Những nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật và các loài thực vật làm thuốc ở tỉnh Thái Nguyên và khu vực nghiên cứu.... Đa dạng của các loài cây thuốc trong các trạng thái thảm t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Siamphai PAVELARDORSY
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÂY THUỐC TRONG MỘT SỐ TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT Ở XÃ PHÚC XUÂN, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH
THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Siamphai PAVELARDORSY
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÂY THUỐC TRONG MỘT SỐ TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT Ở XÃ PHÚC XUÂN, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH
THÁI NGUYÊN
Ngành: Sinh thái học
Mã ngành: 8.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS SỸ DANH THƯỜNG
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Nếu sai, tôi xin hoàntoàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Siamphai PAVELARDORSY
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ, chuyênngành Sinh thái học tại khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm - Đại họcThái Nguyên, tôi đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của các thầy cô giáo, cácđồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS SỹDanh Thường - người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức
và kinh nghiệm quý báu để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Sinhhọc, Phòng Đào tạo (bộ phận Sau Đại học) Trường Đại học Sư phạm - Đại họcThái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình họctập và nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đề tài thuộc Quỹ phát triển Khoa học
và công nghệ Quốc gia (Nafosted), mã số 106.03-2019.10 đã hỗ trợ về kinhphí trong quá trình thu thập mẫu vật và phân tích hoạt tính sinh học
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè vàđồng nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua
Trong quá trình thực hiện luận văn do còn nhiều hạn chế về mặt thờigian, kinh phí cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi nhữngthiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến quý báu của các thầy cô giáo,các nhà khoa học, cùng bạn bè, đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày ….tháng……năm 2020
Tác giả luận văn
Siamphai PAVELARDORSY
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN .ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Thời gian và phạm vi nghiên cứu
2 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật và hệ thực vật 3
1.1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật 3
1.1.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật 4
1.2 Những nghiên cứu về cây thuốc và vị thuốc trên thế giới và ở Việt Nam 6
1.2.1 Những nghiên cứu về cây thuốc và vị thuốc trên thế giới
6 1.2.2 Những nghiên cứu về cây thuốc và vị thuốc ở Việt Nam 8
1.3 Những nghiên cứu về các loài thực vật làm thuốc quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng 11
1.4 Những nghiên cứu về đặc điểm hình thái giải phẫu và hoạt tính cây thuốc 11
1.5 Những nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật và các loài thực vật làm thuốc ở tỉnh Thái Nguyên và khu vực nghiên cứu 13
1.6 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 15
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .17
Trang 62.1 Mục tiêu nghiên cứu 17
Trang 72.2 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 17
2.3 Nội dung nghiên cứu 17
2.4 Phương pháp nghiên cứu 17
2.4.1 Phương pháp điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn (OTC) 17
2.4.2 Phương pháp thu mẫu thực vật 18
2.4.3 Phương pháp phân tích mẫu vật 18
2.4.4 Phương pháp chiết mẫu để phân tích hoạt tính sinh học 18
2.4.5 Phương pháp nghiên cứu hoạt tính một số dòng tế bào ung thư 19 2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 21
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đa dạng các taxon cây thuốc ở khu vực nghiên cứu 22
3.1.1 Đa dạng ở mức độ ngành 22
3.1.2 Đa dạng ở mức độ họ 23
3.1.3 Đa dạng ở mức độ chi 24
3.2 Đa dạng của các loài cây thuốc trong các trạng thái thảm thực vật 25
3.2.1 Đa dạng của các loài cây thuốc trong trạng thái rừng thứ sinh 26
3.2.2 Đa dạng của các loài cây thuốc trong trạng thái thảm cây bụi 27
3.2.3 Đa dạng của các loài cây thuốc trong trạng thái rừng trồng keo 4 tuổi .28
3.2.4 Đa dạng của các loài cây thuốc trong trạng thái rừng trồng keo 8 tuổi .29
3.3 Đa dạng về thành phần dạng sống 30
3.4 Đa dạng về các bộ phận sử dụng làm thuốc 32
3.5 Các loài cây thuốc quý hiếm ở khu vực nghiên cứu 34
3.6 Hoạt tính sinh học của loài Hồng trâu (Capparis versicolor Griff.) 35
Trang 8KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO 40 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hợp quốc
iv
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Phân bố cây thuốc trong các bậc taxon ở khu vực nghiên cứu 22
