1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình tiếp cận bền vững trong các dự án phát triển nông thôn

188 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 188
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời giới thiệu Môn học Tiếp cận bền vững trong các dự án phát triển nông thôn được đề xuất trong khuôn khổ Tiểu hợp phần 1.3 “Hỗ trợ tăng cường năng lực cho Trường Đại học Thủy lợi” củ

Trang 2

Mục lục

Lời giới thiệu 3

các từ viết tắt 4

Chương 1: Giới thiệu chung 6

1.1 Tính bền vững 6

1.1.1 Phát triển bền vững 9

1.1.2 Tính bền vững của dự án phát triển 11

1.2 Tiếp cận đáp ứng yêu cầu 13

1.2.1 Sự cần thiết của việc áp dụng tiếp cận đáp ứng nhu cầu 13

1.2.2 Cơ sở của tiếp cận đáp ứng nhu cầu 13

1.2.3 Định nghĩa về tiếp cận đáp ứng nhu cầu 15

1.2.3 DRA và đánh giá nhu cầu 16

1.2.4 Hiện trạng về phương pháp tiếp cận đáp ứng yêu cầu ở Việt Nam 18

1.2.2 Vai trò mới của người kỹ sư trong tiếp cận bền vững của các dự án 23

chương 2: Các khía cạnh của dự án phát triển nông thôn 27

2.1 Khái niệm về dự án phát triển nông thôn 27

2.2 Các khía cạnh của dự án 28

2.2.1 Khía cạnh kỹ thuật 28

2.2.2 Khía cạnh quản lý, tổ chức và thể chế 29

2.2.3 Khía cạnh xã hội 30

2.2.4 Khía cạnh môi trường 31

2.2.5 Khía cạnh về thương mại 32

2.2.6 Khía cạnh tài chính 32

2.2.7 Khía cạnh kinh tế 34

2.3 Chu trình dự án 35

2.3.1 Xác định dự án 36

2.3.2 Chuẩn bị và phân tích dự án 36

2.3.3 Thẩm định và phê duyệt dự án 37

2.3.4 Thực hiện dự án 37

2.3.5 Đánh giá dự án 38

2.4 Tiếp cận khung lôgic LFA 40

2.4.1 Khái niệm về tiếp cận khung lôgíc 40

2.4.2 Phân tích hiện trạng 42

2.4.3 Ma trận khung lôgíc 46

Chương 3: Sự tham gia của cộng đồng và vấn đề truyền thông 51

3.1 Giới thiệu 51

Trang 3

3.1.1 Sự tham gia của cộng đồng 51

3.1.2 Các phương pháp tham gia cộng đồng 51

3.2 Các tiếp cận trong thông tin, giáo dục truyền thông 54

3.3 Các phương pháp huy động sự tham gia cộng đồng 55

3.3.1 Các phương pháp và công cụ huy động sự tham gia của cộng đồng 55

3.4 Phân tích các bên liên đới 60

3.5 Vấn đề giới trong dự án phát triển 60

3.5.1 Sự cần thiết, vai trò quốc tế 60

3.5.2 Phân tích Giới - Công cụ cho sự phát triển đáp ứng về giới 61

3.5.3 Giới là vấn đề phát triển trong các dự án phát triển 63

3.6 Hoà nhập vấn đề giới vào dự án đại diện: phát triển tài nguyên nước 64

3.6.1 Sự cần thiết và vấn đề cơ bản 64

3.6.2 Chiến lược hoà nhập giới vào dự án phát triển 66

3.6.3 Ma trận phân tích giới 67

3.7 Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý dự án thuỷ lợi 68

3.7.1 Mở đầu - ý nghĩa 68

3.7.2 Cơ sở khoa học chương trình nông dân tham gia quản lý tưới (PIM) 70

3.7.3 Hội những người dùng nước (HNDN) 70

Chương 4: vấn đề về thể chế trong các dự án phát triển nông thôn 76

4.1 Phát triển thể chế: Những khái niệm cơ bản 76

4.2 Ngành nước và thể chế về nước 79

4.3 Chuyển giao quản lý tưới và những yêu cầu thay đổi thể chế 84

4.3.1 Nội dung cơ bản và yêu cầu đổi mới thể chế trong chuyển giao quản lý tưới 84

4.3.2 Chuyển giao quản lý tưới ở Việt Nam 89

Chương 5: Tài chính trong các dự án phát triển nông thôn 96

5.1 Nước là một loại hàng hóa 96

5.1.1 Ước tính chi phí sử dụng nước 96

5.1.2 Các thành phần của giá trị nước 99

5.2 Hoàn chi phí 101

5.2.1 Các yếu tố đảm bảo sự bền vững của các dự án 101

5.2.2 Yêu cầu và sự tự nguyện chi trả 102

5.2.3 Quản lý hoàn chi phí và tài chính cộng đồng 106

5.3 Phân tích kinh tế và phân tích tài chính 115

5.3.1 Khái niệm và ý nghĩa của phân tích tài chính 115

5.3.2 Phân tích kinh tế và ý nghĩa của phân tích kinh tế 117

5.3.3 Sự giống nhau và khác nhau giữa phân tích tài chính và phân tích kinh tế 117

5.3.4 Các chi phí của dự án 117

5.3.5 Các lợi ích của dự án 120

5.3.6 Tính toán chi phí và lợi ích của dự án 121

5.3.7 Giá trị thời gian của tiền tệ 124

5.3.8 Xác định lợi ích của dự án 126

Trang 4

5.3.9 Phân tích độ nhạy 129

Chương 6: đánh giá tác động môi trường 132

6.1 Khái quát chung 132

6.1.1 Tầm quan trọng của đánh giá tác động môi trường 133

6.1.2 Mục đính của đánh giá tác động môi trường 134

6.1.3 Một số vấn đề về môi trường trên thế giới và ở Việt Nam 135

6.1.4 Các loại hình tác động môi trường và khái niệm đánh giá tác động tổng hợp 137

6.1.5 Các nguyên tắc cơ bản của ĐTM 141

6.2 Những yêu cầu về môi trường và khung thể chế và luật pháp cho ĐTM 142

6.2.1 Phân công trách nhiệm Nhà nước về bảo vệ môi trường 143

6.2.2 Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản dưới luật về bảo vệ môi trường 144

6.2.3 Tiêu chuẩn môi trường và việc áp dụng các tiêu chuẩn này 145

6.3 Quá trình đánh giá tác động môi trường 146

6.3.1 Sàng lọc môi trường 148

6.3.2 Xác định phạm vi đánh giá tác động môi trường 153

6.3.3 Phân tích tác động 156

6.3.4 Giảm thiểu và quản lý tác động 164

6.3.5 Báo cáo ĐTM 166

6.4 Đánh giá tác động xã hội 167

6.5 Sự tham gia của cộng đồng đánh giá tác động môi trường 169

Chương 7: lựa chọn công nghệ thích hợp 172

7.1 Khái niệm về công nghệ thích hợp 172

7.2 Liên kết việc lựa chọn công nghệ với vận hành và duy tu 172

7.3 Quá trình lựa chọn công nghệ 175

7.3.1 Giới thiệu 175

7.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn công nghệ 177

7.3.3 Quá trình lựa chọn công nghệ cấp nước 182

7.3.4 Quá trình lựa chọn công nghệ vệ sinh giá rẻ 183

Trang 5

Lời giới thiệu

Môn học Tiếp cận bền vững trong các dự án phát triển nông thôn được đề xuất trong

khuôn khổ Tiểu hợp phần 1.3 “Hỗ trợ tăng cường năng lực cho Trường Đại học Thủy lợi” của dự án Hỗ trợ Ngành Nước (WaterSPS) của DANIDA để đưa vào chương trình

đào tạo hệ đại học của các ngành Thủy nông - Cải tạo đất và Cơ sở hạ tầng của Khoa

Quy hoạch và Quản lý Hệ thống Công trình, Trường Đại học Thủy lợi

Môn học này nhằm giới thiệu cho sinh viên những kiến thức cơ bản về các khía cạnh

về kinh tế, xã hội, môi trường, tổ chức và thể chế trong thực thi các dự án phát triển nông thôn, đặc biệt là các dự án tưới tiêu, cấp nước và vệ sinh nông thôn và cải tạo đất,

để đảm bảo tính bền vững của dự án Sau khi học xong môn học này sinh viên sẽ có được cái nhìn tổng thể về các phương pháp "phi kỹ thuật" được sử dụng trong các dự

án phát triển nông thôn và có khả năng làm việc, giao tiếp tốt với nhau trong các nhóm công tác đa chuyên môn

Đề cương môn học và đề cương giáo trình Tiếp cận bền vững trong các dự án phát triển nông thôn được xây dựng với sự phối hợp của các chuyên gia tư vấn quốc tế của

Dự án và các cán bộ giảng dạy thuộc Khoa Quy hoạch và Quản lý Hệ thống Công

trình, đặc biệt là Bộ môn Thủy nông Giáo trình Tiếp cận bền vững trong các dự án phát triển nông thôn, một trong những tài liệu chính cho môn học này, được biên soạn

bởi một nhóm các cán bộ giảng dạy thuộc Bộ môn Thủy nông, Trường Đại học Thủy lợi

PGS.TS Nguyễn Quang Kim là chủ biên đồng thời trực tiếp biên soạn các chương 4,

5, 6, 7 và tham gia biên soạn các chương 1 và 2 GS.TS Bùi Hiếu biên soạn chương 3

TS Phạm Ngọc Hải chịu trách nhiệm chính trong việc biên soạn chương 2 TS Phạm Việt Hòa tham gia biên soạn chương 1

Tập thể tác giả muốn gửi lời cảm ơn đặc biệt tới TS Henrik Bregnhoj thuộc Đại học

Kỹ thuật Đan Mạch (DTU) và GS.TS Tống Đức Khang, nguyên Trưởng Bộ môn Thủy nông, những người đã góp công rất lớn trong việc đề xuất, xây dựng đề cương môn học và đề cương giáo trình này Tập thể tác giả cũng đánh giá rất cao những giúp

đỡ đầy hiệu quả của TS Roger Chenevey, Cố vấn trưởng Tiểu hợp phần 1.3, và tập thể cán bộ giảng dạy trong Bộ môn Thủy nông cũng như trong toàn Khoa Quy hoạch và Quản lý Hệ thống Công trình Cũng cần phải nói rằng Giáo trình này không thể hoàn thành nếu thiếu sự quan tâm chỉ đạo, động viên và tạo điều kiện làm việc thuận lợi cho nhóm tác giả của Ban giám hiệu Trường Đại học Thủy lợi

Hà Nội, tháng 12 năm 2004

Tập thể tác giả

Trang 6

Các từ viết tắt

ADB Ngân hàng Phát triển Châu á

ADE Đơn vị sinh thái nông nghiệp

AIC Khen ngợi - Gây ảnh hưởng - Điều khiển (Kiểm soát)

BQL Ban quản lý

BVTV Bảo vệ thực vật

CSHTNT Cơ sở hạ tầng nông thôn

DTU Đại học Kỹ thuật Đan Mạch

ĐTM Đánh giá tác động môi trường

EIA Đánh giá tác động môi trường (Environmental Impact Assessment)

FAO Tổ chức nông nghiệp và lương thực thế giới

GAM Ma trận phân tích giới (Gender Analysis Matrix)

GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

HNDN Hội người dùng nước

HTTN Hệ thống thủy nông

HTX Hợp tác xã

IEE Đánh giá môi trường ban đầu (Initial Environmental Evaluation)

IMT Chuyển giao quản lý tưới (Irrigation Management Transfer)

KSA Đánh giá kỹ năng và nhận thức

KHCN Khoa học công nghệ

LFA Tiếp cận khung lôgíc

MT Môi trường

NDN Nhóm dùng nước

O&M Vận hành và duy tu (Operation and Maintenance)

OOPP Lập kế hoạch dự án có định hướng mục tiêu (Objective-Oriented Project

Planning) PIM Nông dân tham gia quản lý tưới (Participatory Irrigation Management) PRA Đánh giá nông thôn có sự tham gia của dân (Participatory Rural

Appraisal) QLKT Quản lý khai thác

SARAR Bàn bạc tập thể trong việc ra quyết định

SWOT Phân tích Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Đe dọa (Strengths -

Weaknesses - Opportunities - Threats) TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

TNA Đánh giá nhu cầu đào tạo (Training Needs Assessment)

TOR Các điều khoản tham chiếu (Terms of Reference)

TTN Tổ thủy nông

UBND ủy ban nhân dân

UNDP Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc

UNEP Chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc

WaterSPS Hỗ trợ Chương trình Ngành nước (của Danida)

Trang 7

WHO Tổ chức y tế thế giới

WUA Hội người dùng nước (Water User Association)

Trang 8

Cuốn sách "Mùa xuân câm lặng (Silent Spring)" của nữ văn sĩ Rachel Carson được xuất bản năm 1962 với những tiết lộ về những hiểm họa của thuốc trừ sâu DDT đã hoài nghi một cách biện chứng niềm tin của nhân loại vào tiến bộ khoa học kỹ thuật và giúp tạo ra một sân khấu cho các phong trào môi trường DDT, thuốc trừ sâu mạnh nhất từng được biết đến trên thế giới, đã làm lộ rõ tính dễ bị tổn thương của tự nhiên Không giống như các loại thuốc trừ sâu khác, những loại chỉ có khả năng diệt một hai loại sâu bọ, DDT có thể cùng một lúc diệt hàng trăm loại khác nhau Được sản xuất năm 1939, DDT trở nên nổi tiếng trong thế chiến thứ 2, giúp quân đội Mỹ diệt sạch các loại sâu bọ gây bệnh sốt rét ở các hòn đảo phía nam Thái Bình Dương ở Châu Âu, DDT được sử dụng làm thuốc diệt chấy Người sáng chế ra nó đã được tặng giải thưởng Nobel Khi DDT bắt đầu được sử dụng cho các mục tiêu dân dụng vào năm

1945, có rất ít người có một ý nghĩ nào khác về hợp chất kỳ diệu này Một trong số đó

là Edwin Way Teale, một nhà văn chuyên viết về tự nhiên Ông cảnh báo rằng "Một chất độc mạnh như DDT có thể phá hoại kinh tế tự nhiên mạnh như một cuộc cách mạng gây tổn hại tới nền kinh tế xã hội Chín mươi phần trăm các loại sâu bọ là có ích, nếu chúng bị tiêu diệt mọi thứ sẽ rơi ngay vào tình trạng mất trật tự" Một người khác chính là Rachel Carson, bà đã viết cho tạp chí Reader's Digest để đề xuất một bài báo

về một loạt thí nghiệm trên DDT được tiến hành gần nơi bà sống ở Maryland Tạp chí này đã từ chối đề nghị của bà Mười ba năm sau, vào năm 1958, mối quan tâm của Rachel Carson đối với việc viết về những hiểm họa của DDT lại được nhen nhóm khi

bà nhận được một lá thư từ một người bạn ở Massachusetts than vãn rằng một số lượng lớn chim chóc bị giết chết ở Cape Cod do việc phun DDT Việc sử dụng DDT ngày càng được mở rộng và Carson lại cố gắng nhưng thất bại trong việc thuyết phục một tạp chí đăng tải bài viết của bà về những tác dụng phụ rất không mong mong đợi của nó Cho đến năm 1958, mặc dù đã là một nhà văn tên tuổi với nhiều tác phẩm thuộc loại bán chạy nhất, Carson vẫn không nhận được hợp đồng với nhà xuất bản để viết về DDT Tuy vậy, sau khi đã thu thập được nhiều kết quả nghiên cứu về hợp chất này bà quyết định luận bàn về vấn đề DDT trong một cuốn sách Bà phải mất bốn năm để viết xong "Mùa xuân câm lặng" Nó mô tả tỉ mỉ phương thức DDT thâm nhập vào chuỗi thực phẩm và tích lũy trong các mô mỡ của động vật, bao gồm cả cong người, gây bệnh ung thư và phá hủy gen Chỉ một lần phun cho một loại cây trồng, bà viết, giết chết sâu bọ trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng; nó không chỉ diệt sâu bệnh

mà đồng thời tiêu diệt nhiều chủng loài khác và tồn tại như một độc chất trong môi trường ngay cả khi bị hòa tan bởi nước mưa "Mùa xuân câm lặng" đã thúc đẩy nhận thức của người dân Mỹ về môi trường, góp phần thúc đẩy việc thông qua luật môi trường của Mỹ - NEPA (National Environmental Policy Act) vào năm 1969

Trang 9

Vào năm 1972, một báo cáo được công bố bởi một câu lạc bộ bí ẩn chưa một ai biết đến, đã gây chấn động thế giới với lời cảnh báo về sự sụp đổ sắp đến của sự sống trên trái đất Báo cáo này được viết không phải bởi một nhà tiên tri bi quan mà bởi các nhà khoa học có tên tuổi với sự trợ giúp của các thiết bị hiện đại - máy tính Báo cáo có tên gọi là "Những giới hạn đối với sự tăng trưởng" Vài năm sau pha đầu tiên của sự nhận thức về môi trường và ngay trước cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thức nhất (1973),

"Giới hạn" đem đến thông điệp rằng thế giới đang hướng đến một thảm họa bởi sự tăng dân số không giới hạn và sự phát triển công nghiệp, sự cạn kiệt dự trữ tài nguyên thiên nhiên, sự phá hủy môi trường và thiếu lươngthực thực phẩm "Giới hạn" được dựa trên một mô hình mô phỏng có tên gọi WORLD III Các dạng thức của sự cạn kiệt được dự đoán theo các kịch bản khác nhau của mô hình mô phỏng sẽ bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỷ 21, khi dân số thế giới tăng đến đỉnh điểm với 10 tỷ người, sản lượng lương thực trên đầu người giảm xuống còn 15-25% của năm 1970, ô nhiễm tăng gấp hàng chục lần và các nguồn tài nguyên quan trọng nhất như dầu lửa và khí đốt sẽ cạn kiệt "Giới hạn" đã trở thành chủ đề của các cuộc tranh luận nóng bỏng, và Câu lạc

bộ Rôm nhanh chóng được coi là một phong trào theo thuyết Man-tuýt của những kẻ chỉ nói về ngày tận thế Báo cáo đã trở lên nổi tiếng trên toàn thế giới, điều đó chứng

tỏ rằng thông điệp của nó không chỉ đầy tranh cãi mà còn được thừa nhận ở mức cao Vào năm 1972 trước tình trạng mức độ ô nhiễm ngày càng gia tăng ở các nước công nghiệp phát triển, hội nghị chuyên đề về môi trường và phát triển đầu tiên của Liên Hiệp Quốc đã được tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển) Hội nghị này [UNEP, Stockolm 1972] đã đạt được những kết quả chính sau đây: (i) Khởi động các cuộc đối thoại Bắc - Nam (North - South Dialog); (ii) Sự khởi động của "Global Perspective - Viễn cảnh toàn cầu"; (iii) Khởi động sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ trong giám sát và bảo vệ môi trường; (iv) Sự thành lập của UNEP - Chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc; (v) Đề nghị Đại hội đồng Liên hiệp quốc lấy ngày 5 tháng

6 làm Ngày Môi trường Thế giới và quyết định rằng vào ngày này hàng năm các tổ chức thuộc Liên hiệp quốc và tất cả chính phủ các nước tiến hành các hoạt động trên phạm vi toàn thế giới để tái khẳng định mối quan tâm của cả thế giới đối với việc gìn giữ và cải thiện môi trường sống cho nhân loại

Tiếp theo Hội nghị Stockholm, Hội nghị "World Conservation Strategy - Chiến lược bảo tồn thế giới" được tổ chức vào năm 1980 Kết quả của hội nghị này là một bản chiến lược bảo tồn thế giới "World Conservation Strategy" được thông qua và phát hành bởi UNEP Tại hội nghị này khái niệm "Bền vững" đã được giới thiệu, tuy nhiên chủ yếu tập trung vào vấn đề bảo vệ môi trường

"Môi trường là nơi tất cả chúng ta sinh sống, và phát triển là cái mà tất cả chúng ta muốn làm để cải thiện số phận của chúng ta trong phạm vi nơi ở đó" Xung đột giữa

mối quan tâm về phát triển kinh tế và mối quan tâm về môi trường đã gây ra những vấn đề trên toàn thế giới Vào năm 1983, Liên hiệp quốc bổ nhiệm một ủy ban quốc tế

để đề xuất chiến lược cho "phát triển bền vững" - các cách để nâng cao điều kiện sống của con người trong giai đoạn trước mắt nhưng khong đe dọa đến môi trường toàn cầu

về lâu về dài Chủ tịch ủy ban này là Thủ tướng Na Uy Gro Harlem Brundtland, và

báo cáo của ủy ban với tên gọi "Our Common Future - Tương lai chung của chúng ta" được công bố năm 1987 được biết đến một cách rộng rãi với tên gọi "Báo cáo Brundtland" Báo cáo mang nhiều dấu ấn này đã giúp khởi phát một loạt hành động,

bao gồm "Hội nghị thượng đỉnh trái đất" của Liên hiệp quốc vào các năm 1992 và

Trang 10

2002, Công ước quốc tế về biến đổi khí hậu, và "Chương trình nghị sự 21" trên phạm

vị toàn cầu Báo cáo Brundtland đã thúc đẩy các thành phố, thị xã ở Bắc Âu đề xướng Mạng lưới Năng lượng Thành phố Brundtland vào năm 1990 Mạng lưới này đã lấy việc sử dụng năng lượng làm điểm xuất phát cho các hành động về môi trường Báo cáo Brundtland đã cảnh báo về mối hiểm họa về các tai biến môi trường và kêu qọi toàn thế giới đồng lòng hành động bảo vệ môi trường nhằm đạt được sự phát triển bền

vững vì các thê thế hệ mai sau: "Trong suất thế kỷ 20 mối quan hệ giữa thế giới loài người và trái đất đã trải qua một sự biến đổi sâu sắc Các biến đổi lớn, không dự tính trước đang xảy ra trong khí quyển, trong đất, trong nước, trong số động vật và thực vật và trong mối quan hệ giữa tất cả những đối tượng đó Tốc độ biến đổi đang vượt

xa khả năng của các môn khoa học và khả năng hiện tại của chúng ta để đánh giá và cho lời khuyên Nó làm thất vọng sự cố gắng của các thể chế chính trị và các cơ quan kinh tế, những thể chế đã tiến triển trong một thế giới khác, bị vỡ vụn hơn để thích ứng và đối phó Để giữ cho các thể hệ tương lai được tùy ý lựa chọn, thể hệ hiện tại phải bắt đầu ngay từ lúc này, và bắt đầu cùng nhau, cả dân tộc và cả thế giới "

Báo cáo Brundtland đã đưa ra được định nghĩa về phát triển bền vững, định nghĩa này hiện vẫn được thừa nhận sử dụng một cách rộng rãi Báo cáo Brundtland cũng giúp đặt môi trường chính thức thành chương trình nghị sự chính trị trên toàn thế giới

Hội nghị thượng đỉnh trái đất tại Rio de Janeiro là vô tiền khoáng hậu đối với một hội nghị của UN vả về quy mô lẫn phạm vi các mối quan tâm của nó Hai mươi năm sau hội nghị toàn cầu lần đầu tiên về môi trường, UN đã tìm cách để chính phủ các nước suy nghĩ lại về sự phát triển kinh tế và tìm cách ngăn chặn sự phá hoại các tài nguyên thiên nhiên không thể thay thế và sự ô nhiễm trên trái đất Các kết quả chính của hội nghị là:

Tuyên bố chung Rio về môi trường và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc định nghĩa

quyền hạn và trách nhiệm của các quốc gia khi họ theo đuổi sự phát triển và thinh vượng

Chương trình nghị sự 21, một kế hoạch nhằm tìm ra phương thức để làm cho sự phát

triển bền vững về mặt xã hội, kinh tế và môi trường

Công ước về rừng - tuyên bố về các nguyên tắc để hướng dẫn việc quản lý, bảo tồn và

phát triển bền vững của mọi loại rừng với nhận thức rằng rừng rất quan trọng đối với phát triển kinh tế và duy trì mọi dạng của sự sống

Công ước quốc tế "Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu", đã được

ký bởi hầu hết các nước tham dự Hội nghi Rio, nhằm ổn định khí nhà kính trong khí quyển ở các mức không làm rối loạn khí hậu trái đất đến mức nguy hiểm Điều đó đòi hỏi phải giảm lượng phát thải các khí như CO2, một sản phẩm phụ của việc đốt nhiên liệu để sản xuất năng lượng

Công ước về đa dạng sinh học yêu cầu các nước chấp nhận các phương thức và biện pháp nhằm bảo tồn sự đa dạng của các loài động thực vật, và đảm bảo rằng các lợi ích thu được từ việc sử dụng đa dạng sinh học phải được chia se một cách công bằng Tiếp theo là Hội nghị Rio + 5 được tổ chức vào năm 1997 (tại Kyoto, Nhật Bản) nhằm làm sống động hóa "Quá trình Rio", báo cáo và thảo luận về các tiến bộ của Chương trình nghị sự 21 ở cấp quốc gia, vùng và địa phương, và quyết định về chương trình hành động giai đoạn 1998 - 2002 Năm 1998 hội nghị về quản lý nguồn nước ngọt được tổ chức với kết quả là tổ chức Global Water Partnership - Cộng tác Nước Toàn

Trang 11

cầu được thành lập Hội nghị về Đại dương và Biển được tổ chức năm 1999, Hội nghị

về quản lý tài nguyên đất năm 2000, Hội nghị về khí quyển và năng lượng năm 2001 Hội nghị thượng đỉnh được tổ chức năm 2002 tại Johannesburg Những kết quả chính của Hội nghị bao gồm [UN Johannesburg Summit 2002]:

Tái khẳng định phát triển bền vững là một yếu tố trung tâm của chương trình nghị sự quốc tế và tiếp tục thúc đẩy các hành động toàn cầu để chống lại nghèo đói và bảo vệ môi trường

