1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết đàn trời của cao duy sơn

141 60 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 2,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhờ có giao tiếp bằng ngônngữ mà con người có thể thực hiện được các hoạt động trao đổi thông tin, bày tỏ quan điểm, cảm xúc, thiết lập hoặc gỡ bỏ những sợi dây liên kết tình cảm.Tác phẩ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––

BOUNTEE KEOMOUNGKHOUN

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG

TIỂU THUYẾT ĐÀN TRỜI CỦA CAO DUY SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,

VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––

BOUNTEE KEOMOUNGKHOUN

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG

TIỂU THUYẾT ĐÀN TRỜI CỦA CAO DUY SƠN

Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Mã số: 8.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,

VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thu Quỳnh

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu

và kết quả nghiên cứu trong luân văn là trung thực và chưa từng được công bốtrong bất kỳ một công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2020

Tác giả

Bountee KEOMOUNGKHOUN

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Ngữ văn, Phòng Đào tạo

- Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên cùng các thầy cô giáo ởViện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, Trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình,bạn hữu, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập vànghiên cứu

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2020

Tác giả

Bountee KEOMOUNGKHOUN

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC .iii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn tư liệu khảo sát 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp mới của luận văn 4

6 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn học nhìn từ lí thuyết giao tiếp và lí thuyết hội thoại 6

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về sáng tác của Cao Duy Sơn và tiểu thuyết Đàn trời 11

1.2 Cơ sở lí thuyết và thực tiễn 14

1.2.1 Lí thuyết giao tiếp 14

1.2.2 Lí thuyết hội thoại 20

1.2.3 Nhân vật văn học và ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn học 30

1.2.4 Khái quát về nhà văn Cao Duy Sơn và tiểu thuyết Đàn trời 33

1.3 Tiểu kết 35

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT ĐÀN TRỜI CỦA CAO DUY SƠN NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN VAI GIAO TIẾP 37

Trang 6

2.1 Dẫn nhập 372.2 Kết quả khảo sát về vai giao tiếp và quan hệ vai giao tiếp trong tiểu

thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn 37

2.2.1 Kết quả khảo sát về vai giao tiếp và số lượng các cặp vai giao tiếp 372.2.2 Kết quả khảo sát về quan hệ vai giao tiếp 45

2.3 Mô tả và phân tích đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn nhìn từ phương diện vai giao tiếp 51

2.3.1 Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật thể hiện qua quan hệ vai giao tiếpkhông ngang hàng 512.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật thể hiện qua quan hệ vai giao tiếpngang hàng 582.3.3 Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật thể hiện qua quan hệ vai giao tiếp vừa ngang hàng vừa không ngang hàng 62

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG

TIỂU THUYẾT ĐÀN TRỜI CỦA CAO DUY SƠN NHÌN TỪ

PHƯƠNG DIỆN HÀNH VI NGÔN NGỮ 67

3.1 Dẫn nhập 673.2 Kết quả khảo sát về hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ

gián tiếp của các nhân vật trong tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn 67

3.3 Mô tả và phân tích đặc điểm ngôn ngữ nhân vật thể hiện trong tiểu

thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn nhìn từ phương diện hành vi ngôn ngữ

69

3.3.1 Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật thể hiện qua hành vi ngôn ngữ trực tiếp 693.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật thể hiện qua hành vi ngôn ngữ gián tiếp 853.4 Tiểu kết 92

KẾT LUẬN 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC PL101

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng thống kê các vai giao tiếp theo các dạng thức cuộc thoại

trong tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn 38 Bảng 2.2: Bảng thống kê quan hệ vai giao tiếp trong tiểu thuyết Đàn trời

của Cao Duy Sơn 45Bảng 3.1: Bảng thống kê các hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi

ngôn ngữ gián tiếp thể hiện qua các kiểu câu trong tiểu thuyết

Đàn trời của Cao Duy Sơn

68

Trang 8

DANH MỤC VIẾT TẮT

CT : Cuộc thoại

HVNN : Hành vi ngôn ngữ

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp,phương tiện tư duy quan trọng nhất của con người Nhờ có giao tiếp bằng ngônngữ mà con người có thể thực hiện được các hoạt động trao đổi thông tin, bày

tỏ quan điểm, cảm xúc, thiết lập hoặc gỡ bỏ những sợi dây liên kết tình cảm.Tác phẩm văn học là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội của con người.Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, do vậy, thường thể hiện được một cách sinhđộng hoạt động giao tiếp của con người trong xã hội thông qua sự sáng tạo củanhà văn Nghiên cứu ngôn ngữ ở hoạt động hành chức trong cuộc sống là mộttrong những hướng nghiên cứu mà ngôn ngữ học hiện đại đang quan tâm Vìvậy, việc tìm hiểu ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là một cách tiếp cận phùhợp với xu hướng nghiên cứu mới cả về phương diện lí luận và phương diệnthực tiễn

1.2 Việc nghiên cứu ngôn ngữ trong các văn bản nghệ thuật có thể cónhiều khía cạnh khác nhau như: ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ kể chuyện, ngônngữ nhân vật, phương tiện nghệ thuật, nhịp điệu, ngữ điệu trong văn bản nghệthuật… Trong đó, nghiên cứu ngôn ngữ nhân vật là một nội dung nghiên cứu

có vai trò quan trọng bởi ngôn ngữ nhân vật góp phần khắc họa tính cách nhânvật, thúc đẩy sự phát triển của tính cách nhân vật và tình tiết cốt truyện cũngnhư thể hiện được ý đồ nghệ thuật và nội dung của tác giả Thông qua quanđiểm, tư tưởng của nhân vật, người đọc có thể nhận ra các giá trị, thông điệp có

ý nghĩa hàm ẩn trong tác phẩm mà nhà văn muốn gửi gắm cho độc giả

1.3 Cao Duy Sơn là nhà văn sinh ra và lớn lên tại thị trấn Cô Sầu, CaoBằng, mang trong mình hai dòng máu Kinh - Tày, ông có lợi thế mà các nhàvăn khác không có được, đó là sự am hiểu sâu sắc, gắn bó máu thịt với conngười và vùng đất quê hương mình Ông là một trong những gương mặt tiêubiểu của dòng văn học Việt Nam và là một cây bút văn xuôi sung sức luôn thể

Trang 10

hiện những sáng tạo, đam mê qua những trang văn Trong sự nghiệp của mình,

Cao Duy Sơn đã sáng tác được năm cuốn tiểu thuyết là Người lang thang (1992), Cực lạc (1995), Hoa mận đỏ (1999), Đàn trời (2006), Chòm ba trời (2009) Trong đó, Đàn trời là một tiểu thuyết hơn 700 trang viết về đề tài

chống tham nhũng Tác phẩm xoay quanh một số cán bộ trẻ nhiều khát vọngđẹp với những thế lực hắc ám, thao túng quyền lực, móc nối, chiếm đoạt tài sảnnhà nước và nhân dân Tác phẩm còn là những mảnh đời của các nhân vật đượcđan cài giữa quá khứ và hiện tại, giữa không gian phố thị và không gian bảnlàng, giữa một nền văn hóa đậm đà bản sắc của người miền núi với những “đổvỡ” văn hóa của cơ chế thị trường

Đến nay, các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Đàn trời mới chỉ khai

thác tác phẩm này ở khía cạnh nội dung, chưa có công trình nào đi sâu phântích tác phẩm ở phương diện ngôn ngữ nghệ thuật, đặc biệt ở khía cạnh ngônngữ nhân vật Việc tìm hiểu về đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết

Đàn trời của Cao Duy Sơn từ lí thuyết vai giao tiếp và hành vi ngôn ngữ như

vậy là một vấn đề mới, rất đáng để nghiên cứu Xuất phát từ những lí do trên,

chúng tôi lựa chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài: Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nhằm làm sáng tỏ một số đặc điểm và vai trò nổi bật của ngôn

ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn từ phương diện lí

thuyết vai giao tiếp và hành vi ngôn ngữ Qua những kết quả phân tích và tổnghợp, luận văn góp phần làm rõ đặc điểm phong cách nghệ thuật của Cao Duy

Sơn thể hiện trong tiểu thuyết Đàn trời.

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn đượcxác định là:

Trang 11

- Tìm hiểu những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài.

- Khảo sát, thống kê nguồn tư liệu phục vụ việc tìm hiểu ngôn ngữ nhân

vật, cụ thể là ngôn ngữ hội thoại của nhân vật trong tiểu thuyết Đàn trời của

Cao Duy Sơn

- Miêu tả, phân tích, làm rõ đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết

Đàn trời của Cao Duy Sơn nhìn từ phương diện vai giao tiếp và hành vi ngôn

ngữ

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn tư liệu khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết

Đàn trời của Cao Duy Sơn.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Ngôn ngữ nhân vật - xét từ quan điểm tiếp cận của ngôn ngữ học - là mộtphạm trù rộng, có nhiều góc độ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) và nhiều phươngdiện (cấu trúc, ngữ nghĩa, phong cách, ngữ dụng) Trong khuôn khổ của mộtluận văn thạc sĩ, vấn đề tìm hiểu về ngôn ngữ nhân vật, cụ thể là ngôn ngữ hội

thoại của nhân vật trong tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn được giới hạn

tiếp cận từ phương diện vai giao tiếp và hành vi ngôn ngữ, trong đó hành vingôn ngữ sẽ được tiếp cận tìm hiểu là hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vingôn ngữ gián tiếp của các nhân vật

3.3 Nguồn tư liệu khảo sát

Tư liệu khảo sát của luận văn là cuốn tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy

Sơn Cuốn tiểu thuyết này dày 706 trang, được Nhà xuất bản Hội Nhà Văn pháthành lần đầu vào năm 2006 và tái bản vào năm 2012

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp miêu tả

Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận văn này làphương pháp miêu tả Phương pháp này được sử dụng để mô tả, phân tích đặcđiểm của ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm Ở phương pháp này, thủ pháp giải

Trang 12

+ Thủ pháp giải thích bên ngoài như thủ pháp phân tích ngôn cảnh được

sử dụng để phân tích những yếu tố thuộc về ngôn cảnh tình huống và ngôncảnh văn hóa, lấy đó làm cơ sở nhận biết đặc điểm của ngôn ngữ nhân vật trong

tiểu thuyết Đàn trời.

+ Thủ pháp giải thích bên trong: thủ pháp thống kê, thủ pháp phân loại và

hệ thống hóa là các thủ pháp giúp thống kê lời thoại nhân vật; các loại vai giao

tiếp, quan hệ vai giao tiếp, các hành vi ngôn ngữ Thủ pháp này được thựchiện vừa là cơ sở để xác định đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (ngôn ngữcủa nhân vật xét từ phương diện lí thuyết giao tiếp và lí thuyết hội thoại), vừa làcăn cứ để xác định các số liệu làm minh chứng cho các luận điểm trong từngchương của luận văn

4.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn

Phương pháp này được dùng để phân tích các ngữ liệu trên các bình diệncủa diễn ngôn hội thoại; tổng hợp để rút ra đặc điểm khái quát về ngôn ngữ của

các nhân vật trong tiểu thuyết Đàn trời Từ đó, phần nào cho thấy vai trò của

ngôn ngữ nhân vật trong việc xây dựng tính cách nhân vật, đồng thời góp phầnlàm rõ phong cách nghệ thuật của nhà văn Cao Duy Sơn

5 Đóng góp mới của luận văn

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ nhân vật

trong tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn từ phương diện lí thuyết vai giao

tiếp và hành vi ngôn ngữ Công trình đã vận dụng những kiến thức cơ bản củaNgữ dụng học để khảo sát, phân tích về ngôn ngữ nhân vật, cụ thể là ngôn ngữhội thoại của nhân vật, qua đó nhằm làm rõ sự hành chức của ngôn ngữ tronggiao tiếp xã hội nói chung, giao tiếp nghệ thuật nói riêng; đồng thời góp phầnlàm rõ đặc điểm của ngôn ngữ nhân vật và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật tác

giả trong tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn.

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dungluận văn được trình bày trong ba chương:

Trang 13

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí thuyết và thực tiễn Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Đàn trời của

Cao Duy Sơn nhìn từ phương diện vai giao tiếp

Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Đàn trời của

Cao Duy Sơn nhìn từ phương diện hành vi ngôn ngữ

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,

CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn học nhìn từ lí thuyết giao tiếp và lí thuyết hội thoại

Trên thế giới, vấn đề nghiên cứu về giao tiếp và hội thoại đã được nhiềunhà ngôn ngữ học quan tâm

Cụ thể hơn, nghiên cứu về giao tiếp, vai giao tiếp và mối quan hệ giữa cácvai giao tiếp là những nội dung được nghiên cứu từ phương diện lí thuyết đếnkhảo sát cụ thể Có thể điểm qua một số hướng nghiên cứu như sau:

(i) Nghiên cứu về mức độ thể hiện vai quyền lực và vai thân hữu trong giao tiếp

Theo Nguyễn Thị Hồng Chuyên [11], các tác giả trên thế giới quan tâmđến việc làm rõ sự khác biệt trong việc xác lập vai quyền lực và vai thân hữucủa các đối tượng trong giao tiếp xuất phát từ mục đích, hoàn cảnh giao tiếpkhác nhau Ngôn ngữ của các vai giao tiếp thường thể hiện mối quan hệ đốixứng và phi đối xứng Các hành động ngôn ngữ trong giao tiếp của các đốitượng cũng góp phần thể hiện vai giao tiếp Woflson đã chứng minh được lờikhen (hành động khen) thường được thực hiện giữa những vai giao tiếp cùng

độ tuổi và địa vị Trên phương diện ảnh hưởng của văn hóa đến vai giao tiếp,các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra những tiêu chí quyết định sự khác biệt vănhóa giữa các quốc gia gián tiếp xác định vai giao tiếp của các đối tượng trong

xã hội [dẫn theo 11, tr.8] Geert Hofstede đưa ra 5 tiêu chí nhằm chỉ ra sự khácbiệt văn hóa giữa các quốc gia, trong đó tiêu chí về khoảng cách quyền lực gần

xa trong các thứ bậc là tiêu chí quan trọng nhất [dẫn theo 11, tr.9] Lakoff trongcông trình nghiên cứu của mình cũng đưa ra những cơ sở để xác lập ngôn ngữcủa mỗi giới Theo đó, nữ giới thường có xu hướng sử dụng ngôn ngữ diễn đạt

Trang 15

nhẹ nhàng, trung tính, thậm chí nhún nhường; còn nam giới thường có xu hướng

sử dụng ngôn ngữ diễn đạt mạnh mẽ, dứt khoát, ngắn gọn…

(ii) Nghiên cứu về xưng hô của các vai giao tiếp

Xưng hô trong giao tiếp là cách chỉ thị ngôi nhân xưng, nhờ đó mà quychiếu được các nhân vật tham gia giao tiếp Xưng hô trở thành điều kiện quantrọng, tiên quyết của việc nhận diện và xác lập vai giao tiếp của đối tượng giao

tiếp R Brown và A.Gilman đã đề nghị dùng hai chữ T và V (từ hai từ tu và vos

trong tiếng Latin) làm hai kí hiệu chung cho đại từ chỉ sự thân hữu và đại từ chỉ

sự quyền lực trong tất cả các ngôn ngữ Khi xem xét trong xã hội phương Tây,

T Holmes nhận thấy thái độ ứng xử, xưng hô của người trên quyền và ngườiquen biết là ngang nhau Tác giả cho rằng khi nhấn mạnh tới khoảng cách xãhội và tương tác quyền là hướng tới lịch sự âm tính, tức là chiến lược lịch sựtôn trọng Lịch sự âm tính nhấn mạnh khoảng cách xã hội và nét khác biệt vềquyền lực [dẫn theo 11, tr.11]

(iii) Nghiên cứu về hành động ngôn ngữ của các vai giao tiếp

Kế thừa và phát triển lí thuyết hành động ngôn từ của J.L Austin, J Searle

đã đưa ra 12 quan điểm khác biệt, quy chiếu thành bốn tiêu chí và xác lập đượcnăm nhóm hành động ngôn từ lớn như: xác tín, điều khiển, cam kết, bày tỏ,tuyên bố Đối với từng nhóm hành động ngôn ngữ, tác giả đã nêu những đặctrưng của nhóm và quy định giữa người nói (Sp1) và người nghe (Sp2) thựchiện một việc nào đó trong tương lai Sau J.L Austin và J Searle, các tác giảnhư A Wierbicka, D Wunderlich, F Bach… khi nghiên cứu về phân loại hànhđộng ngôn ngữ đã gián tiếp xác lập cương vị - vị thế của chủ thể và đối tượnggiao tiếp

Hội thoại, khi trở thành đối tượng của Ngữ dụng học, đã được nhiều tácgiả như C.K Orecchioni, H.P Goice, G Leach, D Wilson… quan tâm tìmhiểu và nghiên cứu M Bakhtin từng nhấn mạnh đối thoại chính là bản chất của

ý thức, bản chất của cuộc sống con người Nghiên cứu về hội thoại, các tác giảtập trung vào nghiên cứu một số hướng sau:

Trang 16

(i) Các nhân tố chi phối một cuộc hội thoại

Các tác giả đã chỉ ra có các nhân tố chủ yếu sau chi phối một cuộc thoạinhư: không gian, thời gian diễn ra cuộc thoại (thoại trường), người tham giacuộc thoại (thoại nhân), mục tiêu của cuộc thoại (đích giao tiếp), hình thứccuộc thoại…

(ii) Nguyên tắc hội thoại

Để cuộc hội thoại thành công, các nhân vật giao tiếp bắt buộc phải tuântheo một số nguyên tắc nhất định Qua nghiên cứu thực tế, K Orecchioni đã hệthống các quy tắc thành ba nhóm sau:

- Các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời;

- Các quy tắc chi phối cấu trúc hội thoại/ điều hành nội dung hội thoại;

- Các quy tắc chi phối quan hệ liên nhân trong hội thoại

Trong đó, nguyên tắc cộng tác hội thoại đã được Grice nêu ra năm 1967,được thể hiện qua bốn phương châm: phương châm về lượng, phương châm vềchất, phương châm về quan hệ và phương châm về cách thức

(iii) Cấu trúc hội thoại

Theo trường phái phân tích hội thoại, đơn vị hội thoại là các lượt lời.Harvey Sark - người đặt nền móng đầu tiên cho trường phái này cho rằng, dướicác lượt lời không còn đơn vị nào khác ngoài các phát ngôn Dù khác nhau vềkiểu loại, phong cách nhưng trong các cuộc hội thoại, các lượt lời thường đi vớinhau tạo thành từng cặp gần như tự động

Theo trường phái phân tích diễn ngôn, đơn vị hội thoại là phát ngôn vàcặp thoại Trường phái này cho rằng hội thoại là một đơn vị lớn được cấu trúctheo các bậc: tương tác, đoạn thoại, cặp thoại, bước thoại và hành vi So vớitrường phái phân tích hội thoại, trường phái phân tích diễn ngôn đã quan tâmtới các đơn vị trên và dưới lượt lời một cách toàn diện và sâu sắc hơn

Ở Việt Nam, kế thừa những kết quả nghiên cứu trên thế giới về mối quan

hệ giữa ngôn ngữ và giao tiếp, các nhà nghiên cứu cũng dành nhiều sự quantâm cho vấn đề này Có thể điểm qua một số hướng nghiên cứu như sau:

Trang 17

(i) Nghiên cứu về xưng hô của các vai giao tiếp

Xưng hô trong tiếng Việt chịu áp lực mạnh mẽ của chuẩn mực xã hội.Chuẩn mực xã hội chi phối việc lựa chọn từ ngữ xưng hô của các cá nhân trongtương tác xã hội Nguyễn Văn Khang vận dụng khái niệm “quyền thế” và “liênkết” để xem xét cách xưng gọi trong giao tiếp của người Việt Vũ Tiến Dũng

trong công trình Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính (qua một số hành động nói) đã đề cập đến vai giao tiếp và việc lựa chọn từ xưng hô: Xưng hô phù hợp

với vai giao tiếp mà mỗi cá nhân đang có trong cuộc thoại chính là xưng hôtheo tôn ti, thứ bậc

Từ góc độ văn hóa so sánh cách xưng hô giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ

khác, có thể kể đến các tác giả với các công trình như: Dương Thị Nụ (Từ chỉ quan hệ thân tộc trong tri nhận của người Anh và người Việt, 2004), Phạm Ngọc Hàm (Từ ngữ xưng hô trong tiếng Hán hiện đại (đối chiếu với tiếng Việt),

2008)… Từ góc độ văn hóa dân tộc Việt Nam, các tác giả đã có những công

trình nghiên cứu về xưng hô như: Bùi Khánh Thế (Về hệ thống đại từ xưng hô trong tiếng Chăm, 1990), Phạm Ngọc Thưởng (Các cách xưng hô trong tiếng Nùng, 1998), Lê Thanh Kim (Từ xưng hô và cách xưng hô trong phương ngữ tiếng Việt, 2002)

Xưng hô trong phạm vi giao tiếp gia đình và xã hội của người Việt cũng lànhững nội dung nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Có

thể kể đến một số tác giả và những công trình như: Đào Thản (Ngôn ngữ giao tiếp trên lớp học của giáo viên và học sinh tiểu học hiện nay, 2003), Bùi Minh Yến (Ngôn ngữ xưng hô bạn bè trong nhà trường hiện nay, 2003), Mai Xuân Huy (Về hiện tượng xưng hô trong giao tiếp quảng cáo, 2004), Lương Thị Hiền (Tìm hiểu văn hóa quyền lực được đánh dấu bằng hành vi xưng hô trong giao tiếp gia đình người Việt, 2009), Phạm Thị Hà (Chiến lược giao tiếp xưng hô trực tuyến giữa người hâm mộ với nghệ sĩ (qua hành vi khen và hồi đáp khen), 2013), Lê Thị Kim Cúc (Đặc điểm ngôn ngữ của các vai giao tiếp trong truyện

Trang 18

cổ tích thần kì Việt Nam, 2015), Khuất Thị Lan (Xưng hô trong giao tiếp vợ chồng nông dân người Việt (trên cứ liệu một số tác phẩm văn học giai đoạn

1930 - 1945), 2015)…

(ii) Nghiên cứu về hành động ngôn ngữ của các vai giao tiếp

Khi xem xét về giao tiếp và các vai giao tiếp, các nhà ngôn ngữ học xã hộicho rằng các vai giao tiếp chỉ thực sự được nhận ra thông qua những hình thứcdiễn đạt cụ thể Hành động ngôn ngữ được coi là một trong những hình thứcquan trọng để thiết lập mối tương quan giữa các nhân vật giao tiếp Một số nộidung nghiên cứu xoay quanh hành động ngôn ngữ của các vai giao tiếp có thể

kể ra là: nghiên cứu về cấu trúc, ngữ nghĩa và mối quan hệ của các hành độngngôn ngữ trong việc thể hiện vai giao tiếp; nghiên cứu hành động ngôn ngữ củacác vai giao tiếp trong quan hệ gia đình và xã hội Một số tác giả và công trình

có thể kể đến là: Chu Thị Thanh Tâm (Hành vi mời và đoạn thoại mời, 2005), Nguyễn Thị Thanh Ngân (Hành vi giao và phân công trong tiếng Việt, 2011), Trần Kim Hằng (Văn hóa ứng xử của người Việt và người Anh: những cặp thoại phổ biến (khen và hồi đáp khen), 2011), Lương Thị Hiền (Tìm hiểu cấu trúc trao - đáp trong mối tương quan với nhân tố quyền lực ở phạm vi giao tiếp gia đình tiếng Việt, 2012)…

Ở Việt Nam, khi nhắc tới lí thuyết hội thoại, có thể nhắc đến các tác giả

lớn như: Nguyễn Đức Dân (Ngữ dụng học, tập 1, 1998), Cao Xuân Hạo (Sơ thảo ngữ pháp chức năng, 1999), Đỗ Thị Kim Liên (Ngữ nghĩa lời hội thoại, 1999), Đỗ Hữu Châu (Đại cương ngôn ngữ học, tập 2: Ngữ dụng học, 2001)

Nhìn chung, các công trình vừa được nhắc tới đã xây dựng nền tảng lí luận cơbản, vững chãi về lí thuyết hội thoại như: vận động hội thoại, nguyên tắc hộithoại, thương lượng hội thoại, cấu trúc hội thoại…

Tìm hiểu về ngôn ngữ nhân vật trong các tác phẩm văn học ở Việt Nam từphương diện lí thuyết giao tiếp, lí thuyết hội thoại là một địa hạt nghiên cứukhá thú vị Tuy nhiên, đến nay, số lượng các công trình này cũng không phải là

Trang 19

nhiều Có thể kể ra một số tác giả và các công trình sau: Lê Thị Trang (Ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, 2002), Hoàng Quỳnh Ngân (Bước đầu tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng), Giáp Thị Thủy (Hội thoại trong Dế mèn phiêu lưu kí, 2009), Phạm Thị Mai Hương (Ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật trong Truyện Kiều, 2010), Nguyễn Thị Hồng Chuyên (Đặc điểm lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, 2010), Đinh Trí Dũng (Ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết

Vũ Trọng Phụng), Nguyễn Thị Gấm (Hội thoại trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, 2013), Nguyễn Thị Hồng Chuyên (Đặc điểm ngôn ngữ của người lính Cụ Hồ thời kì chống Pháp từ góc độ vài giao tiếp - Trên cứ liệu một số tác phẩm văn xuôi hiện đại, 2017).

Như vậy, có thể thấy, đã có không ít những công trình cũng như những bàiviết về giao tiếp, hội thoại trong tác phẩm văn học hoặc xem xét vai giao tiếp

và hội thoại ở rất nhiều khía cạnh khác nhau Trong số các công trình vừa kểđến, chưa có công trình nào tìm hiểu về ngôn ngữ nhân vật từ lí thuyết giao tiếp

và lí thuyết hội thoại Đây chính là cơ sở để đề tài Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn được thực hiện.

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về sáng tác của Cao Duy Sơn và tiểu thuyết

là vấn đề còn thiếu trong văn học đề tài dân tộc miền núi Cách nào để đột phá,tạo nên hình thức thể hiện mới, phản ánh sinh động đời sống, con người miền

Trang 20

núi hiện nay sao cho hay và hấp dẫn là tuỳ vào tài năng của người viết Chính

vì có ý thức sâu sắc như thế nên ngòi bút của Cao Duy Sơn đã phác thảo nênnhững bức tranh sinh động về cuộc sống ở vùng cao miền núi phía Bắc Ở đó,

có những tầng văn hoá truyền thống dân tộc dày đặc được hun đúc qua hàngtrăm thế hệ Trong đội ngũ nhà văn là người dân tộc thiểu số Việt Nam CaoDuy Sơn là cây bút có nhiều đóng góp ở mảng đề tài viết về người dân tộcmiền núi Để có thể khám phá vào tận bề sâu những vỉa tầng văn hóa của dân

tộc mình, Cao Duy Sơn tâm niệm: "Cả đời tôi chỉ đeo đuổi đề tài miền núi".

Nghiên cứu về Cao Duy Sơn và các sáng tác của ông, các nhà nghiên cứuthường tập trung vào một số nội dung chính sau:

(i) Giới thiệu chân dung nhà văn, hoàn cảnh ra đời và những đặc điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuật trong các sáng tác của ông

Hữu Thỉnh đánh giá cao sự thành công của Cao Duy Sơn khi phản ánh về

hiện thực cuộc sống và con người miền núi Ông nhận xét: “Tác giả Cao Duy Sơn đem đến cho người đọc mảng sống đậm đặc, tươi ròng về con người miền núi, vừa cổ kính, vừa hiện đại, mộc mạc, chân chất không để đánh mất trong những hoàn cảnh éo le, đau đớn” Trong một bài viết về Cao Duy Sơn, Lâm

Tiến đã phân tích và khẳng định tính sáng tạo độc đáo của Cao Duy Sơn

“Truyện của Cao Duy Sơn còn hấp dẫn người đọc ở cách viết giàu cảm xúc, giàu hình tượng với cách cảm nhận sự vật, hiện tượng tinh tế, chính xác, sắc sảo với những tình huống gay cấn, bất ngờ”.

(ii) Tiếp cận sáng tác của Cao Duy Sơn theo hướng Tự sự học và Thi pháp học

Lý Thị Thu Phương nhận xét truyện ngắn Cao Duy Sơn là tiếng nói khẳngđịnh, ngợi ca cái đẹp trong tâm hồn, trong lối ứng xử, vẻ đẹp nhân cách của conngười… Cái nhìn và giọng điệu truyện ngắn của Cao Duy Sơn vừa chân thành,mộc mạc, vừa ấm áp, trữ tình Đinh Thị Minh Hảo khi tìm hiểu về truyện ngắnCao Duy Sơn đã chỉ ra cảm hứng ngợi ca nhân vật chính diện được thể hiện

Trang 21

qua bút pháp ước lệ, tượng trưng và bút pháp tương phản Đào Thủy Nguyên

đề cập đến vấn đề giọng điệu trần thuật “Giọng văn trần thuật của Cao Duy Sơn thực sự gieo vui khi kể về phong tục tập quán của dân tộc” Bên cạnh

giọng điệu ca ngợi, tự hào, giọng điệu xót xa, thương cảm cũng là biểu hiện củatình yêu xứ sở, xót xa trước thực trạng quê hương còn nhiều điều chua xót

(iii) Tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc trong các sáng tác của Cao Duy Sơn

Đã có nhiều bài báo, các công trình nghiên cứu văn học ít nhiều nói đếncác sáng tác của Cao Duy Sơn về các phương diện : góc nhìn văn hóa, thế giới

nghệ thuật nhân vật,… Trong báo Đời sống Văn nghệ “Cao Duy Sơn - từ chú cầy hương đến chàng gấu rừng già” (2016) của tác giả Trung Thành có nhận

xét về yếu tố hình ảnh trong sáng tác của Cao Duy Sơn Tác phẩm của Cao DuySơn rất là giàu hình ảnh, giàu chất say của người say thiên nhiên Tác giả Sông

La khẳng định Cao Duy Sơn đã “băng qua những vỉa văn hóa” của miền núi để

sáng tạo và thành công Luận văn Tiểu thuyết đàn trời của Cao Duy Sơn dưới góc nhìn văn hóa (2013) của tác giả Cao Thành Dũng đã nghiên cứu về góc độ văn hóa mà Cao Duy Sơn thể hiện trong tiểu thuyết Đàn trời Không gian văn hóa được tác giả tìm hiểu kĩ từ không gian trong “bản”, “phố thị”, “tâm linh”

và có một mảng không gian xa lạ Các mẫu người văn hóa cũng được tác giảxoáy đến một cách chi tiết từ mẫu người văn hóa truyền thống, mẫu người thahóa,…

(iv) Nghiên cứu về tiểu thuyết Đàn trời

Có nhiều công trình nghiên cứu tác phẩm của Cao Duy Sơn, nhưng chỉ

một số ít công trình trong số đó đã nghiên cứu về tiểu thuyết Đàn trời Có thể

kể ra một số tác giả với các công trình nghiên cứu sau: Đặng Thùy An (2007)

với Thi pháp nhân vật tiểu thuyết trong tiểu thuyết Người lang thang và Đàn trời của Cao Duy Sơn [1], Mai Hồng (2007) với Tiểu thuyết Đàn trời của nhà văn dân tộc Tày [29], Sông Lam (2009) với Cao Duy Sơn giọng văn nhẹ nhàng

Trang 22

Sơn dưới góc nhìn văn hóa Không gian văn hóa trong tiểu thuyết Đàn trời đã được Cao Thành Dũng tìm hiểu kĩ từ không gian trong “bản”, “phố thị”, “tâm linh” và có một mảng không gian xa lạ [16] Hoàng Thị Huế (2016) trong bài

“Hành trình khám phá bản thể - khúc du ca tình yêu trong Đàn trời của Cao Duy Sơn” đã trình bày tiểu thuyết Đàn trời không tập trung vào đề tài tình

yêu, nhưng những vấn đề nhà văn đặt ra là những vấn đề của con người thời

kinh tế thị trường [37] Bế Thị Thu Huyền (2017) trong bài viết Cao Duy Sơn

và dấu ấn văn hóa miền núi qua tiểu thuyết Đàn trời đã cho người đọc thấy

được tình yêu tha thiết với vùng đất, miền văn hóa của Cao Duy Sơn và gócnhìn mới mẻ của tác giả để khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên miền núi vàgiúp người đọc thêm trân trọng, yêu mến thiên nhiên, cuộc sống và con ngườinơi đây [38]

Như vậy, tiểu thuyết Đàn trời cũng đã nhận được sự quan tâm của các nhà

nghiên cứu Nhìn lại các công trình nghiên cứu về tác phẩm này, có thể thấycác công trình, bài viết chủ yếu tập trung làm sáng tỏ một số phương diện vềtác giả, nội dung tác phẩm hoặc tiếp nhận tác phẩm từ góc nhìn của thi pháp thểloại hoặc văn hóa Chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ

nhân vật trong tiểu thuyết Đàn trời, đặc biệt là từ sự tiếp cận ở góc độ của lí

thuyết vai giao tiếp và lí thuyết hành vi ngôn ngữ

1.2 Cơ sở lí thuyết và thực tiễn

1.2.1 Lí thuyết giao tiếp

1.2.1.1 Khái niệm giao tiếp, hoạt động giao tiếp

Giao tiếp (communication) là một nhu cầu thiết yếu của con người Quagiao tiếp, con người nắm bắt được thông tin, tích lũy được các tri thức, kinhnghiệm, hiểu biết khoa học… Con người muốn phát triển hay hòa nhập mộtcộng đồng, xã hội nào đó phải có khả năng giao tiếp tốt

Giao tiếp ngôn ngữ là hiện tượng diễn ra hằng ngày trong các cộng đồngngôn ngữ Nó đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu

Trang 23

Leonchiev quan niệm: “Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ bảo đảm tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lí và

sử dụng phương tiện đặc thù mà trước hết là ngôn ngữ” [dẫn theo 11, tr.23] Parghin lại đưa ra định nghĩa: “Giao tiếp là một quá trình quan hệ, tác động giữa các cá thể, là quá trình thông tin giữa con người với con người, là quá trình hiểu biết lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau vầ trao đổi cảm xúc lẫn nhau” [dẫn theo 11, tr.23].

Ở Việt Nam, giao tiếp ngôn ngữ nhận được sự quan tâm của một số nhà

nghiên cứu Đỗ Việt Hùng và Nguyễn Thị Ngân Hoa định nghĩa: “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là sự tiếp xúc giữa con người với con người nhằm truyền đạt hay thông báo một số nội dung trong tư duy” [35, tr.23].

Hoạt động giao tiếp được Đỗ Việt Hùng định nghĩa là: “sự tiếp xúc giữa con người (nhóm người) với con người (nhóm người), trong đó diễn ra sự trao đổi thông tin (hiểu rộng), đồng thời thể hiện thái độ, cách đánh giá, cách ứng

xử của các nhân vật giao tiếp đối với nội dung giao tiếp và giữa các nhân vật giao tiếp với nhau” [36, tr.146].

Hoạt động giao tiếp thông thường là hội thoại, là sự trao đổi thông tin giữahai người với nhau Trong một cuộc giao tiếp có rất nhiều các nhân tố giao tiếpnhư: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp… Mỗi nhân tố

có vị trí và vai trò khác nhau trong hoạt động giao tiếp

1.2.1.2 Nhân tố giao tiếp

a Nhân vật giao tiếp

Nhân vật giao tiếp (thoại nhân) là những người tham gia vào quá trìnhgiao tiếp, dùng ngôn ngữ để tạo ra lời nói và tác động đến nhau Các nhân vậtgiao tiếp được chia thành hai phía: người nói (kí hiệu là Sp1) và người nghe (kíhiệu là Sp2) Tất cả các nhân vật giao tiếp, kể cả Sp1 và Sp2 đều có ảnh hưởngnhất định đến sự hình thức và nội dung giao tiếp Khi giao tiếp, người nói

Trang 24

không thể thích gì nói nấy mà phải chú ý đến đặc điểm của người tiếp nhậnnhư: đặc điểm lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, vị trí xã hội

Giữa các nhân vật giao tiếp tồn tại các quan hệ: quan hệ vai giao tiếp vàquan hệ liên nhân Quan hệ vai giao tiếp định ra giữa các nhân vật có sự phânđịnh vai phát/ vai nói (viết) và vai nhận/ vai nghe (đọc), có thể luân phiên thayđổi vai giao tiếp Quan hệ liên nhân thể hiện ở việc thiết lập và duy trì các mốiquan hệ xã hội, cụ thể là: vị thế xã hội, quyền uy, mức độ thân cận/ khoảngcách và tình cảm giữa các vai giao tiếp trong quá trình giao tiếp

Soi chiếu vào quan hệ liên nhân giữa các nhân vật giao tiếp thì quan hệ vai

xã hội giữa người phát và người nhận chia thành quan hệ ngang vai và quan hệkhông ngang vai, dựa trên hai trục: quyền uy và thân cận

Xét về quan hệ quyền uy, giữa các nhân vật giao tiếp có thể có các quan

+ Quan hệ vai dưới - vai trên: quan hệ giữa người nói có tuổi tác, vị thếtrong gia đình, xã hội thấp hơn người nghe Ví dụ như: quan hệ giữa con cáitrong giao tiếp với ông bà, bố mẹ…; giữa học sinh, sinh viên với thầy cô giáo…+ Quan hệ vai trên - vai dưới: quan hệ (ngược với quan hệ trên vai) giữangười nói có tuổi tác, vị thế trong gia đình, xã hội cao hơn người nghe

Xét về quan hệ thân cận, giữa các nhân vật giao tiếp có thể có quan hệthân thiết hoặc xa lạ

Trong thực tế hội thoại, ở rất nhiều trường hợp, tất cả các quan hệ trên trụcnày xuất hiện đồng thời và quy định việc sử dụng, tạo lập ngôn ngữ của nhânvật giao tiếp Do đó, vấn đề đặt ra là cần ưu tiên giá trị nào trước, hay nói cách

Trang 25

khác là cần phải sắp xếp các hệ giá trị theo thứ bậc Điều này không chỉ phụthuộc vào các yếu tố chủ quan giữa các nhân vật giao tiếp trong phạm vi hẹp

mà còn phụ thuộc vào một ngữ cảnh văn hóa rộng, các chế định, quy ước xãhội của cộng đồng bản ngữ mà các nhân vật giao tiếp thuộc về

Mặt khác, mối quan hệ giữa hai trục quyền lực và trục thân sơ nhiều khi

có thể tỉ lệ nghịch với nhau Nói cách khác, khi khoảng cách về quyền lực giữacác nhân vật giao tiếp càng lớn thì khoảng cách thân mật càng nhỏ, tức là mức

độ thân sơ giảm Trong giao tiếp, vị thế xã hội của nhân vật giao tiếp là cố định,bất biến (trong một bối cảnh giao tiếp) nhưng mức độ thân sơ có thể thay đổi vàthương lượng được

Trong quá trình giao tiếp, các nhân vật giao tiếp thể hiện vị thế của mìnhthông qua rất nhiều dấu hiệu ngôn ngữ Có thể kể đến các dấu hiệu như:

- Việc sử dụng từ ngữ xưng gọi bộc lộ vị thế của các nhân vật giao tiếp.Nhân vật giao tiếp có thể tùy thuộc vào vị thế của mình để lựa chọn hệ thống từngữ xưng hô thích hợp Có thể coi đây là dấu hiệu đầu tiên, dễ nhận biết nhất

về vị thế giữa các nhân vật giao tiếp

- Số lượng và chất lượng các lượt lời mà các nhân vật giao tiếp thực hiệntrong quá trình hội thoại cũng như bộc lộ vị thế giao tiếp Người ở vị thế caothường có xu hướng nói nhiều hơn, dài hơn người ở vị thế thấp Đôi khi, người

ở vị thế cao có thể tranh lời, cướp lời người đối thoại ở vị thế thấp mà khônggặp phải sự phản kháng nào từ phía đối phương

- Cách thức tổ chức cuộc thoại cũng là một dấu hiệu thể hiện vị thế củacác nhân vật giao tiếp như việc ai là người mở đầu hay kết thúc cuộc thoại, aithường xuyên là người mở thoại

- Việc tuân thủ nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự hay không trongquá trình hội thoại cũng là dấu hiệu để nhận biết về vị thế giao tiếp Người cốtình vi phạm các nguyên tắc trên trong cuộc thoại chứng tỏ là người có vị thếcao hơn so với người đối thoại và ngược lại

Trang 26

b Đề tài/ nội dung giao tiếp

Đề tài là mảng hiện thực ngoài diễn ngôn được các nhân vật giao tiếp lấylàm đối tượng để trao đổi Nội dung giao tiếp thường là những sự việc, sựkiện… được đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp trong giao tiếp Để giao tiếp diễn ramột cách bình thường, dễ đạt được mục đích đặt ra, các nhân vật giao tiếp phải

có những hiểu biết nhất định về thế giới bên ngoài, khởi nguồn cho nội dunggiao tiếp Hiện thực, thực tế khách quan vô cùng phong phú, tồn tại độc lập bênngoài các nhân vật giao tiếp Người nói trước khi giao tiếp phải có quá trìnhnhận thức thực tế khách quan Người nghe cũng phải có những nhận thức nhấtđịnh về hiện thực khách quan mà người nói đưa vào giao tiếp

c Môi trường giao tiếp/ hoàn cảnh giao tiếp

Môi trường (hoàn cảnh) giao tiếp được xem là những hiểu biết về thế giớivật lí, tinh thần, truyền thống văn hóa - xã hội… tại một thời điểm không gian

và thời gian diễn ra cuộc giao tiếp Đây là nhân tố cơ bản, có tác động quantrọng đến nội dung thông tin trong một cuộc giao tiếp

Hoàn cảnh giao tiếp có hai loại: hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnhgiao tiếp hẹp Hoàn cảnh giao tiếp rộng (tiền giả định giao tiếp) thường là đặcđiểm địa lí, lãnh thổ, tự nhiên, hoàn cảnh xã hội (chính trị, kinh tế, văn hóa, tôngiáo…), hoàn cảnh lịch sử (quốc gia, dân tộc…) ở thời điểm và không giantrong đó cuộc giao tiếp diễn ra Nó đóng vai trò như tiền giả định bách khoa màtrong quá trình giao tiếp các nhân vật huy động theo những cách khác nhau tùytừng cuộc giao tiếp

Hoàn cảnh giao tiếp hẹp (thoại trường) là nơi chốn, thời gian cụ thể khihoạt động giao tiếp diễn ra, đòi hỏi con người phải xử sự, nói năng theo nhữngcách thức ít nhiều chung cho nhiều lần xuất hiện

Các đặc điểm về thời gian, nơi chốn cụ thể của một hoạt động giao tiếpảnh hưởng trực tiếp đến hình thức và nội dung giao tiếp Có thể minh chứngđiều này qua một ví dụ: cùng một nội dung giao tiếp nhưng chúng ta sẽ có

Trang 27

những cách diễn đạt khác nhau nếu ở những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau: ởnhà khác với ở quán cà phê hoặc ở nhà hàng xóm…

d Tiền giả định giao tiếp

Bất kì một hoạt động giao tiếp nào cũng diễn ra trong bối cảnh tự nhiên và

xã hội nhất định Tổng thể các đặc điểm tự nhiên và xã hội của một dân tộc,một cộng đồng làm thành tiền giả định giao tiếp Tiền giả định giao tiếp tồn tạidưới dạng những hiểu biết, những kinh nghiệm về thế giới tự nhiên và xã hội

có trước hoạt động giao tiếp trong tư duy người phát, người nhận

Tiền giả định giao tiếp, tuy không tham gia trực tiếp vào giao tiếp nhưngvốn hiểu biết chung giữa các nhân vật giao tiếp về nó chính là điều kiện để mộtcuộc giao tiếp có thể được tiến hành bình thường Có được tiền giả định tronggiao tiếp chung, các nhân vật giao tiếp có thể lược bỏ rất nhiều nội dung khôngcần thiết trong giao tiếp Đồng thời, nếu các nhân vật giao tiếp không chấpnhận tiền giả định giao tiếp, thì một nội dung giao tiếp khó có thể diễn đạt đầy

đủ bằng lời được

e Phương tiện và kênh giao tiếp

Phương tiện giao tiếp là hệ thống tín hiệu (ở đây là ngôn ngữ) mà các nhânvật giao tiếp sử dụng trong quá trình giao tiếp Hệ thống tín hiệu được sử dụngthường xuyên nhất là ngôn ngữ Việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp phảituân theo những quy tắc chung được cộng đồng chấp nhận tại thời điểm giaotiếp

Kênh giao tiếp là môi trường truyền âm thanh trong giao tiếp Hiểu biết vềquy tắc sử dụng ngôn ngữ trong các lĩnh vực, các kênh giao tiếp khác nhau có ýnghĩa quan trọng trong giao tiếp bằng ngôn ngữ

g Đích giao tiếp

Đích giao tiếp là ý đồ, ý định mà các nhân vật giao tiếp đặt ra trong mộtcuộc giao tiếp nhất định Đích giao tiếp là yếu tố quan trọng nhất trong mộtcuộc giao tiếp Nó chi phối gần như toàn bộ tới các yếu tố còn lại và toàn bộ

Trang 28

Sự ảnh hưởng của các nhân tố giao tiếp được Đỗ Việt Hùng thể hiện qua

mô hình dưới đây:

H: Hiệu quả giao tiếpĐ: Đích giao tiếpND: Nội dung giao tiếp NV: Nhân vật giao tiếp MT: Môi trường giao tiếpPT: Phương tiện giao tiếp

Như vậy, có thể thấy, các yếu tố của hoạt động giao tiếp có ảnh hưởng qualại, tác động lẫn nhau và đều ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp Trong các yếu tố(nhân tố) giao tiếp, đích giao tiếp là yếu tố quan trọng nhất, yếu tố trung tâm, bởigiao tiếp đạt được yếu tố đó thì mới gọi là giao tiếp đạt hiệu quả [36, tr.160]

1.2.2 Lí thuyết hội thoại

1.2.2.1 Khái niệm hội thoại

Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người Hội thoại làgiao tiếp của con người trong xã hội, trong đó có nhiều yếu tố liên quan đếncon người và xã hội như: tâm lí, phong tục, văn hóa, dân tộc… Ngôn ngữ hộithoại chính là thứ ngôn ngữ đã được xã hội hóa cao độ

Theo Đỗ Hữu Châu, “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [8, tr.201].

Theo Nguyễn Thiện Giáp (2016) “Hội thoại là hành động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người Đó là giao tiếp hai chiều có sự tương tác qua lại giữa người nói và người nghe với sự luân phiên lượt lời” [23].

Theo Nguyễn Đức Dân (2000) “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói và bên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó là hội thoại.” [14].

Trang 29

Tác giả Đỗ Thị Kim Liên (2005) định nghĩa, “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hay nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định.” [43].

Tóm lại, các quan niệm trên đều có điểm chung khi cho rằng hội thoại làhoạt động giao tiếp thường xuyên, phổ biến của con người, là sự trao đổi thôngtin theo mục đích nào đó của những người tham gia giao tiếp

Một cuộc hội thoại sẽ chịu sự chi phối của các yếu tố như: thoại trường(không gian, thời gian diễn ra cuộc thoại), thoại nhân (người tham gia vào cuộcthoại), đích giao tiếp và hình thức cuộc thoại

1.2.2.2 Cấu trúc hội thoại

Có nhiều quan niệm về cấu trúc của hội thoại, đi kèm với mỗi dạng cấutrúc là các đơn vị hội thoại tương ứng

Theo trường phái phân tích hội thoại, đơn vị hội thoại là các lượt lời.Harvey Sark cho rằng, dưới các lượt lời không còn đơn vị nào khác ngoài cácphát ngôn Các lượt lời thường đi với nhau tạo thành từng cặp gần như tự động.Hai phát ngôn được coi là cặp kế cận nhau phải thỏa mãn các điều kiện sau: kếcận nhau, do hai thoại nhân khác nhau nói ra, được tổ chức thành bộ phận thứnhất và bộ phận thứ hai, có tổ chức riêng sao cho bộ phận thứ nhất đòi hỏi phải

có bộ phận riêng thứ hai Những cặp kế cận thường thấy là: cặp chào - chào,cặp hỏi - trả lời, cặp trao - nhận, cặp đề nghị - đáp ứng…

Theo trường phái phân tích diễn ngôn, đơn vị hội thoại là phát ngôn vàcặp thoại Trường phái này cho rằng: Hội thoại là một đơn vị lớn được cấu trúctheo các bậc: tương tác, đoạn thoại, cặp thoại, bước thoại và hành vi

- Cuộc thoại: là một lần nói chuyện, trao đổi giữa cá nhân, ít nhất là hai

câu thoại trong một cộng đồng, xã hội Cấu trúc của một cuộc thoại gồm có:

mở thoại, thân thoại, kết thoại

Trang 30

Cuộc thoại là đơn vị hội thoại lớn nhất Đó là cuộc tương tác bằng lời, tính

từ khi các thoại nhân gặp nhau, khởi đầu nói và nghe cho đến khi kết thúc quátrình này Theo Nguyễn Thiện Giáp (2016), để có một cuộc thoại, điều kiện cần

và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng trongmột khung thời gian, không gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng, nói

về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng

Cuộc thoại được xác định theo:

+ Sự thống nhất về nhân vật giao tiếp: khi thoại nhân thay đổi thì cuộcthoại thay đổi

+ Sự thống nhất về hoàn cảnh giao tiếp: tức là thống nhất về thời gian vàđịa điểm diễn ra cuộc thoại

+ Sự thống nhất về chủ đề giao tiếp: tức là thống nhất về nội dung giaotiếp được nói tới

Như vậy, trong một cuộc trò chuyện, các nhân vật tham gia có thể trao đổinhiều vấn đề khác nhau, hết vấn đề này đến vấn đề khác, nhưng bao giờ cũngphải có mở đầu và kết thúc Điểm bắt đầu và kết thúc chính là ranh giới của

cuộc thoại Thời đoạn bắt đầu được gọi là mở thoại, thời đoạn kết thúc là kết thoại, phần trung tâm cuộc thoại là thân thoại.

- Đoạn thoại: là một đoạn của cuộc thoại, do một hoặc một số cặp thoạiliên kết với nhau về đề tài và về đích giao tiếp, có tính hoàn chỉnh bộ phận để

cùng các đoạn thoại khác làm cho cuộc thoại thành công (đạt đích) “Đoạn thoại là một sự kiện hoặc loạt hành động nằm trong các cuộc tương tác giữa hai hoặc hơn hai người và có một mục đích riêng” [23, tr.165] Về ngữ nghĩa,

đoạn thoại là đơn vị có một chủ đề duy nhất Về ngữ dụng, đó cũng là đơn vị cóđích hội thoại duy nhất Các đoạn thoại được liên kết với nhau cả về hình thức

và ý nghĩa Tuy nhiên, cách chuyển từ đoạn thoại này sang đoạn thoại khác dựatrên nghĩa hay logic ngữ nghĩa nhiều hơn

Trang 31

Căn cứ vào chức năng, có các loại đoạn thoại sau: đoạn mở thoại, đoạnthân thoại, đoạn kết thoại Cấu trúc, dung lượng của các đoạn thoại này là khácnhau Đoạn mở thoại và kết thoại có cấu trúc tương đối đơn giản và ổn định, dễnhận ra Đoạn thân thoại thường có dung lượng lớn và cấu trúc phức tạp.

Tổ chức của đoạn thoại mở đầu và đoạn thoại kết thúc thường được nghithức hóa và lệ thuộc nhiều yếu tố như mối quan hệ giữa các tham thoại, hoàncảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp

Đoạn thoại mở đầu phần lớn được công thức hóa mang nhiều tính chấtnghi thức Ngoài chức năng mở đầu cuộc thoại, đoạn thoại mở đầu còn thựchiện vai trò thương lượng hội thoại như thống nhất chủ đề, thăm dò đốiphương, thử giọng điệu hội thoại… Thông thường, trong đoạn mở thoại, người

ta thường tránh sự xúc phạm thể diện của người nghe, chuẩn bị một hòa khí chocuộc thoại Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, người mở thoại cốtình xúc phạm thể diện nhằm một mục đích hội thoại nào đó

Đoạn thoại kết thúc thường có chức năng tổ chức sự kết thúc cuộc gặp gỡ,

để các thoại nhân cảm ơn, hứa hẹn, chúc tụng… Theo nguyên tắc lịch sự, cầntránh kết thúc đơn phương, đột ngột, trừ trong những tình huống đặc biệt

- Cặp thoại: “cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các tham thoại tạo nên” [8, tr.320].

Theo Nguyễn Đức Dân, “Trong một lượt lời liên kết có thể gồm nhiều phát ngôn với những chức năng và mục đích khác nhau, có liên kết chặt chẽ với nhau Mỗi lượt lời có những chức năng hội thoại khác nhau Người này nói và người kia lặp lại Hai lượt lời có liên quan trực tiếp và đứng kề nhau làm nên một cặp thoại” [13, tr.87].

Nguyễn Đức Dân khẳng định, “cặp thoại là hai phát ngôn có quan hệ tương thích về chức năng, hai vế của cặp thoại có thể liền kề nhau nhưng cũng

có thể cách xa nhau” [144, tr.95].

Trang 32

Như vậy, các tác giả trên đều quan niệm cặp thoại là do hai phát ngôn/lượt lời có quan hệ trực tiếp và đứng kề cận nhau tạo nên.

Trong hội thoại, cặp thoại là đơn vị quan trọng nhất Xét về cấu trúc, cặpthoại thường do hai tham thoại tạo nên, được gọi là cặp thoại hai tham thoại.Trong cặp thoại này, mỗi tham thoại tương ứng với một chức năng cụ thể.Tham thoại thứ nhất gọi là tham thoại dẫn nhập, tham thoại thứ hai được gọi làtham thoại hồi đáp Ở cặp thoại này, lượt lời trùng khớp với tham thoại, thamthoại trùng khớp với hành động ngôn ngữ Cặp thoại hai tham thoại là dạng đơngiản, dễ nhận biết nhất trong thực tế giao tiếp ngôn ngữ Các cặp thoại cũngkhông phải được nói ra một cách ngẫu nhiên, tùy tiện Chúng được tổ chức,thực hiện theo một quy tắc chặt chẽ, tuân theo những quy tắc chi phối hội thoại.Trong một cặp thoại, lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lờithứ hai Khi nói một điều, người ta dự đoán, chờ đợi một điều khác sẽ xảy ra.Sau khi thực hiện một hành vi ngôn ngữ, người ta chờ đợi một hành vi ngônngữ đáp ứng Nghĩa là, hai lượt lời có quan hệ mật thiết với nhau Lượt lời làđơn vị cơ bản của hội thoại Đó là một lần nói xong của một người trong khinhững người khác không nói, để rồi đến lượt một người tiếp theo nói

Dựa vào số lượng các nhân vật tham gia cuộc thoại, có thể phân chia rathành các kiểu thoại như sau:

- Đơn thoại: là lời thoại phát ra từ phía người nói hướng đến người nghe

nhưng không nhận được sự hồi đáp của người nghe Người nghe phản hồi bằnghành động hay thực hiện bằng cử chỉ không được tác giả mô tả trực tiếp Biểuhiện của dạng thức này thể hiện rõ nhất là lời độc thoại nội tâm

- Song thoại: là cuộc thoại gồm có hai nhân vật giao tiếp với nhau theo

quan hệ hai chiều Đó là cuộc giao tiếp xảy ra tương tác giữa người nói vàngười nghe, hay là cuộc giao tiếp diễn ra hành vi trao lời và đáp lời Lời củangười trao hướng đến người nghe và có sự đối đáp bằng hành vi ngôn ngữ

Trang 33

- Tam thoại: là cuộc giao tiếp trong đó có ba người tham gia với ba vai

khác nhau

- Đa thoại: là cuộc thoại có nhiều người tham gia Lời của nhiều nhân vật

đan xem vào nhau trong một ngữ cảnh hội thoại cụ thể

1.2.2.3 Hành vi (hành động) ngôn ngữ

Trong giao tiếp, con người thực hiện rất nhiều hành động khác nhau bằngcách sử dụng ngôn ngữ Các hành động này tuy được thể hiện hết sức đa dạngnhưng đều được gọi chung là hành vi (hành động) ngôn ngữ Hành vi ngôn ngữ

là đơn vị nhỏ nhất của cấu trúc hội thoại Để hiểu được các tam thoại, cặp thoại,đoạn thoại… chúng ta đều phải căn cứ vào hành vi ngôn ngữ

Hành vi ngôn ngữ hiểu một cách đơn giản là hành động được thực hiệnnhờ phương tiện là ngôn ngữ Người đầu tiên phát hiện ra bản chất hành độngtrong lời nói được phát ra là nhà triết học Austin Theo Austin, có ba loại hành

vi ngôn ngữ lớn, đó là: hành vi tạo lời, hành vi ở lời và hành vi mượn lời

- Hành vi tạo lời: là hành vi sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, từ,các kiểu kết hợp từ tạo thành câu… để tạo ra các phát ngôn, diễn ngôn với hìnhthức nhất định và nội dung tương ứng trong một cuộc giao tiếp Hành vi nàytạo ra nội dung mệnh đề và có một ý nghĩa xác định

- Hành vi ở lời (tại lời): là hành vi mà người nói thực hiện ngay khi nóinăng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, tức chúng gây ramột phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận

- Hành vi mượn lời: là hành vi phát ra lời nói để nhằm đạt đến một hiệuquả nằm ngoài lời đó, tức là mượn phương tiện ngôn ngữ để gây ra một hiệuquả nào đó ngoài ngôn ngữ ở các nhân vật giao tiếp Chức năng hành động củagiao tiếp được thực hiện nhờ các hiệu quả mượn lời của phát ngôn Có nhữnghiệu quả mượn lời là đích của một hành vi ở lời, nhưng cũng có những hiệu quảkhông thuộc đích của hành vi ở lời [dẫn theo 11, tr.30]

Austin (1962) chia hành vi ngôn ngữ thành năm phạm trù khác nhau: phán xét, hành xử, cam kết, bày tỏ, ứng xử Hướng phân loại này có ý nghĩa nhất

Trang 34

định đổi với việc nhận diện các hành vi ngôn ngữ Trong sự phân loại trên,chính Austin cũng nhận thấy còn những điều không thỏa đáng như có chỗchồng chéo, có chỗ còn mơ hồ J Searle lại phân loại hành vi ngôn ngữ thành

năm nhóm sau: tái hiện, điều khiển, cam kết, biểu cảm, tuyên bố.

Hành vi ngôn ngữ xét trong mối quan hệ giữa mục đích diễn đạt và cáchthức diễn đạt còn chia ra thành hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữgián tiếp

Đỗ Hữu Châu cho rằng hành vi ngôn ngữ trực tiếp là “những hành vi chân thực, có nghĩa là các hành vi được thực hiện đúng với điều kiện sử dụng, đúng với cái đích ở lời của chúng” [dẫn theo 22, tr.23].

Hành vi ngôn ngữ gián tiếp còn gọi là hành vi tại lời tái sinh Một hành vingôn ngữ được gọi là gián tiếp khi dạng thức ngôn ngữ của hành vi tại lờikhông phản ánh trực tiếp mục đích của điều muốn nói Mỗi hành vi ngôn ngữgián tiếp đều chứa đựng nhiều lớp nghĩa, nhiều ý tứ mà không phải người tiếpnhận nào cũng có thể phát hiện ra một cách dễ dàng

Đào Thanh Lan phân biệt hành động (hành vi) ngôn ngữ trực tiếp và hànhđộng (hành vi) ngôn ngữ gián tiếp ở phương thức biểu hiện và ý nghĩa biểu

hiện “Hành động trực tiếp/ hiển ngôn là hành động tạo ra đích ngôn trung hiển ngôn được biểu hiện trực tiếp bởi các dấu hiệu hình thức ngôn từ đặc trưng cho nó tức là bằng phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung trực tiếp Hành động trực tiếp tạo ra lời trực tiếp/ lời chính danh” [42, tr.59] “Hành động gián tiếp/ hàm ngôn là hành động mà đích ngôn trung không được biểu hiện trực tiếp bằng các dấu hiệu hình thức ngôn từ đặc trưng cho nó mà được biểu hiện gián tiếp thông qua dấu hiệu hình thức của hành động khác (hành động dẫn nhập) tạo ra hàm ý của lời được người nghe nhận diện bằng thao tác suy ý trên cơ sở ngữ nghĩa và ngôn cảnh” [42, tr.59].

Về hình thức biểu hiện, hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữgián tiếp được phân biệt căn cứ vào kiểu cấu trúc câu Tiếng Việt có 4 kiểu câu

Trang 35

cơ bản là tường thuật (trần thuật), nghi vấn (hỏi), cầu khiến và cảm thán Mỗikiểu câu có những dấu hiệu đặc thù về cấu trúc Kiểu hành động nói tổng quáttrong trường hợp này được gọi là chức năng Khi một kiểu câu được dùng vớichức năng vốn có của nó thì nó hoạt động với tư cách là hành vi ngôn ngữ trựctiếp Ngược lại, khi một kiểu câu hoạt động với chức năng không phải vốn cócủa kiểu câu đó thì nó hoạt động với tư cách là hành vi ngôn ngữ gián tiếp Nóicách khác, hành vi ngôn ngữ trực tiếp là loại hành vi ngôn ngữ có kết cấu lõicủa hành vi bề mặt trùng với đích ở lời Hành vi ngôn ngữ gián tiếp là hành vingôn ngữ có hình thức là hành vi ngôn ngữ này nhưng lại hướng đến đích ở lời

là của một hành vi ngôn ngữ khác

1.2.2.4 Quy tắc hội thoại

Để hội thoại thành công, các thoại nhân bắt buộc phải tuân theo một sốquy tắc nhất định K Orecchioni [dẫn theo 8, tr.225] đã hệ thống các quy tắcthành ba nhóm như sau:

- Các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời;

- Các quy tắc chi phối cấu trúc hội thoại;

- Các quy tắc chi phối quan hệ liên nhân trong hội thoại

Theo Đỗ Hữu Châu, cần có thêm một nhóm quy tắc thứ tư là: Các quy tắcđiều hành nội dung cuộc thoại Nhóm này gồm hai nguyên tắc: nguyên tắc cộngtác hội thoại và nguyên tắc quan yếu [8, tr.226] Nguyễn Đức Dân [13] cũngnhấn mạnh muốn cho một cuộc hội thoại thành công thì phải tôn trọng nguyêntắc (nguyên lí) hội thoại

a Quy tắc luân phiên lượt lời

Trong hội thoại, để cuộc thoại đạt được đích mong muốn, lượt lời, nóicách khác là hành vi trao lời và đáp lời giữa người nói và người nghe phải có

sự tương tác thích hợp Các nhân vật tham gia hội thoại phải có sự phối hợp về

từ ngữ, cách nói, cách ứng xử sao cho phù hợp với nội dung cuộc thoại Lượtlời của các nhân vật phải tạo nên sự kế tục, nối tiếp nhau, thúc đẩy cuộc thoại

Trang 36

phát triển theo hướng tích cực Để tiến trình hội thoại không bị gián đoạn, giaotiếp thuận lợi, người nói và người nghe phải tuân thủ các quy tắc sau:

- Vai nói thường xuyên phải thay đổi nhau trong một cuộc thoại;

- Mỗi lần chỉ một người nói;

- Lượt lời của mỗi người thường thay đổi về độ dài, do đó cần có nhữngbiện pháp để nhận biết khi nào một lượt lời chấm dứt;

- Vị trí ở đó nhiều người cùng nói một lúc tuy thường gặp nhưng khôngbao giờ kéo dài;

- Nhường lời cho người hội thoại với mình, không được cướp lời ngườikhác khi người đó chưa kết thúc;

- Nối tiếp lời của người tham gia hội thoại kịp thời, tránh không để khoảngyên lặng giữa các lượt lời quá dài;

- Trật tự của người nói không cố định, ngược lại luôn thay đổi

b Quy tắc điều hành nội dung hội thoại

Quy tắc điều hành nội dung hội thoại chính là các quy tắc điều hành quan

hệ giữa nội dung của các lượt lời tạo nên hội thoại Hai nguyên tắc được nhắcđến là nguyên tắc cộng tác hội thoại và nguyên tắc quan yếu

Nguyên tắc cộng tác hội thoại (nguyên tắc cộng tác)

Nguyên tắc này được Grice nêu ra năm 1967, thể hiện qua 4 phương châm:

- Phương châm về lượng: Phương châm này phải đảm bảo những yêu cầusau: Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đáp ứng đủ như đòi hỏicủa đích hội thoại Đừng làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin lớn hơnđòi hỏi Nghĩa là, phần đóng góp số lượng tin theo tiêu chuẩn cần và đủ xéttheo mục đích của cuộc thoại đó, không chứa nhiều tin hơn

- Phương châm về chất: Phương châm này phải đảm bảo những yêu cầusau: Hãy làm cho những đóng góp của anh là đúng Đừng nói những điều màanh tin rằng không đúng Đừng nói những điều mà anh không đủ bằng chứngxác thực Nghĩa là, phần đóng góp là chân thực, có thực, phải chứng minh được

Trang 37

- Phương châm quan hệ (quan yếu): Phương châm này phải đảm bảo yêucầu sau: Hãy làm cho phần đóng góp của anh có liên quan đến vấn đề đang đề

ra Nghĩa là, không nói những điều ngoài đề tài, ngoài mục đích nói

- Phương châm cách thức: Phương châm này phải đảm bảo những yêu cầusau: Nói rõ ràng, tránh lối nói tối nghĩa, mập mờ, mơ hồ về nghĩa, nói ngắn gọn,

có trật tự Nghĩa là, phải nói rõ ràng, chính xác, không mơ hồ, không đa nghĩa

Nguyên tắc quan yếu

Theo Wilson và Sperber, một phát ngôn chỉ quan yếu khi nó có hiệu lựcnào đó với ngữ cảnh và trong những điều kiện giống nhau Hiệu lực với ngữcảnh càng cao thì tính quan yếu của phát ngôn càng lớn K Orecchioni đã tìm

ra bốn phương diện mà một phát ngôn có thể quan yếu:

- Quan yếu về ngữ dụng: Một phát ngôn có thể được xem là quan yếu vềngữ dụng khi nó có hệ quả với hành động, với cách cư xử của những ngườitham gia hội thoại

- Quan yếu về lập luận: Một phát ngôn quan yếu về lập luận khi nó làm cơ

sở để người nghe rút ra những suy ý làm thay đổi hiểu biết hay suy nghĩ củangười nghe

- Quan yếu về hứng thú: Một phát ngôn quan yếu về hứng thú khi nó thuhút được sự quan tâm của người nghe

- Quan yếu về đề tài: Một phát ngôn quan yếu về đề tài khi nó có quan hệvới nhau và cùng quan hệ với đề tài của cuộc thoại mà nó tham gia vào

Để cuộc thoại thành công, các nhân vật giao tiếp luôn phải tác động,ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Một trong những khía cạnh của sự ảnh hưởng đó

là thương lượng hội thoại Thương lượng hội thoại được thể hiện ở các bìnhdiện sau:

- Về phương diện hình thức hội thoại, các nhân vật giao tiếp thỏa thuậnvới nhau về ngôn ngữ được dùng

Trang 38

- Về cấu trúc hội thoại, các nhân vật giao tiếp thương lượng về sự mở đầu,kết thúc và lượt lời của các nhân vật.

- Về nội dung hội thoại, các nhân vật giao tiếp thương lượng với nhau vềcác vấn đề đưa ra hội thoại

- Về thời gian, các nhân vật giao tiếp thương lượng hội thoại có thể diễn ra

từ đầu, trong quá trình hội thoại hoặc trong một số trường hợp cá biệt, thươnglượng hội thoại có thể diễn ra trước khi cuộc thoại bắt đầu

- Về cách thức, thương lương hội thoại có thể diễn ra một cách trực tiếphoặc gián tiếp

c Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại

Các nhân vật giao tiếp được quy định, ràng buộc lẫn nhau bởi quan hệ liên

cá nhân Khi tham gia vào một cuộc thoại, ngoài các quy tắc ngôn ngữ, nhânvật giao tiếp còn phải tuân thủ những quy ước của xã hội như quy tắc thẩm mĩ,quy tắc đạo đức, quy tắc lịch sự…

Lịch sự theo cách hiểu thông thường, là cách giao tiếp đúng mực, theokhuôn phép, khiến người giao tiếp với mình hài lòng Lịch sự còn được xemxét cùng với thể diện để đảm bảo tính toàn vẹn và đầy đủ Phép lịch sự là tổngthể của những cách thức mà nhân vật giao tiếp dùng để giữ gìn thể diện chonhau Lịch sự gồm 2 bình diện:

- Lịch sự quy ước: Trong khi tiến hành hội thoại, nhân vật giao tiếp phảituân theo những quy ước, nghi thức giao tiếp được cộng đồng chấp nhận vàtuân theo

- Lịch sự chiến lược: Khác với lịch sự quy ước, lịch sự chiến lược mangtính riêng biệt cho từng cuộc giao tiếp cụ thể Lịch sự chiến lược được thể hiệnthông qua việc chọn đề tài hội thoại và thực hiện các hành động ngôn ngữ

1.2.3 Nhân vật văn học và ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn học 1.2.3.1 Nhân vật văn học

Văn học không thể thiếu nhân vật vì đó là phương tiện cơ bản để nhà vănkhái quát hiện thực một cách hình tượng Nhân vật văn học là một trong những

Trang 39

khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng,trường phải hoặc dòng phong cách.

Theo Từ điển văn học, “nhân vật văn học là thuật ngữ chỉ hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ” [500, tr.1254].

Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, khôngthể bị đồng nhất với con người có thật, ngay khi tác giả xây dựng nhân vật vớinhững nét rất gần với nguyên mẫu có thật Đó không phải là sự sao chụp đầy đủmọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua nhữngđặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách… Nhân vật văn học cũngchính là sự thể hiện quan điểm của nhà văn về con người, nó có thể được xâydựng chỉ dựa trên cơ sở quan niệm ấy

Gắn với sáng tác ngôn từ của những thời đại khác nhau, nhân vật văn học

in dấu những xu hướng tiến hóa của tư duy nghệ thuật Thực tiễn sáng tác, phêbình và nghiên cứu đã nêu lên nhiều kiểu và loại nhân vật văn học, tương ứngvới những dấu hiệu phân loại khác nhau Có thể nói, các loại hình nhân vật rất

đa dạng

Xét về vai trò của nhân vật trong tác phẩm, nhân vật văn học được phânloại thành: nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm Nhân vật chính lànhân vật xuất hiện nhiều hơn cả trong tác phẩm, đóng vai trò quan trọng trongviệc thể hiện tập trung đề tài, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm Trong số nhân vậtchính, nhân vật được thể hiện đặc biệt nổi bật, có ý nghĩa tư tưởng - thẩm mĩsâu sắc nhất, đó là nhân vật trung tâm

Xét về phương diện hệ tư tưởng, về quan hệ đối với lí tưởng xã hội củanhà văn, nhân vật văn học được phân loại thành: nhân vật chính diện và nhânvật phản diện Nhân vật chính diện mang lí tưởng, quan điểm tư tưởng và đạođức của tác giả; thường được tác giả đề cao và khẳng định Nhân vật phản diện

Trang 40

nằm trong sự phê phán, phủ định của tác giả, là nhân vật mang phẩm chất xấu,trái với đạo lí và tư tưởng, đối lập về tính cách với các nhân vật chính diện.

1.2.3.2 Ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn học

Khi xây dựng nhân vật, các nhà văn thường rất chú ý tới biểu hiện ngônngữ nhân vật bởi ngôn ngữ là một căn cứ quan trọng để biểu đạt phẩm chất vàtính cách của mỗi nhân vật Nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình cá biệthóa nhân vật

Trong tác phẩm văn học, ngôn ngữ nhân vật là một yếu tố nhằm lột tả tínhcách nhân vật và xây dựng các tình huống xung đột tư tưởng Ngôn ngữ nhânvật có thể đóng vai trò tổ chức và chỉ đạo đối với ngôn ngữ toàn tác phẩm Nó

là phương tiện để bộc lộ chủ đề và tư tưởng tác phẩm, khắc họa đặc điểm vàbản chất của các tính cách và dẫn dắt quá trình phát triển của cốt truyện Nócũng tác động đến thái độ của người đọc đối với đối tượng đang được miêu tảtrong tác phẩm

Theo Lý Hoài Thu, ngôn ngữ nhân vật là thứ ngôn ngữ mang đặc điểm cáthể hóa rõ rệt, là công cụ đắc lực giúp nhà văn khắc họa tính cách nổi bật riêngcủa từng nhân vật [dẫn theo 20, tr.256] Ngôn ngữ nhân vật gồm ngôn ngữ đốithoại (khi nhân vật văn học nói với các nhân vật khác) và ngôn ngữ độc thoại(khi nhân vật văn học nói với chính mình)

Bàn về ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết, M Bakhtin viết: “Chỉ lời nói của những nhân vật trong tiểu thuyết - những nhân vật ít nhiều có tính độc lập

về mặt tư tưởng - ngôn từ, có nhãn quan của mình - vốn là tiếng nói của người khác, bằng ngôn ngữ khác; đồng thời có thể khúc xạ cả những ý chí của tác giả vào đó, đến một mức độ nhất định, có thể được coi là ngôn ngữ thứ hai của tác giả” [dẫn theo 488, tr.21].

Ngôn ngữ là phương tiện cơ bản nhất được dùng để thể hiện ngôn ngữnhân vật Trong tác phẩm, nhà văn có thể cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật bằngnhiều cách như nhấn mạnh cách đặt câu, ghép từ, lời phát âm đặc biệt của nhân

Ngày đăng: 07/01/2021, 21:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Thùy An (2007), “Thi pháp nhân vật tiểu thuyết trong tiểu thuyết Người lang thang và Đàn trời của Cao Duy Sơn”, Luận văn Thạc sĩ, Nxb Đại học Sư phạm, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thi pháp nhân vật tiểu thuyết trong tiểu thuyếtNgười lang thang và Đàn trời của Cao Duy Sơn”
Tác giả: Đặng Thùy An
Nhà XB: NxbĐại học Sư phạm
Năm: 2007
2. Đào Quỳnh Anh (2017), Phong cách truyện ngắn Cao Duy Sơn, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách truyện ngắn Cao Duy Sơn
Tác giả: Đào Quỳnh Anh
Năm: 2017
3. Diệp Quang Ban (chủ biên), (2002), Ngữ pháp Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
4. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2009
5. Lê Biên (1999), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
6. Đỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở Ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb ĐH&THCN, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb ĐH&THCN
Năm: 1987
7. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở Ngữ dụng học, tập 1, Nxb Đại học Sư phạm, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Ngữ dụng học, tập 1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2003
8. Đỗ Hữu Châu (2007), Đại cương Ngôn ngữ học, tập 2, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Ngôn ngữ học, tập 2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2007
9. Lê Thị Sao Chi (2011), Khảo sát lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễ Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyệnngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễ Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ
Tác giả: Lê Thị Sao Chi
Năm: 2011
10. Nguyễn Thị Hồng Chuyên (2010), Đặc điểm lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lời thoại nhân vật trongtruyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Chuyên
Năm: 2010
11. Nguyễn Thị Hồng Chuyên (2017), Đặc điểm ngôn ngữ của người lính cụ hồ thời kỳ chống Pháp từ góc độ vai giao tiếp (Trên cứ liệu một số tác phẩm văn xuôi hiện đại), Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngôn ngữ của người lính cụhồ thời kỳ chống Pháp từ góc độ vai giao tiếp (Trên cứ liệu một số tác phẩmvăn xuôi hiện đại)
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Chuyên
Năm: 2017
12. Lê Thị Cúc (2008), Khảo sát ngôn ngữ truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư trong hai tập truyện ngắn “Ngọn đèn không tắt” và “Cánh đồng bất tận, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học KHXH&NV, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát ngôn ngữ truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tưtrong hai tập truyện ngắn “Ngọn đèn không tắt” và “Cánh đồng bất tận
Tác giả: Lê Thị Cúc
Năm: 2008
14. Nguyễn Đức Dân (2000), Ngữ dụng học, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
15. Nguyễn Ngọc Diệp (2019), Từ ngữ xưng hô qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngữ xưng hô qua lời thoại nhân vật trongtiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn
Tác giả: Nguyễn Ngọc Diệp
Năm: 2019
16. Cao Thành Dũng (2013), Tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn từ góc nhìn văn hóa, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn từ góc nhìnvăn hóa
Tác giả: Cao Thành Dũng
Năm: 2013
17. Vũ Tiến Dũng (Chủ biên), Nguyễn Hoàng Yến (2018), Giáo trình ngữ dụng học, Nxb Đại học Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữdụng học
Tác giả: Vũ Tiến Dũng (Chủ biên), Nguyễn Hoàng Yến
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2018
18. Hữu Đạt (2019), Các vấn đề của ngôn ngữ nghệ thuật, Nxb ĐHQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề của ngôn ngữ nghệ thuật
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2019
19. Hoàng Dĩ Đình (2015), Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975, Nxb ĐHQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Namsau 1975
Tác giả: Hoàng Dĩ Đình
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2015
21. Lâm Quang Đông (2008), Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu
Tác giả: Lâm Quang Đông
Nhà XB: Nxb Khoa họcxã hội
Năm: 2008
22. Nguyễn Thị Gấm (2009), Hội thoại trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thoại trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh
Tác giả: Nguyễn Thị Gấm
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w