các đơn vị sinh viên

Chủ thể tổ chức thực hiện GDPL trong các trường đại học, cao đẳng rất đadạng, có thể chia thành các nhóm sau:

Nhóm 1: Đội ngũ lãnh đạo, quản lý trong các trường đại học, cao đẳng chịu

trách nhiệm về tổ chức quản lý hành chính, xây dựng chương trình học liệu, triểnkhai các kế hoạch tổ chức thực hiện GDPL

Trang 26

Nhóm 2: Đội ngũ giáo viên, báo cáo viên: gồm những người có trình độ pháp

luật cơ bản, chuyên sâu, có năng lực và khả năng sư phạm Đây là lực lượng chínhlàm công tác giảng dạy pháp luật trong các nhà trường đại học, cao đẳng

Nhóm 3: Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cán bộ đoàn, hội viên của

các tổ chức quần chúng Tuy họ không có trình độ chuyên môn sâu về luật và hocũng không phải là những người chuyên làm công tác giáo dục nhưng họ được tậphuấn hàng năm theo các chuyên đề về GDPL Hơn nữa, trong quá trình thực hiệnchức trách và nhiệm vụ của mình, họ có nghĩa vụ phải tìm hiểu pháp luật nên có khảnăng truyền đạt những nội dung phù hợp với đối tượng sinh viên

* Yêu cầu đối với chủ thể tổ chứcthực hiện giáo dục pháp luật

Một là, có kiến thức pháp lý nhất định Bởi vì hoạt động tuyên truyền giáo

dục pháp luật là khâu đầu tiên của hoạt động thực thi pháp luật, là cầu nối đểchuyển tải pháp luật vào cuộc sống, quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống được bắtđầu bằng hoạt động giáo dục pháp luật, bởi vì thực hiện pháp luật dù bằng hình thứcnào tuân theo pháp luật, thi hành (chấp hành) pháp luật, sử dụng (vận dụng) phápluật hay áp dụng pháp luật trước hết đều phải có hiểu biết pháp luật

Hai là,

Người làm công tác giáo dục pháp luật còn cần phải tận tuỵ với công việc, luônphấn khởi phục vụ cho mọi đối tượng, không quản ngại đối với những vấn đề mới,văn bản pháp luật mới; bản thân luôn phải cố gắng học tập, phấn đấu vươn lên; tíchluỹ kiến thức pháp luật, kiến thức xã hội, kiến thức chuyên ngành, tài liệu, số liệu,dẫn chứng, minh hoạ để hoàn thành công việc được giao

Ba là, có khả năng hoà đồng và giao tiếp Làm công tác giáo dục pháp luật là

làm công tác vận động quần chúng, nó không thuần túy là đi thông tin và giải thíchpháp luật cho các đối tượng Giáo dục pháp luật là một hoạt động mang tính chất haichiều, không đơn thuần là sự truyền đạt thông tin và giải thích pháp luật của ngườilàm công tác giáo dục pháp luật mà còn có sự phản hồi của đối tượng được tuyêntruyền Sự cọ sát hai chiều về cùng vấn đề được trao đổi sẽ làm cho công tác giáo

dục pháp luật đạt chất lượng và hiệu quả cao

Trang 27

Bốn là, biết tích luỹ tư liệu, kiến thức Hoạt động giáo dục pháp luật vừa

mang tính thời sự vừa mang tính lâu dài Chỉ có thể tham gia vào hoạt động giáodục pháp luật khi có đủ kiến thức, trình độ, kinh nghiệm về công tác pháp luật Đểđạt được các điều kiện đó thì người làm công tác giáo dục pháp luật cần phải tíchluỹ tư liệu, kiến thức; bao gồm kiến thức pháp lý, pháp luật hiện hành, đường lốichính sách của Đảng, kiến thức chuyên ngành, kiến thức xã hội, kinh nghiệm thựctiễn ở Việt Nam và nước ngoài

1.2.3 Hình thức tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng

Hình thức tổ chức giáo dục pháp luật có thể hiểu là những hoạt động cụ thể

do chủ thể giáo dục pháp luật sử dụng hoặc tổ chức ra nhằm chuyển tải nội dunggiáo dục pháp luật đến với đối tượng giáo dục pháp luật

Từ khái niệm trên, để đạt được mục đích của giáo dục pháp luật cần xác địnhđúng, đầy đủ các hình thức tổ chức giáo dục pháp luật Thực tế cho thấy các hìnhthức giáo dục pháp luật rất đa dạng, phong phú, nó không ngừng được hoàn thiện vàphát triển cùng với sự phát triển của kinh kế - xã hội Căn cứ vào Điều 11 Luật Phổbiến, giáo dục pháp luật 2012 đã luật hóa các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luậthiện đang được áp dụng nhiều, có hiệu quả trên thực tế

Trên cơ sở các nội dung GDPL, việc tổ chức thực hiện GDPL trong cáctrường đại học, cao đẳng rất đa dạng, phong phú, được quy định bởi tính chất đặcthù của hoạt động đào tạo, từ mục đích giáo dục cũng như từ đặc thù trong tổ chứcquản lý sinh viên Có thể phân chia các hình thức đó như sau:

- Các hình thức tổ chức thực hiện GDPL chung: Đây là hình thức trong đó

chủ thể tổ chức thực hiện GDPL trên cơ sở nhiệm vụ, nội dung GDPL cụ thể củacác trường để tiến hành tổ chức, sắp xếp các hoạt động GDPL chung cho tập thểsinh viên, như dạy và học pháp luật, tổ chức các buổi diễn đàn trao đổi tập thể theochuyên đề, tổ chức sinh hoạt tập thể (buổi chào cờ, sinh hoạt đơn vị, …)

Các hình thức trên thường xuyên diễn ra, tùy theo chuyên đề cụ thể mà chủthể giáo dục có thể tổ chức cho các đối tượng khác nhau trong đơn vị, như cho sinh

Trang 28

viên là đảng viên, đoàn viên, thanh niên hoặc theo năm thứ nhất, thứ hai… Trongcác hình thức giáo dục chung thì giáo dục thông qua việc dạy và học pháp luật làhình thức chủ yếu được Bộ Giáo dục và đào tạo quy định cụ thể bằng các văn bản

có giá trị pháp lý

- Các hình thức tổ chức thực hiện GDPL riêng: Đây là hình thức tổ chức các

buổi gặp gỡ giữa chủ thể giáo dục với từng sinh viên để trao đổi, đối thoại về những nộidung pháp luật với mục đích giáo dục trực tiếp cho từng sinh viên cụ thể Điều kiện tiếnhành hình thức này là nội dung giáo dục mà chủ thể không thể giáo dục chung cho tậpthể, hoặc nếu tiến hành thì sẽ đạt hiệu quả thấp Theo hình thức tổ chức thực hiệnGDPL riêng, chủ thể giáo dục có thể gặp gỡ riêng sinh viên có thành tích trong chấphành pháp luật để động viên khen thưởng kịp thời Hình thức này đặc biệt có hiệu quảđối với những sinh viên yếu kém, vi phạm pháp luật, kỷ luật nhà trường bởi có tác dụngngay, trực tiếp uốn nắn, ngăn chặn những hành vi lệch lạc

Việc tổ chức các buổi gặp gỡ GDPL riêng chính là sự vận dụng nguyên tắc

“cá biệt hóa” giáo dục, với mục đích nhằm nâng cao nhận thức, bồi dưỡng tình cảm,hình thành thói quen sống và làm việc theo pháp luật của cá nhân từng đối tượnggiáo dục

Ngoài các hình thức trên, các trường đại học, cao đẳng còn thực hiện các hình thức tổ chức thực hiện GDPL k

dục thông qua hình thức sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, qua báo chí, phương tiệnthông tin đại chúng, qua các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, qua giao lưu tiếp xúc vớicác tổ chức, đoàn thể khác

1.2.4 Phương pháp tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên trường đại học, cao đẳng

Phương pháp tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật là hệ thống những cách thứctác động của chủ thể giáo dục nhằm hình thành ở sinh viên ý thức tuân thủ pháp luật, cónăng lực xử lý hiệu quả các tình huống pháp luật nảy sinh trong cuộc sống

Hiện nay có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau về phương pháp tổ chứcthực hiện giáo dục pháp luật Theo quan điểm tiếp cận của các nhà luật học, phương

Trang 29

pháp tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật bao gồm phương pháp thuyết trình,phương pháp nêu vấn đề, phương pháp đóng vai, phương pháp thảo luận, phươngpháp thông tin pháp luật Dưới góc độ khoa học giáo dục, các nhà giáo dục họccho rằng phương pháp tổ chức giáo dục pháp luật bao gồm nhóm phương phápthuyết phục, nhóm phương pháp tổ chức hoạt động, nhóm phương pháp kích thích

và điều chỉnh hành vi

Để quá trình giáo dục pháp luật cho sinh viên đạt được chất lượng cao,trường đại học, cao đẳng sử dụng các phương pháp giáo dục pháp luật phong phú và

đa dạng khác nhau nhưng có thể phân thành các nhóm cơ bản sau:

Thuyết phục là phương pháp tác động vào nhận thức, tình cảm của sinh viên

để hình thành ý thức và thái độ đúng đắn, phù hợp với các chuẩn mực pháp luật Đó

là dùng lý lẽ xác đáng, dùng dẫn chứng sinh động, dùng các tấm gương tiêu biểutrong lịch sử và trong thực tế để phân tích, chứng minh, khuyên giải giúp sinh viênnhận thấy, hiểu và tin, từ đó tuân theo những giá trị pháp luật Nhóm phương phápthuyết phục bao gồm phương pháp khuyên giải, phương pháp tranh luận, phươngpháp nêu gương

Phương pháp giảng dạy pháp luật (truyền thống và hiện đại) là cách thức

hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và sinh viên, trong đó chủ yếu sử dụngcác phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại, phương pháp trực quan,phương pháp nêu vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp động não,phương pháp đóng vai, phương pháp dự án và tổ chức các hoạt động giáo dụcpháp luật ngoài giờ lên lớp

Phương pháp động viên, khuyến khích, bắt buộc xử phạt Phương pháp động

viên, khuyến khích là hệ thống các cách thức, biện pháp kích thích vật chất hoặctinh thần nhằm tăng cường và củng cố lòng tin, nâng cao ý thức pháp luật cho sinhviên Yêu cầu đặt ra trong quá trình thực hiện phương pháp này là phải chính xác,kịp thời, công khai và phải hướng vào việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị củađơn vị Đây là phương pháp được áp dụng nhiều trong các cuộc thi tìm hiểu phápluật, các phong trào thi đua… góp phần tạo thành các phong trào quần chúng sôi nổi

Trang 30

trong đơn vị, tác động đến tinh thần mỗi quân nhân để từ đó mỗi người đều cố gắngthi đua lập thành tích xuất sắc cho đơn vị, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.

Phương pháp bắt buộc, xử phạt là phương pháp áp dụng các biện pháp cưỡngchế, trừng phạt, bắt buộc đối với sinh viên đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật,

kỷ luật nhà trường phải chịu hậu quả bất lợi; đồng thời, góp phần phòng ngừa, ngănchặn và răn đe đối với các hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật trong tập thể sinh viên

ở nhà trường Để thực hiện phương pháp này, ngoài những chế tài được quy địnhtrong các văn bản quy phạm pháp luật, trong nội quy của nhà trường cũng quy địnhcác chế tài kỷ luật như: khiển trách, cảnh cáo Đây là phương pháp góp phần làmhạn chế những hành vi vi phạm pháp luật, nội quy, làm cho đối tượng vi phạm phảinhận thức được hành vi sai trái của mình, phải hối hận và sữa chữa kịp thời

Như vậy, phương pháp tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật rất đa dạng, mỗiphương pháp đều có chức năng, thế mạnh riêng, phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể,tuy nhiên giữa chúng luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau, bổ sung, hỗ trợ chonhau Do đó, khi tiến hành giáo dục pháp luật, nhà giáo dục cần lựa chọn và phốihợp các phương pháp nhằm mang lại hiệu quả giáo dục cao nhất Đặc điểm nổi bật

về phương pháp tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên trường đại học,cao đẳng là ở sự phóng khoáng nhấn mạnh tư duy phản biện và tăng cường năng lựchoạt động thực tiễn cho sinh viên

1.3 Các yếu tố bảo đảm tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên trường đại học, cao đẳng

1.3.1 Ý thức trách nhiệm, năng lực tổ chức thực hiện của chủ thể làm công tác giáo dục pháp luật

a) Ý thức trách nhiệm của chủ thể giáo dục pháp luật

Theo quy định, việc triển khai giáo dục pháp luật cho sinh viên thuộc tráchnhiệm của lãnh đạo nhà trường mà trực tiếp là Đảng ủy, Ban Giám hiệu và đội ngũgiáo viên, báo cáo viên Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện tráchnhiệm đó như thế nào lại phụ thuộc chủ yếu vào ý thức trách nhiệm của từng chủthể Điều đó nói lên rằng, ý thức trách nhiệm của chủ thể giáo dục pháp luật có ảnh

Trang 31

hưởng rất quan trọng tới chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục pháp luật cho sinhviên trong các trường đại học, cao đẳng.

Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay vẫn còn một số cấp Ủy, chủ thể làm công tácgiáo dục pháp luật chưa quan tâm đúng mức đến việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khaicông tác giáo dục pháp luật; chưa quan tâm chỉ đạo tổng kết và nhân rộng các môhình giáo dục pháp luật tốt tại cơ sở; chưa coi công tác này “là một bộ phận củacông tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị”;còn tình trạng cấp Ủy đảng coi phổ biến, giáo dục pháp luật là nhiệm vụ riêng củacác cơ quan nhà nước và các tổ chức đoàn thể, thiếu kiểm tra, đôn đốc thườngxuyên Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tích cực tham gia vào các hoạt độngphổ biến, giáo dục pháp luật; chưa thực sự gương mẫu chấp hành pháp luật, lời nóichưa đi đôi với việc làm, từ đó làm ảnh hưởng không tốt đến công tác giáo dục phápluật cho sinh viên

Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ bán chuyên trách làm công tác giáo dục phápluật (báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật …) ở nhiều nơi còn thiếu về sốlượng, trình độ chuyên môn còn hạn chế và chưa đồng đều, đặc biệt là ở cơ sở.Công tác bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật,cung cấp tài liệu cho lực lượng này chưa được thường xuyên, cơ chế quản lý, sửdụng chưa rõ ràng, vì thế hiệu quả hoạt động của đội ngũ này là chưa cao

b) Năng lực tổ chức, thực hiện của chủ thể giáo dục pháp luật

Cùng với ý thức trách nhiệm, năng lực tổ chức, thực hiện của chủ thể giáodục pháp luật cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ tới chất lượng, hiệu quả công tác giáodục pháp luật cho sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng Giữa ý thức tráchnhiệm của chủ thể và năng lực tổ chức thực hiện của chủ thể giáo dục pháp luật cómối liên hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện ở chỗ: nếu chủ thể giáo dục pháp luật chosinh viên có ý thức trách nhiệm mà không có năng lực tổ chức, thực hiện thì đó chỉ

là ý thức trách nhiệm suông, vô giá trị; ngược lại, nếu chủ thể có năng lực tổ chức,thực hiện nhưng không có hoặc thiếu ý thức trách nhiệm thì công tác giáo dục phápluật cho sinh viên sẽ không đạt hiệu quả như mong muốn

Trang 32

1.3.2 Trình độ học vấn, khả năng tiếp nhận thông tin, kiến thức pháp luật của sinh viên

Trình độ học vấn là khái niệm chỉ hệ thống những kiến thức, hiểu biết về tựnhiên, xã hội, về chính bản thân con người mà mỗi cá nhân tiếp nhận và tích lũyđược trong quá trình tham gia học tập, nghiên cứu ở những cấp học, bậc học nhấtđịnh thuộc nền giáo dục của một quốc gia Trình độ học vấn là khái niệm có nộihàm rất rộng, trong đó bao hàm cả trình độ hiểu biết xã hội nói chung và trình độhiểu biết pháp luật nói riêng

Trong hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên, trình độ học vấn của sinhviên có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng tiếp thu kiến thức pháp luật của họ Quá trìnhtham gia giáo dục, học tập ở các cấp học, bậc học trước đây đã giúp sinh viên tiếp thu,tích lũy được những tri thức, hiểu biết khoa học nhất định Những tri thức, hiểu biết đó

là cơ sở để sinh viên lĩnh hội, ghi nhớ các nội dung pháp luật được truyền đạt trên lớp

và thông qua những hình thức giáo dục pháp luật khác Trình độ học vấn càng cao thìsinh viên càng dễ tiếp thu, hiểu được những khái niệm pháp lý được sử dụng trong cácvăn bản QPPL mà họ được học Ngược lại, trình độ học vấn của sinh viên thì họ sẽ gặprất nhiều khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức pháp luật

1.3.3 Khung chương trình, giáo trình, nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật

Chương trình, nội dung giáo dục pháp luật là yếu tố quan trọng của quá trìnhgiáo dục pháp luật cho sinh viên Xác định đúng nội dung giáo dục pháp luật là đảmbảo cần thiết để giáo dục pháp luật cho sinh viên có hiệu quả thiết thực Việc xácđịnh nội dung giáo dục pháp luật cho sinh viên trước hết phải căn cứ vào đối tượnggiáo dục, hình thức giáo dục và mục tiêu giáo dục Giáo dục pháp luật cho sinh viêntrong các trường ĐH,CĐ là một hình thức giáo dục pháp luật với đặc thù với đốitượng là sinh viên, có mục tiêu giáo dục gắn liền với mục tiêu giáo dục đào tạo Do

đó, để có khả năng thực thi có kết quả việc đưa nội dung giáo dục pháp luật vào hệthống các trường ĐH,CĐ thành một môn học riêng biệt, vấn đề đầu tiên là phải tổchức biên soạn và ban hành được bộ chương trình chuẩn thống nhất, chính thống cótính chất bắt buộc đối với sinh viên các trường ĐH,CĐ

Trang 33

Cùng với việc dạy và học trong chương trình chính khóa, các hoạt động giáodục pháp luật ngoại khóa với các hình thức phong phú và đa dạng, nội dung thiếtthực đã được triển khai rộng khắp Hoạt động ngoại khóa góp phần lôi cuốn sinhviên say mê tìm hiểu, nghiên cứu, học tập, gắn lý thuyết với thực tiễn Qua đó nhậnthức pháp luật và ý thức pháp luật trong sinh viên được nâng lên.

1.3.4 Cơ sở vật chất phục vụ công tác giáo dục pháp luật của nhà trường

hoạt động GDPL cũng là yếu tố rất quan trọng quyết định hiệu quả thực hiện GDPL nhàtrường Các quy định của pháp luật sẽ chỉ nằm trên văn bản nếu công tác GDPL khôngđược quan tâm đầu tư Kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc dành cho công tácGDPL cần phải được đầu tư tương xứng với vị trí và vai trò của công tác GDPL

Do đó, để hiện đại hơn cơ sở vật chất cho các trường ĐH,CĐ cần phải có sựnhận thức đúng đắn của lãnh đạo ngành giáo dục và các trường ĐH,CĐ Việc hiệnđại hóa cơ sở vật chất của nhà trường phải căn cứ vào đối tượng, chương trình, nộidung GDPL và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật của các trường Từ

đó sẽ có quyết định đầu tư thích hợp, đáp ứng yêu cầu thực tế, phát huy hiệu quả tối

đa mà còn tránh được sự lãng phí

Tiểu kết chương 1

Chương 1 luận văn đã làm rõ được những vấn đề lý luận về sinh viên cáctrường đại học, cao đẳng và tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên cáctrường đại học, cao đẳng Đồng thời, trong chương 1 luận văn cũng làm rõ nội dungcủa tổ chức giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng, chủ thểcủa tổ chức giáo dục pháp luật, các phương pháp, hình thức thực hiện tổ chức giáodục pháp luật cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng Luận văn cũng làm rõ cácyếu tố bảo đảm tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đạihọc, cao đẳng: (1) Ý thức trách nhiệm, năng lực tổ chức thực hiện của chủ thể làmcông tác giáo dục pháp luật; (2) Trình độ học vấn, khả năng tiếp nhận thông tin,kiến thức pháp luật của sinh viên; (3) Khung chương trình, giáo trình, nội dung,hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật; (4) Cơ sở vật chất phục vụ công tácgiáo dục pháp luật của nhà trường

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI

2.1 Khái quát chung các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai và đặc thù sinh viên các trường đại học, cao đẳng

2.1.1 Khái quát các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Lào Cai là tỉnh biên giới phía Bắc có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuậnlợi cho sự phát triển kinh tế xã hội với cửa khẩu quốc tế Lào Cai, các khu du lịchnghỉ mát nổi tiếng Sa Pa, Bắc Hà Hệ thống giao thông phát triển đồng bộ và là nhịpcầu nối giữa các nước ASEAN với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) Với cơ chế chínhsách mở cửa, thông thoáng, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, nhiều lao động từcác địa phương khác nhập cư làm ăn sinh sống… đã tạo cho Lào Cai một diện mạomới trong việc phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên song hành với đó là các TNXHcũng diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng Tình trạng lợi dụng con đường

du lịch để hoạt động buôn bán và sử dụng chất ma tuý đang diễn ra hết sức tinh vi.Bên cạnh đó còn tồn tại tập quán trồng và hút thuốc phiện của bà con dân tộc, nhất

là ở vùng sâu, vùng xa…

Trong những năm qua tại tỉnh Lào Cai công tác cải cách hành chính, đặc biệt vềthể chế, tổ chức bộ máy được quan tâm củng cố, kiện toàn; các dự án cơ sở hạ tầngkinh tế - xã hội đã đầu tư từ những năm trước đang phát huy hiệu quả; nhiều dự ánquan trọng đối với sự phát triển của tỉnh được đẩy nhanh chuẩn bị đầu tư để khởi côngtrong năm; trong nông nghiệp, xu hướng tiêu dùng nông sản sạch, an toàn tạo điều kiệncho phát triển sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao; trong công nghiệp, các dự án côngnghiệp đã xây dựng và đi vào vận hành ổn định tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy ngànhcông nghiệp phát triển, nâng cao giá trị sản xuất của ngành; trong thương mại, dịch vụvới môi trường đầu tư hấp dẫn, tạo được uy tín lớn đối với các nhà đầu tư, cùng với đó

là việc các đề án, quy hoạch lớn của tỉnh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vừa là

cơ sở để Trung ương có các cơ chế, chính sách đặc thù

Trang 35

cho tỉnh; vừa là điều kiện thu hút các dự án và nguồn lực đầu tư lớn Nhiều hoạtđộng, sự kiện lớn tổ chức trên địa bàn là điều kiện thuận lợi để quảng bá du lịch củatỉnh Các cơ chế, chính sách của tỉnh thực hiện cho giai đoạn 2016 - 2020 được banhành đồng bộ và toàn diện, được triển khai thực hiện có hiệu quả.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Lào Cai có 04 trường đại học, cao đẳng, bao gồm:

- 01 phân hiệu Đại học của trường Đại học Thái Nguyên tại tỉnh Lào Caiđược thành lập theo quyết định số: 6189/QĐ - BGDĐT ngày 24/12/2015 của Bộgiáo dục và Đào tạo Tuy là trường mới, nhưng dưới sự quan tâm của Bộ giáo dục

và Đào tạo, trường Đại học Thái Nguyên, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Lào Cai,nhà trường đã dần lớn mạnh Hiện nay, toàn trường có 84 cán bộ giảng viên Nămhọc 2016 - 2017, 2017 - 2018 nhà trường đã tuyển sinh được 670 sinh viên hệ chínhquy và tại chức theo các mã ngành đào tạo được trường Đại học Thái Nguyên giao

- 03 trường cao đẳng bao gồm:

+ Trường Cao đẳng sư phạm Lào Cai: Tiền thân là Trường Trung cấp Sư phạmđược thành lập năm 1992 sau khi tái lập tỉnh Lào Cai năm 1991 Trường đạo tạo hệ TCSP12+2, 9+3 cung cấp giáo viên mầm non, tiểu học cho các trường Mầm non và Tiểu họctrong tỉnh Lào Cai Từ năm 1997 đến năm 1999, trường liên kết với trường Cao đẳng Sưphạm Yên Bái đào tạo giáo viên THCS hệ cao đẳng Văn - Sử và Toán - Lí

Nhà trường được nâng cấp thành Trường CĐSP Lào Cai vào tháng 10

-2000 Từ năm 2000 đến nay, Nhà trường không ngừng phát triển, lớn mạnh cả vềquy mô và chất lượng đào tạo, đào tạo với nhiều trình độ, nhiều chuyên ngành khácnhau đáp ứng nguồn nhân lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là của ngànhgiáo dục và đào tạo tỉnh Lào Cai Trong tương lai, trường Cao đẳng Sư phạm LàoCai phấn đấu trở thành một trong những trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhânlực có trình độ cao đẳng cho tỉnh Lào Cai và các tỉnh trong khu vực; liên kết đào tạotrình độ đại học; là cơ sở nghiên cứu khoa học, ứng dụng, chuyển giao công nghệ,hợp tác quốc tế về đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực cho sự nghiệp giáo dục và cáclĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lào Cai và các tỉnh trong khu vực

Trang 36

Từ khi thành lập đến nay trường đã không ngừng lớn mạnh về số lượng vàchất lượng Hiện nay, toàn trường có 118 cán bộ, giảng viên, việc tuyển sinh củanhà trường vẫn giữ ổn định Từ năm 2015 đến 2017 nhà trường đã tuyển sinh được7.450 sinh viên các hệ Nhà trường đã cung cấp hàng nghìn cán bộ, giáo viên từ bậchọc Trung học phổ thông ( liên kết đào tạo với các trường Đại học sư phạm) đếnbậc học mầm non cho tỉnh Lào Cai và các tỉnh lân cận.

+ Trường Cao đẳng Lào Cai: Tiền thân là Trung tâm dạy nghề và Giới thiệuviệc làm được thành lập năm 1992 Đây là Trung tâm (thuộc Sở Lao động TBXH)với nhiệm vụ đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho người lao động Năm 2001UBND tỉnh quyết định nâng cấp Trung tâm thành Trường công nhân kỹ thuật LàoCai Trong thời kỳ này, Nhà trường chủ yếu liên kết với các trường Trung

ương đào tạo một số nghề: Nông lâm nghiệp, Điện dân dụng, Tin học, Ngoại ngữ

Tháng 6 - 2007, thực hiện Luật dạy nghề, Trường công nhân kỹ thuật LàoCai đổi tên thành Trường Trung cấp nghề Lào Cai (trực thuộc UBND tỉnh),cónhiệm vụ đào tạo nghề trình độ Trung cấp, Sơ cấp, Bồi dưỡng, đào tạo lại và nângbậc thợ cho công nhân các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất trong tỉnh

Với sự cố gắng không ngừng của cán bộ lãnh đạo, giảng viên trong nhà trường

và sự quan tâm của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Tỉnh ủy, HĐND, UBND,năm 2013 trường tiếp tục được nâng cấp thành trường Cao đẳng nghề Lào Cai

Tháng 8 năm 2017, thực hiện theo quy định của Bộ Lao động Thương binh

và Xã hội, trường đã được đổi tên thành Trường Cao đẳng Lào Cai, với 90 cán bộgiảng viên

Quy mô đào tạo của nhà trường đa ngành, đa nghề, đa hệ Từ khi thành lậpđến nay nhà trường đã đào tạo cho Lào Cai và các tỉnh lân cận hàng nghìn cán bộ(liên kết đào tạo với các trường đại học), công nhân, người lao động có tay nghề từ

sơ cấp trở lên Chỉ tính riêng trong 03 năm học (2015 2016; 2016 2017; 2017 2018) nhà trường đã và đang đào tạo 4.082 sinh viên

-+ Trường Cao đẳng Cộng đồng Lào Cai: Được thành lập ngày 28/7/2011 trên

cơ sở nâng cấp trường Trung học Kinh tế - Kỹ thuật tỉnh Lào Cai theo Quyết định

Trang 37

số 3078/QĐ - BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đây là cơ sở giáo dục công lập,đào tạo đa cấp, đa ngành, trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, chịu sự quản lýnước về giáo dục của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (trước năm 02/2017thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo) Hoạt động theo Quy chế trường cao đẳng Trường

có chức năng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trình độ Cao đẳng và các trình độthấp hơn, là cơ sở nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng tiến bộ khoa họccông nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của Lào Cai và các tỉnh lân cận; liênkết đào tạo trong nước, hợp tác Quốc tế trong công tác đào tạo

Sứ mệnh của nhà trường là đào tạo nguồn nhân lực có phẩm chất chính trị,đạo đức tốt, có ý thức phục vụ cộng đồng, có kiến thức và kỹ năng, năng lực nghềnghiệp ở trình độ Cao đẳng và các trình độ thấp hơn, đáp ứng tốt nhất nguyện vọngcủa người học Đồng thời tạo điều kiện cho người lao động nâng cao trình độ họcvấn, chuyên môn, nghiệp vụ để họ có khả năng tạo được việc làm, đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội của địa phương và các tỉnh trong khu vực

Tầm nhìn đến năm 2020 Trường sẽ trở thành một Trung tâm đào tạo, nghiêncứu và tư vấn về kinh tế, kỹ thuật có uy tín trong nước, cung cấp cho người học môitrường giáo dục Đại học và nghiên cứu khoa học tốt nhất, có tính chuyên môn cao,đảm bảo cho người học khi tốt nghiệp có đủ năng lực cạnh tranh và thích ứng nhanhvới sự phát triển của kỹ thuật và nền kinh tế toàn cầu

Hiện nay, tổng số cán bộ, viên chức và hợp đồng lao động trong nhà trường

là 179 người, trong đó có 01 tiến sỹ, 57 thạc sỹ (hiện nay có 3 đồng chí đangNghiên cứu sinh); 96 đại học (06 đang đi học thạc sỹ); 03 cao đẳng; 13 trung cấp vàcác trình độ khác

Nhà trường có 2 cơ sở dành cho hoạt động giảng dạy, học tập và làm việc(với diện tích đất 14,43 ha) bao gồm 35 phòng học lý thuyết, 12 phòng học thựchành, thực tập Toàn bộ các phòng học đều đạt tiêu chuẩn cho giảng dạy, nghiêncứu và học tập, trong đó có 03 phòng thí nghiệm, 02 sàn múa, 02 sân khấu biểudiễn, 03 phòng thực hành tin học; 01 phòng học ngoại ngữ; 01 nhà thực hành và 01vườn thí nghiệm nông lâm nghiệp; Khu nhà Hiệu bộ diện tích 1.345m2; nhà luyện

Trang 38

tập đa năng 982m2; ngoài ra còn có nhà ăn, ký túc xá dành cho HS - SV và nhà giáoviên thỉnh giảng.

Cũng như các cơ sở giáo dục khác trên địa bàn tỉnh, từ khi thành lập đến naynhà trường đã đào tạo một nguồn nhân lực lớn cho tỉnh Lào Cai và các tỉnh lân cận.Đặc biệt là Lai Châu Chủ yếu là đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, cấp huyện; côngnhân; người lao động trong các nhà máy, xí nghiệp Quy mô đào tạo trung bìnhhàng năm của nhà trường cơ bản ổn định, cụ thể:

Tính từ năm học 2015 đến nay: Trình độ TCCN: 479 học sinh, sinh viêngồm: Hệ chính quy: 262 học sinh - tốt nghiệp 125 học sinh; Hệ VLVH: 217 họcsinh - tốt nghiệp 162 học sinh; trình độ Cao đẳng: 190 sinh viên - tốt nghiệp 56 sinhviên; liên kết đào tạo đại học VLVH : 1.002 sinh viên;

Đào tạo ngắn hạn: Tập huấn lớp tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theochuỗi giá trị trong xây dựng nông thôn mới: 800 cán bộ xã, thôn bản Ngoại ngữ, tinhọc: 984 học viên

Hàng năm các trường đã cung cấp hàng ngàn sinh viên với đầy đủ các ngànhnghề chuyên môn từ pháp lý, kế toán,y tế, kỹ sư, kỹ thuât, giáo viên làm việctrong các cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức xã hội đến phiên dịch viên chocác doanh nghiệp kinh doanh du lịch trong và ngoài tỉnh, đáp ứng yêu cầu côngcuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Từ năm 2015, nhiều trường được Bộ giáo dục -Đào tạo giao nhiệm vụ đào tạo cử nhân phù hợp với các chuyên ngành mà trườngđang đào tạo nhằm phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Tuy nhiên, từ năm học 2015 - 2016 đến nay, mặc dù số lượng tuyển sinh ởcác trường cơ bản ổn định nhưng việc tuyển sinh đối với các trường ngày càng gặpnhiều khó Hầu hết các ngành do các trường trực tiếp đào tạo tuyển sinh đều chưađạt chỉ tiêu Một số ngành không tuyển sinh được (Trung cấp Trồng trọt, TC Nghềcông tác xã hội, cao đẳng Nông lâm kết hợp) Công tác tuyển sinh liên kết đào tạocũng gặp nhiều khó khăn do nguồn tuyển sinh ngày càng ít, trong khi đó một ngànhtuyển lại có nhiều đơn vị được giao chỉ tiêu

Nhìn chung trong những năm qua các trường đại học, cao đẳng trên địa bàntỉnh luôn được sự quan tâm của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Lào Cai, sự chỉ đạo,

Trang 39

hướng dẫn cụ thể của Bộ GD &ĐT, Sở Giáo dục & Đào tạo đã tạo điều kiện thuậnlợi cho các trường triển khai nhiệm vụ năm học như: hệ thống các văn bản, tổ chứccác hội nghị tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ, hội nghị về quản lý đào tạo, chútrọng triển khai từng bước thực hiện xây dựng chuẩn đầu ra cho HSSV tốt nghiệp,đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, công tác tuyển sinh… Công tác phát triển nhân lựccủa tỉnh được Tỉnh Ủy, HĐND, UBND tỉnh và các sở ngành trong tỉnh quan tâm,chú trọng Tập thể lãnh đạo Nhà trường đoàn kết, thống nhất, cán bộ giảng viên có ýthức cao trong công việc Đảng bộ, Ban giám hiệu Nhà trường quan tâm chỉ đạo sátsao công tác tuyển sinh, coi công tác tuyển sinh là nhiệm vụ trong tâm của Nhàtrường nên đã tạo ra sự đồng thuận và phối hợp chặt chẽ giữa các phòng, khoa Độingũ cán bộ giảng viên trong trường được đào tạo cơ bản, ý thức trách nhiệm cao,tâm huyết trong công việc, góp phần quan trọng trong nâng cao chất lượng đào tạo,tạo dựng uy tín của Nhà trường Đa số học sinh sinh viên đều xác định được động

cơ học tập nhằm nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu công tác

Cơ sở vật chất của các trường trong năm được bổ sung nhưng chưa đủ để đápứng được yêu cầu giảng dạy và học tập: máy tính, thiết bị thực hành, thí nghiệm,giáo trình, tài liệu… nên rất khó khăn cho việc triển khai các biện pháp nâng caochất lượng của Nhà trường

Cơ cấu tổ chức của các trường trên địa bàn tỉnh được thiết kế theo mô hìnhchung của Bộ Giáo dục và Đào tạo như sau: đứng đầu là Giám đốc (Hiệu trưởng);khối cơ quan chức năng; các khoa giáo viên; các hệ sinh viên Nhà trường quản lýtoàn diện đối với sinh viên trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trường thôngqua các chế độ quy định, quy chế quản lý sinh viên của nhà trường cũng như cácquy định cụ thể khác do Giám đốc ban hành phù hợp với đặc điểm, tính chất củanhà trường

Công tác tổ chức thực hiện GDPL, công tác rèn luyện kỷ luật, xây dựng nềnếp chính quy luôn được các trường chú trọng xem xét, đánh giá phù hợp với điềukiện hoàn cảnh để tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm công tác này đi vào nền nếp, đạtđược hiệu quả thiết thực

Trang 40

2.1.2 Đặc thù sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Là lực lượng đáng kể trong tổng số thanh niên Lào Cai, sinh viên trường đạihọc, cao đẳng gồm cả nam và nữ Tuy nhiên, tỷ lệ sinh viên nữ chiếm khá cao, như:trường như Cao đẳng Lào Cai nữ chiếm 55 - 65%; Cao đẳng Cộng đồng Lào Cai nữchiếm 72%; Cao đẳng Sư phạm Lào Cai nữ chiếm 91% Mặc dù chiếm số lượng khácao nhưng khi theo học tỷ lệ học sinh nữ bỏ học nhiều, vì nhiều lý do khác nhau: giađình không chu cấp tiền sinh hoạt phí với quan niệm “con gái không cần họcnhiều”, việc đi học do các em phải tự lo làm thêm để trang trải hoặc do trình độnhận thức của các em hạn chế nên hay bị kẻ xấu dụ dỗ bán sang Trung Quốc…

Bên cạnh đó, sinh viên các trường đại học, cao đẳng đến từ nhiều địa phươngkhác nhau thuộc vùng Tây Bắc của tổ quốc nên rất đa dạng về phong tục tập quán,truyền thống, do đó thói quen hành vi trong đời sống xã hội nói chung và đời sốngpháp lý nói riêng cũng in đậm các sắc thái văn hóa riêng của vùng miền quê đó

Sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Lào Cai thường theohọc với 02 hệ đào tạo khác nhau:

Hệ chính quy: Là sinh viên hệ đại học, hệ cao đẳng Chủ yếu là người dântộc thiểu số, điều kiện kinh tế khó khăn, hiểu biết xã hội hạn chế Tuy nhiên, trình

độ nhận thức của sinh viên ở 2 cấp học cũng khác nhau (đại học, cao đẳng) nhưngthực tế hiện nay trên địa bàn tỉnh lào cai, số lượng sinh viên hệ cao đẳng nhiều hơnsinh viên hệ đại học (do năm 2015 phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại Lào Cai mớiđược thành lập), số lượng sinh viên theo học chưa nhiều

Hệ tại chức: 50% là sinh viên hệ trung cấp hoặc cao đẳng mới tốt nghiệpchưa xin được việc làm, độ tuổi từ 22 - 30 học liên thông lên đại học;

Số còn lại là cán bộ, công chức vừa đi làm vừa đi học đôi khi công việc chiphối khá nhiều đến thời gian học tập Bên cạnh đó có rất nhiều sinh viên là ngườidân tộc thiểu số Mặc dù là cán bộ cấp xã nhưng kiến thức về xã hội đặc biệt vềpháp luật còn rất hạn chế

Về tình hình tư tưởng sinh viên trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnhLào Cai đại đa số được giữ ổn định, có bước chuyển biến mới trong nhận thức và ý

Ngày đăng: 08/01/2021, 08:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2003), Chỉ thị số 32 - CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dụcpháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 2003
2. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Chị thị số 45/2007/CT - BGD&ĐT ngày 17 tháng 8 năm 2007 về việc tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong ngành giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luậttrong ngành giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Kỷ yếu Hội nghị Tổng kết Đề án nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường giai đoạn 2010 - 2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội nghị Tổng kết Đề án nâng caochất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường giai đoạn2010 - 2012
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2013
6. Bộ Lao động - Thương binh và xã hội (2014), Thông tư số 08/ 2014/ TT - BLĐTBXH ban hành chương trình, giáo trình môn học pháp luật dùng trong trình độ trung cấp nghề, trình độ cao đẳng nghề ban hành ngày 22/4/2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ban hành chương trình, giáo trình môn học pháp luật dùng trong trình độ trung cấp nghề, trình độ cao đẳng nghề ban hành ngày 22/4/2014
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và xã hội
Năm: 2014
7. Bộ Tư pháp - Vụ phổ biến giáo dục pháp luật (1997), Một số vấn đề phổ biến giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phổ biến giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Bộ Tư pháp - Vụ phổ biến giáo dục pháp luật
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1997
8. Bộ Tư pháp (2003), Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật, Kỷ yếu dự án, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2003
9. Chính phủ (2005), Nghị quyết số 14/2005/NQ - CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
14. C (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VII,15. C (1996),VIII, Ban Chấp hành Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứVII",15. C (1996)
Tác giả: C (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VII,15. C
Năm: 1996
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24/5/2005 của bộ Chính trị (khóa IX) về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2001, định hướng đến năm 2020, Hà Nội.18. C h Sách, tạp chí
Tiêu đề: về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thốngpháp luật Việt Nam đến năm 2001, định hướng đến năm 2020, "Hà Nội.18. C
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
21. Phạm Minh Hạc (1996), Nghiên cứu của con người giáo dục, phát triển và thế kỷ XXI, Chương trình KHCN cấp nhà nước KX - 07, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu của con người giáo dục, phát triển và thế kỷ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
26. Nguyễn Ngọc Quang (1968), Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục, Trường quản lý giáo dục trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 1968
29. Quốc hội (2009), Luật số 44/2009/QH12 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 44/2009/QH12 sửa đổi bổ sung một số điều của LuậtGiáo dục số 38/2005/QH11
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2009
31. Quốc hội (2012), Luật Giáo dục đại học, Nxb chính trị Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục đại học
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2012
34. Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2015
35. Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2015
36. Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2012), Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường giai đoạn 2013 - 2016” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường giai đoạn 2013 - 2016
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai
Năm: 2012
38. Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục (1995), Thực trạng phạm tội của học sinh, sinh viên Việt Nam trong mấy năm gần đây và vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng phạm tội của họcsinh, sinh viên Việt Nam trong mấy năm gần đây và vấn đề giáo dục pháp luậttrong nhà trường
Tác giả: Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
39. Viện Ngôn ngữ học (2000), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Từ điển Tiếng Việt, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w