Sự hiểu biết về phát triển bền vững đã được mở rộng và củng cố, đặc biệt là các mối liên hệ giữa nghèo đói, môi trường và sử dụng tài nguyên thiên nhiên

Các chính phủ đã đồng ý và tái khẳng định một loạt cam kết và mục tiêu cụ thể cho các hành động nhằm đạt được việc thực hiên có hiệu quả hơn các mục tiêu phát triển bền vững

Năng lượng và vệ sinh là các yếu tố then chốt của các cuộc đàm phán và đạt được kết quả ở mức cao hơn so với các cuộc hội nghị quốc tế trước đây về phát triển bền vững

Sự ủng hộ cho việc thành lập một quỹ đoàn kết thế giới xóa nghèo đói đã được tiến thêm được một bước đáng kể

Châu Phi và Đối tác mới cho Phát triển Châu Phi (NEPAD - New Partnership for African Development) đã được xác định để được chú ý đặc biệt và ủng hộ bởi cộng đồng quốc tế để tập trung hơn vào những cố gắng để đáp ứng những nhu cầu phát triển của lục địa này

Một trong các mục tiêu cụ thể mà Hội nghị đặt ra liên quan đến cấp nước và vệ sinh là: giảm tỷ lệ người không được dùng nước sạch và không có các điều kiện vệ sinh cơ bản xuống còn một nửa (so với năm 2002) vào năm 2015

1.1.1 Phát triển bền vững

1) Định nghĩa

Có hai định nghĩa rất khác nhau về phát triển bền vững (Michiel A Rijsberman, Frans H.M van de Ven, 2000):

Định nghĩa của ủy ban Brundtland

ủy ban Brundtland định nghĩa phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng một cách đầy đủ các nhu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai (Uỷ ban Quốc tế về Phát triển và Môi

trường, 1987)

Dự án "Nước 21"

Tính bền vững hàm ý rằng sự cung cấp của “vốn tự nhiên” được duy trì Sự sử dụng của các nguồn có khả năng tái tạo – ví dụ: nước – không được vượt quá tốc độ tái tạo,

sự sử dụng các tài nguyên không có khả năng tái tạo – ví dụ: nhiên liệu khoáng – phải

ở mức để những tài nguyên này không bị cạn kiệt trước khi có các nguồn thay thế, và các quá trình và các cơ cấu sinh thái cơ bản phải được duy trì (Mostert E., 1998)

Có thể nhận thấy rằng định nghĩa Brundtland tập trung vào nhu cầu của các thế hệ (con người), trong khi đó định nghĩa thức hai nhấn mạnh các yếu tố khách quan đối với cộng đồng (môi trường)

2) Các yếu tố đảm bảo phát triển bền vững

Sự phát triển chỉ có thể bền vững nếu đảm bảo được đồng thời sự bền vững về xã hội, kinh tế và môi trường Quan điểm này được thể hiện bằng mô hình "Ghế 3 chân" (Hình 1.1) Rõ ràng rằng nếu bất kỳ một "chân" nào bị "gẫy" thì ghế sẽ bị đổ, nghĩa là

Trang 12

nếu một chương trình hay dự án phát triển không có hiệu quả kinh tế, tác động xấu đến môi trường tự nhiên, hoặc tác động xấu đến môi trường xã hội dự án sẽ không bền vững

Các hình 1.2 (a) và 1.2 (b) mô tả các mô hình khác về phát triển bền vững Giống như

mô hình "Ghế 3 chân", các mô hình trên hình 1.2 cho rằng các yếu tố đảm bảo phát triển bền vững là Xã hội, Kinh tế và Môi trường Cả hai mô hình đều khẳng định rằng

sự phát triển bền vững đạt được khi và chỉ khi đạt được sự bền vững cả về môi trường,

Trang 13

Hình 1.2: Các yếu tố đảm bảo và “vùng” phát triển bền vững

3) Mục tiêu phát triển bền vững

Mục tiêu kinh tế:

Hiệu quả năng xuất;

Đáp ứng nhu cầu cơ bản;

Tăng số lượng và chủng loại sản phẩm và dịch vụ;

Tăng chất lượng sản phẩm và dịch vụ

Mục tiêu xã hội:

Đảm bảo công bằng xã hội;

Giữ gìn bản sắc văn hoá;

ổn định tổ chức;

Đảm bảo sự tham gia của dân trong các hoạt động của sự phát triển

Mục tiêu môi trường:

Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên: đất, nước, sinh vật;

Đảm bảo đa dạng sinh học, tăng năng xuất sinh học

4) Chiến lược phát triển bền vững

Theo Chương trình Môi trường và Phát triển Liên hợp quốc chiến lược phát triển bền vững ở các nước đang phát triển là:

Tập trung phát triển ở các vùng nghèo đói, nhất là ở các vùng rất nghèo nơi mà con người không có sự lựa chọn nào khác là tiếp tục tàn phá và làm xuống cấp các tài nguyên;

Tạo ra sự phát triển cao về tính tự lập của cộng đồng trong điều kiện có hạn về nguồn nhân lực và tài nguyên thiên nhiên;

Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực dựa trên kỹ thuật và công nghệ thích hợp kết hợp với khai thác tối đa kỹ thuật truyền thống;

Đảm bảo tự lực về lương thực và thực phẩm, cung cấp nước sạch và nhà ở, giữ gìm sức khỏe, chống dinh suy dưỡng qua áp dụng kỹ thuật phù hợp;

Xây dựng và thực hiện các chiến lược đảm bảo sự tham gia của dân vào các chương trình phát triển

Trang 14

Bền vững về môi trường: Dự án không được gây các tác động xấu đến môi trường cả

trong quá trình thi công cũng như trong giai đoạn vận hành;

Bền vững về kỹ thuật: Để dự án bền vững về mặt kỹ thuật, công nghệ được lựa chọn

cần phải:

Vận hành đúng theo thiết kế;

Rẻ tiền (phù hợp với khả năng đầu tư và khả năng trả phí dịch vụ của người dân );

Dễ vận hành;

Có khả năng duy tu;

Bền vững về tài chính: Để dự án bền vững về tài chính cần phải có một cơ chế thu phí

được bảo đảm bằng các điều luật hay quy định hiện hành Để đảm bảo việc thu phí thực hiện có hiệu quả, dự án phải được lựa chọn và thực hiện theo nguyện vọng của đa

số những người hưởng lợi và mức dịch vụ của dự án phải hợp lý Để được như vậy, dự

án phải được xây dựng theo tiếp cận "đáp ứng nhu cầu" Sự tham gia của nười hưởng lợi là hết sức quan trọng trong suất chu trình dự án, từ giai đoạn lựa chọn, quy hoạch,

thiết kế, thi công đến quản lý vận hành

Bền vững về thể chế và tổ chức: Dự án phải được hỗ trợ bởi một khung thể chế hiện

hành Điều đó có nghĩa là việc triển khai dự án nằm trong khuân khổ luật pháp hiện hành, phù hợp với chính sách đầu tư của chính phủ, được quản lý bởi một bộ máy

hành chính có năng lực và trong sạch

Bền vững về văn hóa và xã hội: Để dự án bền vững về văn hóa xã hội trước hết cần

phải đảm bảo rằng dự án không gây những tác động tiêu cực đáng kể như: không làm mất công ăn việc làm của cộng đồng cư dân địa phương; không gây ra sự bất bình đẳng giữa những người hưởng lợi, đặc biệt là nhóm người dễ bị tác động (phụ nữ, trẻ em ); không làm ảnh hưởng đến các truyền thống văn hóa dân tộc và các giá trị phi

Nhiều nguồn tài trợ khác nhau;

Ngân sách địa phương;

Quỹ vay luân chuyển

Chiến lược cho bền vững về tài chính là:

Hình thành hệ thống thu các loại phí (giá nước, phí đường);

Tiếp cận với các tổ chức tài trợ, cơ quan quốc tế, quốc gia;

Sự ủng hộ của các ngành, các tổ chức tham gia;

Phong trào làm tăng vốn, quỹ

Trang 15

Dự án có nhịp điệu tăng trưởng tiến bộ;

Các hoạt động của dự án được thực hiện chuẩn xác cho từng giai đoạn;

Sự lựa chọn công nghệ phù hợp

Chiến lược cho bền vững về tổ chức

Xác định từng tổ chức, chức năng và vai trò của từng tổ chức khi tham gia;

Khả năng chuyên môn kỹ thuật và quản lý;

Hệ thống tổ chức về quản lý chất lượng và bảo đảm chất lượng;

Mềm dẻo và linh hoạt cho sự thay đổi;

Yếu tố chính trị:

Sự tham gia của cộng đồng và qúa trình kế hoạch hoá dự án;

Cộng động xác định những nhu cầu thực sự;

Khả thi về chính trị ;

Sự hợp tác có hiệu quả với các cơ quan và tổ chức khác;

Sự đồng tình và ủng hộ của cán bộ địa phương

Chiến lược cho bền vững về chính trị

Huy động ủng hộ của Chính phủ cho dự án;

Huy động ủng hộ của địa phương cho dự án;

Hợp tác với các tôt chức khác;

Hợp tác với các cơ quan thông tin đại chúng để nhiều người biết các hoạt động của dự

án

1.2 Tiếp cận đáp ứng yêu cầu

1.2.1 Sự cần thiết của việc áp dụng tiếp cận đáp ứng nhu cầu

Đã có nhiều bài học trên thế giới cũng như ở Việt Nam về thành công và thất bại trong thực thi các dự án phát triển Nhiều dự án không bền vững do chúng được quy hoạch

và thực hiện mà không đáp ứng yêu cầu biểu đạt bởi khách hàng Những hệ thống nước được xây dựng không tương ứng với yêu cầu của cộng đồng thường có những vấn đề như sử dụng không hết công suất, duy tu kém và không hoàn được chi phí Nhằm khắc phục vấn đề không đáp ứng nhu cầu của người dùng Ngần hàng Thế giới

và nhiều tổ chức khác đã hướng đến tiếp cận đáp ứng nhu cầu trong cung cấp các dịch

vụ về nước Tiếp cận đáp ứng nhu cầu (DRA) là cách tiếp cận cố gắng đáp ứng một yêu cầu được biểu đạt một cách rõ ràng cho một dịch vụ Yêu cầu này được bảo đảm bằng một sự tự nguyện chi trả hoặc sự đóng góp có ý nghĩa khác cho một mức dịch vụ

đã lựa chọn Tiếp cận đáp ứng nhu cầu là một tiếp cận tổng thể trong cung cấp các dịch vụ về nước kể đến các yếu tố kỹ thuật, xã hội, tài chính và thể chế

1.2.2 Cơ sở của tiếp cận đáp ứng nhu cầu

Các nguyên tắc Dublin, được đưa ra tại hội nghị quốc tế về nước và môi trường được

tổ chức tại Dublin (Ireland) vào năm 1992, đã trở thành cơ sở chung của một sự đồng thuận quốc tế về phát triển trong ngành nước Bốn nguyên tắc Dublin bao gồm (Bos, 2001):

Trang 16

là một loại hàng hóa, các quyết định đầu tư then chốt về một dự án phải được xây dựng dựa trên những yêu cầu của người dùng (khách hàng) Các dự án phải thừa nhận những quy tắc rõ ràng và minh bạch chp phép người dùng lựa chọn mức dịch vụ, công nghệ và địa điểm bố trí thiết bị sao cho phù hợp nhất với nhu cầu của họ với sự hiểu biết rõ ràng về chi phí và trách nhiệm họ phải gánh vác tương ứng với lựa chọn đó Nguyên tắc Dublin được thể hiện trong những nguyên tắc cơ bản của DRA, đó là: Nước cần phải được quản lý như một loại hàng hóa kinh tế - xã hội;

- Quản lý nước phải được chú trọng tại cấp thấp nhất thích hợp;

- Phải áp dụng một tiếp cận tổng thể nhất trong sử dụng nước;

- Vai trò của phụ nữ trong quản lý nước là rất quan trọng

Những đặc trưng chính của DRA là:

- Cộng đồng đề xuất và tự lựa chọn trên cơ sở được cung cấp đầy đủ thông tin

Nguyên tắc 2: Phát triển và quản lý nguồn nước phải được dựa trên một tiếp cận tham gia, huy động được sự tham gia của người hưởng lợi (người dùng), các nhà quy hoạch và các nhà ra chính sách ở mọi cấp Tiếp cận đáp ứng nhu cầu kéo theo sự nâng

cao nhận thức về tầm quan trọng trong số các những người làm chính sách cũng như cộng đồng nói chung Điều đó có nghĩa rằng các quyết định được đưa ra ở cấp thấp nhất thích hợp với sự tham vấn cộng đồng đầy đủ nhất và sự tham gia của người dùng trong việc quy hoạch và thực thi các dự án

Nguyên tắc 3: Phụ nữ giữ vai trò trung tâm trong việc cung cấp, quản lý và bảo vệ nước Vai trò quan trọng này của phụ nữ với tư cách đồng thời là người cung cấp nước, sử

dụng nước và bảo vệ môi trường sống thường ít khi được thể hiện trong các cơ cấu thể chế cho phát triển và quản lý tài nguyên nước Việc chấp nhận và thực hiện nguyên tắc này yêu cầu những chính sách tích cực để đáp ứng những nhu cầu đặc thù của phụ nữ và để trang

bị và tăng quyền cho phụ nữ để họ tham gia vào các chương trình tài nguyên nước ở mọi cấp, bao gồm cả việc ra quyết định và thực hiện chương trình, theo cách mà họ định ra

Nguyên tắc 4: Nước có một giá trị kinh tế trong mọi hình thức sử dụng có cạnh tranh

và phải được nhìn nhận như một loại hàng hóa Theo nguyên tắc này, việc thừa nhận

quyền cơ bản của mọi cá thể trong việc được sử dụng nước sạch với giá có thể trang trải được là hết sức quan trọng Sự không thừa nhận nước như một loại hàng hóa trong quá khứ

đã dẫn đến việc sử dụng lãng phí nguồn nước Quản lý nguồn nước như một hàng hoá kinh

tế là một biện pháp quan trọng để đạt được sự sử dụng nước một cách hiệu quả và công bằng, đồng thời khuyến khích việc bảo vệ nguồn nước

Trang 17

- Cộng đồng (hoặc đại diện hợp pháp của cộng đồng) sở hữu và chịu trách nhiệm duy trì các cơ sở hạ tầng, thiết bị;

- Năng lực của cộng đồng được tăng cường một cách phù hợp và nhận thức được nâng cao để kích cầu;

- Tiếp cận này khuyến khích sự đổi mới và thừa nhận yêu cầu phải có sự linh hoạt trong việc cung cấp dịch vụ

1.2.3 Định nghĩa về tiếp cận đáp ứng nhu cầu

Khái niệm đáp ứng nhu cầu có thể được hiểu một cách khác nhau bởi những người có chuyên môn khác nhau thuộc ngành nước:

- Đối với các kỹ sư: Lượng nước cần cung cấp cho một cộng đồng cư dân xác định;

- Đối với những nhà khoa học xã hội: Một nhu cầu cơ bản hay quyền con người (hàng hóa xã hội) cần được đáp ứng để giảm nghèo đói, công bằng và bình quyền của các nhóm thu nhập thấp;

- Đối với các nhà kinh tế: Sự tự nguyện chi trả cho một mức dịch vụ nhất định

Các nhà kinh tế, những người coi nhu cầu như một sự biểu thị của sự tự nguyện chi trả, coi nước đơn giản là một loại hàng hóa Nếu nước được coi đơn thuần là một loại hàng hóa xã hội thì nhu cầu trở thành sự biểu thị của sự kỳ vọng về sự phân bổ quyền hạn Một cách tổng thể, dường như nước được đa số cho là một loại hàng hóa kinh tế

và xã hội Hầu hết các nhà chuyên môn và quản lý trong ngành nước đều đồng ý rằng các dự án có nhiều cơ hội để bền vững hơn nếu đáp ứng các nhu cầu của người dùng Một cách tổng quát sự đáp ứng nhu cầu là sự đáp lại một nhu cầu cảm giác thấy biểu đạt bởi người dùng đối với một dịch vụ mà họ sẵn lòng và có khả năng hỗ trợ thông qua một hình thức đóng góp có ý nghĩa nào đó

Định nghĩa này phải được hỗ trợ với ba điều kiện:

(i) Người dân phải được thông báo về những lợi ích, chi phí và rủi ro của bất

kỳ sự cải tiến nào Bất kỳ một lựa chọn mới nào cũng sẽ được so sánh với những lựa chọn hiện dùng Người dân phải có khả năng đánh giá lại các chi phí tương đối, lợi ích và các yếu tố rủi ro liên quan đến (những) tùy chọn mới, và trên cơ sở đó họ có thể ra quyết định Để làm được điều đó họ phải được thông báo một cách đầy đủ về các chi phí, lợi ích và các rủi ro đi kèm

Trang 18

của tùy chọn được đề nghị theo cách để họ có thể so sánh với hệ thống hiện thời

(ii) Người dân phải tự nguyện và có khả năng bày tỏ yêu cầu của họ, một cách

cá nhân cung như theo tập thể Trong nhiều tình huống, những nhóm có vai

vế thấp trong cộng đồng cần được gia quyền và tăng cường năng lực trước khi họ có khả năng bày tỏ yêu cầu của mình

(iii) Sự đóng góp có ý nghĩa (bằng tiền, thời gian, lao động hay vật liệu) cho

phép gia tăng quyền lực của khách hàng Không giống như những người hưởng lợi, khách hàng có quyền về loại dịch vụ và cách dịch vụ đó được cung cấp

DRA và đánh giá nhu cầu

Điều quan trọng của DRA là khách hàng tự quyết định đâu là tùy chọn kỹ thuật đáp ứng tốt nhất nhu cầu của họ Để có thể đưa ra những quyết định như vậy, các tùy chọn sẵn có phải được thảo luận và phân tích Nhu cầu cần được đánh giá để thẩm định và cung cấp tài chính cho các dự án Để đánh giá nhu cầu các yếu tố xác định nhu cầu phải được hiểu rõ Nhu cầu bị chi phối bởi những yếu tố sau (Webster 1998):

Các đặc trưng kinh tế - xã hội: thu nhập hộ gia đình, giới, giáo dục, nghề nghiệp, tài sản và các đặc trưng nhân chủng học địa phương khác;

Các đặc trưng của hệ thống cấp nước: Chất lượng tương đối của hệ thống cấp nước dự kiến (so với hệ thống hiện có) đặc biệt về khía cạnh chi phí, số lượng và độ tin cậy; Thái độ của các hộ gia đình đối với chính sách nhà nước và đối với các nhà cung cấp dịch vụ về nước

Nhiều kỹ thuật đã được phát triển để đánh giá nhu cầu Một cách đại thể có thể phân các kỹ thuật này thành hai nhóm:

Phương pháp trực tiếp: Người dân thực tế được hỏi họ tự nguyện chi trả hoặc đóng góp cho giải pháp/phương án cải thiện điều kiện cấp nước nào;

Phương pháp gián tiếp: Hành vi của khách hàng được dự đoán qua các công cụ/chỉ số khác

Ba phương pháp đánh giá nhu cầu phổ biến nhất là phương pháp đánh giá có điều kiện (contingent valuation methodologies - CMV), sự ưa thích được biểu lộ (revealed preference - RP) và một tổ hợp của các kỹ thuật tham gia khác nhau Chi tiết về các kỹ thuật này được trình bày trong bảng 1.1

Bảng 1.1: Các phương pháp đánh giá nhu cầu phổ biến

Đặc trưng Phương pháp đánh giá

Điều tra chi tiết về các hành vi hiện tại (ví dụ những hành vi gắn với những người bán nước rong)

Thảo luận và thực hành nhóm với một hướng dẫn viên được đào tạo cản thận

Trang 19

Mục đích

chính

Xác định một cách tường minh mức tự nguyện chi trả hay các đóng góp khác cho hệ thống cấp nước dự kiến

Số liệu về sự sử dụng của các hệ thống hiện có: cung cấp thông tin cho các nhà quy hoạch

để định hướng đầu tư trong tương lai

Xây dựng khái niệm mang tính địa phương

và các giải pháp Có thể thông tin cho các

cơ quan bên ngoài và bản thân cộng đồng Các nhập

lượng cần

thiết

Một số công của một chuyên gia kinh tế để thiết kế phiếu điều tra

Các chuyên viên tính toán đã được đào tạo

Các chuyên viên tính toán đã được đào tạo

Hướng dẫn viên đã được đào tạo và các công cụ tham gia

Trang 20

vệ sinh đô thị hay ven

đô (đắt đối với các dự

án ở vùng nông thôn)

Thường dùng cho các

dự án cấp nước và vệ sinh đô thị và ven đô

Không xác định được mức tự nguyện chi trả (hay đóng góp) cho các tùy chọn dự kiến

Kết quả có thể trái ngược, cần một hướng dẫn viên được đào tạo tốt

Hình 1.3: Tiến trình thực thi tiếp cận dựa theo nhu cầu

1.2.4 Hiện trạng về phương pháp tiếp cận đáp ứng yêu cầu ở Việt Nam

Trong một thời gian rất dài cho đến tận những năm gần đây ở Việt Nam hầu hết các dự

án đều được thiết lập theo ấn định chủ quan của những người làm công tác quy hoạch -

kế hoạch dựa trên những đánh giá chủ quan của họ về nhu cầu hay sự cần thiết phải thực hiện dự án đó Các dự án được thực hiện với vốn đầu tư nước ngoài (Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Châu á, Quỹ Tiền tệ Thế Giới, các nước và các tổ chức phi chính phủ) sau khi Mỹ ngừng cấm vận kinh tế chính là động lực cho sự áp dụng và phát triển các tiếp cận mới trong thực thi các dự án phát triển ở Việt Nam Điều đó được minh chứng rất rõ nét thông qua Chiến lược quốc gia vệ cấp nước sạch vệ sinh nông thôn được hỗ trợ xây dựng bởi Chính phủ Đan Mạch Những điểm chính của Chiến lược này được trình bày tóm tắt trong phần dưới đây

- Người sử dụng

- Các hộ gia đình

- Các nhóm người sử dụng

1 Thông tin giáo dục, truyền thông ban đầu

2 Thu thập thêm thông tin

3 Tư vấn, nghiên cứu khả thi

Trang 21

Chiến lược quốc gia vệ cấp nước sạch vệ sinh nông thôn (National clean water supply

and sanitation strategy up to year 2020, 2000):

1)Sự cần thiết của chiến lược quốc gia

Nước sạch vệ sinh môi trường là một nhu cầu cơ bản trong đời sống hàng ngày của mọi người và đang trở thành đòi hỏi bức bách trong việt bảo vệ sức khoẻ và cải thiện điều kiện sinh hoạt cho nhân dân, cũng như trong sự nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước

Hiện nay, vẫn còn hơn 60 % dân số nông thôn sử dụng nước không bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh và một nửa số hộ ở nông thôn không có nhà tiêu Các bệnh có liên quan tới nước và vệ sinh tiêu chảy, giun, đường ruột rất phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các bệnh thường gặp trong nhân dân Vấn đề sây dựng công trình cấp nước và vệ sinh đang trở thành một đòi hỏi rất cấp bách và quy mô rộng lớn trong những năm tơí Trong bối cảnh đó, cần phải có triến lược phát triển tổng quát và lâu rài trong lĩnh vực Cấp nước sạch &vệ sinh nông thôn

2) Mục tiêu của Chiến lược quốc gia vệ cấp nước sạch vệ sinh nông thôn

Cấp nước sạch & vệ sinh nông thôn là một khái niệm rộng lớn, trong chiến lược này chủ yếu tập trung giải quyết vấn đề cung cấp nước sạch cho sinh hoạt và các nhu cầu

vệ sinh trong gia đình Phạm vi áp dụng của chiến lược bao gồm tất cả các vùng nông thôn trong cả nước

Chiến lược quốc gia về cấp nước vệ sinh môi trường nông thôn, được Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 25/ 8/ 2000 theo Quyết định của số 104 / 2000/ QĐ- TTg, không chỉ là một quy hoạch tổng thể mà còn đặt gia mục tiêu cần đạt được trong 20 năm tới

và hướng dẫn làm thế nào đạt được các mục tiêu

Mục tiêu tổng thể:

Tăng cường sức khoẻ cho dân cư nông thôn bằng cách giảm thiểu các bệnh có liên quan đến nước và vệ sinh nhờ cải thiện việc cấp nước sạch, nhà vệ sinh và nâng cao thực hành vệ sinh của dân chúng

Nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn thông qua việc xây dựng và sử dụng các công trình cấp nước và vệ sinh hiện nay, làm giảm bớt sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn

Giảm tình trạng ô nhiễm môi trường do phân người và phân gia súc chưa được xử lý, làm ô nhiễm môi trường, cũng như giảm ô nhiễm hữu cơ các nguồn nước

85% dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh với số lượng 60 lít / người -ngày,

70 % gia đình có hố xí hợp vệ sinh và thực hiện tốt vệ sinh cá nhân

3) Những điểm mới trong Chiến lược quốc gia về cấp nước và vệ sinh nông thôn

Trang 22

Nguyên tắc cơ bản của chiến lược là Phát triển bền vững Nguyên tắc này coi trọng sự phát triển vững chắc: làm đâu được đấy, hơn là sự phát triển nhanh nhưng nóng vội, làm xong lại hỏng phải làm lại Rút cục lại chậm và tốn kém hơn Đồng thời phải bảo đảm phát triển trước mắt không làm tổn hại đến tương lai và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên nước

Cách tiếp cận chung dựa trên nhu cầu, người sử dụng tự tri các chi phí và thực hiện xã hội hoá lĩnh vực cấp nước sạch & vệ sinh nông thôn Cách tiếp cận dựa vào chỉ tiêu vật tư trước đây và sự thay đổi trong vai trò của người sử dụng và Nhà nước

Bảng 1.2: Vai trò, trách nhiệm của Nhà nước và người sử dụng trong tiếp cận DRA Cách tiếp

cận

Người sử dụng Nhà nước

Dựa trên nhu

cầu - Quyết định loại công trình Cấp nước sạch &

vệ sinh nông thôn mà mình mong muốn, tự lo kinh phí cho xây dựng công trình tự tổ chức thực hiện

- Quản lý, vận hành và duy tu công trình

- Đóng vai trò tư vấn hướng dẫn và hỗ trợ

- Cung cấp thông tin về sức khoẻ, công nghệ, cơ chế tài chính, vốn vay, v.v

Xã hội hóa - Quyết định tự xây dựng

hoặc thuế nhà thầu xây dựng thông qua đấu thầu

- Vận động và tổ chức, tạo cơ sở pháp lý

để huy động sự tham gia của mọi thành phần kinh tế và cộng đồng dân cư trong việc đầu tư vốn thi công xây lắp, sản suất thiết bị phụ tùng, các dịch vụ sửa chữa và quản lý vận hành

Bảo toàn vốn - Chịu toàn bộ chi phí

xây dựng và vận hành các công trình cấp nước sạch & vệ sinh nông thôn

- Cung cấp các khoản vay tiến dụng ưu đãi

- Trợ cấp cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội, hỗ trợ hệ thống cấp nươc tập trung và những trường hợp đặc biệt

Trang 23

Các chương trình Thông tin - Giáo dục - Truyền Thông hướng dẫn người sử dụng hiểu biết về công nghệ, kỹ thuật, quản lý vận hành, cơ chế tài chính, tín dụng, để giúp họ ra các quyết định đứng đắn phải được tiến hành trước khi lập dự án hay xây dựng công trình

Cách thức tổ chức quản lý vận hành các công trình cấp nước sạch & vệ sinh nông thôn dùng chung cho nhiều hộ (ví dụ như hệ thống cấp nước tập trung) phải được thiết lập một cách cụ thể rõ ràng trước khi xây dựng công trình

Các công nghệ tiên tiến và công nghệ thích hợp (dễ vận hành, tỉ lệ nội địa hoá cao đã được thử nghiệm không quá đắt và không tác dụng xấu đến môi trường) được Nhà nước khuyến giúp đỡ, còn các công nghệ có hại cho sức khoẻ và môi trường phải loại

bỏ

4) Biện pháp thực hiện chiến lược quốc gia về cấp nước và vệ sinh nông thôn

Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn được thực hiện theo 4 biện pháp sau đây:

Thông tin giáo dục truyền thông

Cơ chế tài chính

Cải tiến tổ chức, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và phát triển nguồn nhân lực

áp dụng công nghệ phù hợp

Thông tin - Giáo dục - Truyền thông và tham gia của cộng đồng

Hiện nay, phần lớn dân cư nông thôn còn thiếu hiểu biết về vệ sinh, nước sạch, bệnh tật và sức khoẻ, về môi trường sống chung quanh mình cần phải được cải thiện và có thể cải thiện được Vì vậy, các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông có tầm quan trọng lớn lao đối với thành công của mọi chiến lược phát triển và cần được tiến hành ở mọi cấp Vai trò cơ bản của Nhà nước trong tương lai là tập trung vào các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông và quản lý hơn là trực tiếp xây dựng công trình Cấp nước sạch & vệ sinh nông thôn

Thông tin giáo dục truyền thông nhằm những mục đích sau:

Tăng nhu cầu dùng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh

Khuyến khích người dân tự nguyện đóng góp tài chính để xây dựng công trình cấp nước và nhà tiêu hợp vệ sinh

Cung cấp thông tin cần thiết để người dân có thể tự lựa chọn loại hình công nghệ cấp nước và nhà vệ sinh phù hợp

Nâng cao hiểu biết của người dân về vệ sinh và mối quan hệ giữa vệ sinh, cấp nước với sức khoẻ

Những điểm cần chú ý trong công tác thông tin - giáo dục - truyền thông:

Sự khác biệt về phong tục tập quán, điều kiện kinh tế - xã hội và dân trí giữa các vùng

- về địa lý cũng như dân tộc

Vấn đề giới, đặc biệt cần quan tâm cả nam và nữ giới

Đặc biệt chú trọng khuyến khích xây dựng và sử dụng đúng các nhà tiêu hợp vệ sinh Xây dựng công trình cấp nước và vệ sinh tốt tại các cơ sở công cộng như trường học, bệnh viện, chợ, trụ sở cơ quan nhằm tăng hiệu quả của các chiến dịch truyền thông

Cơ chế tài chính

Trang 24

Phát huy nội lực dựa trên nguyên tắc người sử dụng phải đóng góp phần lớn kinh phí xây dựng công trình và toàn bộ kinh phí vận hành, duy tu, bảo dưỡng và quản lý, do

đó họ cần được vay vốn để xây dựng công trình

Các hộ gia đình dành một phần thu nhập thoả đáng (3-5%) đầu tư cho công trình cấp nước và vệ sinh

Người sử dụng sẽ trả một phần chi phí xây dựng (ít nhất là 25 - 30%) và chỉ được vay

70 - 80% chi phí xây dựng công trình Thời hạn từ 3 năm đến 5 năm, có thể đến 15-20 năm đối với hệ thống nước tập trung

Khuyến khích khu vực tư nhân và các thành phần kinh tế khác đầu tư xây dựng các công trình cấp nước tập trung với chính sách ưu đãi như giảm thuế hoặc miễn thuế, được vay một phần vốn với lãi suất thấp Đồng thời có chính sách bảo hộ người đầu

Quỹ quốc gia cho cấp nước và vệ sinh nông thôn của Trung ương sẽ cho ngân hàng tỉnh và ngân hàng huyện vay với lãi suất thấp hơn lãi suất thương mại nhằm khuyến khích nhân dân vay vốn đầu tư xây dựng công trình cấp nước và vệ sinh

Tuy nhiên để giúp đỡ người nghèo và gia đình thuộc diện chính sách ưu tiên những nơi có khó khăn đặc biệt, Nhà nước cần có hệ thống trợ cấp vốn cho các đối tượng nêu trên để giúp đỡ nhân dân xây dựng công trình cấp nước và vệ sinh

Hỗ trợ người nghèo và gia đình thuộc diện chính sách một phần kinh phí cho xây dựng công trình cấp nước và vệ sinh Mức hỗ trợ có thể tăng đối với những địa bàn đặc biệt khó khăn về cấp nước và vệ sinh như vùng bị hạn hán, nơi khan hiếm nguồn nước, vùng bị nhiễm mặn, vùng núi cao, vùng bị ô nhiễm, vùng lũ lụt

Hỗ trợ xây dựng các hệ thống cấp nước tập trung lớn có chất lượng nước tốt, sử dụng tiện lợi, góp phần xây dựng nông thôn mới văn minh theo hướng đô thị hoá, giảm bớt cách biệt giữa thành thị và nông thôn

Đối với một số dự án đặc biệt, Nhà nước sẽ lựa chọn để chi trả phần lớn chi phí mà tối

đa có thể lên tới 90% Trong cả hai trường hợp, vốn sẽ do ngân hàng quản lý và người

sử dụng sẽ thành lập nhóm, hoặc hợp tác xã (tự nguyện) để làm đơn đề nghị Nhà nước trợ cấp vốn và vay vốn tín dụng

Cải tiến tổ chức, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và phát triển nguồn nhân lực

Các cơ quan nhà nước sẽ không tham gia vào các hoạt động mang tính sản xuất kinh doanh mà chỉ làm nhiệm vụ quản lý và tư vấn cho người sử dụng

Tập trung trách nhiệm chỉ đạo thực hiện cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhưng đồng thời phải phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ, ngành, tổ chức xã hội và có cơ chế phối hợp tốt

Phân cấp thực hiện cho tới cấp thấp nhất một cách thích hợp gắn liền với các tổ chức cộng đồng

Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước bằng việc xây dựng văn bản pháp quy, có bộ máy đủ mạnh để thực thi pháp luận và có chính sách khuyến khích thi hành

Tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp nhà nước và khu vực tư nhân tham gia phát triển cấp nưóc sạch và vệ sinh nông thôn

Sắp xếp lại và nâng cao năng lực cán bộ thông qua đào tạo, tuyển nhân viên và phát triển nghề nghiệp

Nâng cao năng lực đào tạo hiện có ở các cấp trong lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường, bao gồm: Các cơ sở đào tạo bậc đại học, trung học chuyên nghiệp và trung tâm dạy nghề

Trang 25

áp dụng công nghệ phù hợp

Xem xét cải tiến nâng cao các công nghệ truyền thống

Khuyến khích áp dụng các công nghệ tiên tiến để góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn và làm giảm bớt cách biệt giữa thành thị với nông thôn về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn

Thái độ hành vi của người sử dụng cần được xem xét và thử nghiệp trong các nghiên cứu phát triển công nghệ

Nghiên cứu điển hình hoá, tiêu chuẩn hoá các loại hình cấp nước tập trung với quy mô khác nhau ở các vùng

Giới thiệu công nghệ khác nhau, cả ưu điểm và nhược điểm, cho cộng đồng dân cư lựa chọn và áp dụng

Công nghệ có hại cho sức khoẻ phải loại bỏ

Lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn sẽ đóng góp vào quản lý nguồn nước bằng cách cung cấp số liệu thu thập từ quá trình thực hiện chương trình nước sạch - vệ sinh môi trường và hệ thống theo dõi nguồn nước

1.2.5 Vai trò mới của người kỹ sư trong tiếp cận bền vững của các dự án

Chiến lược Quốc gia về Cấp nước và Vệ sinh Nông thôn đã chỉ ra rằng các hộ và các cộng đồng nông thôn sẽ chịu trách nhiệm chính đối với việc phát triển hạ tầng nông thôn (bao gồm cả công trình hạ tầng về cấp nước và vệ sinh) theo nguyên tắc bền vững Nhà nước sẽ giữ vai trò hỗ trợ tích cực trong quản lý, hướng dẫn và tạo ra các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển

NRWSS cũng nhấn mạnh rằng mọi hoạt động quy hoạch và thực hiện dự án phải dành

ưu tiên cao cho sự bền vững hơn các yếu tố khác, ví dụ như tốc độ thực hiện dự án Tiếp cận đáp ứng nhu cầu sẽ thay thế tiếp cận cung chi phối trước đây, điều đó có nghĩa rằng những người sử dụng, sau khi được nhận được những tư vấn, lời khuyên cần thiết sẽ:

- Quyết định chọn loại hệ thống cấp nước và vệ sinh mà họ muốn, tổ chức triển khai dự án ra sao và họ sẽ góp vốn xây dựng và trả phí dịch vụ tế nào

- Tự thực hiện dự án (xây dựng hệ thống) hay thu xếp hợp đồng thuê các nhà thầu để xây dựng hệ thống

- Quản lý vận hành và duy tu toàn bộ hệ thống

Tiếp cận mới DRA đã đặt ra những yêu cầu mới đối với các kỹ sư:

ƒ Các kỹ sư sẽ phải cung cấp cho các hộ gia đình một loạt các phương án kỹ thuật cùng với thông tin về chi phí gắn với mỗi phương án chứ không phải là một phương án duy nhất Điều đó hàm ý nhu cầu đối với tính linh hoạt và khả năng thích ứng về mặt kỹ thuật Những phương án kỹ thuật này không chỉ bao gồm các mức dịch vụ mà cả các tùy chọn về phương thức cung ứng dịch vụ Để làm được điều đó, các kỹ sư phải được thông tin về các yêu cầu của người tiêu dùng Việc xác định và trình bày một loạt các phương án khả thi (thay cho một phương án duy nhất) có thể yêu cầu tăng công kỹ thuật, do vậy có thể tăng chi phí tư vấn

Trang 26

kỹ thuật" trong việc xác định các phương án

Vai trò của các kỹ sư trong đánh giá nhu cầu là cung cấp thông tin cho người tiêu dùng về các phương án sẵn có và đáp ứng lựa chon của họ Đây là một quá trình lặp

thường được tiến hành qua một số giai đoạn Như một phần của đánh giá nhu cầu các

kỹ sư cần thông tin cho các hộ gia đình các phương án kỹ thuật khác nhau, bao gồm các nguồn, mức dịch vụ và chi phí tương ứng, chế độ vận hành duy tu và quản lý của các phương án Các điều kiện thực tế như sự sẵn có của các chi tiết thay thế, các nguồn cung cấp vật liệu phải được thảo luận Các kỹ sư phải đáp ứng các yêu cầu hiện tại và tương lai trong thiết kế của họ và trong các hệ thống hỗ trợ Họ phải đủ linh hoạt để cung cấp các mức dịch vụ khác nhau để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Giao tiếp,

tư vấn, sự tham gia và việc ra quyết định bởi cộng đồng phải được bảo đảm trong suất quá trình cung cấp thông tin, đánh giá và đáp ứng nhu cầu

Tiếp cận đáp ứng nhu cầu cũng thay đổi cơ bản thái độ của người sử dụng đối với các

kỹ sư Trước đây các kỹ sư chỉ quan tâm đến việc thực hiện các dự án được áp đặt từ trên xuống, người dân không phải góp vốn đầu tư, không được tham gia vận hành hệ thống, bởi vậy họ hầu như không quan tâm đến mọi khía cạnh của dự án Với cách tiếp cận được đổi mới, người sử dụng phải góp vốn đầu tư, tham gia xây dựng và vận hành

hệ thống bởi vậy họ rất quan tâm đến kết quả đầu tư, do đó họ sẽ tự tìm đến các kỹ sư

để được tư vấn

Một kỹ sư lý tưởng trong tiếp cận đáp ứng nhu cầu có những khả năng và tính cách như được liệt kê trong bảng 1.3

Bảng 1.3: Những khả năng và tính cách lý tưởng của một kỹ sư trong DRA

Các đặc trưng Các chi tiết

Kiến thức ƒ Các yếu tố bền vững trong dự án

ƒ Công nghệ thích hợp

ƒ Đảm bảo chất lượng

ƒ Các vật liệu địa phương

ƒ Động lực cộng đồng, kinh tế và các vấn đề khác

ƒ Các chính sách và đường lối chỉ đạo

ƒ Các tiếp cận tham gia

Kỹ năng ƒ Các phương án kỹ thuật

Trang 27

− Khả năng chuyển nhu cầu của khách hàng thành các phương án kỹ thuật khả thi, bao gồm các mức dịch vụ khác nhau, các chi phí đi kèm, chế độ vận hành, duy

ƒ Khả năng làm việc theo nhóm

ƒ Khả năng nhường để mọi người tự suy xét

ƒ Khả năng lắng nghe, cởi mở, dễ tiếp cận và mềm dẻo Thái độ ƒ Có thiện ý trong giao tiếp và biết đặt lòng tin vào một

nhóm đa chuyên môn, đặc biệt là chuyên gia tư vấn xã hội

ƒ Sẵn sàng chấp nhận các vấn đề "phi kỹ thuật" để xác định các vấn đề kỹ thuật

ƒ Sẵn sàng chấp nhận các vấn đề về giới như một phần của

dự án

ƒ Sẵn sàng chấp nhận giảm nghèo đói là một trọng tâm của

dự án

ƒ Sẵn sàng nhìn nhận và tôn trọng cộng đồng như một khách hàng

ƒ Sẵn sàng thiết kế cho cộng đồng như cho khách hàng và tính đến các yêu cầu của họ thay cho cố gắng thiết kế cơ

sở hạ tầng tốt nhất theo ý chủ quan của mình

ƒ Sẵn sàng nhìn nhận sự phát triển như một quá trình chứ không phải là một thương vụ

ƒ Sẵn sàng đặt trọng tâm vào các vấn đề về tính bền vững thay vì cơ sở hạ tầng

ƒ Sẵn sàng tiếp nhận các tiếp cận tham gia

ƒ Vui lòng kiên nhẫn vì quá trình có thể kéo dài hơn dự kiến Động cơ ƒ Cam kết và sự cống hiến cho sự phát triển của cộng đồng

Trang 28

Câu hỏi cuối chương :

Câu 1: Thế nào là phát triển bền vững? Nêu các yếu tố đảm bảo và mục tiêu phát triển bền vững? Chiến lược phát triển bền vững?

Câu 2: Thế nào là tính bền vững của một dự án? Nêu các phương diện để một dự án phát triển bền vững? Nêu các yếu tố để làm tăng tính bền vững của một dự án?

Câu 3: Nêu sự cần thiết của việc áp dụng tiếp cận đáp ứng nhu cầu?

Cõu 4: Trỡnh bày định nghĩa về tiếp cận đáp ứng nhu cầu và các đặc trưng của đáp ứng nhu cầu?

Câu 5: Tại sao phải tiếp cận “Đáp ứng nhu cầu” trong dự án phát triển nông thôn? Phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới việc đánh giá yêu cầu của người hưởng lợi? Những điều kiện cần thiết cơ bản cho việc tiếp cận đáp ứng yêu cầu?

Trang 29

CHƯƠNG II: CÁC KHÍA CẠNH CỦA DỰ ÁN PHÁT

TRIỂN NÔNG THÔN

2.1 Khái niệm về dự án phát triển nông thôn

Dự án Phát triển Nông thôn là các dự án đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau để phát triển kinh tế xã hội ở các khu vực nông thôn nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân Chẳng hạn như các dự án tưới tiêu, phát triển trồng trọt chăn nuôi, phát triển mạng lưới giao thông, định canh định cư, cơ khí hoá nông nghiệp phát triển

cơ sở hạ tầng, mở rộng các ngành nghề, nghiên cứu khoa học nông nghiệp, phát triển giáo dục, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân

Có hai loại dự án chính có giá trị ngang nhau nhưng được xem xét một cách khác nhau:

ƒ Đầu tư vào chi phí sản xuất: Đây là các đầu tư vào chi phí sản xuất để sinh lợi; thường thời gian thực hiện dự án ngắn trong vòng một năm như đầu tư vào dự

án giống, phân bón Việc đánh giá hiệu quả của dự án chỉ đơn giản ở cấp trang trại hoặc hợp tác xã trong phạm vi một thôn hoặc một xã

ƒ Đầu tư vào các dự án có khả năng tái sản xuất nào đó có thể sinh lợi trong thời gian dài, ví dụ như: hệ thống giao thông, hệ thống tưới tiêu, nhà xưởng chế biến nông sản, định canh định cư, các dự án phát triển văn hóa xã hội

Để đánh giá hiệu quả của các dự án này phải thông qua phân tích tính toán kinh tế kỹ thuật kỹ càng và phải sử dụng những phương pháp phân tích tiên tiến

Có nhiều cách phân loại các dự án phát triển nông thôn khác nhau và dựa vào các tiêu chí chủ yếu là: Mục tiêu hoạt động, Nội dung hoạt động, bản chất hoạt động của dự án như dự án phát triển cơ sở hạ tầng, dự án phát triển sản xuất, dự án phát triển văn hóa

xã hội hoặc cũng có thể dựa vào quy mô nguồn vốn và cấp quản lý để phân loại dự

án phát triển nông thôn Trong những năm qua ở nước ta thường dựa vào quy mô và vốn đầu tư cho dự án để phân loại, cũng do quy mô và lượng vốn đầu tư mà dẫn đến các cấp có thẩm quyền phê duyệt và chủ đầu tư cũng khác nhau Các dự án phát triển nông thôn ở nước ta thường được phân làm 3 loại theo quy mô đầu tư:

- Các dự án nhỏ < 500.000 triệu Đồng VN

- Các dự án vừa 1 \ 10 tỷ Đồng VN

- Các dự án lớn > 10 tỷ Đồng VN

Trang 30

Các dự án này khác nhau về chủ đầu tư và các cấp thẩm định, phê duyệt

ƒ Các dự án nhỏ có thể được phê duyệt bởi chính quyền cấp huyện, có sự tham gia của các ngành dọc và được cấp vốn bằng ngân sách địa phương hoặc được huy động vốn từ nhân dân hoặc vốn tín dụng từ ngân hàng địa phương (Ngân hàng Phục vụ Người nghèo)

ƒ Các dự án loại vừa phải được Sở Kế hoạch Đầu tư của tỉnh phê duyệt cũng có

sự tham gia của các sở, ban ngành dọc của tỉnh Nguồn vốn có thể lấy từ nguồn vốn ngân sách của tỉnh được đưa về địa phương

ƒ Các dự án loại lớn phải được chuẩn bị và phê duyệt ở cấp quốc gia bởi Bộ Kế họach Đầu tư và các Bộ ngành dọc Nguồn vốn có thể huy động từ vốn ngân sách quốc gia hoặc nguồn vốn vay hoặc tài trợ nước ngoài của các tổ chức quốc

tế hoặc các tổ chức tài trợ quốc gia Các cơ quan tài trợ có thể là song phương hoặc đa phương

2.2 Các khía cạnh của dự án

Đối với một dự án phát triển nói chung và một dự án phát triển nông thôn nói riêng để muốn đạt được sự phân tích đánh giá một cách hiệu quả chúng ta phải nghiên cứu rất nhiều khía cạnh của dự án Những khía cạnh này có liên quan chặt chẽ với nhau, có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của dự án Những khía cạnh này cần phải được chú ý xem xét trong suốt quá trình xây dựng và thực hiện

- Khía cạnh môi trường,

- Khía cạnh về thương mại,

kỹ thuật được hoàn hảo và chính xác Hơn nữa, tất cả các phân tích các khía cạnh khác của dự án được tiến hành đều dựa trên những phân tích về mặt kỹ thuật Nội dung kỹ thuật của dự án cũng sẽ được xem xét lại và sửa đổi trên cơ sở nghiên cứu kiểm tra một cách chi tiết các khía cạnh khác của dự án Công việc xây dựng và phân tích khía

Trang 31

Ngoài ra khía cạnh kỹ thuật của dự án cần phải theo dõi quan sát về tính chất của đất trồng, tình hình nước ngầm trong khu vực, thu thập những tài liệu về khí tượng thuỷ văn; hơn nữa còn phải biết về người nông dân trong dự án ý nghĩ của họ, cách thức tiến hành các hoạt động sản xuất cũng như sinh hoạt sau khi có dự án, những giá trị xã hội của dự án bảo đảm sự lựa chọn giải pháp kỹ thuật mang tính thực tế

Đứng về khía cạnh kỹ thuật cũng cần phải tiếp tục phân tích dự án để bảo đảm các vấn

đề được giải quyết là hoàn chỉnh và thích hợp làm cho người nông dân áp dụng các giải pháp kỹ thuật trên đồng ruộng của mình, nhận ra những kết quả của dự án

2.2.2 Khía cạnh quản lý, tổ chức và thể chế

Toàn bộ các vấn đề liên quan trong công tác chẩn bị và thực hiện dự án đều có liên quan đến khía cạnh quản lý tổ chức và thể chế, nó có một ảnh hưởng tương đối rõ ràng

và vô cùng quan trọng đến giai đoạn thực hiện dự án

Một loạt các câu hỏi xem vấn đề thiết lập một thể chế do dự án thế nào cho thích hợp Các vấn đề văn hoá xã hội, thể chế cần phải được xem xét một cách kỹ càng trong dự

án Có nên đưa những phong tục tập quán văn hoá của nhân dân tham gia trong vùng

dự án vào nội dung cần xét đến trong thiết kế dự án Liệu người nông dân, những người được hưởng lợi từ dự án, liệu có đưa vào để cùng lựa chọn về các thiết kế của

dự án Liệu dự án có phá vỡ những nếp nghĩ cách làm đã trở thành thói quen và truyền thống của nông dân trong khu vực Nếu có thì những vấn đề gì cần trang bị cung cấp cho nông dân để họ có thể cập nhật được những cách làm ăn mới khi có dự án Hệ thống thông tin liên lạc như thế nào để đưa người nông dân đến với những thông tin mới và cách làm ăn mới Sự thay đổi phong tục tập quán thường diễn ra tất chậm chạp, phải có đủ thời gian để nông dân nhận thức được những vấn đề mới hoặc dự án có kế hoạch tổ chức để đẩy nhanh tốc độ nhận thức vấn đề mới của nông dân khi có dự án

Trang 32

Để có cơ hội tốt tiến hành dự án, dự án phải có mối liên hệ một cách hoàn chỉnh với cơ cấu thể chế của quốc gia hay khu vực Liệu dự án có sự kết hợp chặt chẽ với các thể chế địa phương và sử dụng nó để phát triển dự án trong những bước tiếp theo Tổ chức hành chính của dự án như thế nào và liên quan đến các cơ quan tổ chức có sẵn trong vùng dự án như thế nào? Có thành lập tổ chức dự án riêng rẽ không? Những vấn đề gì

sẽ được kết nối giữa cán bộ có liên quan, các nhân viên trong dự án có thể kết hợp tốt với các cơ quan hiện hữu hay có những khúc mắc đố kỵ, Một điều thường xảy ra là các bộ phận tổ chức của dự án được thành lập bên cạnh các cơ quan cũ và ít nhiều có những sự đối lập nhất định Người phân tích phải tìm cách làm giảm đến mức tối thiểu

sự chà sát giữa các bên, anh ta cần sắp xếp cho tất cả các cơ quan có liên quan đều có

cơ hội thảo luận về chức năng nhiệm vụ của các cơ quan sẽ được thành lập trong dự án

để đảm bảo những quan điểm của họ được đưa vào thảo luận và cân nhắc đối nội các vấn đề có liên quan một cách đầy đủ nhất

Các đề xuất về tổ chức của dự án cần được kiểm tra để cho thấy rằng dự án được quản

lý một cách chặt chẽ Những cơ quan tổ chức của dự án cần liên hệ một cách chặt chẽ với chính quyền sở tại

Nhân dân địa phương ủng hộ hay có ý kiến thắc mắc một cách trực tiếp với giám đốc của dự án, các tổ chức có đề cập đến các phong tục tập quán, các quy định tổ chức chung của đất nước và khu vực Các vấn đề liên quan này đã đề cập một cách đầy đủ trong quá trình thay đổi cấu trúc tổ chức, làm phá vỡ hình thức tổ chức truyền thống của khu vực

Vấn đề quản lý là vấn đề cốt yếu để thiết kế và thực hiện dự án một cách có kết quả

Về khía cạnh quản lý, phải xem xét nguồn cán bộ trong dự án có khả năng cai quản những dự án mang tính tổng hợp, trải trên một diện rộng mang tính cộng đồng như dự

án phát triển nông thôn

Trong trường hợp trình độ quản lý có hạn và số lượng nhân viên không đủ, ngay từ bước phân tích kỹ thuật cũng phải đề cập đến vấn đề làm giảm mức độ phức tạp của

dự án và bổ sung nội dung đào tạo những cán bộ địa phương (trong nước) để có thể quản lý một cách trực tiếp dự án Hạn chế đến mức thấp nhất việc nhờ cậy vào các chuyên gia phải thuê từ nơi khác hoặc từ nước ngoài

Trong khía cạnh quản lý của dự án chúng ta không chỉ quan tâm đến vấn đề điều hành

và quản lý của dự án như thế nào mà còn phải quan tâm đến các vấn đề khác mang tính đột xuất, cần phải vượt qua thực tế là phải tạo ra được khả năng giải quyết vấn đề một cách nhanh nhất.Đóng góp của một dự án đầu tư là tạo ra nguồn thu nhập mới, vì vậy vấn đề chậm chễ trong dự án là vấn đề hết sức nhậy cảm

2.2.3 Khía cạnh xã hội

Chúng ta đề cập đến sự cần thiếtphải nghiên cứu đến các kiểu mẫu xã hội của các đối tượng mà dự án phục vụ một cách thường xuyên, người phân tích dự án phải hướng tới kiểm tra vốn đầu tư cho các vấn đề xã hội một cách rộng rãi Trong một số trường hợp

Trang 33

riêng biệt đánh giá xã hội theo đúng quy định là cần thiết nhằm thiết kế dự án phù hợp với điều kiện xã hội mà trong đó dự án dẽ được thực hiện Dự án cũng chú ý tới việc phân phối thu nhập cho các đối tượng phục vụ của dự án Với sự phân tích trên khía cạnh xã hội thì dự án sữ mang lại hiệu ích ưu tiên cho những đối tượng có thu nhập thấp.Như vậy ở khía cạnh xã hội vấn đề phân phối thu nhập cho các đối tượng mà dự

và bón phân đều dễ dàng thực hiện bằng máy kéo liên hợp, có thể thay thế lao động của những người điều khiển và bắt buộc họ phải dời tới vùng ngoại ô để sinh sống, tuy nhiên rất khó khăn để tìm công ăn việc làm nên dẫn đến thất nghiệp Các dự án phát triển nông thôn cần chú ý giảm dến mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi tương tự như trên Các dự án nên đưa ra những chính sách quy định kèm theo, sự thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, thay đổicông nghệ trong sản xuất nông nghiệp có thể làm thay đổi loại hình công việc mà trước đây người nông dân thường làm, đặc biệt là đối với những người phụ nữ ở một số vùng, các công cụ cơ khí đã giải phóng người phụ nữ, giành cho họ thời gian để nuôi dạy con cái họ.Tuy nhiên cũng có những dự án với những tán động xấu tương tự sẽ làm giảm thu nhập của những người phụ nữ và gia đình họ Điều ấy là điều cần hết sức lưu ý và nghiên cứu kỹ khi đầu tư phát triển các

dự án phát triển nông thôn

Các dự án đồng thời phải xem xét các vấn đề có liên quan đến chất lượng của cuộc sống, nó phải là một phần rõ ràng trong bất kỳ thiết kế dự án nào Ví dụ như một dự án phát triển nông thôn có thể bao gồm hạng mục nhămg nâng cao dịch vụ y tế ở vùng nông thôn hoặc nâng cao chất lượng cấp nước sinh hoạt cho cộng đồng hoặc nâng cấp các trường sở để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông cho con em nông dân

Trong khía cạnh xã hội dự án cần được xem xét kỹ những đóng góp của dự án đến vấn

đề phát triển xã hội của khu vực đông thời xét đến các phương án khác hoặc các dự án

kế tiếp nhằm thoả mãn những mục tiêu lâu dài của khu vực trong lĩnh vực xã hội

2.2.4 Khía cạnh môi trường

Các dự án đặc biệt là các dự án phát triển nông thôn cần xem xét những tác động đến môi trường của dự án Ví dụ dự án tưới được thực hiện sẽ giảm việc đánh bắt cá hoặc làm tăng mực nước ngầm của khu vực, từ đó làm cho sâu bọ, con trùng phát triển, thậm chí bệnh truyề n nhiễm có cơ hội phát triển trên diện rộng Nước thải của các nhà

Trang 34

Những biện pháp bảo vệ môi trường, phong chống những tác động xấu đến môi trường

do các dự án gây ra phải trở thành một phần quan trọng trong nội dung của dự án và kinh phí cho vấn đề bảo vệ môi trường phải được để đến để tính ra hiệu ích thực sự mà

dự án đem lại Nói chung khi phân tích dự án cần xem xét cẩn thận những tác động đến môi trương do dự án gây ra, có những biện pháp và kinh phí kèm theo một cách thích đáng để bảo vệ môi trường, nhằm phát triển môi trường ở khu vực một cách bền vững

2.2.5 Khía cạnh về thương mại

Khía cạnh thương mại của dự án ở đây bao gồm tiếp thị những sản phẩm đầu ra của dự

án và bố trí cung cấp đầu vào để xây dựng và vận hành dự án

Đối với đầu ra phải xem xet một cách lỹ lưỡng cẩn thận phân tích thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra của dự án bảo đảm rằng các sản pahảm đầu ra của dự án là yêu cầu của xã hội và có giá trị cao.Những nơi tiêu thụ sản phẩm có khả năng tiêu thụ hết sản phẩm mà những biến động về giá cả ít có ảnh hưởng đối với sức tiêu thụ

Cần thiết phải có phương tiện thích hợp để đẩy mạnh sức tiêu thụ các sản phẩm của dự

án, có lẽ bao gồm cả khâu chế biến hoặc có những thị trường riêng nhằm chế biến và phân phối sản phẩm của dự án Những sản phẩm này chăng những cung cấp cho thị trường trong nước mà còn giành cho xuất khẩu Những chính sách về tài chính cũng được xem xét để bảo đảm thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án, phải có những biện pháp cụ thể đặc biệt để cung cấp cho dự án thị trường tài chính thận lợi vì các sản phẩm được tiêu thụ ngoài thị trường tự do vì vậy để tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường tiêu thụ dự án cong phải xét đến khả năng trợ cấp hoặc hỗ trợ giá sản phẩm Trong lĩnh vực sắp xếp những sản phẩm cung cấp cho dự án phải làm cho nông dân tin rằng những sản phẩm được cung cấp như phân bón, thuốc trừ sâu, giống có sản lượng cao Họ cần phải có kỹ thuật mới hoặc có một cơ cấu cây trồng vật nuôi mới thích hợp

và còn phải bảo đảm thị trường cung cấp dịch vụ cho dự án có đủ khả năng cung cấp các thiết bị vật tư một cách đây đủ và kịp thời

Cần chuẩn bị về mặt tài chính cho cả các cơ quan cung cấp và đối tượng tiêu thụ Khía cạnh thương mại của dự án còn bao gồm cả sự sắp xếp thu mua những thiếp bị và cung cấp những hiện tượng chậm trễ quá mức phải được lường trước và có các biện pháp nhằm giảm đến mức tối thiểu

2.2.6 Khía cạnh tài chính

Trang 35

Khía cạnh tài chính bao gồm phân tích và chuẩn bị trong lĩnh vực tại chính của dự án, bao gồm những ảnh hưởng tài chính đem mỗi một thành viên có tham gia hoặc liên quan đến dự án

Đối với một dự án phát triển nông thôn các thành viên liên quan bao gồm nông dân, các hộ cá thể, hợp tác xã của cộng đồng, các cơ quan của dự án và có lẽ cả kho bạc nhà nước

Đối với mỗi một thành viên cần có ngân sách quy định riêng, trên cơ sở nguồn nhân sách này một bộ phận phê duyệt điều hành chung được hình thành nhằm khuyến khích hoạt động và nâng cao hiệu quả của các hoạt động tài chính

Mục đích cơ bản của phân tích tài chính trong dự án là phân tích nguồn tài chính đối với nhưngx người tham gia dự án, phải tính toán được trong từng năm các hộ nông dân

bỏ ra bao nhiêu sức lao động, bao nhiêu cho chi phí sản xuất và trả lại chi phí của dự

án và họ thu lại được bao nhiêu dể bù đắp lại sức lao động đã bỏ ra Phần thu nhập mà gia đình nhận được là thực phẩm và được chi tiêu trực tiếp cho các chi phí trong gia đình Chính vì vậy cần phải được tính toán thật cẩn thận kể cả khối lượng lẫn giá trị Thậm trí trong trường hợp gia đình nông dân nhận thức được thu nhập của họ tăng đáng kể hoặc có lãi bởi việc tham gia vào dự án Trong nhiều trường hợp do phải vay vốn để chi phí cho sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống để nâng cao năng suất của cây trồng nên thu nhập quá thấp chỉ gần đủ chi tiêu trong gia đình Lúc đó người phân tích tài chính phải xem xét, cân nhắc xem gia đình có đủ tiền để trả những chi phí để tăng năng suất hay không, người phân tích phải đưa ra một chính sách có sự trợ gia là bao nhiêu đối với những hộ thu nhập thấp

Ngân sách của nông dân làm cơ sở cho định chương, cho những nguồn vốn có sẵn, người phân tích tài chính phải xem xét người nông dân sẽ cần vay bao nhiêu để chi tiêu vào công việc canh tác (Nếu có thì tỷ lệ bao nhiêu, nên đầu tư từ nguồn vốn riêng của họ) hoặc đáp ứng giá thành của sản phẩm và xem xem một khoản cho vay ngắn hạn nhằm chi phí cho đầu vào của dự án sản xuất hoặc chi phí cho thuê mướn sức lao động

Đối với những dự án trồng cây, thời gian phát triển của dự án kéo dài, thí dụ như trồng

cọ, chanh, bưởi phải phân tích xem người nông dân có thu nhập đủ để cho gia đình

họ sống trong thời gian cây từ khi trống đến khí sinh lợi hoặc phải có sự bố trí sắp đặt về tài chính thế nào để có thể chống đỡ cho họ trong thời gian đơị dự án sinh lợi.Mục đích của sự xem xét này là động viên nông dân tham gia vào dự án

Đồng thời cộng đồng cũng được chia sẻ những lợi ích do hiệu quả của dự án, những lợi ích này đựoc sử dụng để thúc đẩy mở rộng bằng cách cho các hộ nông dân khác vay hoặc đầu tư lại vào các hoạt động kinh tế

Việc phân tích thu nhập của hộ nông dân nhằm khuyến khích nông dân tham gia vào

dự án làm cho họ hiểu cái gì sẽ làm thay đổi thu nhập của họ, cái gì sẽ ảnh hưởng tớithời gian có sự thay đổi thu nhập Cái gì có tác động làm cho dự án phải có kế

Trang 36

có tiền để tiến hành cung cấp các dịch vụ cho đông ruộng và chế biến hàng hoá để đưa

ra thị trường Các công ty cũng biết được lợi ích mang lại cho họ là bao nhiêu sau khi

họ bỏ vốn đầu tư vào dự án và cũng chứng tỏ cho họ sức hấp dẫn của dự án

Đối với một dự án quản lý, vấn đề phân tích trên khía cạnh tài chính cúng rất cần thiết, phải nắm được dự án cần bao nhiêu tiền và vào lúc nào, và chi phí cho dự án phụ thuộc vào vốn được phân chia hay phụ thuộc vào ngân sách yêu cầu của dự án Nhà nước sẽ có những thay đổi về chính sách để phù hợp với tài chính của dự án, quỹ lương cho nhân viên thuộc dự án, những sự thay đổi trang thiết bị, yêu cầu vốn

Cuối cùng cũng phải xét đến những tác động của dự án đến ngân khố nhà nước Đầu ra của dự án được nâng cao một cách đáng kể, ngân sách từ thuế thu nhập sẽ tăng cao, có

lẽ chủ yếu từ thuế xuất khẩu cũng sẽ có những chính sách hỗ trợ mới của nhà nước nhằm khích lệ người nông dân tham gia vào dự án Nếu trường hợp chi phí của dự án quản lý không được đáp ứng từ thu nhập thì sẽ ảnh hưởng tới ngân sách nhà nước trong tương lai như thế nào Nếu như vốn đầu tư vào dự án được tài trợ hoặc vay vốn

từ nước ngoài, ít nhất kinh phí để vận hành và bảo dưỡng công trình cũng không được lấy từ ngân sách nhà nước, nó sẽ ảnh hưởng tới ngân quỹ như thế nào?

Phương pháp phân tích tài chính cơ bản vẫn là đưa vào các yếu tố đầu vào và đầu ra bao gồm chi phí và lợi ích đem lại.Phương pháp phân tích tài chính cũng cần thể hiện được tính công bằng trong kinh tế, giữa các công ty tư nhân cà công ty của nhà nước Đồng thời cũng kiến nghị những chính sách mới để có vốn thu lại từ thuế thu nhập hoặc những khoản cho vay đặc biệt, hoặc hững biện pháp khác được phổ biến rộng rãi

ở xã hội

2.2.7 Khía cạnh kinh tế

Phân tích khía cạnh kinh tế của dự án nhằm khẳng định dự án có đóng góp đáng kể vào sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung hay không? hoặc dự án có đóng góp một cách đáng kể xứng đáng với việc sử dụng những đồng vốn qúy hiếm trong ngân sách hay không? Quan điểm phân tích khía cạnh kinh tế của dự án là quan điểm toàn cục mang tính xã hội

Phân tích tài chính tập trung vào các cá thể tham gia vào dự án

Khía cạnh kinh tế của dự án mang tầm cỡ tổng thể xã hội Việc phân tích tài chính là đánh giá được những lợi ích thu về cho những cá thể tham gia dự án Còn phân tích kinh tế của dự án thì ước tính được lợi ích thu về cho toàn xã hội

Phân tích tài chính và phân tích kinh tế được phân biệt dựa vào ba điểm khác nhau rất quan trọng sau đây:

Trang 37

b) Trong phân tích tài chính thì gía thị trường thường không được sử dụng Họ đưa vào tính thuế và trợ cấp Trong phân tích kinh tế giá cả thị trường có thể thay đổi, nó sẽ phản ánh một cách chính xác hơn giá trị kinh tế và giá trị xã hội của nó Những giá này gọi là giá "bóng" hoặc giá tính toán Trong hệ thống phân tích thì giá này được gọi là giá hiệu quả Trong cả hai khía cạnh kinh tế và tài chính thì giá thành hay chi phí của dự án đều được sử dụng

c) Trong phân tích kinh tế, lãi suất của tiền mặt không bao giờ đứng độc lập riêng

rẽ mà được lấy từ lợi ích thu về, chưa trừ đi chi phí; bởi vì lợi ích thu về tổng cộng bao gồm: lãi suất, cái đó được ước tính trong quá trình phân tích kinh tế hình thành dự án Phân tích tài chính coi lãi suất phải trả cho người cung cấp phụ (Ngân hàng) có thể được rút ra từ hiệu quả mà người tham gia được hưởng

từ dự án Nhưng lãi suất được gắn vào cái mà theo quan điểm của khía cạnh tài chính không được coi là chi phí bởi vì lãi suất chiếm một phần trong lợi ích thu

về được đóng góp công bằng từ các thành phần tham gia Vì vậy nó là một phần trong tổng số thu hồi tài chính mà thành phần tham gia dự án nhận được Nhìn chung, việc đánh giá so sánh giữa chi phí và lợi ích trong phân tích kinh tế

và phân tích tài chính là tương tự, song định nghĩa thế nào là chi phí, cái gì được lợi thu về thì có những cái khác nhất định Từ những điểm ở trên, chúng

ta nhận ra rằng có sự khác nhau giữa khía cạnh tài chính và khía cạnh kinh tế của một dự án

2.3 Chu trình dự án

Thông thường dự án phát triển nông thôn đi theo tuần tự: lập kế hoạch và tiến hành

thực hiện dự án, tiến trình đó người ta gọi là chu trình dự án Chu trình dự án thường

bao gồm các bước sau:

- Xác định dự án

- Chuẩn bị và phân tích dự án

- Phê duyệt dự án

Trang 38

kỹ thuật và các quan chức địa phương Khi nghiên cứu chuyên môn các chuyên gia xác định ra rất nhiều vùng nên có dự án đầu tư mới, bên cạnh đó các quan chức địa phương cũng đề nghị một số dự án đầu tư mới khác Những ý tưởng về các dự án mới cũng được đưa đến từ các đề án quy hoạch phát triển đã được vạch ra từ trước

Tuỳ thuộc vào mức độ cấp thiết về yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của khu vực, tuỳ thuộc vào nguồn vốn tài trợ từ nước ngoài, trong nước, đa phương hay song phương

mà xác định ra dự án cần đầu tư trong khu vực Dự án đầu tư có thể là dự án tưới tiêu cho nông nghiệp; dự án chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi trong khu vực; dự án về cấp nước sinh hoạt, về định canh định cư, về giống cây trồng Sắp xếp thứ tự ưu tiên, phân loại các dự án về quy mô cũng như yêu cầu trước mắt hoặc cho tương lai

Những dự án được chọn là những dự án phải đáp ứng được yêu cầu cấp thiết và khả năng đầu tư Dự án mang lại lợi ích trước hết cho địa phương đồng thời cũng phù hợp với lợi ích của đất nước

2.3.2 Chuẩn bị và phân tích dự án

Khi một dự án phát triển nông thôn đã được xác định ở một khu vực, chúng ta bắt đầu triển khai dự án một cách chi tiết hơn đó là công tác chuẩn bị và phân tích các kế hoạch của dự án Quá trình này bao gồm tất cả các công việc với mục đích nhằm đưa

dự án ra trình duyệt và có thể được thông qua

Thông thường bước đầu tiên trong công tác chuẩn bị và phân tích là tiến hành nghiên cứu khả thi với đầy đủ các thông tin chi tiết để quyết định theo kế hoạch đã đưa ra trước Mức độ chi tiết của nghiên cứu khả thi phụ thuộc vào mức độ phức tạp của dự

án, những hiểu biết và các tài liệu đã có sẵn của dự án Để đảm bảo thành công thì mức độ chi tiết trong nghiên cứu khả thi càng phải được nâng cao Nghiên cứu khả thi cần xác định mục tiêu của dự án thật rõ ràng, đồng thời phải đưa dự án phù hợp với điều kiện và môi trường trong khu vực bảo đảm cho dự án có hiệu quả cao nhất Trong một số dự án, phần việc quan trọng nhất trong công tác chuẩn bị là tách rõ những đánh giá tác động tới xã hội và tác động đến môi trường của dự án

Thậm chí trong giai đoạn đầu của bước này những phân tích về kinh tế và tài chính của dự án cũng cần được tiến hành Dự án càng được đặt kế hoạch một cách chi tiết thì vấn đề thời gian và kinh phí càng trở nên trọng yếu đồng thời sự mong đợi những lợi ích mang lại sẽ tăng lên

Trang 39

Các nhân viên đáp ứng cho giai đoạn nghiên cứu khả thi của dự án có phức tạp hay không? Để bắt đầu, một nhóm cán bộ nhân viên làm công tác đánh giá ban đầu trong thời gian tương đối ngắn, sau đó các nhóm chuyên gia hoặc tư vấn sẽ giải quyết các công việc chi tiết

Trong giai đoạn này nghiên cứu một cách chi tiết về đất đai thổ nhưỡng, phân tích chi tiết các tài liệu khí tượng thuỷ văn, đồng thời cũng quan sát cơ cấu vật nuôi cây trồng qua từng tháng, ước tính lao động yêu cầu, vốn cần thiết và lợi ích có thể thu lại, và cuối cùng cũng phân tích tương quan về dự án có thể thực hiện được với lợi ích của dự

án sẽ mang lại

Nghiên cứu chi tiết tốn rất nhiều thời gian và công sức, thời gian có thể là một năm hay nhiều năm tuỳ thuộc vào mức độ phức tạp của dự án Tất nhiên kinh phí cho giai đoạn này cũng sẽ tăng lên theo thời gian thực hiện, nó có thể chiếm từ 7÷10% tổng kinh phí đầu tư cho dự án Tuy nhiên càng nghiên cứu một cách chi tiết và chính xác thì càng nâng cao được hiệu quả của dự án và khi dự án đi vào thực hiện sẽ có nhiều bước thuận lợi, tăng được tính bền vững cho các dự án phát triển Vì lý do trên mà bước này không chuẩn bị chu đáo thì lợi ích thu về thấp và sử dụng một cách lãng phí tiền vốn hiếm hoi của nhà nước

2.3.3 Thẩm định và phê duyệt dự án

Sau khi dự án đã được chuẩn bị nó thích hợp đối với một sự phê duyệt tiêu chuẩn nào

đó hoặc một sự phê duyệt độc lập nào đó được đưa ra Sự đánh giá, thẩm định đưa ra một cơ hội để kiểm tra lại toàn bộ các khía cạnh của kế hoạch dự án để đánh giá xem những vấn đề đưa ra có thích hợp và hoàn chỉnh hay không trước khi toàn bộ được chấp thuận

Quá trình thẩm định xây dựng trên kế hoạch của dự án đã được đưa ra, nhưng có thể

có những thông tin mới nếu các chuyên gia cảm thấy phải chất vấn, làm rõ thêm hoặc

có một số thiếu sót Nếu nhóm thẩm định kết luận kế hoạch của dự án là hoàn chỉnh thì việc đầu tư được tiến hành Nếu nhóm thẩm định tìm thấy thiếu sót thì yêu cầu các chuyên gia chuẩn bị dự án thay đổi lại kế hoạch của dự án hoặc phát triển thêm những phương án mới

Nếu dự án được tài trợ bởi các tổ chức cho vay quốc tế như: ngân hàng thế giới, ngân hàng châu á hoặc các tổ chức tài trợ song phương Những tổ chức này luôn luôn muốn một cách chắc chắn sự thẩm định thật cẩn thận mặc dù họ đã được kết hợp chặt chẽ, cẩn thận với các bước trước đó trong chu trình dự án Thậm chí ngân hàng thế giới còn muốn đưa riêng rẽ một nhóm thẩm định ở lại trong nước mà có thể cho vay vốn

2.3.4 Thực hiện dự án

Mục đích của bất cứ cố gắng nào trong việc phân tích, chuẩn bị, thẩm định các nội dung của dự án nhằm làm cho dự án được thực hiện đem lại hiệu quả cao cho xã hội Thực hiện dự án có lẽ là bước quan trọng nhất trong chu trình dự án Tuy nhiên những

sự quan tâm trong việc thực hiện và quản lý dự án cũng được thảo luận thêm Có nhiều

Trang 40

- Thực hiện dự án phải hết sức mềm dẻo, tình huống có thể thay đổi người quản

lý phải xử lý một cách thông minh nhất những sự thay đổi này Thay đổi kỹ thuật là không thể tránh khỏi tuy nhiên trong qúa trình thực hiện dự án cũng phải theo dõi nắm được các diễn biến của môi trường như: úng ngập, xói mòn, thoái hoá đất , các thay đổi khác như môi trường về chính trị hoặc kinh tế Như vậy cách thực hiện dự án cũng

sẽ thay đổi Sự ngẫu nhiên tương đối lớn đối với các khía cạnh của dự án vì thế cần phải xem xét để thay đổi lại kế hoạch ban đầu cho thích hợp

Giai đoạn thực hiện dự án thường được chia thành ba thời kỳ khác nhau: đầu tiên là thời kỳ đầu đầu tư, trong đó các đầu tư chính của dự án được thực hiện Trong dự án nông nghiệp thời kỳ này thường kéo dài từ 3÷5 năm kể từ khi bắt đầu dự án Nếu dự

án được tài trợ bởi các tổ chức cho vay quốc tế thì thời kỳ đầu tư có thể xảy ra đồng thời với thời kỳ của các nhà tài trợ chuyển vốn cho vay Sau giai đoạn đầu đầu tư là giai đoạn phát triển Thời kỳ này có thể từ 3÷5 năm hoặc có thể dài hơn nữa tuỳ thuộc vào đặc tính của dự án Thí dụ dự án trồng cây, phát triển đàn gia súc thời kỳ phát triển dự án không chỉ phản ảnh những tiến độ mang tính vật chất mà còn là giai đoạn

để người nông dân tiếp thu và áp dụng những kỹ thuật mới Sau khi kết thúc thời kỳ phát triển của dự án là thời kỳ được gọi là đời sống của dự án, thời kỳ này có thể kéo dài từ 25÷30 năm Cả hai khía cạnh phân tích kinh tế và phân tích tài chính của dự án liên quan tới thời gian này

Tuy nhiên một số chuyên gia lại có sự phân chia giai đoạn thực hiện dự án khác, họ chia làm hai thời kỳ là: thời kỳ phát triển và xây dựng các hạng mục của dự án và thời

kỳ vận hành dự án Thí dụ như dự án tưới:

- Thời kỳ đầu là xây dựng hệ thống công trình đầu mối, hệ thống kênh mương

và các công trình trên kênh

- Thời kỳ sau là vận hành hệ thống, đây là thời kỳ theo dõi nguồn nước cấp cho nông dân, giúp đỡ họ sử dụng các phương tiện mà dự án tưới đã trang bị Có thể có một nhóm phụ trách cả hai giai đoạn phát triển dự án và vận hành dự án Tuy nhiên hầu hết các dự án phân biệt thành hai nhóm chịu trách nhiệm trong mỗi giai đoạn của

dự án: một nhóm quản lý việc xây dựng và hoàn thành các hạng mục mang tính vật chất của dự án, một nhóm khác chịu trách nhiệm quản lý trong thời kỳ vận hành hệ thống

2.3.5 Đánh giá dự án

Ngày đăng: 07/01/2021, 09:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm