1.Tính cấp thiết của đề tài MỞ ĐẦU Các hộ kinh doanh cá thể trên thế giới là một phần tất yếu của nền kinh tế quốc dân. H ộ kinh doanh cá thể có thể huy động vốn từ nhiều kênh khác nhau, phụ thuộc vào sự phát triển của các sản phẩm tài chính và thị trường vốn của mỗi quốc gia. Do đó, hộ kinh doanh cá thể có thể mở rộng quy mô sản xuất và tiếp cận tín dụng từ: (1) nguồn phi chính th ức như vay người thân, bạn bè; (2) nguồn chính thức như vay từ các tổ chức tín dụng (TCTD), (Ledgerwood và cộng sự, 2013b). Chính sự khác biệt hóa trong các sản ph ẩm tài chính của TCTD thể hiện chiến lược, đặc trưng của từng vùng miền để đáp ứng nhu cầu khác nhau của nhiều đối tượng. Trong điều kiện hiện nay, tiếp cận tín dụng chính thức và vai trò của các tổ chức tín dụng chính thức đặc biệt quan trọng trong việc đáp ứng kịp thời vốn cho các hộ gia đình để bổ sung vốn kinh doanh, đảm bảo quy trình sản xuất, hoạt động kinh doanh và d ịch vụ được phát triển liên tục, bền vững. Các quy trình cho vay cũng như các sản phẩm tín dụng đặc biệt phù hợp với các hộ kinh doanh bởi tính chất ưu đãi của nhà nước đối với nhóm đối tượng này. Ở giai đoạn đầu phát triển kinh tế tại các nước, các TCTD không chỉ là các kênh huy động vốn quan trọng đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế mà còn có ch ức năng giảm thiểu các rủi ro tài chính thông qua việc cung cấp thông tin và t ư vấn cho các nhà đầu tư. Trong khi đó, trường phái kinh tế mới (lý thuyết tăng trưởng kinh t ế nội sinh), Romer (1990), Mankiw và cộng sự (1992), nhấn mạnh rằng một khu v ực tài chính vững mạnh có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn, đổi mới công nghệ, nghiên c ứu và phát triển thông qua các kênh cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp và hộ kinh tế gia đình. Tín dụng phi chính thức hay “tín dụng ngầm”, được hiểu chung là các hình thức vay v ốn ngoài sự quản lý của các cơ quan quản lý về tài chính tiền tệ, gồm cho vay của các cá nhân, cho vay thông qua các hình th ức hụi, họ, phường, hoặc cho vay của gia đình, bạn bè, người thân. Trong đó, tín dụng đen, tức tín dụng của người cho vay tư nhân với lãi suất “cắt cổ”, luôn gây ra những hệ lụy nguy hiểm cho người vay do cách thức tính lãi dễ khiến người vay rơi vào tình trạng khánh kiệt, không trả được nợ, cách hành x ử “giang hồ” khi đòi nợ của những kẻ cho vay (Nugent, 1941a, Kelso, 1941b, Shergold, 1978, Carr và Kolluri, 2001b). Nghiên cứu Claessens (2006) chỉ ra rằng các cá nhân và hộ gia đình không sử dụng các dịch vụ tài chính của các TCTD chính thức là do các rào càn truy cập tài chính rất cao, họ không có hồ sơ tín dụng, dịch vụ tài chính kém, chi phí ph ải trả là lớn hay thậm chí là sự phân biệt đối xử... Bên cạnh đó, khách hàng không sử dụng dịch vụ tài chính cũng là do thu nhập đầu vào của họ là thấp, không cần thiết tiết ki ệm, thông tin và tài liệu hạn chế. Hơn thế nữa, nhiều hộ gia đình không tin tưởng vào những tổ chức tin dụng do độ an toàn còn thấp, độ phủ sóng chưa rộng rãi (Beck và cộng sự, 2007). Chính vì vậy, việc tiếp cận tín dụng chính thức ngày càng gặp nhiều khó khăn, các hộ gia đình thường tìm kiếm đến các khoản tài chính không chính thức không yêu cầu tài sản thế chấp (Beck và cộng sự, 2006a). Khác với quan điểm về hộ kinh doanh trên thế giới, hộ kinh doanh cá thể tại Việt Nam được hiểu là một cá nhân hay một nhóm người đăng ký kinh doanh một lĩnh vực cụ thể với quy mô nhỏ lẻ, quy trình đăng ký đơn giản và chỉ có duy nhất một địa điểm kinh doanh xác định. Do đó, hoạt động kinh doanh của hộ gia đình có thể có nhiều lợi th ế từ thủ tục thành lập đơn vị kinh doanh đến cải cách quản lý thuế theo hình thức thuế khoán - kê khai và n ộp thuế một lần hằng năm, không ghi sổ kế toán… Những điều kiện đó tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ kinh doanh cá thể phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan tr ọng vào sự phát triển của kinh tế Việt Nam (Trần Thọ Đạt, 2018). Theo Tổng cục th ống kê, tính đến cuối năm 2018, cả nước có gần 5 triệu hộ sản xuất kinh doanh, gấp 10 lần số doanh nghiệp đang hoạt động, quy mô lao động đạt gần 10 triệu người. Nếu như kinh tế Nhà nước đóng góp 32,2% vào tổng sản phẩm quốc nội, thì kinh tế ngoài Nhà nước góp tới 48,3%; (kinh tế tập thể 5%, kinh tế tư nhân 10,9%, kinh tế cá thể 32,3%); khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 19,5% (Tổng cục thống kê, 2019). Như vậy, trong khu v ực kinh tế ngoài Nhà nước, khu vực kinh tế cá thể có tỷ trọng đóng góp cao nhất trong GDP (xấp xỉ 33%). Hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ gia đình đã mang lại tác động lớn đến nền kinh tế, xóa đói giảm nghèo ở các địa phương cũng như trên cả n ước. Bên cạnh đó, Hoàng Trần Hậu (2018) đã nhận định rằng việc phát triển hộ kinh doanh cá th ể, đã giúp cho khoảng 10 triệu lao động Việt Nam có việc làm thường xuyên trong thời gian qua, tăng thu nhập, tăng thu ngân sách, góp phần phát triển bền vững trong quá trình xây dựng khu vực nông thôn mới trong những năm qua. Tuy nhiên, việc tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ kinh doanh cá thể vẫn còn nhiều hạn chế do không đáp ứng đủ tài sản đảm bảo, kế hoạch kinh doanh chưa hiệu quả, khả năng tiếp cận công nghệ còn chậm… (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017). Trong s ố các hộ kinh doanh, thì chỉ có khoảng 47,22% số hộ được vay vốn với lãi suất phù h ợp (khoảng 8 - 14%/năm) - nhưng vẫn được đánh giá là cao hơn rất nhiều so với lãi su ất mà các doanh nghiệp vay vốn, dù cùng ngành (Bùi Kiên Trung và cộng sự, 2019). Tổng nguồn vốn của hệ thống các TCTD Việt Nam dành cho hộ kinh doanh cá thể chỉ chiếm có 10,8% tổng dư nợ, trong số đó rất nhiều các hộ kinh doanh buộc phải chuy ển sang vay theo hình thức cá nhân vay (World Bank, 2018). Các hoạt động khác như bảo lãnh vay vốn, cho thuê tài chính hay sử dụng các dịch vụ tín dụng khác còn th ấp hơn nhiều. Điều đó thấy rằng, việc tiếp cận tín dụng của các hộ kinh doanh cá thể đang có vấn đề. Thêm vào đó, trên cơ sở quy định của Bộ luật dân sự 2015 về chủ thể vay vốn, thông tư 39/2016/TT-NHNN nêu rõ: “Chủ thể vay vốn chỉ bao gồm cá nhân Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nước ngoài, pháp nhân thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhân thành lập ở nước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam”. Như vậy, t ổ chức không có tư cách pháp nhân như hộ gia đình, tổ hợp tác, hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân... sẽ không được phép vay vốn tại các ngân hàng thương mại. Dù vậy, thông tư 39/2016/TT-NHNN cũng quy định cá nhân được vay vốn cho nhu cầu sử dụng v ốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân do chính cá nhân là chủ hộ kinh doanh hoặc chủ doanh nghiệp tư nhân. Từ những thay đổi, bất cập trong quy trình vay vốn khiến cho nhiều hộ kinh doanh cá thể ở Việt Nam chủ yếu dựa vào vốn tự có, tiếp cận các ngu ồn vốn phi chính thức với lãi suất cao, ảnh hưởng đến thu nhập của hộ. Chính ph ủ Việt Nam đã có nhiều chính sách tăng tiếp cận tín dụng chính thức cho các h ộ gia đình nói riêng, các thành phần khác trong nền kinh tế nói chung thông qua hàng loạt văn bản pháp lý khác nhau như: Thành lập riêng Ngân hàng Chính sách xã hội với hơn 20 chương trình tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách, Luật hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa (2017) trong đó khuyến khích các định chế tài chính hỗ trợ các doanh nghiệp này, Nghị định về tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn, các quy ết định về nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế…. (Chính phủ, 2016, Chính phủ, 2019c, Chính phủ, 2019d). Thậm chí, một quy định riêng về hình thức tổ chức họ, hụi, biêu, phường cũng đã được ban hành nhằm hạn chế sự biến t ướng của hình thức này sang “tín dụng đen” (Chính phủ, 2019a). Tuy vậy, tình trạng tín d ụng phi chính thức - đặc biệt là tín dụng đen vẫn hoành hành tại Việt Nam trong suốt thời gian dài, và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt - nhất là vấn đề áp dụng cho các hộ gia đình vay vốn. Thực tế cho thấy, “tín dụng đen” là hình thức cho vay, đi vay hoặc huy động vốn với lãi suất vượt quá mức lãi suất pháp luật quy định, được thực hiện bởi các cá nhân, nhóm người hoặc tổ chức kinh doanh dịch vụ tài chính, thường gắn với các hành vi đòi nợ, chiếm đoạt tài sản trái pháp luật. (Chính phủ, 2019a). Để có thể đảm bảo được các định hướng mà chính phủ đặt ra, thì việc tìm hiểu các nhân t ố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức và phi chính thức trong bối cảnh m ới đóng vai trò quan trọng. Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến đến tiếp cận tín dụng của hộ kinh doanh cá thể tại Việt Nam” được lựa chọn để nghiên cứu.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH vi
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA MINH BẠCH THÔNG TIN TỚI CHI PHÍ VỐN CỔ PHẦN 9
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về mức độ công bố thông tin và chi phí vốn cổ phần 9
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu chất lượng thông tin công bố và chi phí vốn cổ phần 15
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu về rủi ro thông tin và chi phí vốn cổ phần 18
1.4 Khoảng trống nghiên cứu 19
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA MINH BẠCH THÔNG TIN TRONG CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH TỚI CHI PHÍ VỐN CỔ PHẦN 21
2.1 Những vấn đề cơ bản về minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính 21
2.1.1 Khái niệm thông tin và thông tin tài chính 21
2.1.2 Vị trí của thông tin báo cáo tài chính trong hệ thống thông tin tài chính 22
2.1.3 Hệ thống thông tin báo cáo tài chính 23
2.1.4 Vai trò của thông tin báo cáo tài chính 26
2.1.5 Khái niệm minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính 27
2.1.6 Vai trò của minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính 31
2.1.7 Các phương pháp đo lường minh bạch thông tin 34
2.2 Tổng quan về chi phí vốn cổ phần 43
Trang 32.2.1 Khái niệm vốn cổ phần và chi phí vốn cổ phần 43
2.2.2 Đo lường chi phí vốn cổ phần 45
2.3 Cơ sở lý thuyết về tác động của minh bạch thông tin báo cáo tài chính đến chi phí vốn cổ phần 48
2.3.1 Chi phí giao dịch, bất cân xứng thông tin và chi phí vốn cổ phần 49
2.3.2 Rủi ro ước lượng và chi phí vốn cổ phần 49
2.3.3 Cơ cấu thông tin đại chúng – thông tin riêng và chi phí vốn cổ phần 51
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 54
3.1 Thiết kế nghiên cứu 54
3.2 Mô hình kiểm định tác động của minh bạch thông tin đến chi phí vốn cổ phần của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam 56
3.2.1 Xây dựng giả thuyết 56
3.2.2 Mô hình phân tích 57
3.2.3 Phương pháp ước lượng 58
3.2.4 Phương pháp đo lường các biến trong mô hình 62
3.2.5 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 76
3.3 Khảo sát mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam 79
3.3.1 Phương pháp chấm điểm công bố thông tin 79
3.3.2 Phương pháp tiến hành khảo sát 83
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA MINH BẠCH THÔNG TIN TRONG CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH TỚI CHI PHÍ VỐN CỔ PHẦN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM 89
4.1 Tình hình hội nhập quốc tế về yêu cầu tạo lập báo cáo tài chính nhằm tăng cường tính minh bạch trên thị trường chứng khoán Việt Nam 89
4.1.1 Tiến trình hội nhập quốc tế về chuẩn mực kế toán tại Việt Nam 89
4.1.2 Yêu cầu áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế nhằm nâng cao tính minh bạch trên thị trường chứng khoán Việt Nam 93
4.2 Thực trạng minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam 96
Trang 44.2.1 Những quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động công bố
thông tin trên thị trường chứng khoán 96
4.2.2 Những yêu cầu về công bố thông tin của các công ty niêm yết tại Việt Nam 101
4.2.3 Thực trang về minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam 102
4.2.4 Kết quả khảo sát mức độ minh bạch thông tin của các công ty niêm yết 106
4.4 Kiểm định tác động của minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính tới chi phí vốn cổ phần của các công ty niêm yết tại Việt Nam 108
4.4.1 Thống kê mô tả 108
4.4.2 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 111
4.4.3 Kết quả hồi quy theo pooled OLS, FEM, REM và kiểm định 112
4.4.4 Kết quả hồi quy theo mô hình GMM hệ thống 115
4.4.5 Phân tích kết quả 117
CHƯƠNG 5 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 119
5.1 Định hướng về minh bạch thông tin nhằm phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam 119
5.2 Hàm ý chính sách 120
5.2.1 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước 120
5.2.2 Đối với các công ty niêm yết 126
5.2.3 Đối với các nhà đầu tư 128
KẾT LUẬN 130
TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
PHỤ LỤC 141
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
UBCKNN Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
AIMR Association for Investment
Management and Research
Hiệp hội Nghiên cứu và Quản trị đầu tư
CIFAR Center for International Financial
Analysis and Research
Trung tâm Phân tích và Nghiên cứu Tài chính Quốc tế
FASB Financial Accounting
Standards Board
Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Tài chính
HNX Hanoi Stock Exchange Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội
HOSE Ho Chi Minh City Stock
Exchange
Sở giao dịch Chứng khoán tp Hồ Chí Minh
IAS International Accounting
Standards Chuẩn mực Kế toán Quốc tế
IASB International Accounting
Standards Board
Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế
ICB Industry Classification
Benchmark Tiêu chuẩn Phân ngành
IBES Institutional Broker’s Estimate
Trang 6Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
Reporting Standards Quốc tế
NYSE New York Stock Exchange Sở Giao dịch Chứng khoán New
SEC Securities and Exchange
Commission Ủy ban Chứng khoán Mỹ
US GAAP US Generally Accepted
Accounting Principles Chuẩn mực Kế toán Mỹ VAS Vietnamese Accounting
Standards Chuẩn mực Kế toán Việt Nam
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Kiểm định giả thiết cho OLS 59
Bảng 3.2 Kiểm định lựa chọn mô hình 60
Bảng 3.3 Kiểm định giả thiết cho mô hình REM và FEM 61
Bảng 3.4 Dự kiến dấu của các biến số 75
Bảng 3.5 Lựa chọn mẫu nghiên cứu 78
Bảng 3.6 Số lượng doanh nghiệp trong mẫu theo phân ngành 78
Bảng 3.7 Bảng thống kê các tiêu chí chấm điểm báo cáo thường niên 81
Bảng 3.8 Bảng hướng dẫn chấm điểm công bố thông tin báo cáo thường niên 85
Bảng 4.1 Các văn bản pháp luật về chế độ kế toán tại Việt Nam 89
Bảng 4.2 Các quy định về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam 97
Bảng 4.3 Kết quả chấm điểm báo cáo thường niên năm 2018 107
Bảng 4.4 Thống kê các biến trong mô hình 109
Bảng 4.5 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 111
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy mô hình theo 3 phương pháp 112
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định Hausman 113
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến 114
Bảng 4.9 Kết quả hồi quy theo GMM hệ thống 115
Bảng 4.10 Kết quả kiểm định AR2 và Hansen 116
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Các nguồn thông tin có khả năng tác động đến giá tài sản tài chính do
doanh nghiệp phát hành 22
Hình 2.2 Mô hình hóa các lý thuyết về cơ cấu thông tin đại chúng – thông tin riêng và chi phí vốn cổ phần 53
Hình 3.1 Thiết kế nghiên cứu 54
Hình 3.2 Tỷ trọng các nhóm thông tin trong chỉ số SCORE 83
Hình 4.1 Quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam 103
Hình 4.2 Kết quả khảo sát doanh nghiệp hoàn thành công bố thông tin 105
Hình 4.3 Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi 114
Hình 4.4 Kết quả kiểm định tự tương quan 114
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thị trường hiệu quả là một trong những yếu tố góp phần vào phát triển kinh tế trong dài hạn của tất cả các quốc gia Thị trường tài chính được coi là hiệu quả khi thị trường vận hành tốt nhất trong việc phân bổ các nguồn lực kinh tế Việc phân bổ tối ưu các nguồn lực chỉ có thể thực hiện được khi thông tin được đưa ra một cách đầy đủ, chính xác và các giao dịch được thực hiện với giá cả hợp lý nhất Như vậy, yếu tố thông tin giữ một vai trò cơ bản trong việc mang lại sự hoạt động hiệu quả của thị trường
Trong hệ thống các thông tin ảnh hưởng đến thị trường tài chính, thông tin trong các báo cáo tài chính giữ một vị trí đặc biệt vì đây là nguồn thông tin bắt buộc phải cung cấp đối với các công ty, nhất là các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Thông tin trong các báo cáo tài chính có tính lượng hóa và đồng bộ cao nên sự quan tâm của các chủ thể sử dụng thông tin và độ nhạy cảm của thị trường tài chính đối với loại thông tin này là rất lớn (Kothari, 2000) Do đó, để thị trường vận hành hiệu quả với chức năng phân bổ hợp lý các nguồn lực, sự minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính có ý nghĩa đặc biệt
Mặc dù các báo cáo tài chính đều được chuẩn hóa dựa trên việc thiết lập báo cáo theo những chuẩn mực kế toán nhưng quyền chủ động của các doanh nghiệp trong việc tạo lập và công bố báo cáo tài chính là không nhỏ (Stocken và Verrecchia, 2004) Những quy định trong các chuẩn mực kế toán không áp đặt quá chi tiết mà chỉ mang tính định hướng nhằm mục tiêu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể vận dụng và sáng tạo dựa trên đặc thù và thực tế hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, đây cũng chính là khe hở để các nhà quản trị dựa vào đó thao túng, gian lận báo cáo tài chính nhằm đạt được những mục đích nhất định Bằng cách đưa ra những thông tin báo cáo tài chính thiếu minh bạch, doanh nghiệp có thể
có được những lợi ích trong ngắn hạn, nhưng về lâu dài việc thiếu minh bạch này sẽ tạo ra những hậu quả kinh tế không nhỏ cho chính bản thân doanh nghiệp và toàn
bộ thị trường
Trang 10Ví dụ điển hình trên thế giới là trường hợp của Enron, World Com và Global Crossing vào những năm cuối thập nhiên 90 Tại Việt Nam, mặc dù thị trường chứng khoán còn khá non trẻ nhưng cũng đã chứng kiến không ít những trường hợp thiếu minh bạch trong việc cung cấp các thông tin báo cáo tài chính như trường hợp của công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết, công ty cổ phần Dược Viễn Đông, vấn đề cung cấp thông tin lợi nhuận của công ty cổ phần nước giải khát Sài Gòn Tribeco và gần đây nhất là sự việc gian lận báo cáo tài chính của công ty cổ phần Thiết bị Y tế Việt Nhật
Sau mỗi sai phạm diễn ra trên thị trường chứng khoán, rất nhiều các giải pháp khác nhau lại được đưa ra bởi các cơ quan quản lý và giám sát thị trường chứng khoán nhằm điều chỉnh hành vi của các bên tham gia thị trường; trong đó có những giải pháp như: tăng cường sự giám sát của các cơ quan chức năng, của hoạt động kế toán-kiểm toán, siết chặt hơn một số quy định trong các Chuẩn mực Kế toán, nâng cao mức phạt đối với các vi phạm về công bố thông tin, Nhưng vấn đề được đặt ra
là liệu những giải pháp như vậy có thể giảm trừ được các vi phạm đang diễn ra trên thị trường, có thể cải thiện được tình trạng minh bạch thông tin trên trường, hay giúp gia tăng động cơ cho các nhà quản trị trong việc cung cấp một báo cáo tài chính minh bạch hay không? Đâu là giải pháp mà qua đó tự thân nhà quản trị thấy rằng việc minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính là cần thiết với họ? Chỉ có thể trả lời được những câu hỏi này thì khả năng cung cấp các thông tin báo cáo tài chính một cách minh bạch từ các công ty mới có thể thành hiện thực
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang tạo ra những áp lực cạnh tranh nhất định cho các công ty Việt Nam không chỉ trên phương diện hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại mà cả trên hoạt động tài chính Nguồn vốn là nguồn lực tài chính cần thiết để cho các công ty hoạt động, và mục tiêu có được nguồn vốn với chi phí hợp lý là một nhiệm vụ quan trọng trong quản trị tài chính doanh nghiệp Công ty đưa ra các báo cáo tài chính thiếu minh bạch sẽ làm cho các nhà đầu tư không còn thấy lợi ích khi tham gia đầu tư vào công ty, thị trường vốn sẽ bị thu hẹp lại, theo đó nguồn vốn sẽ không đến được nơi cần sử dụng để đầu tư và phát triển hoạt động kinh tế Điều này sẽ làm cho những công ty cần vốn không thể tiếp cận được nguồn vốn và nếu có thì phải trả một mức chi phí vốn tương đối cao Như vậy,
Trang 11thị trường tài chính Việt Nam sẽ không thể trở thành một kênh dẫn vốn hiệu quả cho nền kinh tế nếu không giải quyết được vấn đề minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính Thị trường chứng khoán minh bạch sẽ đem lại các cơ hội đầu tư tốt cho cả nhà đầu tư khi tham gia đầu tư trên thị trường cũng như cơ hội có được nguồn vốn cổ phần với chi phí vốn hợp lý của các công ty niêm yết Một số nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới cho rằng minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính có tác động ngược chiều đối với chi phí vốn cổ phần (Botosan, 1997; Francis và cộng sự, 2004), tức là công ty càng minh bạch thông tin báo cáo tài chính càng có cơ hội huy động được nguồn vốn với chi phí vốn cổ phần thấp hơn Tại thị trường chứng khoán Việt Nam liệu có tồn tại tương quan này? Việc tìm hiểu tác động giữa minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính với chi phí vốn cổ phần có thể là một gợi ý quan trọng giúp chính những công ty có động lực cung cấp thông tin minh bạch ra thị trường, giúp nhà đầu tư hạn chế được các rủi ro trong hoạt động đầu tư của mình
và hơn thế nữa là giúp các nhà hoạch định chính sách có thể đưa được ra các giải pháp có tính chiến lược đối với việc phát triển thị trường chứng khoán minh bạch tại Việt Nam
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt Nam đang diễn ra ngày càng mạnh
mẽ, việc huy động và tận dụng các nguồn lực bên ngoài, đặc biệt là nguồn lực về tài chính để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước là một yêu cầu then chốt Thị trường chứng khoán Việt Nam với vai trò là kênh dẫn vốn cho nền kinh tế cần phải được minh bạch để thực hiện chức năng của mình Để xem xét thêm các căn cứ cho việc nâng cao hiệu quả cho các giải pháp minh bạch thông tin thì cần có một nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ về các tác động kinh tế cụ thể của việc minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính đối với chi phí vốn cổ phần Từ những lý do
trên đây, luận án lựa chọn đề tài “Nghiên cứu tác động của minh bạch thông tin
trong các báo cáo tài chính tới chi phí vốn cổ phần của các công ty niêm yết tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lý thuyết, luận án phân tích và đánh giá tác động của
Trang 12minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính tới chi phí vốn cổ phần của các công
ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó rút ra các hàm ý chính sách giúp cải thiện việc công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết, tạo điều kiện phát triển thị trường tài chính minh bạch tại Việt Nam
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, luận án sẽ trả lời những câu hỏi nghiên cứu sau:
✓ Thứ nhất, những khung lý thuyết nào có thể áp dụng để phân tích tác động
của minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính tới chi phí vốn cổ phần?
✓ Thứ hai, song song với việc áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế và thực
thi các chế tài từ các cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán trong suốt khoảng thời gian nghiên cứu, thực trạng minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay như thế nào?
✓ Thứ ba, minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính có tác động như thế
nào đến chi phí vốn cổ phần của các công ty niêm yết tại Việt Nam?
✓ Thứ tư, đâu là các hàm ý chính sách giúp cải thiện việc công bố thông tin
trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết, tạo điều kiện phát triển thị trường tài chính minh bạch tại Việt Nam?
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu và trả lời được các câu hỏi nghiên cứu nêu trên, luận án cần thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
✓ Tổng hợp và đánh giá các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam về tác động của minh bạch thông tin tới chi phí vốn cổ phần để từ đó đưa ra khoảng trống nghiên cứu
✓ Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính, về chi phí vốn cổ phần và những tác động của minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính tới chi phí vốn cổ phần
Trang 13✓ Phân tích tình hình hội nhập quốc tế về chuẩn mực kế toán tại Việt Nam và thực trạng minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam để làm cơ sở thực tiễn cho mô hình nghiên cứu
✓ Đo lường mức độ minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính và chi phí vốn cổ phần của các công ty niêm yết
✓ Phân tích tác động của minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính tới chi phí vốn cổ phần của tác công ty niêm yết tại Việt Nam
✓ Đưa ra các hàm ý chính sách giúp cải thiện việc công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết, tạo điều kiện phát triển thị trường tài chính minh bạch tại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính và tác động của minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính tới chi phí vốn cổ phần của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: luận án phân tích tác động của minh bạch thông tin trong các báo
cáo tài chính đến chi phí vốn cổ phần
Về không gian: luận án tập trung nghiên cứu các công ty phi tài chính niêm yết
trên Sở giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội
Về thời gian: luận án tập trung phân tích dữ liệu trong giai đoạn từ năm 2009
đến năm 2019
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
Dữ liệu thông tin trong các báo cáo tài chính, dữ liệu giá, lượng giao dịch và các thông tin công bố khác của doanh nghiệp được thu thập dựa trên cơ sở dữ liệu
Trang 14FiinPro Báo cáo thường niên của các công ty niêm yết được thu thập được sử dụng
để chấm điểm công bố công tin được lấy từ cơ sở dữ liệu của Ủy ban Chứng khoán
và trên website của Sở giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội
Mẫu nghiên cứu gồm những công ty niêm yết trên 2 Sở giao dịch chứng khoán
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, loại trừ các doanh nghiệp ngành tài chính, bất động sản, ngân hàng do các ngành này có cấu trúc báo cáo tài chính khác biệt và có tỷ
lệ đòn bẩy tài chính cao so với các ngành còn lại (Fama và French, 1993)
Đối với nhân tố đại diện cho minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính của công ty (AQ), danh mục các công ty phân theo ngành để xác định các hệ số ước lượng cho biến số này sẽ được phân theo tiêu chuẩn phân ngành ICB Cơ sở dữ liệu FiinPro sử dụng tiêu chuẩn phân ngành này với 10 nhóm ngành cấp độ 1, 19 nhóm ngành cấp độ 2, 41 ngành cấp 3 và 114 ngành cấp 4 Bài nghiên cứu sử dụng phân ngành ICB cấp độ 1 (Industry Classification Benchmark level 1) – đây là tiêu chuẩn phân ngành được FTSE Group và Down Jones xây dựng và áp dụng từ năm 2006 gồm 10 nhóm ngành chính là Công nghệ thông tin, Công nghiệp, Dầu khí, Dịch vụ tiêu dùng, Dược phẩm và Y tế, Hàng tiêu dùng, Ngân hàng, Nguyên Vật Liệu, Tài chính và tiện ích cộng đồng; với phân ngành cấp độ 1 này số lượng quan sát sẽ đủ lớn để xác định hệ số chung theo ngành
4.2 Phương pháp phân tích số liệu
Luận án sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để đạt được mục tiêu nghiên cứu:
Để đo lường mức độ công bố thông tin của công ty niêm yết, nghiên cứu sử dụng phương pháp chấm điểm công bố thông tin của Botosan (1997) và bổ sung thêm các tiêu chí theo yêu cầu về công bố thông tin được nêu tại Thông tư 155/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính
Để đo lường mức độ minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính, luận án
sử dụng 3 phương pháp đo lường phương pháp minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính: phương pháp Jones điều chỉnh – Modified Jones (Dechow và cộng sự, 1995), phương pháp của Dechow và Dichev (2002) và phương pháp đo lường mở
Trang 15rộng từ mô hình Dechow và Dichev (2002) và Mc Nichols (2002) của Francis và cộng sự (2004)
Để ước tính chi phí vốn cổ phần, luận án sử dụng mô hình lợi nhuận thặng dư (Residual Income Model - RIM) Mô hình RIM kết nối giá trị của cổ phiếu với các thông tin kế toán trong báo cáo tài chính, các biến số đầu vào quan trọng của RIM là giá trị sổ sách và lợi nhuận Thêm vào đó, RIM được điều chỉnh để phù hợp với cơ
sở dữ liệu, điều kiện dự báo và môi trường thông tin tại Việt Nam
Tác động của minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính tới chi phí vốn
cổ phần được phân tích và kiểm định bằng phương pháp hồi quy tác động cố định (FEM), phương pháp hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM) và phương pháp GMM
hệ thống Ngoài các kiểm định đối với ước lượng bình phương nhỏ nhất OLS, kiểm định sai phân bậc 2 (AR2) và kiểm định Hansen về hiện tượng nội sinh sẽ được thực hiện đối với mô hình GMM hệ thống
5 Những đóng góp mới của luận án
5.1 Những đóng góp về mặt lý luận
Thứ nhất, luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về minh bạch thông tin trong
các báo cáo tài chính, về chi phí vốn cổ phần và làm rõ khung lý thuyết để giải thích tác động của minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính tới chi phí vốn cổ phần
Thứ hai, luận án đã kiểm định mô hình phân tích tác động của minh bạch
thông tin trong các báo cáo tài chính tới chi phí vốn cổ phần của các công ty niêm yết tại Việt Nam Kết quả của mô hình cho thấy phương pháp đo lường minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính dựa trên mô hình hồi quy giữa các dồn tích ngắn hạn với dòng tiền của doanh nghiệp của Francis và cộng sự (2004) là phương pháp có ý nghĩa để đo lường minh bạch thông tin báo cáo tài chính tại Việt Nam
Thứ ba, luận án đã thực hiện chấm điểm mức độ minh bạch thông tin của công
ty niêm yết sử dụng phương pháp chấm điểm công bố thông tin của Botosan (1997)
có bổ sung thêm các tiêu chí theo yêu cầu về công bố thông tin tại Việt Nam được nêu tại Thông tư 155/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính Kết quả chấm điểm này góp
Trang 16phần cung cấp thêm thông tin về tình hình minh bạch thông tin của các công ty niêm yết tại Việt Nam
5.2 Những đóng góp về mặt thực tiễn
Thứ nhất, đưa ra bằng chứng xác thực về vai trò của minh bạch thông tin trong
các báo cáo tài chính đối với chi phí vốn cổ phần, qua đó tạo động cơ cho các nhà quản trị doanh nghiệp tích cực, chủ động trong hoạt động công bố thông tin và có những chính sách gia tăng tính minh bạch thông tin của doanh nghiệp
Thứ hai, kết quả của luận án đã mang lại những đánh giá về thực trạng minh
bạch thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam, thông qua đó đề xuất các hàm
ý chính sách giúp giúp tăng cường minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính của các công ty niêm yết và phát triển môi trường tài chính minh bạch tại Việt Nam
Thứ ba, kết quả kiểm định của mô hình phân tích tác động của minh bạch
thông tin trong các báo cáo tài chính tới chi phí vốn cổ phần của các công ty niêm yết tại Việt Nam là căn cứ cho việc nâng cao hiệu quả các các giải pháp về minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán
6 Kết cấu của Luận án
Ngoài lời mở đầu, kết luận, luận án bao gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác động của minh bạch thông
tin tới chi phí vốn cổ phần
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của minh bạch thông tin trong các báo
cáo tài chính tới chi phí vốn cổ phần
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Phân tích tác động của minh bạch thông tin trong các báo cáo tài
chính tới chi phí vốn cổ phần của các công ty niêm yết tại Việt Nam
Chương 5: Hàm ý chính sách
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG
CỦA MINH BẠCH THÔNG TIN TỚI CHI PHÍ VỐN CỔ PHẦN
Tổng quan tình hình nghiên cứu tập trung phân tích ba hướng nghiên cứu chính đang được thực hiện có liên quan đến vấn đề thông tin của doanh nghiệp và chi phí vốn cổ phần: (1) Mức độ công bố thông tin và chi phí vốn cổ phần, (2) Chất lượng thông tin công bố và chi phí vốn cổ phần, (3) Rủi ro thông tin và chi phí vốn
doanh nghiệp, qua đó giảm chi phí giao dịch Diamond và Verrecchia (1991) kết
luận rằng thông tin công bố tự nguyện sẽ giảm sự bất cân xứng thông tin giữa những nhà đầu tư có ưu thế và không có ưu thế về thông tin Từ đó, các nhà đầu tư
có thể tin tưởng rằng đối với những doanh nghiệp có mức độ công bố thông tin cao, mọi giao dịch đang được thực hiện tại mức “giá hợp lý” (fair price) Dòng nghiên cứu thứ hai chứng minh rằng công bố thông tin càng nhiều thì rủi ro ước lượng từ việc ước lượng các tham số về lợi suất của các nhà đầu tư càng giảm Nếu như rủi
ro ước lượng không thể được loại trừ bởi đa dạng hóa, nhà đầu tư sẽ yêu cầu một
phần bù rủi ro đối với loại rủi ro này Rủi ro ước lượng giảm sẽ làm giảm lợi suất
yêu cầu của nhà đầu tư đối với tài sản tài chính giảm, qua đó giảm chi phí vốn Những nghiên cứu thực nghiệm của Healy và cộng sự (1999), Botosan (1997), Botosan và Plumlee (2002), Leuz và Verrecchia (2000), Hail (2002), Francis và cộng sự (2003), Gietzmann và Ireland (2005) về mối quan hệ giữa công bố thông tin
Trang 18của doanh nghiệp và chi phí vốn cổ phần tại các thị trường và các giai đoạn khác nhau cũng cho ra cùng kết luận về mối quan hệ này
Greenstein và Sami (1994) đã kiểm chứng tác động của những quy định về công bố thông tin của Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) đến chi phí vốn cổ phần thông qua phân tích mức chênh lệch giá mua bán Greenstein và Sami đã chọn ngẫu nhiên các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE) trong năm 1970 làm mẫu nghiên cứu Nghiên cứu đã kiểm chứng việc thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin theo mẫu 10-K của SEC bao gồm những thông tin về doanh nghiệp, thông tin về sở hữu, thông tin báo cáo tài chính đã được kiểm toán và các thông tin khác của doanh nghiệp đối với biến động mức chênh lệch giá mua bán vào
kỳ tiếp theo, kết quả nghiên cứu cho thấy mức chênh lệch giá mua bán giảm đối với những doanh nghiệp thực hiện việc công bố thông tin theo SEC ngay lần đầu tiên Healy và cộng sự (1999) đã nghiên cứu tác động của mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp theo xếp hạng đánh giá của Hiệp hội Nghiên cứu và Quản trị Đầu
tư (AIMR) tới tính thanh khoản của cổ phiếu, lợi ích của các nhà đầu tư có tổ chức
và sự quan tâm của giới phân tích Họ lấy mẫu 97 doanh nghiệp trong giai đoạn từ năm 1980 đến 1990 Kết quả cho thấy việc mở rộng chính sách công bố thông tin của doanh nghiệp làm tăng lợi suất chứng khoán và tăng tỷ lệ sở hữu đối với nhà đầu tư có tổ chức và thu hút sự quan tâm của của các chuyên gia phân tích Thêm vào đó, bằng việc đưa vào mô hình biến kiểm soát là lợi nhuận của doanh nghiệp và những biến số khác có liên quan, họ đã kết luận rằng công bố thông tin có sự biến động ngược chiều với mức chênh lệch giá mua – bán chứng khoán, mức chênh lệch này được thu hẹp do lượng công bố thông tin tăng lên Cũng sử dụng thước đo chênh lệch giá mua – bán để đo lường tính thanh khoản của thị trường nhằm xác định mức độ bất cân xứng thông tin, Welker (1995) đã chỉ ra rằng biến số đại diện cho hiện tượng bất cân xứng thông tin này có mối quan hệ ngược chiều với lượng thông tin công bố Hơn thế nữa, mối quan hệ này biểu hiện rõ rệt hơn đối với những doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư có tổ chức cao (đại diện cho tỷ lệ những nhà đầu tư có ưu thế về thông tin) Welker chứng minh rằng trong trường hợp này mối quan hệ giữa công bố thông tin và khoảng cách chênh lệch giá mua – bán có tương quan ngược nhiều và có ý nghĩa thông kê ở mức 1%
Trang 19Leuz và Verrecchia (2000) cũng tập trung chứng minh về mối quan hệ giữa công bố thông tin và chi phí vốn với đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp tại Đức Mẫu nghiên cứu được lựa chọn để so sánh là các doanh nghiệp áp dụng chuẩn mực kế toán IAS hoặc U.S.GAAP so với các doanh nghiệp sử dụng chuẩn mực kế toán Đức Việc lựa chọn chuẩn mực kế toán quốc tế để áp dụng đối với các doanh nghiệp tại Đức có ý nghĩa tích cực trong việc thúc đẩy các công ty tại Đức công bố nhiều hơn những thông tin doanh nghiệp theo yêu cầu của các chuẩn mực này Leuz
và Verrecchia cho rằng những doanh nghiệp lựa chọn sử dụng chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS hoặc U.S.GAAP) sẽ đạt được những lợi ích kinh tế nhất định, đó là giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin qua đó giảm chi phí vốn cổ phần Hai nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng các công ty áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế có mức chênh lệch giá mua – bán thấp hơn và lượng giao dịch cao hơn so với các công
ty áp dụng chuẩn mực kế toán quốc gia tại Đức Có thể thấy, những nghiên cứu trên
đã sử dụng rất nhiều những thước đo khác nhau đo lường mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp, tuy nhiên những thước đo này là đo lường gián tiếp thông qua các chỉ số và chỉ tiêu có liên quan đến chính sách công bố thông tin của doanh nghiệp, hơn nữa những nghiên cứu này chưa tập trung ước lượng trực tiếp chi phí vốn chủ sở hữu để xem xét tác động của mức độ công bố thông tin lên lợi suất yêu cầu của nhà đầu tư mà cụ thể là chi phí vốn cổ phần
Botosan (1997) đã có những bước đi đầu tiên trong việc đo lường trực tiếp chi phí vốn cổ phần dựa vào kỹ thuật định giá dựa trên các thông tin kế toán (accounting-based equity valuation) Nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng về mối quan
hệ ngược chiều và có ý nghĩa thống kê giữa mức độ công bố thông tin (tự xây dựng thang đo trực tiếp) và chi phí vốn cổ phần Tác giả đo lường mức độ công bố các loại thông tin khác nhau trong báo cáo thường niên năm 1990 của 122 doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế tạo Kết quả cho thấy, cứ một đơn vị DSCORE (mức
độ công bố thông tin theo cách tính điểm của Botosan) tăng lên thì vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp giảm được 0.28% mỗi năm Một kết quả nữa được đề cập đến trong nghiên cứu của Botosan là những thông tin công bố trong báo cáo thường niên
có vai trò quan trọng đối với những doanh nghiệp ít được quan tâm bởi các chuyên gia phân tích hơn so với những doanh nghiệp được chú ý nhiều bởi giới phân tích
Trang 20Phát triển từ nghiên cứu của Botosan (1997), Botosan và Plumlee (2002) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí vốn cổ phần với ba nguồn thông tin công bố của doanh nghiệp (báo cáo thường niên, báo cáo quý và các báo cáo công bố khác;
và mối quan hệ với các nhà đầu tư) cho mẫu gồm các doanh nghiệp đại diện cho 43 ngành khác nhau trải dài từ năm 1986 đến năm 1996 Mô hình xem xét mối quan hệ này với hai biến kiểm soát là quy mô doanh nghiệp và hệ số beta Kết quả mô hình chỉ ra rằng công bố báo cáo thường niên càng đầy đủ thông tin thì càng giúp làm giảm chi phí vốn cổ phần của doanh nghiệp Tuy nhiên, trái ngược lại với những kỳ vọng nghiên cứu ban đầu thì hệ số công bố thông tin đối với các báo cáo khác (ROPBSCR) lại làm tăng chi phí vốn cổ phần Điều này được tác giả giải thích rằng những thông tin công bố thường xuyên có thể chỉ thu hút những nhà đầu cơ tìm kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn Gietzmann và Ireland (2005) lại chứng minh điều ngược lại, họ cho rằng kết quả trên xảy ra có thể do việc xây dựng giả thuyết chưa thực sự chính xác và có tồn tại sự tương quan với các biến ẩn trong mô hình Gietzmann và Ireland đã xây dựng thước đo công bố thông tin thường xuyên dựa trên chất lượng thông tin được cung cấp nhiều hơn các chỉ tiêu liên quan đến số lượng thông tin công bố Kết quả cho thấy việc công bố thông tin thường xuyên có hiệu quả trong việc làm giảm chi phí vốn cổ phần và tác động này càng rõ ràng đối với những doanh nghiệp có chính sách tích cực trong việc công bố thông tin
Hail (2002) đã thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin đến chi phí vốn cổ phần trong môi trường công bố thông tin hạn chế tại Thụy Sĩ Tác giả sử dụng chỉ số công bố thông tin tự nguyện được phát triển bởi Viện Nghiên cứu Ngân hàng Thụy Sĩ (SBI) và sử dụng phương pháp xác định chi phí vốn cổ phần ẩn, Hail kết luận rằng chỉ số công bố thông tin của 73 doanh nghiệp thuộc mẫu nghiên cứu có tương quan âm với chi phí vốn cổ phần Những doanh nghiệp cung cấp báo cáo tài chính đầy đủ sẽ đạt được lợi thế chi phí từ 1.8% đến 2.4% so với những doanh nghiệp công bố không đầy đủ thông tin
Bài phân tích của Kothari và Short (2003) đã kiểm định tác động của thông tin công bố từ ban quản trị, nhà phân tích và các tạp chí tài chính đến chi phí vốn cổ phần Tác giả chọn mẫu 877 doanh nghiệp trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm
2001, từ mẫu trên tác giả thu thập được 326.357 ấn bản khác nhau của các doanh
Trang 21nghiệp Kothari và Short ước lượng chi phí vốn cổ phần theo mô hình định giá tài sản 3 nhân tố Fama-French (1993) Dựa vào việc phân tích nội dung trên các ấn bản trên, tác giả đã chỉ ra rằng thông tin công bố thuận lợi giúp giảm chi phí vốn cổ phần và ngược lại, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng lại phụ thuộc vào đối tượng tạo lập thông tin Nguồn thông tin công bố từ các ấn phẩm truyền thông có tác động rõ rệt đối với chi phí vốn cổ phần của doanh nghiệp hơn là nguồn thông tin từ phân tích của các chuyên gia
Nghiên cứu của Francis và cộng sự (2003) cũng chỉ ra rằng nhu cầu huy động vốn bên ngoài buộc các doanh nghiệp và nhà quản trị phải tích cực công bố thông tin nhằm mục đích giảm chi phí vốn cổ phần Các tác giả thực hiện nghiên cứu với mẫu lớn gồm 856 doanh nghiệp được lựa chọn từ 34 quốc gia và 18 ngành nghề khác nhau Họ đã chứng minh rằng có tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa mức độ công bố thông tin (đo lường bởi Trung tâm Phân tích và Nghiên cứu Tài chính Quốc tế, chỉ số CIFAR) và nhu cầu vốn bên ngoài của từng ngành sau khi đã kiểm soát các yếu tố về luật pháp và cấu trúc vốn của từng quốc gia Kết quả từ mô hình hồi quy bước một cũng cho thấy tương quan giữa chỉ số công bố thông tin và chi phí vốn cổ phần là ngược chiều và có ý nghĩa thống kê
Petrova và cộng sự (2012) phân tích mối quan hệ giữa công bố thông tin và chi phí vốn cổ phần của 121 công ty phi tài chính niêm yết tại Thụy Sĩ Nghiên cứu
đo lường mức độ công bố thông tin của công ty dựa trên số lượng thông tin tự nguyện được công bố trên báo cáo thường niên Trong các kênh trao đổi thông tin của doanh nghiệp, báo cáo thường niên là báo cáo được lựa chọn để làm dữ liệu nghiên cứu vì nó được coi là tài liệu tốt nhất trong việc ước lượng toàn bộ lượng thông tin công bố khác nhau bởi công ty Mô hình lợi nhuận thặng dư RIM để đo lường chi phí vốn cổ phần ẩn được sử dụng trong phân tích mối quan hệ này Kết quả cho thấy chi phí vốn cổ phần giảm đối với những công ty công bố nhiều thông tin tự nguyện (voluntary disclosure)
Tại Việt Nam, nghiên cứu về minh bạch thông tin và các tác động khác nhau của sự minh bạch thông tin đến thị trường chứng khoán Việt Nam được rất nhiều các học giả và các nhà phân tích trong nước quan tâm Lê Trường Vinh và Hoàng
Trang 22Trọng (2008) đã thực hiện phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư Nhóm tác giả
đã xây dựng mô hình nghiên cứu với biến phụ thuộc là mức độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp Biến số này được đo lường bằng số liệu thông qua khảo sát và lấy ý kiến nhà đầu tư Các biến độc lập được đưa ra gồm có quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận, vòng quay tổng tài sản và tài sản cố định Mẫu nghiên cứu gồm 30 doanh nghiệp đang niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2007, mức độ mình bạch thông tin của từng công ty được đánh giá bởi 20 nhà đầu tư cá nhân Kết quả của mô hình cho thấy khả năng sinh lợi dài hạn là đại lượng duy nhất giải thích được mức độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp theo cảm nhận của các nhà đầu tư
Trần Thị Thanh Tú và cộng sự (2014) đã xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin của công ty niêm yết Trong đó chất lượng công bố thông tin kế toán được đo lường bằng thang đo từ 1-55 cho 22 khoản mục tương ứng với 6 tiêu chuẩn về chất lượng báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS Mô hình đã được xây dựng tuy nhiên chưa được kiểm định thực tế trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Một số công trình nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa minh bạch thông tin
và chi phí vốn cổ phần Nghiên cứu gần đây của Lê Xuân Thái và Trương Đông Lộc (2019) về ảnh hưởng của mức độ minh bạch và công bố thông tin đến chi phí vốn chủ
sở hữu cũng đã xem xét mối quan hệ này giữa trên mẫu 294 công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu xác định tính minh bạch dựa trên tính điểm công bố thông tin theo bộ tiêu chí của S&P và sử dụng mô hình CAPM để ước lượng vốn chủ sở hữu Kết quả của nghiên cứu cho thấy sự tương quan ngược chiều giữa minh bạch thông tin và chi phí vốn chủ sở hữu trong giai đoạn 2014-2016
Nhằm đo lường mức độ minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội, của Mai Thị Hoa (2019) đã đo lường minh bạch theo các tiêu chí minh bạch và công bố thông tin của tổ chức thế giới Standard and Poor (S&P) với 90 tiêu chí thuộc 8 thành phần Kết quả cho thấy tỷ lệ minh bạch
Trang 23thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội đạt trung bình 85,45%
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu chất lượng thông tin công bố và chi phí vốn cổ phần
Báo cáo tài chính với chất lượng lợi nhuận thấp sẽ làm gia tăng các rủi ro đến từ việc phân bổ không hiệu quả các nguồn lực Sự áp dụng đa dạng các phương pháp kế toán, các kỹ thuật định giá khác nhau và những hệ quả của hoạt động thao túng báo cáo tài chính từ nhà quản trị đã gây hiệu ứng ngược đối với những thông tin từ các báo cáo tài chính, đặc biệt là thông tin về lợi nhuận Những vụ bê bối gần đây của Enron, WorldCom và những công ty khác như Sunbeam, Waste Management, Adelphia… đã làm nổi lên vai trò của chất lượng thông tin báo cáo tài chính Chất lượng lợi nhuận cao làm giảm những bất ổn về dòng lợi nhuận thu được trong tương lai và phát ra tín hiệu về kế hoạch phân bổ lợi nhuận, qua đó giảm chi phí vốn cổ phần Bởi vậy, nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chất lượng báo cáo tài chính đến chi phí vốn cổ phần là một hướng nghiên cứu được rất nhiều học giả quan tâm Các nghiên cứu thực nghiệm luôn ủng hộ vai trò hàng đầu của thông tin về lợi nhuận khi phân tích các thông tin doanh nghiệp Các nhà nghiên cứu thường dựa vào thông tin về lợi nhuận để phân tích hơn là sử dụng các thông tin khác đo lường hoạt động của doanh nghiệp như thông tin về cổ tức, dòng tiền hay các biến thể của lợi nhuận như EBITDA (Biddle và cộng sự, 1995; Liu và cộng sự, 2002; Francis và cộng sự, 2003) Graham và cộng sự (2003) thông qua kết quả điều tra của mình cũng kết luận rằng các nhà quản trị luôn coi thông tin về lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng nhất và được chú ý đặc biệt bởi các nhà đầu tư và nhà phân tích; bởi thế thông tin về lợi nhuận là nguồn thông tin có giá trị đối với các đối tượng sử dụng khác nhau Khi nghiên cứu về chất lượng thông tin công bố của doanh nghiệp đến chi phí vốn, phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm đều xoay quanh việc xem xét, đo lường xung quanh chỉ tiêu lợi nhuận
Francis và cộng sự (2004) xem xét tương quan giữa những thuộc tính của lợi nhuận (earning attributes) và chi phí vốn Họ đưa ra giả thuyết rằng do thông tin
về lợi nhuận là nguồn thông tin quan trọng nhất của doanh nghiệp, đây là nguồn
Trang 24thông tin có giá trị đối với việc xác định chi phí vốn, do vậy mối quan hệ giữa các thuộc tính của lợi nhuận và chi phí vốn có thể là quan hệ ngược chiều, tức là doanh nghiệp có chất lượng lợi nhuận cao sẽ có khả năng có được mức chi phí vốn thấp Francis và cộng sự đã sử dụng các tiêu chí: chất lượng dồn tích, hoạt động liên tục, khả năng có thể dự đoán, sự ổn định đại diện cho thuộc tính kế toán của lợi nhuận (accounting-based), các chỉ tiêu về sự phù hợp, tính kịp thời và nhất quán đại diện cho thuộc tính thị trường của lợi nhuận (market-based) Kết quả của nghiên cứu này đã khẳng định giả thuyết ban đầu là chính xác, tức là những thuộc tính của lợi nhuận có quan hệ ngược chiều với chi phí vốn Hơn thế nữa, chi phí vốn chịu ảnh hưởng lớn nhất bởi các thuộc tính kế toán của lợi nhuận mà cụ thể là chất lượng dồn tích
Phát triển từ nghiên cứu năm 2004, Francis và cộng sự (2005) tập trung nghiên cứu vào chất lượng dồn tích Các nhà nghiên cứu đã thực hiện việc kiểm chứng mối quan hệ giữa chất lượng lợi nhuận và chi phí vốn; dựa trên kết luận của nghiên cứu
lý thuyết rằng rủi ro thông tin là loại rủi ro không thể loại trừ bởi đa dạng hóa, các nhà nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ này dựa trên việc tách tham số đại diện cho rủi ro thông tin - chất lượng của các dồn tích (accruals quality) thành (1) các nhân tố dồn tích tự nhiên (innate factors) (2) các nhân tố được quyền tùy nghi (discretionary components) Nghiên cứu kết luận rằng doanh nghiệp với chất lượng dồn tích thấp sẽ làm tăng cả chi phí vốn nợ và chi phí vốn chủ sở hữu Thêm vào
đó, các nhân tố dồn tích tự nhiên có tác động đến chi phí vốn nhiều hơn các nhân tố được quyền tùy nghi Đây là kết luận có mâu thuẫn với những kết luận trước đó cho rằng chất lượng báo cáo tài chính được quyết định bởi sự lựa chọn của nhà quản trị Barth và cộng sự (2006) đã thực hiện nghiên cứu xem xét khả năng doanh nghiệp sở hữu thông tin báo cáo tài chính minh bạch có giúp cho họ giảm chi phí vốn hay không Trong nghiên cứu này, các tác giả đã xây dựng đại lượng minh bạch thông tin về lợi nhuận dựa trên hệ số giải thích (explanatory power) R2 lấy được từ
mô hình hồi quy xem xét mức độ tác động của lợi nhuận và những thay đổi của lợi nhuận tới lợi suất đầu tư chứng khoán như thế nào Bằng việc nghiên cứu 48.326 quan sát trong giai đoạn từ 1974 đến 2000 và sử dụng mô hình Fama và French
Trang 25(1993) ước lượng cho chi phí vốn cổ phần, nghiên cứu đưa ra kết luận rằng minh bạch thông tin báo cáo tài chính có quan hệ ngược chiều với chi phí vốn cổ phần Bhattacharya và cộng sự (2012) xem xét tương quan giữa chất lượng lợi nhuận với chi phí vốn cổ phần của các công ty hoạt động tại Vương quốc Anh trong giai đoạn từ 2005-2011 Nghiên cứu sử dụng thước đo chất lượng dồn tích của Dechow
và Dichev (2002) kết hợp với phương pháp của McNichols (2002) Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng có tồn tại tương quan âm giữa chất lượng lợi nhuận và chi phí vốn cổ phần, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng tài chính tương quan này mạnh mẽ hơn so với giai đoạn trước khủng hoảng
Một số công trình nghiên cứu tại Việt Nam xem xét vấn đề minh bạch thông tin bằng cách nhận diện các hành vi về quản trị lợi nhuận dựa trên thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp, coi hành vi này là một trong những vấn đề tác động tới mức độ minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán và cần phải làm rõ Nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2012) đã phân tích sự phù hợp của mô hình Jones điều chỉnh trong việc nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của 60 doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong năm 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình Jones điều chỉnh không hiệu quả trong việc nhận diện hành vi điều chỉnh của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán
là khi lợi nhuận được báo cáo theo cơ sở dồn tích, nhà quản trị có thể điều chỉnh lợi nhuận trong một kỳ nhằm đạt được một mục tiêu nào đó; hai là có thể nhận diện khả năng điều chỉnh lợi nhuận bằng cách sử dụng cơ sở kế toán tiền mặt, vì theo cơ sở kế toán này, nhà quản trị không thể điều chỉnh các giao dịch có ảnh hưởng đến lợi nhuận
Trang 26Phùng Anh Thư và Nguyễn Vĩnh Khương (2018) tập trung nghiên cứu về khả năng hoạt động liên tục đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Dựa trên dữ liệu 279 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2009-2015, nhóm tác giả đã kết luận rằng có tương quan giữa khả năng hoạt động liên tục và chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu về rủi ro thông tin và chi phí vốn cổ phần
Thông tin riêng là những thông tin mà chỉ một số ít nhà đầu tư có thể tiếp cận được và sử dụng chúng để thu được lợi nhuận từ việc giao dịch với các nhà đầu tư khác Về mặt lý thuyết, sự tồn tại của thông tin riêng và việc kiếm lợi từ thông tin riêng khiến cho những nhà đầu tư không có thông tin riêng gặp rủi ro lớn trong giao dịch và bởi vậy, họ thường có xu hướng yêu cầu một lợi suất cao hơn, để bù đắp cho những rủi ro đó
Easley và cộng sự (2002) đã thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa thông tin riêng và lợi suất kỳ vọng của nhà đầu tư Để xem xét mối quan hệ này, các tác giả đã sử dụng ước tính xác suất giao dịch dựa trên thông tin riêng PIN (probability
of informed trading) để đại diện cho mức độ bất cân xứng thông tin trên thị trường Giá trị PIN càng lớn thì khả năng xuất hiện thông tin riêng càng cao, tức là gia tăng hiện tượng bất cân xứng thông tin trong giao dịch cổ phiếu Mô hình hồi quy lợi suất kỳ vọng theo PIN và hai biến kiểm soát là hệ số beta và tỷ số giá thị trường trên giá trị sổ sách (market-to-book) với mẫu nghiên cứu gồm các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán New York từ năm 1984 đến năm 1998 Số lượng các doanh nghiệp niêm yết trong mẫu nghiên cứu dao động từ 997 đến 1316 doanh nghiệp (tăng dần theo thời gian) Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng PIN và lợi suất
kỳ vọng có mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa thống kê Điều đó cho thấy khi thông tin riêng càng nhiều (thể hiện qua giá trị PIN càng lớn) thì lợi suất kỳ vọng của nhà đầu tư càng lớn hay nói cách khác khi doanh nghiệp niêm yết có nhiều thông tin riêng hơn sẽ phải chịu chi phí vốn cổ phần cao hơn
Botosan và cộng sự (2004) phân tích tác động của sự chính xác của thông tin đại chúng và thông tin riêng đến lợi suất kỳ vọng Các nhà nghiên cứu đã sử dụng
Trang 27thước đo về sự tập trung và phân tán trong dự báo của chuyên gia đã được đưa ra từ nghiên cứu của Barron và cộng sự (1998) làm đại lượng đại diện cho tính chính xác của thông tin và ước lượng lợi suất kỳ vọng theo mô hình lợi nhuận thặng dư Mô hình hồi quy được thiết lập với biến phụ thuộc là lợi suất kỳ vọng và các biến độc lập là 4 thước đo khác nhau đo lường tính chính xác của thông tin đại chúng và thông tin riêng, được kiểm soát bởi beta, giá trị thị trường, giá trị sổ sách và tốc độ tăng trưởng lợi nhuận Dữ liệu nghiên cứu gồm 2,804 quan sát theo doanh nghiệp – năm từ năm 1993 đến năm 2001, số lượng các quan sát tăng dần qua các năm Kết quả kiểm định vai trò của tính chính xác của thông tin đối với chi phí vốn của phần của doanh nghiệp đã chỉ ra rằng: (1) tỷ trọng chính xác của thông tin công bố trên toàn bộ thông tin của doanh nghiệp càng lớn thì chi phí vốn càng giảm, như vậy thông tin công bố của doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu chi phí vốn; (2) khi lượng thông tin riêng vượt quá lượng thông tin công bố thì chi phí vốn cổ phần có xu hướng tăng
1.4 Khoảng trống nghiên cứu
Dựa trên các phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về minh bạch thông tin và chi phí vốn cổ phần có thể thấy rằng mối quan hệ giữa minh bạch thông tin và chi phí vốn cổ phần giành được nhiều sự quan tâm của các học giả dưới các góc độ tiếp cận khác nhau NCS nhận thấy một số điểm về khoảng trống nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu trên thế giới đã phân tích các khía cạnh
khác nhau của minh bạch thông tin của công ty như mức độ công bố thông tin, mức
độ bất cân xứng thông tin của doanh nghiệp Các thước đo với những cách tiếp cận khác nhau cũng được sử dụng và kiểm chứng trên nhiều thị trường Tại Việt Nam cũng có một số công trình nghiên cứu đo lường mức độ công bố thông tin dựa trên
hệ thống chấm điểm chung của toàn bộ thị trường hoặc ứng dụng một hệ thống chấm điểm của một tổ chức trên thế giới để chấm điểm cho doanh nghiệp Việt Nam Như vậy, cần có một nghiên cứu xây dựng hệ thống chấm điểm công bố thông tin cho các công ty niêm yết dựa trên cả những văn bản pháp luật về công bố thông tin đang được ban hành trên thị trường để có thể có được những đánh giá chính xác về thực trạng minh bạch thông tin tại Việt Nam
Trang 28Thứ hai, các nghiên cứu trên thế giới về minh bạch thông tin trong các báo cáo
tài chính cũng đề cao vai trò của thông tin lợi nhuận, cho rằng thông tin về lợi nhuận và chất lượng của thông tin lợi nhuận có thể phản ánh được tình trạng minh bạch thông tin của doanh nghiệp Tại Việt Nam, các nghiên cứu về vấn đề này mới chỉ dừng ở một số chỉ tiêu có liên quan đến quản trị lợi nhuận và các mô hình phát hiện gian lận cơ bản Do đó, cần thực hiện một nghiên cứu với hệ thống các phương pháp xác định minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính khác nhau để so sánh, đối chiếu và lựa chọn ra phương pháp đo lường minh bạch thông tin dựa trên các có thể áp dụng tại Việt Nam
Thứ ba, một số công trình nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến mối quan hệ
giữa minh bạch thông tin báo cáo tài chính và chi phí vốn cổ phần, các nghiên cứu
sử dụng một số phương pháp và đại diện khác nhau cho phân tích tương quan với các kết quả không đồng nhất Nghiên cứu về tác động của minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính tới chi phí vốn cổ phần tại Việt Nam hiện chưa có công trình nghiên cứu nào Do vậy cần phải thực hiện phân tích tác động này trên thị trường Việt Nam
Kiểm định tác động của minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính đến chi phí vốn cổ phần tại Việt Nam kế thừa một số phương pháp đo lường minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính đã được thực hiện trên thế giới Đồng thời, nghiên cứu ước lượng chi phí vốn cổ phần dựa trên mô hình lợi nhuận thặng dư RIM, đây là mô hình xác định chi phí vốn cổ phần ẩn được sử dụng trong nhiều công trình nghiên cứu trên giới, các biến số đầu vào của mô hình là các thông tin kế toán được thu thập từ báo cáo tài chính, tuy nhiên mô hình này được điều chỉnh để phù hợp hơn với các điều kiện dự báo tại Việt Nam Nghiên cứu tác động được thực chứng trên cả thị trường chứng khoán niêm yết (HNX và HOSE)
Trang 29CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA MINH BẠCH THÔNG TIN TRONG CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH TỚI CHI PHÍ VỐN CỔ PHẦN 2.1 Những vấn đề cơ bản về minh bạch thông tin trong các báo cáo
tài chính
2.1.1 Khái niệm thông tin và thông tin tài chính
Thông tin là một khái niệm rộng Theo Từ điển tiếng Việt: “Thông tin là điều hoặc tin được truyền đi cho biết sự truyền đạt, sự phản ánh tri thức dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó” Trong bài phân tích về khái niệm thông tin của Đoàn Phan Tân (2001), thông tin theo nghĩa thông thường “là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người” Trên quan điểm triết học thì “Thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn ngữ, ký hiệu, hình ảnh,… hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên các giác quan của con người”
Như vậy, thông tin có khắp nơi trong xã hội, đó là các nguồn thông tin về tự nhiên, xã hội, kinh tế,… Nhưng thông tin chỉ có giá trị và ý nghĩa khi nó được
truyền đi Có thể nói, thông tin là tri thức và phải được truyền dẫn
Thông tin tài chính là các thông tin có khả năng tác động đến các tài sản tài
chính trên thị trường Theo Gillet (1999) thông tin có thể tác động đến giá tài sản tài chính của doanh nghiệp có nhiều nguồn khác nhau, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp
Có những nguồn thông tin là bản thân doanh nghiệp cung cấp như thông tin báo cáo tài chính và các thông tin khác được doanh nghiệp công bố trên các phương tiện truyền thông Đây là nguồn thông tin doanh nghiệp có thể kiểm soát được
Bên cạnh đó, thị trường cũng có thể nhận biết được các sự kiện ảnh hưởng đến doanh nghiệp thông qua các thông tin công bố của đối thủ cạnh tranh, của các tổ chức pháp quy (UBCK) hay là các thông tin vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, thay đổi lãi suất, biến động tỷ giá hối đoái,… Đây là nguồn thông tin doanh nghiệp không kiểm soát được
Trang 30Hình 2.1: Các nguồn thông tin có khả năng tác động đến giá tài sản tài chính
do doanh nghiệp phát hành
Nguồn: Gillet (1999)
2.1.2 Vị trí của thông tin báo cáo tài chính trong hệ thống thông tin tài chính
Trong các nguồn thông tin tài chính trên thì thông tin báo cáo tài chính là nguồn thông tin được công bố định kỳ bởi doanh nghiệp Báo cáo tài chính là phương pháp tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh có hệ thống về tình trạng tài sản, nguồn hình thành tài sản, kết quả hoạt động sản suất kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình lưu chuyển các dòng tiền của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Do đó, báo cáo tài chính vừa là phương pháp kế toán, vừa là hình thức thể hiện và chuyển tải thông tin kế toán tài chính đến những người sử dụng để ra các quyết định kinh tế
Chuẩn mực Kế toán Quốc tế IAS 1 đã chỉ rõ mục đích của báo cáo tài chính là
“cung cấp những thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh và những thay đổi trong tình trạng tài chính của doanh nghiệp; đây là những thông tin hữu ích trong việc đưa ra những quyết định kinh tế cho các đối tượng sử dụng khác nhau” Các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính gồm có nhà quản lý doanh nghiệp,
Thông tin báo cáo tài chính
Thông tin khác được doanh nghiệp công
bố trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện truyền thông.
Thông tin doanh nghiệp không kiểm soát được
Thông tin đến từ các doanh nghiệp cạnh
tranh
Thông tin từ các tổ chức pháp quy
Thông tin vĩ mô độc lập với doanh nghiệp
Trang 31nhà đầu tư, người cho vay, cổ đông, người lao động, nhà cung cấp, khách hàng, các
cơ quan quản lý của Nhà nước và các chuyên gia phân tích
Thống nhất với định nghĩa trên về thông tin báo cáo tài chính của Chuẩn mực
kế toán quốc tế IAS 1, trong Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 về Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp đã nêu rõ mục đích của báo cáo tài chính là
“để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc ra các quyết định kinh tế” Báo cáo tài chính thường được trình bày dưới dạng một hệ thống các mẫu biểu quy định thống nhất và được yêu cầu phải cung cấp những thông tin nhất định tùy vào từng loại báo cáo
2.1.3 Hệ thống thông tin báo cáo tài chính
Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam VAS số 01, báo cáo tài chính phản ánh tình hình tài chính của các doanh nghiệp bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố của báo cáo tài chính Các yếu
tố liên quan trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính trong Bảng cân đối kế toán là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình hình và kết quả kinh doanh trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là Doanh thu, Thu nhập khác, Chi phí và Kết quả kinh doanh
Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 về Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp thì báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về:
a/ Tài sản;
b/ Nợ phải trả
c/ Vốn chủ sở hữu;
d/ Doanh thu, thu nhập khác, chi phí kinh doanh và chi phí khác;
đ/ Lãi, lỗ và phân chia kết quả kinh doanh;
e/ Các luồng tiền
Trang 32Ngoài các thông tin này, doanh nghiệp còn phải cung cấp các thông tin khác trong “Bản thuyết minh báo cáo tài chính” nhằm giải trình thêm về các chỉ tiêu đã phản ánh trên các báo cáo tài chính tổng hợp và các chính sách kế toán đã áp dụng
để ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập và trình bày Báo cáo tài chính
Hệ thống báo cáo tài chính gồm báo cáo tài chính năm và báo cáo tài chính giữa niên độ Báo cáo tài chính gồm có:
1) Bảng cân đối kế toán
2) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
3) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
4) Thuyết minh báo cáo tài chính
Bảng cân đối kế toán là một bộ phận quan trọng của Báo cáo tài chính, dùng
để phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Số liệu trên Bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản và cơ cấu nguồn vốn hình thành các tài sản đó Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp Bảng cân đối kế toán trình bày các thông tin về nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, cơ cấu tài chính, tính thanh khoản, khả năng thanh toán Do vậy, việc trình bày thông thường phải dựa trên sự phân loại các đối tượng liên quan và tách biệt các khoản mục tài sản, nợ phải trả theo tính chất ngắn hạn và dài hạn
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo phản ánh tình hình và kết
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm kết quả từ hoạt động kinh doanh chính và kết quả từ các hoạt động tài chính và hoạt động khác của doanh nghiệp Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng phản ánh tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước về các khoản thuế, phí, lệ phí trong kỳ báo cáo Kết quả kinh doanh bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh chính (hoạt động kinh doanh theo chức năng của doanh nghiệp) và kết quả hoạt động kinh doanh khác (hoạt động kinh doanh không thường xuyên bao gồm hoạt động kinh doanh tài chính và hoạt động kinh doanh bất thường)
Trang 33Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp các thông tin mà báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh không cung cấp, bao gồm: Số tiền công ty nhận được và chi ra trong kỳ kế toán và thông tin về hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính của công ty Những thông tin đó được thể hiện trong 3 dòng tiền chính của doanh nghiệp: dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền từ hoạt động đầu tư và dòng tiền từ hoạt động tài chính Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh chủ yếu phát sinh từ các hoạt động sinh lời cơ bản của doanh nghiệp, là chỉ tiêu giúp đánh giá khả năng tạo ra nguồn tiền để thanh toán nợ, duy trì hoạt động, trả cổ tức, tiến hành các hoạt động đầu tư mà không cần đến nguồn tài trợ bên ngoài Việc trình bày dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có thể thực hiện theo phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp Dòng tiền từ hoạt động đầu tư là các khoản tiền thu – chi phát sinh liên quan đến việc tạo ra các nguồn lực dự kiến sẽ mang lại lợi ích kinh tế trong nhiều kỳ kế toán Dòng tiền từ hoạt động tài chính là các khoản thu – chi phát sinh liên quan đến việc huy động và hoàn trả các nguồn lực tài chính của công ty
Thuyết minh báo cáo tài chính là một báo cáo tài chính tổng quát nhằm mục
đích giải trình, bổ sung, thuyết minh những thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo, mà chưa được đầy đủ chi tiết trong các báo cáo tài chính khác ) Bản thuyết minh Báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành không thể tách rời của Báo cáo tài chính doanh nghiệp dùng để mô tả mang tính tường thuật hoặc phân tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trình bày trong Bảng Cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán cụ thể Bản thuyết minh Báo cáo tài chính cũng có thể trình bày những thông tin khác nếu doanh nghiệp xét thấy cần thiết cho việc trình bày trung thực, hợp lý Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính giữa niên độ cũng gồm các báo cáo trên và có 2 dạng cơ bản
là báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ và báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược Tất cả các doanh nghiệp thuộc các ngành, các thành phần kinh tế đều phải lập và trình bày báo cáo tài chính năm Đối với doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán còn phải lập báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ Các doanh nghiệp khác nếu tự nguyện lập báo cáo tài chính giữa niên độ thì được lựa chọn dạng đầy đủ hoặc tóm lược
Trang 342.1.4 Vai trò của thông tin báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là một trong những kênh thông tin quan trọng giúp người sử dụng đưa ra các quyết định kinh tế, phục vụ việc quản lý tài chính cũng như đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Với ý nghĩa như vậy, báo cáo tài chính
có những vai trò cụ thể đối với từng đối tượng sử dụng thông tin:
Với nhà quản lý doanh nghiệp, báo cáo tài chính mang lại lợi ích cho các nhà
quản trị nội bộ Những thông tin báo cáo tài chính giúp các nhà quản lý doanh nghiệp có cái nhìn tổng quát về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và dòng tiền của doanh nghiệp, từ đó đưa được ra các quyết định về tài chính (lựa chọn loại nguồn vốn huy động phù hợp, có thể tiếp cận với chi phí vốn tối ưu), các quyết định về đầu
tư (lựa chọn đầu tư tài sản dài hạn nhằm mang lại các lợi ích tương lại cho doanh nghiệp), quyết định về chia cổ tức hay những quyết định về quản lý vốn lưu động nhằm thực hiện mục tiêu của tài chính doanh nghiệp là tối đa giá trị của cổ đông
Đối với nhà đầu tư, báo cáo tài chính là một trong những nguồn thông tin quan
trọng nhất giúp nhà đầu tư có một cái nhìn toàn cảnh về tình hình tài chính, thực trạng và triển vọng của doanh nghiệp Dựa vào số liệu quá khứ về doanh thu, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp cho phép nhà đầu tư dự báo kết quả kinh doanh trong tương lai Những thông tin về tính thanh khoản, cơ cấu tài sản, cơ cấu vốn và chia cổ tức là cơ sở để nhà đầu tư kỳ vọng về sự an toàn và mức độ hiệu quả mang lại đối với khoản đầu tư vào doanh nghiệp Ngoài ra, sự nhất quán trong ghi nhận, trình bày và công bố thông tin báo cáo tài chính sẽ đảm bảo giá trị so sánh của thông tin đối với các doanh nghiệp khác nhau từ đó nhà đầu tư có thể đánh giá, lựa chọn các cơ hội đầu tư phù hợp
Đối với các chủ nợ, báo cáo tài chính cung cấp những thông tin về khả năng
tạo lợi nhuận của doanh nghiệp, khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn, cơ cấu nợ trên tổng tài sản, dòng tiền của doanh nghiệp,… đây là những thông tin giúp các chủ nợ có thể xem xét cho vay mới hay duy trì các khoản nợ cũ Lợi ích của các chủ
nợ gắn liền với khả năng thu hồi các khoản nợ gốc và lãi phát sinh theo cam kết Cách thức ghi nhận, đo lường, trình bày thông tin về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và các dòng tiền trên báo cáo tài chính sẽ đáp ứng được các thông tin
Trang 35mà đối tượng chủ nợ cần để phân tích về sự an toàn và hiệu quả của các khoản vay
đã hoặc sẽ thực hiện với doanh nghiệp
Với người lao động, họ quan tâm đến thông tin về khả năng cũng như chính
sách chi trả cổ tức, tiền lương, bảo hiểm xã hội, và các vấn đề khác liên quan đến lợi ích của họ thể hiện trên báo cáo tài chính
Với nhà cung cấp, báo cáo tài chính giúp họ nhận biết khả năng thanh toán,
phương thức thanh toán, để từ đó họ quyết định có nên tiếp tục bán hàng cho doanh nghiệp hay không, hoặc cần áp dụng phương thức thanh toán như thế nào cho hợp lý
Với khách hàng tiềm năng cũng như khách hàng hiện hữu, báo cáo tài chính
giúp cho họ có những thông tin về khả năng, năng lực sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, mức độ uy tín của doanh nghiệp, chính sách đãi ngộ khách hàng, để họ có quyết định đúng đắn trong việc mua hàng của doanh nghiệp
Đối với cơ quan quản lý của Nhà nước: báo cáo tài chính là thông tin quan
trọng trong việc hoạch định, điều hành, kiểm tra giám sát, đánh giá và ra quyết định nhằm thực hiện các chính sách, chế độ kinh tế
Với các chuyên gia phân tích, lợi ích mang lại từ báo cáo tài chính cho đối
tượng này rất đặc thù, đa dạng gắn liền với khả năng tiếp cận, phân tích dựa trên những thông tin cung cấp bởi doanh nghiệp Đây là thông tin cơ sở, nền tảng phục
vụ cho quá trình định giá để từ đó đưa ra các khuyến nghị đầu tư cho nhà đầu tư hay
tư vấn về các vấn đề tài chính cho nhà quản trị doanh nghiệp
2.1.5 Khái niệm minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính
Yêu cầu về chất lượng thông tin báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính với vai trò là một trong những kênh thông tin quan trọng giúp người sử dụng đưa ra các quyết định kinh tế, phục vụ việc quản lý tài chính cũng như đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Thông tin trong báo cáo tài chính có tác dụng trong công tác quản lý, cung cấp thông tin cho các đối tượng
để ra các quyết định kinh tế phù hợp và kịp thời Nhằm đạt được các mục tiêu đề ra ban đầu bởi các tổ chức tạo lập chuẩn mực kế toán, các chuẩn mực kế toán quốc tế (US.GAAP, IFRS) hay chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) đều nêu rõ yêu cầu về chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính
Trang 36Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế IFRS đã chỉ ra những yêu cầu chất lượng quan trọng trong thông tin báo cáo tài chính đó là: sự phù hợp (relevance), sự tin cậy (reliablility), có thể so sánh (comparability), dễ hiểu (understandability) và kịp thời (timeless) Tại Việt Nam, Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn Chế độ
kế toán doanh nghiệp của Bộ tài chính cũng yêu cầu chi tiết về chất lượng các thông tin được trình bày trong báo cáo tài chính Theo đó, “thông tin trình bày trên báo cáo tài chính phải phản ánh trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp” Để đảm bảo sự trung thực, thông tin phải có 3
tính chất là đầy đủ, khách quan, không có sai sót: thứ nhất, thông tin được coi là đầy
đủ khi bao gồm tất cả các thông tin cần thiết để giúp người sử dụng báo cáo tài chính hiểu được bản chất, hình thức và rủi ro của các giao dịch và sự kiện; thứ hai, thông tin trình bày khách quan phải đảm bảo tính trung lập, không chú trọng, nhấn mạnh hoặc giảm nhẹ cũng như có các thao tác khác làm thay đổi mức độ ảnh hưởng; thứ ba, thông tin công bố được cho là không sai sót có nghĩa là không có sự
bỏ sót trong việc mô tả hiện tượng và không có sai sót trong quá trình cung cấp các thông tin báo cáo được lựa chọn và áp dụng
Thêm vào đó, thông tin tài chính phải phù hợp để giúp người sử dụng báo cáo
tài chính dự đoán, phân tích và đưa ra các quyết định kinh tế Thông tin tài chính
phải được trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu Thông tin được coi là
trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thông tin thiếu chính xác có thể làm ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng thông tin tài chính của đơn vị báo
cáo Thông tin phải đảm bảo có thể kiểm chứng, kịp thời và dễ hiểu Thông tin tài chính phải được trình bày nhất quán và có thể so sánh giữa các kỳ kế toán; so sánh
được giữa các doanh nghiệp với nhau
Tuy nhiên, trong thực tế, quá trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin bị tác động bởi nhiều nhân tố mang tính nội tại và khách quan đã làm cho các tính chất trên không được đảm bảo Các hạn chế về yêu cầu phù hợp và đáng tin cậy của thông tin bao gồm:
(1)Sự kịp thời: Nếu báo cáo chậm trễ thì thông tin sẽ mất đi tính phù hợp,
ngược lại, việc cung cấp thông tin đáng tin cậy lại đòi hỏi phải có thời gian Như vậy, cần phải có sự cân đối giữa yêu cầu kịp thời và đáng tin cậy của thông tin
Trang 37(2)Cân đối giữa lợi ích và chi phí: Lợi ích mang lại từ thông tin phục vụ cho
người sử dụng cần cân đối với chi phí để cung cấp chúng
(3)Cân đối giữa các đặc điểm chất lượng: Đảm bảo sự cân đối giữa các đặc
điểm chất lượng khác nhau của báo cáo tài chính nhằm thỏa mãn các mục tiêu của báo cáo tài chính
Minh bạch thông tin báo cáo tài chính
Các tổ chức tạo lập chuẩn mực kế toán quốc tế như Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Tài chính (FASB) hay Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) được ra đời để thực hiện nhiệm vụ thiết lập và cập nhật các chuẩn mực kế toán tài chính với
mục tiêu giúp cho các thông tin trên báo cáo tài chính trở nên minh bạch, dễ hiểu và
nhất quán Như vậy, ngoài mục tiêu giúp cho việc trình bày các báo cáo tài chính dễ
hiểu và nhất quán, mục tiêu cơ bản nhất của các chuẩn mực là làm gia tăng tính
minh bạch trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Trong các Văn bản diễn
giải và thảo luận về các Chuẩn mực kế toán quốc tế thì thuật ngữ “minh bạch” có thể được hiểu là mức độ rõ ràng của thông tin mà người sử dụng có thể nhìn thấy các vấn đề kinh tế cơ bản (underlying economics) của doanh nghiệp Việc công bố thông tin đầy đủ (full disclosure) và trình bày trung thực các thông tin (fair presentation) giúp tạo nên sự minh bạch của thông tin báo cáo tài chính
Khái niệm về minh bạch thông tin báo cáo tài chính trong các chuẩn mực kế toán của FASB hay IASB không được sử dụng trực tiếp như một đặc tính cơ bản để
có một báo cáo tài chính tốt, mặc dù ý nghĩa của nó luôn được hàm chứa trong các yêu cầu về chất lượng đối với thông tin báo cáo tài chính được đề cập trong những chuẩn mực này Trong những nghiên cứu về thông tin báo cáo tài chính và chất lượng lợi nhuận những năm gần đây thì “minh bạch” là một tính từ được sử dụng rộng rãi, nó được coi như là một trong những đặc tính quan trọng của một báo cáo tài chính lý tưởng
Mặc dù minh bạch thông tin được mô tả như một đặc tính quan trọng cần phải
có của một báo cáo tài chính, tuy vậy khái niệm minh bạch vẫn không được xác định rõ trong phạm vi của một báo cáo tài chính Bushman và Smith (2003) định nghĩa tính minh bạch trong báo cáo tài chính là khả năng mà người sử dụng báo cáo
Trang 38có thể có được những nội dung kinh tế của doanh nghiệp thông qua các báo cáo của công ty Hunton và cộng sự (2006) cũng lập luận rằng minh bạch thông tin tài chính nghĩa là các thông tin cần thiết có thể được trích xuất một cách dễ dàng và được sử dụng hiệu quả để hiểu về các vấn đề kinh tế của doanh nghiệp Thống nhất với những quan điểm trên, Nielsen và Madsen (2009) cho rằng thông tin được cho là minh bạch khi người sử dụng thông tin có thể thu thập được mọi thông tin tại mọi thời điểm, người đó có thể kiểm chứng bất cứ vấn đề gì dựa trên thông tin đầy đủ được cung cấp
Để đưa ra được khái niệm về minh bạch thông tin báo cáo tài chính, Barth và Schipper (2008) đã sử dụng phép ngoại suy từ khái niệm minh bạch được định nghĩa và sử dụng trong các bối cảnh khác nhau Theo các tác giả, “minh bạch thông tin báo cáo tài chính là mức độ mà một báo cáo tài chính thể hiện toàn bộ những vấn đề kinh tế cơ bản (underlying economic) mà đối tượng sử dụng chúng có thể
hiểu một cách dễ dàng nhất (readily understandable)” Những vấn đề kinh tế cơ bản
bao gồm các nguồn lực của doanh nghiệp (tài sản), nguồn hình thành các nguồn lực
đó (nguồn vốn nợ và vốn chủ sở hữu), những thay đổi về nguồn lực, nguồn vốn và dòng tiền của doanh nghiệp Những vấn đề kinh tế cơ bản này lần lượt được miêu tả trong bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập và dòng tiền Tiêu chí thứ hai giúp cho báo cáo tài chính trở nên minh bạch chính là thông tin được cung cấp từ báo cáo không nên quá phức tạp khiến cho người sử dụng khó có thể nhận thức được các
vấn đề kinh tế cơ bản; và những thông tin phải được truyền đạt theo cách dễ hiểu
nhất đối với những đối tượng có nhu cầu sử dụng Điều này không có nghĩa là
những thông tin đó phải dễ hiểu đối với tất cả mọi đối tượng, kể cả những đối tượng không có kiến thức về tài chính – kế toán và không dành thời gian và sự cần mẫn nhất định để nghiên cứu những thông tin đó Đối tượng sử dụng báo cáo tài chính, được đề cập trong những Văn bản diễn giải của cả FASB và IASB, là những “người
có kiến thức hợp lý về kinh doanh, các hoạt động kinh tế và báo cáo tài chính, và đối tượng này nghiên cứu những thông tin báo cáo tài chính với một sự cần mẫn hợp lý (reasonable diligence)
Dựa trên các Chuẩn mực Kế toán Quốc tế và những khái niệm được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu lý thuyết cũng như thực nghiệm, minh bạch thông tin
Trang 39trong các báo cáo tài chính có thể được hiểu là sự công bố các thông tin báo cáo
tài chính một cách đầy đủ và xác thực các vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp theo cách thức mà công chúng có thể tiếp cận được Có ba đặc tính cơ bản để
thông tin báo cáo tài chính có được tính minh bạch: “đầy đủ”, “xác thực” và “có thể tiếp cận được”
Đầy đủ: thông tin trong báo cáo tài chính phải được trình bày đầy đủ trong
phạm vi giới hạn của những vấn đề trọng yếu và chi phí cho phép Nếu vì một sự bỏ sót, thiếu hụt về những thông tin mà gây ra những sai lệch dẫn đến những đánh giá, nhận xét, kết luận không đúng về doanh nghiệp thì thông tin đó không hữu dụng, không đáng tin cậy vì không đầy đủ Tuy nhiên, nếu cung cấp thông tin quá chi tiết dẫn đến báo cáo tài chính bị cồng kềnh, thông tin bị rối làm cho các đối tượng sử dụng thông tin gặp khó khăn trong việc hiểu được bản chất các vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp; hoặc cung cấp thông tin quá tổng hợp, thiếu chi tiết, thiếu những thông tin cần thiết bổ sung dẫn đến hiểu sai, hiểu không đầy đủ về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh
Xác thực: thông tin trong các báo cáo tài chính phải đảm bảo được tạo lập dựa
trên những yêu cầu về chất lượng theo chuẩn mực kế toán mà báo cáo áp dụng Xác thực ở đây chính là sự trung thực, khách quan trên cơ sở tôn trọng sự thật về các nghiệp vụ và sự kiện kinh tế phát sinh, đồng thời phải tuân thủ các quy định về nguyên tắc ghi nhận, xử lý, tổng hợp và trình bày thông tin
Có thể tiếp cận được: người sử dụng thông tin có thể có được thông tin công
bố như nhau và có thể hiểu được những thông tin mà họ sở hữu Người sử dụng thông tin được hiểu là người có hiểu biết cơ bản về kinh doanh, kinh tế, tài chính,
kế toán Thông tin quá phức tạp sẽ làm mọi nỗ lực trong nghiên cứu cũng như trong quá trình thu thập, xử lý thông tin trở nên kém ý nghĩa với người sử dụng Lợi ích mang lại cho người sử dụng báo cáo tài chính sẽ được gia tăng một khi thông tin phải được hiểu một cách đầy đủ với một chi phí thấp nhất, trong khoảng thời gian
ngắn nhất để trở thành một cơ sở đáng tin cậy cho việc ra các quyết định kinh tế
2.1.6 Vai trò của minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính
Vì báo cáo tài chính là nguồn thông tin bắt buộc phải công bố định kỳ đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp niêm yết, do đó các đối tượng sử
Trang 40dụng thông tin thường tập trung trước tiên vào nguồn thông tin công bố này từ doanh nghiệp Việc minh bạch thông tin báo cáo tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng với thị trường tài chính, các bên tham gia thị trường cũng như chính bản thân doanh nghiệp
Minh bạch thông tin trong các báo cáo tài chính giúp thị trường tài chính hiệu quả
Một thị trường được coi là hiệu quả khi nó đáp ứng đầy đủ cả 3 đặc trưng: (1) Hiệu quả về phân bổ nguồn lực (nguồn vốn được đầu tư có hiệu quả và đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế), (2) Hiệu quả về vận hành (chi phí giao dịch cho các trung gian tài chính nhằm vận hành và duy trì hoạt động là tối ưu), (3) Hiệu quả thông tin (giá chứng khoán trên thị trường phản ánh chính xác những thông tin sẵn
có của doanh nghiệp (Fama, 1970))
Như vậy, thông tin là một yếu tố quan trọng cấu thành nên tính hiệu quả của thị trường Thị trường chứng khoán với chức năng là kênh huy động vốn trung và dài hạn của nền kinh tế, để thực hiện tốt chức năng này thì thông tin trên thị trường cần phải được minh bạch, mà trong đó thông tin báo cáo tài chính giữ vai trò chủ đạo Thông tin báo cáo tài chính là loại thông tin bắt buộc, các doanh nghiệp niêm yết đều phải công bố thông tin báo cáo tài chính định kỳ, các bên tham gia thị trường có thể tiếp cận được các vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp trên cơ sở
đó có thể ra được các quyết định một cách chính xác
Khi thị trường đạt được hiệu quả về thông tin thì hiệu quả về nguồn lực và hiệu quả về vận hành mới được thực thi Thông tin báo cáo tài chính được minh bạch giúp các bên tham gia thị trường có thể ra được quyết định chính xác, giảm thiểu các rủi ro đối với nguồn vốn của các nhà đầu tư Từ đó giúp doanh nghiệp có thể tiếp cận được các nguồn lực tài chính khác nhau để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh Rủi ro từ việc ra quyết định sai lệch đối với các thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ khiến các nhà đầu tư hoặc chủ nợ e ngại ra quyết định đầu tư hoăc cho vay vốn Điều này sẽ khiến doanh nghiệp không những khó tiếp cận nguồn vốn mà còn phải huy động vốn với mức chi phí cao hơn để bù đắp cho những rủi ro mà họ phải chịu Như vậy, minh bạch thông tin báo cáo tài chính sẽ