Bảng 3.2 Các họ có số lượng cây thuốc đa dạng trong khu vực
nghiên cứu 23
Bảng 3.3 Các chi có số lượng cây thuốc đa dạng trong khu vực nghiên cứu 24
Bảng 3.4 Sự phân bố các họ, chi, loài cây thuốc trong các kiểu TTV tại KVNC 25
Bảng 3.5 Sự phân bố của các bậc taxon cây thuốc ở trạng thái rừng thứ sinh 26
Bảng 3.6 Sự phân bố của các bậc taxon cây thuốc ở trạng thái thảm cây bụi 28
Bảng 3.7 Sự phân bố của các bậc taxon ở trạng thái rừng trồng keo 4 tuổi 29
Bảng 3.8 Sự phân bố của các bậc taxon cây thuốc ở trạng thái rừng trồng keo 8 tuổi 30
Bảng 3.9 Số lượng và tỷ lệ các nhóm dạng sống 31
Bảng 3.10 Các bộ phận của cây được sử dụng làm thuốc 32
Bảng 3.11 Danh lục các loài thực vật làm thuốc quý hiếm 34
Bảng 3.12 Hoạt tính ức chế của dịch chiết thô trên 03 dòng tế bào ung thư 37
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Việt Nam có một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, một tiềm năng lớn
về tài nguyên cây dược liệu nói riêng và tài nguyên dược liệu nói chung Theothống kê, trong tổng số 3.948 loài cây có tới 87,1% là các loài tự nhiên, sốngtrong các quần xã rừng, trảng cây bụi, nương rẫy, bãi hoang, chỉ có 12,9% câythuốc đã được trồng ở các mức độ khác nhau
Ngày nay, việc tìm kiếm các hoạt chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao
để làm thuốc là một xu thế được rất nhiều các nhà khoa học quan tâm ViệtNam là một trong những quốc gia thuộc vùng nhiệt đới - nơi chứa đựng giá trị
đa dạng sinh học cao chưa được khám phá Bên cạnh đó, cộng đồng các dântộc ở nước ta cũng có vốn tri thức bản địa sử dụng các loài thực vật làmthuốc Đây là lĩnh vực này được các nhà khoa học coi là một tiềm năng trongviệc tìm kiếm nghiên cứu tạo ra những loại thuốc mới, có hiệu lực điều trị caotrong tương lai
Xã Phúc Xuân là xã nằm ở phía tây bắc của thành phố Thái Nguyên Xãnằm ven tỉnh lộ 253 từ trung tâm thành phố đến thị trấn Đại Từ Xã tiếp giápvới Hồ Núi Cốc ở phía tây nam; tiếp giáp với xã Cù Vân và An Khánh củahuyện Đại Từ ở phía bắc; tiếp giáp với xã Phúc Hà, Quyết Thắng thuộc thànhphố Thái Nguyên về phía đông; tiếp giáp xã Tân Thái thuộc huyện Đại Từ vềphía tây Bên cạnh đó, trên địa bàn của xã Phúc Xuân còn có một số hòn đảotrên Hồ Núi Cốc
Do nằm ở vị trí thuận lợi gần hồ Núi Cốc nên hệ thực vật ở xã PhúcXuân được quản lý và bảo vệ Tại đây chứa đựng nguồn tài nguyên thực vậtlàm thuốc tương đối đa dạng và chưa được nghiên cứu điều tra cụ thể Việcđiều tra, nghiên cứu thống kê các loài thực vật làm thuốc và tìm hiểu một sốloài cây thuốc có giá trị là hướng nghiên cứu mới, có ý nghĩa khoa học và ý
nghĩa thực tiễn Do đó, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đa dạng cây
thuốc trong một số trạng thái thảm thực vật ở Xã Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”.
Trang 132 Thời gian và phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: đề tài được thực hiện từ tháng 5 năm 2019 đếntháng 4 năm 2020
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tính đa dạng câythuốc trong một số trạng thái thảm thực vật ở Xã Phúc Xuân, thành phố TháiNguyên, tỉnh Thái Nguyên
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật và hệ thực vật
1.1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật
Thảm thực vật rừng hay lớp phủ cây cỏ trên mặt trái đất, gồm các quầnthể thực vật thân gỗ, không những cung cấp lâm sản phục vụ cho đời sốngcon người, mà còn có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế tác hạicủa thiên tai như lũ lụt, hạn hán, bão lốc,… (dẫn theo Thái Văn Trừng 1998)[27] Phân loại thảm thực vật là một nội dung quan trọng được nhiều nhànghiên cứu quan tâm Thảm thực vật được hình thành, tồn tại và phát triểntrên nhiều điều kiện khác nhau Vì vậy, sắp xếp và phân loại chúng là vấn đềrất khó và đã có nhiều hệ thống phân loại khác nhau bao gồm: phân loại theocác điều kiện sinh thái, theo cấu trúc ngoại mạo, theo động thái và nguồn gốcphát sinh, theo thành phần hệ thực vật, theo phục vụ mục đích kinh doanh
Phân loại theo cấu trúc ngoại mạo: Theo trường phái này quần hợp làđơn vị cơ bản của lớp phủ thực vật Dấu hiệu được dùng làm cơ sở phân loại
là hình thái ngoại mạo của thảm thực vật - đó là dạng sống ưu thế cùng điềukiện nơi sống Tiêu biểu cho trường phái này có Rubel (1930), Mausel(1954), Ellenberg, Mueller và Dombois (1967) (Dẫn theo Nguyễn Thị Thoa(2014)
[25]
Phân loại thảm thực vật theo động thái và nguồn gốc phát sinh: Theotrường phái này, dựa vào các đặc điểm khác nhau của thảm thực vật ở cáctrạng thái Đó là quần xã cao đỉnh, quần xã dẫn xuất, hay là quần xã ở các giaiđoạn của quá trình hình thành quần xã cao đỉnh, các quần xã có sự giống nhau
về loài ưu thế, về trạng thái của các loài ưu thế trong cấu trúc của quần xã Đạidiện cho trường phái này là Ramenski (1938), Sotrava (1972), Clemets (1986),Whittaker (1953) Trường phái này khẳng định tính liên tục của thảm thực vật
Trang 15Theo Whittaker lớp phủ thực vật phức tạp không phải bởi các quần xã mà bởicác quần
Trang 16thể, nghĩa là tập hợp các cá thể của loài Patrotski (1925), hệ thống phân loạithuộc nguồn gốc được thành lập trên cơ sở xác định nguồn gốc hệ thực vật -
đó là hệ thống phân loại quan trọng nhất của các quần xã thực vật
Phân loại thảm thực vật theo thành phần hệ thực vật: Nguyên tắc cơ bảncủa trường phái này là dựa vào loài đặc trưng để phân chia quần hợp thực vật.Nhược điểm của trường phái này là chỉ chú ý đến loài thực vật, ít chú ý đếncác yếu tố khác, hơn nữa phương pháp này cần một số lượng rất lớn các bảng
mô tả ô tiêu chuẩn nên rất tốn kém và khó làm
Phân loại rừng phục vụ mục đích kinh doanh: Phân loại rừng phục vụmục đích kinh doanh đã hình thành và phát triển từ đầu thế kỷ XX với côngtrình tiêu biểu là Học thuyết về các kiểu rừng của Morodov G F., 1904 Trong
đó, Morodov G F đã trình bày những vấn đề cơ bản về sinh thái rừng và coikiểu rừng là đơn vị phân loại cơ bản Mặc dù còn những thiếu sót nhất định,học thuyết về kiểu rừng của Morodov đã được các nhà nghiên cứu ở Liên Xô(cũ) kế thừa và phát triển như: Alechxeep, Nesterov, Pogrepnhiac, Sucasop,Melekhov,
1.1.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật
Engler (1882) đã đưa ra con số thống kê số lượng loài của hệ thực vậttrên thế giới là 275.000 loài, trong đó thực vật có hoa là 155.000-160.000 loài,thực vật không có hoa gồm 30.000-135.000 loài Riêng thực vật có hoa trênthế giới Grosgayem (1949) đưa ra con số là 300.000 loài Hai vùng giàu cónhất thế giới là Brazil 40.000 loài và quần đảo Malaysia 45.000 loài (dẫn theoNguyễn Nghĩa Thìn, 2008) [24]
Brummitt (1992) đã thống kê thực vật bậc cao có mạch trên thế giới gồm
511 họ, 13.884 chi, 6 ngành là Psilotophyta, Lycopodiophyta, Equisetophyta,Polypodiophyta, Gymnospermae và Angiospermae Trong đó Angiospermae
có 13.477 chi, 454 họ và được chia ra 2 lớp là Dicotyledoneae bao gồm10.715 chi, 357 họ và Monocotyledoneae bao gồm 2.762 chi, 97 họ
Trang 17Tại khu vực Châu Á, nhiều quốc gia đã nghiên cứu và xây dựng được
bộ Thực vật chí khá hoàn chỉnh Các công trình trong khu vực có thể kể đếnnhư Thực vật chí Hồng Kông (1861, 2007-2009); Thực vật chí Đài Loan(1993-
2000), Thực vật chí Trung Quốc (1994-2010), Thực vật chí Malaysia 1972), Thực vật chí Thái Lan (1970-2012)
(1948-Ở Việt Nam, những nghiên cứu về hệ thực vật đã có từ lâu Trước hếtcần phải kể đến đó là bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương Trong côngtrình này, các tác giả người Pháp đã kiểm kê được ở Đông Dương có 7004 loàithực vật bậc cao có mạch Từ những dẫn liệu ghi trong bộ Thực vật chí đạicương Đông Dương, năm 1965 Pócs T đã thống kê hệ thực vật phía Bắc ViệtNam có
5190 loài Tiếp theo phải kể đến bộ sách Thực vật chí Campuchia, Lào và ViệtNam "Flore du Cambodge du Laos et du Vietnam" do Aubréville khởi xướng
và chủ biên (1960-2015) cùng với nhiều tác giả khác Đến nay đã công bố 34tập nhỏ gồm 79 họ cây có mạch Tuy nhiên con số này còn ít xa so với số loàithực vật đã biết ở 3 nước Lào, Campuchia và Việt Nam Phan Kế Lộc trongmột công trình "Bước đầu thống kê số loài đã biết ở miền Bắc Việt Nam" chothấy hệ thực vật Bắc Việt Nam có 5609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ [23]
Bộ sách tương đối đầy đủ về thực vật ở Việt Nam với nhiều tên khoahọc được cập nhật đó là Danh lục các loài thực vật Việt Nam tập I (2001), tập
II (2003), tập III (2005), trong tài liệu này, các tác giả đã thống kê được 368loài vi khuẩn lam, 2.200 loài Nấm, 2.176 loài Tảo, 481 loài Rêu, 1 loài Quyết
lá thông, 53 loài Thông đất, 2 loài cở tháp bút, 691 loài dương xỉ, 69 loài thực
Trang 18vật hạt trần và 13.000 loài thực vật hạt kín, đưa tổng số loài thực vật Việt Namlên đến gần 20.000 loài [2] [29]
Trang 19Bên cạnh đó một số họ riêng biệt đã được công bố như họ Lan(Orchidaceae) ở Việt Nam của A V Averyanov (2003), họ Thầu dầu(Euphorbiaceae) Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Thìn (1999), họ Na(Annonaceae) Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (2000) [1], họ Cói(Cyperaceae) của Nguyễn Khắc Khôi (2002) [17], họ Đơn nem (Myrsinaceae)của Trần Thị Kim Liên (2002) [18], họ Bạc hà (Lamiaceae) (2000) [21], họ
Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) (2007) của Vũ Xuân Phương [22], họ Trúc đào(Apocynaceae) của Trần Đình Lý (2007) [20], họ Cúc (Asteraceae) của LêKim Biên (2007) [3] Đây là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việcđánh giá về đa dạng phân loại các taxon của thực vật
1.2 Những nghiên cứu về cây thuốc và vị thuốc trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Những nghiên cứu về cây thuốc và vị thuốc trên thế giới
Lịch sử nghiên cứu cây thuốc và vị thuốc đã xuất hiện cách đây hàngnghìn năm Nhiều nước trên thế giới (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, ẤnĐộ…) đã chú ý sử dụng cây thuốc trong phòng và chữa bệnh Năm 2838 trướcCông nguyên (TCN) là năm hình thành bộ môn nghiên cứu cây thuốc và dượcliệu Cuốn "Kinh Thần Nông" đã ghi chép 364 vị thuốc Đây là cuốn sách tạonền tảng cho sự phát triển liên tục của nền y học dược thảo Trung Quốc chođến ngày nay [9]
Hiện nay số loài cây thuốc được sử dụng chữa bệnh trên thế giới vàokhoảng 70.000 loài Đặc biệt các vùng nhiệt đới như là những kho tàng chứađựng số loài thực vật rất phong phú, đa dạng và cũng rất giàu tri thức sử dụnglàm thuốc Vùng nhiệt đới Châu Á có khoảng 6.500 loài thực vật ngành MộcLan (Magnoliophyta) được dụng làm thuốc Trung Quốc là quốc gia có truyềnthống việc sử dụng cây cỏ làm thuốc với khoảng hơn 5.000 loài Ấn Độ cókhoảng 6.000 loài cây thuốc Một trong những kho cây thuốc thế giới là dãynúi Hymalaya có tới gần 1.800 loài cây thuốc [7]
Trang 20kiến thức về cây thuốc bản xứ như Bạch đàn xanh (Eucalyptus globolus
Labill.) duy nhất chỉ ở lãnh thổ này và được đánh giá cao trong việc chữabệnh
Năm 1595, Lý Thời Trân (Trung Quốc) đã tổng kết tất cả kinh nghiệm
về cây thuốc và dược liệu để soạn thành quyển "Bản thảo cương mục" Đây làcuốn sách vĩ đại nhất của Trung Quốc về lĩnh vực này Tác giả đã mô tả vàgiới thiệu 1.094 cây thuốc và vị thuốc từ cây cỏ [26]
Năm 384 - 322 (TCN), Aristote người Hy Lạp đã ghi chép và lưu giữsớm nhất về kiến thức cây cỏ ở nước này Sau đó, năm 340 (TCN)Theophraste với tác phẩm "Lịch sử thực vật" đã giới thiệu gần 480 loài cây cỏ
và công dụng của chúng Tuy công trình của ông mới chỉ dừng lại ở mức mô
tả, thống kê, song nó mở đầu cho một giai đoạn tìm tòi, nghiên cứu sâu về lĩnhvực này [5]
Thầy thuốc người Hy Lạp Dioscorides năm 60 - 20 (TCN) giới thiệu
600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh Đồng thời, ông cũng là người đặt nềnmóng cho nền y dược học Năm 79 - 24 (TCN), nhà tự nhiên học người La MãPlinus soạn thảo bộ sách "Vạn vật học" gồm 37 tập giới thiệu 1000 loài cây cóích Năm
1952, tác giả người Pháp A.Pétélot có công trình "Les phantes de médicinales
du Cambodye, du Laos et du Viet nam" gồm 4 tập nghiên cứu về cây thuốc vàsản phẩm làm thuốc từ thực vật ở Đông Dương [41]
Như vậy, những công trình nghiên cứu về dược liệu đã có từ lâu đời,hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử của nhân loại Tuy nhiên,
Trang 21do sự hạn chế của trình độ khoa học đương thời nên những công trình này chỉdừng lại ở mức độ mô tả, thống kê và chỉ ra công dụng của chúng, chưa có
cơ sở
Trang 22khoa học để chứng minh thành phần hoá học của chúng có tồn tại trong đó vàtham gia vào việc chữa bệnh như thế nào Chỉ đến khi khoa học kỹ thuật pháttriển thì vấn đề này mới được làm sáng tỏ, tạo độ tin cậy đối với người bệnhkhi sử dụng
1.2.2 Những nghiên cứu về cây thuốc và vị thuốc ở Việt Nam
Việt Nam có nguồn tài nguyên động, thực vật phong phú và đa dạng.Theo ước tính của các nhà khoa học, số loài thực vật bậc cao có mạch có thểlên tới 12.000 loài và ở Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn
về tài nguyên cây thuốc trong khu vực Đông Nam Á
Từ lâu đời, cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam đã biết sử dụng nhiềuloài cây cỏ có sẵn để chữa bệnh và bồi bổ sức khỏe Theo viện Dược liệu(1993), trong tổng số gần 4.000 loài cây thuốc ở Việt Nam, phần lớn được sửdụng theo kinh nghiệm nhân dân, chỉ khoảng 1/3 được phân tích cơ sở khoahọc
Dưới triều vua nhà Lý (1010 - 1244) có nhiều lương y nổi tiếng, trong
đó có nhà sư Minh Không (Nguyễn Chí Thành) ở chùa Giao Thuỷ đã có côngchữa bệnh cho Lý Thần Tông Nhà Lý đặt quan hệ với Tống Huy Tông (TrungQuốc) trao đổi thuốc Nam lấy thuốc Bắc
Dưới triều Trần (1244 - 1399), đã có kế hoạch tự túc thuốc Nam đểkháng chiến Tướng Phạm Ngũ Lão đã trồng cây thuốc ở Vạn An và DượcSơn (xã Hưng Đạo - Chí Linh - Hải Dương) để cung cấp cho quân y
Thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1729 - 1791) đã thừa
kế dược học của Tuệ Tĩnh chép vào tập "Lĩnh Nam bản thảo", nội dung gồm
496 vị thuốc Nam của "Nam dược thần hiệu" và phát hiện thêm hơn 300 vịnữa Tư liệu vĩ đại nhất của ông là bộ sách: "Hải Thượng y tông tâm lĩnh"gồm 66 quyển viết về lý luận cơ bản, phương pháp chẩn đoán, trị bệnh
Ngoài các bộ sách trên, còn kể đến tập "Vạn phương thập nghiệm" củaNguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh gồm 8 tập, xuất bản năm 1763 Tập "Nambang thảo mộc" của Trần Nguyệt Phương mô tả 100 loài cây thuốc Nam, xuấtbản năm 1858
Triều Tây Sơn (1788 - 1808) Nguyễn Hoành đã để lại tập "Nam dược"
Trang 23với 620 vị thuốc, với các phương thuốc kinh nghiệm gia truyền
Triều Nguyễn (1802 - 1845) có quyển "Nam dược tập nghiệm quốc âm"của Nguyễn Quang Lượng về phương thuốc dân gian (dẫn theo Nguyễn ThịYến, 2008) [33]
Lê Ngọc Công, Nguyễn Văn Hoàn (2006), nghiên cứu đa dạng các loàicây thuốc ở khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử (Bắc Giang) đã thống kê được
152 loài, 133 chi thuộc 72 họ, có tác dụng chữa trị 19 nhóm bệnh khác nhau []
Lê Ngọc Công, Bùi Thị Dậu, Đinh Thị Phượng (2007), nghiên cứu sự
đa dạng các loài cây có ích ở Phú Lương (Thái Nguyên), trong đó nhóm câylàm thuốc có 296 loài, 90 họ thuộc 4 ngành thực vật bậc cao có mạch
Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Thuỷ, Phạm Văn Thính (2005),
đã điều tra các nhóm cây có ích trong cộng đồng dân tộc Mường và Dao tại xãChiềng Yên (Mộc Châu, Sơn La), cho biết: Người Mường đã khai thác và sửdụng thường xuyên 12 nhóm cây tài nguyên, trong đó nhóm cây thuốc gồm
198 loài Người Dao thường xuyên khai thác và sử dụng 165 loài cây thuốc,bao gồm 22 loài cây rau ăn, 10 loài cây ăn quả, 9 loài cây lấy gỗ, 5 loài câyđộc
Lưu Đàm Cư, Trương Anh Thư, Hà Tuấn Anh (2005), đã điều tra việc
sử dụng cây thuốc hoang dại của người H’Mông ở xã Sa Pả (huyện SaPa, tỉnhLào Cai) cho thấy, họ thường xuyên thu hái và sử dụng 251 loài cây thuốcthuộc 148 chi, 72 họ để điều trị 86 chứng bệnh của 21 nhóm bệnh Trong đó,các nhóm bệnh sử dụng nhiều loài cây thuốc để điều trị gồm: bệnh về tiêu hoá(18 loài), các bệnh phụ nữ (18 loài), các bệnh tiết niệu (15 loài), các bệnh cơ -xương (12 loài) Các tác giả còn xác nhận có 38 loài được ghi trong Sách đỏViệt Nam
Trần Đình Lý (1995) đã xuất bản "1900 loài cây có ích" cho biết trong
số các loài thực vật bậc cao có mạch đã biết ở Việt Nam, có 76 loài cho nhựathơm, 160 loài có tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 loài chứa tanin, 50 loàicây gỗ có giá trị, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây
Trang 24Lương y lão thành, thầy thuốc ưu tú Lê Trần Đức với tác phẩm "Cây
Trang 25Võ Văn Chi (1996) với bộ sách "Từ điển cây thuốc Việt Nam" đã giớithiệu 3.200 loài cây mọc hoang và trồng ở Việt Nam Tác giả đã mô tả khá chitiết từng loài, bộ phận dùng, nơi sống và thu hái, tính vị, công dụng của chúng.Ngoài ra, sách còn có hình vẽ và ảnh chụp một số loài cây nên thuận lợi choviệc tra cứu.
Đặng Quang Châu (2001) đã công bố một số dẫn liệu về cây thuốc củadân tộc Thái ở huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) gồm 177 loài, thuộc 149 chi,thuộc 71 họ khác nhau
Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải (2003), khi điều tra các loài cây thuốccủa dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu (Nghệ An) đã thu được 93 loài thuộc 7chi,
42 họ Các tác giả đã phân loại cây được sử dụng theo các nhóm bệnh: bệnhngoài da, bệnh về đường tiêu hoá, bệnh về gan, bệnh về xương
Lưu Đàm Cư, Hà Tuấn Anh, Trương Anh Thư (2005), khi điều tra cácloài cây có ích của dân tộc H’Mông ở vùng núi cao phía Bắc đã phân loại được
4 nhóm theo công dụng: cây lương thực - thực phẩm, cây làm thuốc, cây cóđộc, cây để nhuộm màu, cây ăn quả Trong nhóm cây làm thuốc, các tác giả đãthống kê được 657 loài thuộc 118 họ mà người H'Mông sử dụng làm thuốcchữa bệnh cho người và gia súc
Nguyễn Thị Thuỷ, Lưu Đàm Cư, Phạm Văn Thính, Bùi Văn Thanh
Trang 26(2005), khi nghiên cứu việc thu hái và sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộcTày khu vực Việt Lâm (Vị Xuyên, Hà Giang) đã cho biết: có hơn 400 loài câythuốc thường xuyên bị thu hái thuộc 104 họ thực vật, trong đó những họ có số
loài được sử dụng nhiều nhất là Fabaceae (25 loài), Euphorbiaceae (19 loài), Asteraceae (18 loài), Rutaceae (12 loài).
1.3 Những nghiên cứu về các loài thực vật làm thuốc quý hiếm có nguy cơ
tuyệt chủng
Nguyễn Tập (2004) đã công bố “Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam" gồm
136 loài cây thuộc 5 ngảnh thực vật bậc có mạch Trong đó có 18 loài ở mức
độ rất nguy cập (CR), 42 loài ở mức độ nguy cập (EN) và 66 loại ở mực độ sẽnguy cấp (VU)
Nguyễn Anh Hùng (2014), khi điều tra đánh giá nguồn tài nguyên thựcvật lại vùng ATK Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã thống kê được 10 nhóm giátrị sử dụng của các loài thực vật và phát hiện 50 loài thực vật có tên trongSách đỏ Việt Nam (2007) Từ đó làm căn cứ đề xuất giải pháp sử dụng hợp lí
và phát triển bền vững tài nguyên thực vật trong khu vực nghiên cứu
Nguyễn Thị Minh Hải, Đinh Khánh Quỳnh, Đỗ Thị Xuyến (2011) đãghi nhận các loại cây thuộc ở xã San Sả Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai hiện cótới 16 loại cây thuộc diện cần được bảo vệ và 9 loài cây đang bị khai thácthanh
Nguyễn Quốc Trị (2007) đã công bố 30 loài thực vật nguy cấp, quý,hiếm tại Vườn quốc gia Hoàng Liễn - tỉnh Lào Cai theo nghị định số32/2006/NĐ - CP
1.4 Những nghiên cứu về đặc điểm hình thái giải phẫu và hoạt tính cây thuốc
Những nghiên cứu về hình thái giải phẫu và hoạt tính cây thuốc còntương đối ít, chỉ có một số công trình như:
Trang 27Nguyễn Minh Trí (2009) khi nghiên cứu về hình thái - giải phẫu và sinhtrưởng của cây Hương bài ở Thừa Thiên Huế đã chỉ ra rằng: về hình thái, rễcây là hệ rễ chùm, thân thảo, có phân đốt; lá gồm bẹ lá hình lòng máng bao
Trang 28Huỳnh Lời, Trần Thị Bảo Châu, Trần Hùng (2011) đã mô tả chi tiết đặc
điểm thực vật học của cây Nữ lang - Valeriana hardwickii Wall., họ Nữ lang
(Valerianaceae) Vi phẫu các bộ phận của cây và đặc điểm bột dược liệu đãđược xác định Các đặc điểm này có thể giúp nhận dạng và phân biệt Nữ langvới các dược liệu khác [19]
Hà Thị Tuyết, Lượng Quang Hiệp, Nguyễn Thị Phú (2013) đã mô tảđặc điểm thực vật, phân tích hoa, quả, hạt và xác định đặc điểm giải phẫu rễ,
thân và lá của cây Cát cánh - Platycodon grandiflorum (Jacq.) A DC thu
thập tại Hà Nội [32]
Hồ Thị Thanh Huyền (2014) đã mô tả chi tiết đặc điểm thực vật và xácđịnh tên khoa học của cây Gạo thu hái tại Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội là
Bombax malabaricum DC., thuộc họ Gạo (Bombacaceae) Bên cạnh đó, tác
giả còn mô tả đặc điểm vi phẫu thân, lá, đặc điểm bột lá, hoa và vỏ thân củaloài nghiên cứu, góp phần tiêu chuẩn hóa dược liệu [15]
Phạm Quốc Tuấn (2015) trong luận án tiến sĩ của mình đã mô tả đặcđiểm thực vật, phân tích hoa, quả, hạt và xác định đặc điểm giải phẫu rễ, thân,
thân rễ và lá của cây Lạc tân phụ - Astilbe rivularis Buch Ham ex D Don,
thuộc họ Thường sơn (Saxifragaceae) ở Việt Nam [30]
Trang 29Nguyễn Trung Tường, Phạm Thanh Kỳ, Nguyễn Xuân Nhiệm (2016)trên cơ sở mô tả đặc điểm hình thái, phân tích hoa, quả, hạt, đối chiếu vớikhóa phân loại và các tài liệu thực vật đã công bố, đã xác định tên khoa họcmẫu cây Thuốc thượng thu hái ở xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố
Đà Nẵng là Phaeanthus vietnamensis Ban, thuộc họ Na - Annonaceae Ngoài
ra, nhóm tác giả còn xác định đặc điểm vi phẫu và đặc điểm của bột rễ, thân,
lá góp phần tiêu chuẩn hóa dược liệu [31]
Đoàn Thái Hưng, Nghiêm Đức Trọng, Nguyễn Quỳnh Nga, Mai ThịPhượng, Nguyễn Minh Khởi, Phương Thiện Thương (2016) đã xác định đượctên khoa học của mẫu Viễn chí hoa vàng thu hái tại Sa Pa, tỉnh Lào Cai
là Polygala arillata Buch - Ham ex D Don, thuộc họ Viễn chí
(Polygalaceae) Đồng thời, nhóm tác giả đã mô tả được đặc điểm hình thái rễ,thân, lá, hoa, quả; đặc điểm giải phẫu rễ, thân, lá của mẫu dược liệu Các kếtquả nghiên cứu này là cơ sở về phân loại cho các nghiên cứu tiếp theo về hóathực vật, tác dụng sinh học và tiêu chuẩn hóa vị thuốc Viễn chí hoa vàng [12]
1.5 Những nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật và các loài thực vật làm thuốc ở tỉnh Thái Nguyên và khu vực nghiên cứu
Lê Thị Thanh Hương và cộng sự (2012) bước đầu đã xác định được 25loài thực vật bậc cao có mạch sử dụng làm thuốc cần được phải bảo tồn tạitỉnh Thái Nguyên Trong đó, theo Sách đỏ Việt Nam có 20 loài (cấp EN có 6loài, cấp VU có 11 loài và cấp K có 3 loài); theo Nghị định số 32/2006/NĐ-
CP có 6 loài (1 loài ở mức độ nghiêm cấm khai thác sử dụng - IA và 5 loàihạn chế khai thác sử dụng - IIA); theo Danh lục đỏ cây thuốc có 15 loài (cấp
EN có 10 loài và cấp VU có 5 loài) [13]
Nguyễn Anh Hùng và cộng sự (2013) đã thống kê giá trị sử dụng vàthực trạng khai thác tài nguyên thực vật vùng an toàn khu ATK Định Hóa,tỉnh Thái Nguyên Kết quả đã thống kê được 402 loài có giá trị làm thuốc, 47loài quý hiếm theo sách đỏ Việt Nam (2007) và nghị định 32/2006/NĐ-CP vàdanh lục đỏ cây thuốc Việt Nam [11]
Trang 30Nguyễn Thị Thoa (2014) khi nghiên cứu hệ thục vật thân gỗ tại KhuBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng đã thống kê được 611 loài, 344 chi, 107 họthuộc 2 ngành thực vật là ngành Mộc lan (Magnoliophyta) và ngành Thông(Pinophyta) Về giá trị sử dụng, số lượng loài có giá trị sử dụng làm thuốc làcao nhất (chiếm tỷ lệ 52,86% tổng số loài) [25]
Daophone Phetkhampheng (2015) khi nghiên cứu tính đa dạng thực vật
có mạch tại rừng phòng hộ Phượng Hoàng thuộc xã Cù Vân, huyện Đại Từ,tỉnh Thái Nguyên đã thống kê được 365 loài, 258 chi và 93 họ thuộc 3 ngànhthực vật bậc cao có mạch (ngành Thông đất, ngành Dương xỉ và ngành Mộclan) Bên cạnh đó, tác giả đã thống kê 10 nhóm giá trị sử dụng, trong đó nhómcây làm thuốc có 170 loài (chiếm 46,58%) [6]
Lê Thị Thanh Hương (2015) khi điều tra nghiên cứu tính đa dạng nguồncây thuốc được sử dụng trong cộng đồng các dân tộc Tày, Nùng, Sán Dìu, SánChay và Dao ở tỉnh Thái Nguyên đã xây dựng được danh lục gồm 745 loàicây thuốc thuộc 445 chi, 145 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch (ngànhThông đất, ngành Cỏ tháp bút, ngành Dương xỉ, ngành Thông và ngành Mộclan Trong đó, dân tộc Tày sử dụng 323 loài, dân tộc Nùng sử dụng 111 loài,dân tộc Sán Dìu sử dụng 128 loài, dân tộc Sán Chay (gồm Cao Lan và SánChí) sử dụng 312 loài và dân tộc Dao sử dụng 297 loài để chữa bệnh Bêncạnh đó, đã xác định được 32 loài cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn theoNghị định
32/NĐ-CP (2006) - 12 loài, Sách đỏ Việt Nam (2007) - 23 loài Ngoài ra, đãxây dựng Bản đồ phân bố điểm của 32 loài cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ởtỉnh Thái Nguyên, tỉ lệ 1: 350.000 Ngoài ra tác giả đã điều tra vốn tri thứcbản địa trong việc sử dụng cây thuốc của cộng đồng các dân tộc Tày, Nùng,Sán Dìu, Sán Chay và Dao ở tỉnh Thái Nguyên về kinh nghiệm nhận biết, thuhái cây thuốc; bộ phận sử dụng làm thuốc; tư liệu hóa các bài thuốc truyền
thống Tác giả còn thử nghiệm dịch chiết Lá khôi (Ardisia gigantifolia Stapf.)
Trang 31bằng ethanol tuyệt đối làm dừng chu kỳ phân chia tế bào tại pha G0/G1 của 3dòng
Trang 32tế bào ung thư dạ dày AGS, MKN45 và MKN74 Tác giả còn đề xuất một sốgiải pháp nhằm khai thác hợp lý, bảo vệ và phát triển nguồn cây thuốc ở tỉnhThái Nguyên [14]
Trần Thị Ngọc Hằng, Đinh Thị Phượng (2019) đã thống kê được 234loài cây thuốc thuộc 186 chi, 82 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch(Thông đất, Cỏ Tháp bút, Dương xỉ và Ngọc lan) tại xã Cúc Đường, huyện VõNhai, tỉnh Thái Nguyên Đồng thời, tác giả đã thống kê được các loài câythuốc thuộc 4 dạng thân chính (thân thảo, thân gỗ, thân bụi và thân leo), 11 bộphận của cây làm thuốc và 11 loài cây thuốc có nguy cơ bị tuyệt chủng cầnphải bảo vệ [10]
1.6 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
* Điều kiện tự nhiên
Phúc Xuân là một xã thuộc thành phố Thái Nguyên, có diện tích 18,92km², dân số là 4364 người, mật độ dân số đạt 231 người/km² Đây là xã ở phíatây bắc của thành phố Thái Nguyên Xã nằm ven tỉnh lộ 253 từ trung tâmthành phố đến thị trấn Đại Từ Xã tiếp giáp với Hồ Núi Cốc ở phía tây nam,giáp với xã Cù Vân và An Khánh của huyện Đại Từ ở phía bắc, giáp với xãPhúc Hà, Quyết Thắng thuộc thành phố Thái Nguyên về phía đông, giáp với
xã Phúc Trìu về phía đông và nam, giáp với xã Tân Thái về phía tây
Địa hình chủ yếu là đồi núi thấp, thấp dần từ bắc xuống nam Diện tíchđồi núi cao trên 100m chiếm 2/3 diện tích toàn tỉnh, còn lại là vùng có độ caodưới 100m
Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 vàmùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng2.000 đến 2.500 mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 Nhiệt độchênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9°C) với tháng lạnh nhất(tháng 1:
15,2°C) là 13,7°C Độ ẩm trong năm đều trên 80%
Trang 33* Điều kiện kinh tế
Nằm giáp ranh với khu du lịch Hồ Núi Cốc nên Xã Phúc Xuân có nhiềulợi thế về phát triển kinh tế, đặc biệt là du lịch và phát triển cây chè
Xã Phúc Xuân có 7 làng nghề chè truyền thống Hiện nay, tổng diệntích chè của xã là 330 ha được trồng chủ yếu bằng các giống chè cành có năngsuất và chất lượng cao, như: LDP1, TRI777, Kim Tuyên Tổng sản lượng chèbình quân hàng năm đạt gần 5.000 tấn chè tươi/năm, doanh thu ước đạt 94 tỷđồng/năm Việc phát triển các mô hình chế biến chè hữu cơ, áp dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật hiện đại đã góp phần đưa thu nhập bình quân đầu ngườinăm
2019 của xã đạt 40 triệu đồng/người/năm; hộ nghèo của xã chỉ còn 37 hộ (chiếm
2,43%)
Trang 34Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá tính đa dạng cây thuốc ở xã Phúc Xuân làm cơ sở khoa họccho công tác quản lý, bảo tồn và bổ sung tư liệu về nguồn gen cây thuốc tạiđịa phương
2.2 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: bao gồm toàn bộ các loài thực vật bậc cao cómạch trong một số kiểu thảm thực vật tại xã Phúc Xuân, thành phố TháiNguyên, tỉnh Thái Nguyên
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu sự đa dạng về các bậc taxon cây thuốc ở khu vực nghiêncứu: bậc ngành, bậc họ, bậc chi, bậc loài
- Nghiên cứu sự đa dạng cây thuốc trong một số trạng thái thảm thực vật(rừng thứ sinh, thảm cây bụi, rừng trồng keo 4 tuổi và rừng trồng keo 8 tuổi)
- Đánh giá sự đa dạng về thành phần dạng sống, các bộ phận sử dụnglàm thuốc, các loài thực vật quý hiếm theo sách đỏ Việt Nam (2007), nghịđịnh
06/2019 và danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam
- Đánh giá hoạt tính của một loài cây thuốc quý tại khu vực nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn (OTC)
- Tuyến điều tra: căn cứ vào địa hình cụ thể của khu vực nghiên cứu lập
các tuyến điều tra Tuyến điều tra có hướng vuông góc hoặc song song vớiđường đồng mức, khoảng cách giữa các tuyến điều tra là 50-100 m tùy vàoloại hình cụ thể của từng quần xã Dọc tuyến điều tra bố trí các ô tiêu chuẩn(OTC) và các ô dạng bản để thu thập số liệu
Trang 35- Ô tiêu chuẩn (OTC): áp dụng ô tiêu chuẩn có diện tích 100m2 (10m x10m) đối với trạng thái rừng thứ sinh, rừng keo 4 tuổi và 6 tuổi, 16m2 (4m x4m) đối với thảm cây bụi Trong OTC lập các ODB để thu thập số liệu vềthành phần của thực vật Trong các OTC và ODB tiến hành xác định tên khoahọc của các loài cây
2.4.2 Phương pháp thu mẫu thực vật
- Đối với tuyến điều tra, tiến hành ghi chép các thông tin về từng loài
cây bắt gặp trên tuyến như: tên Việt Nam (hoặc tên Latinh), dạng sống (câythân gỗ, thân bụi, thân thảo, thân leo) Những loài cây chưa xác định được tênthì thu thập mẫu về phân loại sau
- Đối với ô tiêu chuẩn, tiến hành thu thập mẫu trong các ô nhỏ (ô dạngbản), cách thu mẫu cũng giống như ở tuyến điều tra
2.4.3 Phương pháp phân tích mẫu vật
- Xác định tên khoa học của loài theo Cây cỏ Việt Nam của PhạmHoàng Hộ (1999), Thực vật chí Việt Nam, Danh lục các loài thực vật ViệtNam để chỉnh lý và lập danh lục các loài thực vật có giá trị làm thuốc tại khuvực nghiên
2.4.4 Phương pháp chiết mẫu để phân tích hoạt tính sinh học
Mẫu được chiết theo phương pháp chiết Solex gồm các bước sau:
Bước 1: Mẫu được cắt nhỏ, sau đó cho vào tủ sấy ở nhiệt độ 500 - 600Ccho đến khi cây khô giòn
Trang 36Bước 2: Cân 300g mẫu, bọc vào giấy và cho vào bình chiết 200ml Sau
đó chiết hồi lưu với ethanol 90% ở nhiệt độ 70oC trong thời gian 12 tiếng chođến khi nhạt màu
Bước 3: Cất thu hồi dung môi ethanol bằng máy cô quay thu được caochiết ethanol toàn phần Làm khô cao chiết từ 3-4 ngày trong tủ sấy ở nhiệt
độ 45-500C Được thực hiện tại phòng thí nghiệm thuộc viện Công nghệSinh học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2.4.5 Phương pháp nghiên cứu hoạt tính một số dòng tế bào ung thư
* Các dòng tế bào ung thư được sử dụng đó là:
+ A549: Ung thư phổi ở người (human lung carcinoma)
+ AGS: Ung thư dạ dày ở người (human gastric adenocarcinoma)
+ MDA-MB-231: Ung thư vú ở người (human breast carcinoma)
Các dòng tế bào ung thư do GS TS J M Pezzuto, Trường Đại học Long
Island, US và GS Jeanette Maier, trường Đại học Milan, Italia cung cấp
* Vật liệu và hoá chất
- FBS của GIBCO, Invitrogen, TCA (Sigma), SRB (Sigma)
- Đĩa 96 giếng nhựa (Corning, USA), pippette (eppendorf), máy đọcELISA 96 giếng (Bio-rad)
- Chất tham khảo: Ellipticine
- Các hóa chất thông thường khác
* Phương pháp xác định tính độc tế bào ung thư nuôi cấy dạng đơn lớp (cytotoxic assay)
Phương pháp thử độ độc tế bào ung thư in vitro được Viện Ung thưQuốc gia Hoa Kỳ (National Cancer Institute - NCI) xác nhận là phép thử độđộc tế bào chuẩn nhằm sàng lọc, phát hiện các chất có khả năng kìm hãm sựphát triển hoặc diệt TBUT ở điều kiện in vitro Phép thử này được thực hiện
Trang 37theo phương pháp của Monks (1991) Phép thử tiến hành xác định hàm lượngprotein tế bào
Trang 38- Chất thử được pha thành các dải nồng độ thích hợp
- Trypsin hóa tế bào thí nghiệm để làm rời tế bào và đếm trong buồngđếm để điều chỉnh mật độ cho phù hợp với thí nghiệm
- Chất thử đã pha ở các nồng độ vào các giếng của đĩa 96 giếng, thêm tếbào đã điều chỉnh nồng độ phù hợp ở trên vào các giếng này sao cho nồng độchất thử trong giếng là 100-20-4-0.8 µg/ml Ủ trong tủ ấm 48 giờ Giếngkhông có chất thử nhưng có TBUT (180 µl) sẽ được sử dụng làm đối chứngngày 0 Sau 1 giờ, giếng đối chứng ngày 0 tế bào sẽ được cố định bằngTrichloracetic acid - TCA
- Sau 72 giờ, tế bào được cố định bằng TCA trong 1 giờ, được nhuộmbằng SRB trong 30 phút ở 370C, rửa 3 lần bằng acetic acid rồi để khô ở nhiệt
Trang 39% ức chế = 100% - [OD (chất thử) - OD (ngày 0)] x 100
OD (đối chứng âm) - OD (ngày 0)Phép thử được lặp lại 3 lần để đảm bảo tính chính xác Ellipticine ở cácnồng độ 10 µg/ml; 2 µg/ml; 0,4 µg/ml; 0,08 µg/ml được sử dụng như là chấtđối chứng dương;
Trang 40- DMSO10% luôn được sử dụng như đối chứng âm Giá trị IC50 (nồng
độ ức chế 50% sự phát triển) sẽ được xác định nhờ vào phần mềm máy tínhTableCurve 2Dv4
- Theo tiêu chuẩn của Viện ung thư quốc gia Hoa Kỳ (NCI), cặn chiếtđược coi có hoạt tính tốt với IC50 ≤ 20 μg/ml, trong khi chất tinh khiết đượccoi có hoạt tính tốt khi IC50 ≤ 5 μM [40],[42],[43]
2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel