1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận hoàng mai, thành phố hà nội

109 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 231,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài luận văn Đảng ta luôn luôn coi cán bộ, công chức là khâu then chốt trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng, là nguyên nhân thành, bại của cách mạng.Qua các kỳ Đại hội

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, ngoài sựhướng dẫn, giúp đỡ của TS Nguyễn Hoàng Hiển, luận văn này là sản phẩmcủa quá trình tìm tòi, nghiên cứu và trình bày của tác giả về đề tài luận văn.Mọi số liệu, quan điểm, quan niệm, kết luận của các tài liệu và các nhà nghiêncứu khác được trích dẫn theo đúng quy định Vì vậy, tác giả luận văn xin camđoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Phạm Ngọc Hƣng

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Lãnh đạo Học viện Hành chínhQuốc gia; Tập thể cán bộ, giảng viên Khoa Sau đại học cùng Thầy, Cô trongHọc viện Hành chính Quốc gia đã giúp đỡ, giảng dạy, truyền thụ kiến thứcchính sách công cho em

Em xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Hoàng Hiển đã dành thời gian,tâm huyết, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình thực hiệnluận văn này

Xin gửi lời cảm ơn đến Quận ủy, Uỷ Ban nhân dân quận Hoàng Mai,

Uỷ Ban nhân dân các phường trên địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố HàNội đã cung cấp những số liệu cần thiết và giúp đỡ em trong quá trình tìmhiểu nghiên cứu tại địa bàn

Xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ, động viên của gia đình, người thân,bạn bè và đồng nghiệp trong quá trình tôi thực hiện công trình khoa học này./

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Phạm Ngọc Hƣng

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC 8

1.1 Một số khái niệm cơ bản 8

1.1.1 Các khái niệm về chính sách 8

1.1.2 Khái niệm chính sách đào tạo,bồi dưỡng công chức 11

1.1.3 Khái niệm thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức 17

1.2 Vai trò của chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức 17

1.3 Tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức 20

1.3.1 Ý nghĩa của thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức 20

1.3.2 Các bước thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức 21

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức 25

1.3.4 Yêu cầu và hình thức tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức 27

1.3.5 Phương pháp tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức 30 Tiểu kết Chương 1 31

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC PHƯỜNG QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội 32

2.2 Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội 36

2.2.1 Chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Việt Nam hiện nay 36

2.2.2 Thực trạng về tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai 42 2.2.3 Đánh giá chung về thực hiện chính sách đào tạo,bồi dưỡng công

Trang 4

chức các phường quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội 65

Tiểu kết chương 2 70 Chương 3 MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC PHƯỜNG QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 71 3.1 Mục tiêu chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức trong giai đoạn

2016 - 2025 71

3.1.1 Mục tiêu chung 71 3.1.2 Các mục tiêu cụ thể 71

3.2 Phương hướng của quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội giai đoạn từ nay đến năm 2020 73 3.3 Giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai 73

3.3.1 Nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền về chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

7 3 3.3.2 Nâng cao năng lực đội ngũ công chức trong triển khai các bước thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai thành phố Hà

Nội

7 4 3.3.3 Nâng cao hiệu quả trong thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội

7 8 3.3.4 Bổ sung và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức các phường quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội

8 0 3.3.5 Hiẹ

8 1 3.3.6 Đổi mới trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội 82

Tiểu kết chương 3 86

Trang 5

KẾT LUẬN 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC 93

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

- Bảng 2.1: Chi tiết kết quả đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên giai đoạn 2014

- 2016 quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội 93

- Bảng 2.2: Kết quả đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường thuộc quận

- Bảng 2.6: Trình độ chuyên môn của Công chức các phường ở quận Hoàng

Mai, giai đoạn 2014 – 2016 95

- Bảng 2.7: Chuyên ngành được đào tạo của Công chức các phường ở quận

Hoàng Mai 96

- Bảng 2.8: Trình độ lý luận chính trị và quản lý nhà nước của đội ngũ công

chức các phường thuộc quận Hoàng Mai 97

- Bảng 2.9: Trình độ tin học và ngoại ngữ của đội ngũ công chức các phường

thuộc quận Hoàng Mai 97

- Bảng 2.10: Ý kiến đánh giá của công chức các phường về công tác đào tạo,

bồi dưỡng công chức cấp phường thuộc quận Hoàng Mai 98

- Bảng 2.11: Kết quả kiểm tra, giám sát đội ngũ CC cấp phường ở quận

Hoàng Mai, giai đoạn 2014 – 2016 98

- Phiếu khảo sát về công tác đào tạo, bồi dưỡng và kỹ năng thực hiện nhiệm

vụ của công chức các phường quận Hoàng Mai 99

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Đảng ta luôn luôn coi cán bộ, công chức là khâu then chốt trong toàn

bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng, là nguyên nhân thành, bại của cách mạng.Qua các kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng luôn nhấn mạnh và tiếptục khẳng định: Đổi mới cán bộ, công chức và công tác cán bộ, công chức đểđảm bảo sự nghiệp đổi mới và kế tục sự nghiệp lâu dài của Đảng là mộtnhiệm vụ quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, toàn cầu hóa diễn ra

là một xu thế khách quan, Việt Nam đã chính thức Hội nhập kinh tế quốc tế,

là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới, trong điều kiệntiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, kinh tế tri thức không còn làmột khái niệm trong lý luận mà đã trở thành hiện thực thì vấn đề đào tạo, bồidưỡng nâng cao kiến thức, góp phần nâng cao năng lực công tác cho đội ngũcán bộ, công chức, viên chức, người lao động càng trở nên quan trọng hơnbao giờ hết

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng công tác đào tạo, bồidưỡng nâng cao trình độ, kiến thức mọi mặt của đội ngũ công chức cấpphường, xã Bởi xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, là nơithực hiện trực tiếp và cụ thể các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước Việc quan tâm xây dựng đội ngũ công chức ở xã, phường, thịtrấn có đủ năng lực, trình độ, chuyên môn nghiệp vụ là nhiệm vụ thườngxuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trước mắt cũng như lâu dài trong sựnghiệp cách mạng của Đảng

Thực hiện các văn bản Nghị quyết, Luật và kế hoạch của nhà nước,chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp phường, xã đã có những bướcchuyển biến tích cực Tuy nhiên trong thời gian qua, chính sách đào tạo, bồidưỡng công chức cấp phường, xã vẫn chưa thể đáp ứng kịp thời yêu cầu đổimới nền hành chính Công chức cấp phường, xã vẫn chưa được quan tâm

Trang 9

đúng mức trong công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng Trong khi hoạt độngthực thi công vụ của công chức cấp phường, xã có ý nghĩa quyết định trong sựthành bại của việc đưa chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước vàođời sống Do đó, hơn bao giờ hết, công chức cấp phường, xã cần được đápứng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng toàn diện để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ đặt

ra trong thời kỳ mới

Hoàng Mai là quận đang trên đà phát triển, có tốc độ đô thị hóa nhanh vàxây dựng cơ sở hạ tầng mạnh của thủ đô Trong những năm gần đây, nhữngbước chuyển mình mạnh mẽ trên cả 6 nội dung của cải cách hành chính củaquận Hoàng Mai có tác động tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hộicủa địa phương Trong công tác ĐT, BD đội ngũ công chức đã có sự chuyểnbiến tích cực, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH Tuy nhiên, chính sách ĐT, BDcông chức của quận Hoàng Mai vẫn còn nhiều vấn đề đáng quan tâm giảiquyết như: năng lực thực thi và công tác tổ chức thực hiện chính sách ĐT, BDvẫn còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra

Trên cơ sở đó tôi đã đi sâu vào tìm hiểu chính sách đào tạo, bồi dưỡngcông chức các phường quận Hoàng Mai và nhận thấy còn nhiều hạn chế cầnđược khắc phục Với mong muốn làm rõ hơn về vấn đề này, tôi đã lựa chọn

đề tài: “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu của mình.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

- Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một vấn đề lớn mà

được Đảng và Nhà nước rất quan tâm Nhiều nhà khoa học và hoạt động thựctiễn cũng đã có nhiều nghiên cứu về chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ,công chức được một số bài viết, công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ khácnhau Nhìn chung các bài viết, công trình đó được nghiên cứu thực hiện côngphu, có sức thuyết phục, đã đưa ra được một số vấn đề lý luận và thực tiễncũng như đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách đào tạo,bồi dưỡng cán bộ công chức Khuôn khổ của luận văn không thể phân tích

Trang 10

toàn bộ hệ thống các nghiên cứu liên quan đến đề tài Do vậy, tác giả xin nêu

ra một vài công trình nghiên cứu nổi bật về lĩnh vực này như sau:

Các công trình nghiên cứu, bài viết, tài liệu liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức:

- “Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác huấn luyện, đào tạocán bộ, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiện nay”, NguyễnVăn Chỉnh (chủ biên), Nxb Đà Nẵng, 2000;

- “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chứcđáp ứng yêu cầu cải cách hành chính”, Đỗ Quang Trung, Tạp chí Quản lý nhànước, Số 97 (2004);

- “Triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng thực hiện luật cán bộ, côngchức”, TS Ngô Thành Can, Tạp chí Tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ, Số

4/2009;

- “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và việc vậndụng của Đảng ta trong thời kỳ mới”, Nguyễn Quốc Sửu, Tạp chí nghiên cứulập pháp, Văn phòng Quốc hội, Số 14/2010;

- “Đổi mới, nâng cao hiệu quả đào tạo cán bộ, công chức”, TS NgôThành Can, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 175 (8/2010);

- “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức từ khái niệm đến nhận thức vàhành động”, TS Huỳnh Văn Thới, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 188

- “Chú trọng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo trong nền

Trang 11

kinh tế thị trường”, TS Phạm Đức Chính, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 202 (11/2012).

Các công trình nghiên cứu, bài viết, tài liệu liên quan đến đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức:

- “Áp dụng phương pháp giảng dạy theo tình huống trong đào tạo, bồidưỡng đội ngũ công chức hành chính Việt Nam”, TS Đào Ái Thi (chủnhiệm), đề tài khoa học cấp Bộ, Học viện Hành chính quốc gia năm 2000;

- Đề tài “Hoàn thiện phương pháp sư phạm hành chính trong đào tạo bồi dưỡng công chức” do PGS.TS Đinh Văn Tiến làm chủ nhiệm, 1999;

Đề tài “Đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũcán bộ, công chức nhà nước đáp ứng yêu cầu hội nhập” do PGS.TS Bùi ĐứcKháng làm chủ nhiệm năm 2007

Các công trình nghiên cứu, bài viết, tài liệu liên quan đến đổi mới phương pháp đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức:

- “Về tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo cán bộ, công chức”,

PGS.TS Nguyễn Hữu Hải, Tạp chí Tổ chức nhà nước số tháng 9/2008;

- “Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong đàotạo bồi dưỡng cán bộ, công chức”, TS Nguyễn Thị Thu Vân, Tạp chí Quản lýnhà nước, số 166 (11/2009);

- “Đánh giá các khoá đào tạo, bồi dưỡng trách nhiệm của các cơ quan

sử dụng lao động”, PGS.TS Lê Thị Vân Hạnh, Tạp chí Quản lý nhà nước, số

166 (11/2009)

Các nghiên cứu này đã góp phần làm rõ nhiều vấn đề về chính sách đàotạo bồi dưỡng công chức và là cơ sở quan trọng để tác giả tiếp tục nghiên cứu

đề tài đã lựa chọn Tuy nhiên cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu

về thực hiện chính đào tạo, bồi dưỡng công chức dưới góc độ của khoa họcchính sách công, cũng chưa có nghiên cứu nào đánh giá tổng thể về nội dungchính sách và việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức để đưa

Trang 12

ra các giải pháp, kiến nghị hoàn hiện một cách hệ thống Do vậy đề tài:

“Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội” là vấn đề cần thiết được nghiên cứu.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng thực hiện chínhsách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường trên địa bàn quận Hoàng Mai,thành phố Hà Nội, luận văn sẽ đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổchức thực hiện chính sách này tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tronggiai đoạn tới

- ận về tổ chức thực hiện chính sách xây dựngĐào tạo, bồi dưỡng công chức;

- Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡngtrên địa bàn quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội, chỉ ra những ưu điể

hạn chế ải giải quyết trong thực hiện chính sách ;

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả việc thực hiệnchính sách về đào tạo, bồi dưỡng trên địa bàn quận HoàngMai thành phố Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu việc tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Nghiên cứu nội dung, hình thức, phương pháp tổ chứcthực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức trên địa bàn quận HoàngMai

+ Về thời gian: từ năm 2014 đến năm 2016

Trang 13

+ Về không gian: tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chínhsách đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức

Mác-5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo cứu tài liệu: Nghiên cứu các văn kiện của Đảng,văn bản pháp luật, tài liệu, giáo trình và các công trình, bài viết có liên quannhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài Đề tài cũng kế thừa các kết quảnghiên cứu đã có, bổ sung và phát triển các luận cứ khoa học và thực tiễn mớiphù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp thống kê mô tả: Dựa trên các thông tin số liệu mới nhất

mà tác giả có thể thu thập được từ các nguồn thông tin đáng tin cậy, từ đóphân tích và rút ra những kết quả đánh giá khách quan

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp,khảo sát

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần bổ sung, hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm một sốvấn đề lý luận, tạo cơ sở khoa học cho vấn đề nghiên cứu thực hiện chính sáchđào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai, thành phố HàNội

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn là cơ sở để các nhà lãnh đạo và cơ quan quản lý có thẩmquyền tham khảo xây dựng chính sách và kế hoạch thực hiện nhằm nâng caochất lượng đào tạo bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai, thànhphố Hà Nội những năm tới Đồng thời luận văn là tài liệu tham khảo cho

Trang 14

những cán bộ cho cán bộ và học viên quan tâm đến việc triển khai chính sách đào tạo bồi dưỡng công chức tại địa phương.

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện

các phường quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội

Chương 3: Mục tiêu, phương hướng và gi

Mai, thành phố Hà Nội

hoàn thiện tổ chức các phường quận Hoàng

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Các khái niệm về chính sách

- Khái niệm chính sách:

“Chính sách” là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu,trên các phương tiện thông tin, truyền thông và trong đời sống xã hội Theo từđiển tiếng Anh (Oxford English Dictionary) “chính sách” là “một đường lốihành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị,chính khách ” Hugh Heclo (năm 1972) định nghĩa chính sách có thể đượcxem như là một đường lối hành động hoặc không hành động thay vì nhữngquyết định hoặc các hành động cụ thể David Easton (năm 1953) cho rằng

“chính sách bao gồm một chuỗi các quyết định và các hành động mà trong đóphân phối thực hiện các giá trị” Smith (năm 1976) cho rằng “khái niệm chínhsách bao hàm sự lựa chọn có chủ định hành động hoặc không hành động, thay

vì những tác động của các lực lượng có quan hệ với nhau” Smith nhấn mạnh

“không hành động” cũng như “hành động” và nhắc nhở chúng ta rằng “sựquan tâm sẽ không chỉ tập trung vào các quyết định tạo ra sự thay đổi, mà cònphải thận trọng với những quyết định chống lại sự thay đổi và khó quan sát vìchúng không được tuyên bố trong quá trình hoạch định chính sách” [15, tr45].Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụthể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung vàtình hình thực tế mà đề ra chính sách.” [23]

- Khái niệm chính sách công:

Chính sách công được tiếp cận nghiên cứu từ những góc độ khoa họckhác nhau, theo đó có những cách hiểu, xác định không hoàn toàn giống nhau

về khái niệm:

Trang 16

Thomas Dye (năm 1972) đưa ra một định nghĩa khá súc tích về chínhsách công: “Chính sách công là bất kỳ những gì mà nhà nước lựa chọn làmhoặc không làm”[15, tr47].

William Jenkins (năm 1978) đưa ra định nghĩa: Chính sách công “làmột tập hợp các quyết định liên quan với nhau, được ban hành bởi một hoặcmột nhóm các nhà hoạt động chính trị cùng hướng đến lựa chọn mục tiêu vàcác phương thức để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vithẩm quyền”[15, tr48]

James Anderson (năm 1984) đưa ra định nghĩa khái quát hơn về chínhsách công: “Chính sách công là đường lối hành động có mục đích được banhành bởi một hoặc một tập hợp các nhà hoạt động chính trị để giải quyết mộtvấn đề phát sinh hoặc vấn đề cần quan tâm” [15, tr49]

Có thể khẳng định, chính sách công là định hướng hành động do nhànước lựa chọn để giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồngphù hợp với thái độ chính trị trong mỗi thời kỳ nhằm giữ cho xã hội phát triểntheo định hướng

Như vậy, “chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước đượcthể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàmtrong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề côngtrong xã hội” [15, tr51 ] Đặc trưng của chính sách công là do nhà nước chủđộng xây dựng để tác động lên các đối tượng quản lý một cách tương đối ổnđịnh, cho thấy bản chất của chính sách công là công cụ định hướng cho hành

vi của các cá nhân, tổ chức phù hợp với thái độ chính trị của nhà nước trongviệc giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội Để đạt đượcmục tiêu đề ra, trước hết chính sách công phải tồn tại trong thực tế, phải thểhiện được vai trò định hướng hành động theo những mục tiêu nhất định Điềukiện tồn tại của một chính sách công là tổng hòa những tác động tích cực của

hệ thống thể chế do nhà nước thiết lập và tinh thần nghiêm túc thực hiện, tự

Trang 17

chủ, sáng tạo của các chủ thể tham gia giải quyết vấn đề chính sách trong mộtphạm vi không gian và thời gian nhất định Điều kiện bảo đảm cho sự tồn tạiđược thể hiện bằng các nguồn lực con người, nguồn lực tài chính, môi trườngchính trị, pháp lý, văn hóa xã hội và cả bảo đảm bằng nhà nước.

- Khái niệm thực thi chính sách

Thực thi đơn giản có nghĩa là thực hiện hoặc tiến hành Thực thi có thểđược định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, theo Mazmanian và Sabatier:

“Thực thi là thực hiện một quyết định chính sách cơ sở, thường được thể hiệntrong một đạo luật, nhưng cũng có thể được thể hiện dưới hình thức các quyếtđịnh quan trọng của cơ quan hành pháp hoặc các quyết định của tòa án Theo

lý tưởng, quyết định đó xác định vấn đề cần được giải quyết, quy định cácmục tiêu cần theo đuổi và rất nhiều cách thức, định hình quá trình thực thi.Thông thường, quá trình này trải quan nhiều giai đoạn, bắt đầu với việc thôngqua đạo luật cơ bản, tiếp theo là các quyết định của các cơ quan thực thi chínhsách, sự tuân thủ của các nhóm lợi ích với các quyết định đó, các tác độngthực tế - cả chủ định và không chủ định - của các đầu ra đó, những tác độngnhận thức được của các quyết định, và cuối cùng là những sửa đổi quan trọngtrong đạo luật cơ bản” [18]

Theo Amy DeGroff, Margaret Cargo, “thực thi chính sách công phảnánh một quá trình thay đổi phức tạp mà các quyết định của Nhà nước đượcchuyển thành các chương trình, thủ tục, các quy định, hoặc các hoạt độngnhằm đạt được những cải thiện xã hội” [18]

Theo Thomas Dye, “thực thi bao gồm tất cả các hoạt động được thiết kế

để thực hiện các chính sách công đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp Vìcác chính sách công có những tác động mong muốn hoặc có chủ định, nênchúng phải được chuyển thành các chương trình và các dự án mà sau đó đượcthực hiện để đạt được một tập hợp các mục tiêu hoặc mục đích” [18]

Theo các định nghĩa trên, thực thi chính sách công không đơn giản chỉ

Trang 18

là sự tổ chức thực hiện các giải pháp chính sách cụ thể mà bao gồm: ban hànhcác văn bản chi tiết, quy định các biện pháp, các thủ tục thực thi chính sáchcông; thiết lập các chương trình, dự án để thực thi chính sách công và tổ chứcthực hiện các chương trình, dự án đó Có thể hiểu: thực thi chính sách công làquá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việcban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách công và tổ chứcthực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công.

Như vậy, “Tổ chức thực thi chính sách đưa ra là toàn bộ quá trình hoạtđộng của các chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa nộidung chính sách công một cách hiệu quả” [15, tr 127]

1.1.2 Khái niệm chính sách đào tạo,bồi dưỡng công chức

* Khái niệm công chức

Công chức là một bộ phận quan trọng của nền hành chính nhà nước, đảmbảo cho nền hành chính hoạt động thông suốt, thống nhất và có hiệu quả Kháiniệm công chức được sử dụng từ khá sớm và cũng phổ biến ở nhiều quốc giatrên thế giới, tuy nhiên nội dung của khái niệm này không phải ở đâu và bất

cứ lúc nào cũng được đồng nhất với nhau [14]

Đối với các nước ASEAN như Singapo, Malaixia có chung quan niệm:công chức là người nhân danh quyền lực nhà nước, giải quyết công việc công,

là mắt xích của bộ máy nhà nước được gắn với dân, là người thực thi và đưaluật pháp, chính sách, chương trình, kế hoạch, dự án quốc gia vào cuộc sống.Đối với các nước như Anh và Hoa Kỳ, khái niệm công chức có phạm vihẹp hơn, họ là những người làm việc trong ngành hành pháp, không có trongngành lập pháp và tư pháp; ngoài ra, chỉ có những người làm việc cho các cơquan Trung ương mới được gọi là công chức, còn những người làm việc cho

cơ quan Nhà nước địa phương đều không được coi là công chức Cụ thể, Quychế công chức Anh (tháng 6 năm 2006) và Luật về cải cách công chức Hoa

Kỳ (1978) quy định: công chức là những người làm việc trong bộ máy của

Trang 19

chính phủ Trung ương, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào vị trí công tác trên cơ

Theo quy định này, khái niệm công chức rất hẹp, chỉ là những người đượctuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ Sau

đó một thời gian dài ở nước ta gần như không sử dụng khái niệm công chức

mà thay vào đó là khái niệm “Cán bộ, công nhân viên chức nhà nước” chung

chung, không phân biệt công chức và viên chức

Đến năm 1990, do yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước, khái niệmnày được quy định lại như sau: Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổnhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ởtrung ương hay địa phương, ở trong hay ngoài nước đã được xếp vào mộtngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước gọi là công chức Tuy nhiên, vớiquy định như trên có một số đối tượng chưa được xếp loại nào như công an,giáo viên, nhà báo…

Năm 1998, Pháp lệnh cán bộ, công chức được ban hành, cùng lúc đó là

Nghị định số 95/CP của Chính phủ về “Tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức” cũng được ban hành; tiếp theo là việc sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh cán

bộ, công chức Một số nghị định, thông tư mới được ban hành cũng đã xácđịnh công chức gồm: Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữmột công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngànhchuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính sự nghiệp, trong biên chế

và hưởng lương từ ngân sách nhà nước…Những người được tuyển dụng, bổ

Trang 20

nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan,đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyênnghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công

an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp Những quyđịnh trên khẳng định quan điểm và nhận thức mới về đội ngũ cán bộ, côngchức xong vẫn chưa có sự rõ ràng giữa cán bộ với công chức

Năm 2008, Luật Cán bộ, công chức được ban hành đã xác định rõ những

ai là công chức Theo Điều 4, Luật Cán bộ, công chức quy định: Công chức làcông dân Việt Nam, được tuyển dụng bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chứcdanh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chínhtrị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộcquân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan quân nhân chuyên nghiệp, côngnhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà khôngphải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lýcủa đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổchức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trongbiên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộmáy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo

từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [6].Năm 2010, căn cứ vào Nghị định số 06/2010/NĐ-CP, ngày 25/01/2010

của Chính phủ có thể xác định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [7]

* Khái niệm công chức xã, phường, thị trấn (gọi chung là công chức cấp xã)

Quan niệm công chức xã được quy định tại Điều 4, Luật Cán bộ, công

chức năm 2008: “Công chức xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ

Trang 21

một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.

Để phân biệt rõ các chức danh công chức xã, tại Điều 3, Nghị định số92/2009/NĐ-CP, ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng,một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn vànhững người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, quy định công chức cấp

xã bao gồm các chức danh sau:

- Trưởng Công an xã (nơi chưa bố trí Công an chính quy);

- Chỉ huy trưởng Quân sự;

- Văn hoá - Xã hội

Về lý luận, theo tác giả: “Công chức xã là những chức danh chuyên môn, làm việc trong UBND xã, nhân danh nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để thực hiện việc quản lý nhà nước và thực thi công vụ ở xã”.

* Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng công chức

Đào tạo, bồi dưỡng là một trong những hoạt động quan trọng của pháttriển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực hành chính nhànước nói riêng

- Đào tạo: là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho người đó

lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,… một cách hệ thống, chuẩn bịcho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng khi nhận một sự phâncông lao động nhất định, góp phần vào sự phát triển xã hội, duy trì và pháttriển nền văn minh nhân loại [17]

Theo Khoản 1, Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban

Trang 22

hành ngày 05/3/2010 về ĐT, BD công chức đã định nghĩa: “Đào tạo là quátrình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy địnhcủa từng cấp học, bậc học” [8].

Như vậy, có thể hiểu đào tạo là việc trang bị các kiến thức, kinh nghiệm,

kỹ năng nhằm phát triển các cá nhân để đóng góp cho sự phát triển xã hội.Thông thường, hoạt động đào tạo được tổ chức trong những cơ sở giáo dụcđào tạo như: trường học, học viện, trung tâm dạy nghề hoặc tại cơ sở sản xuấtvới nội dung chương trình và thời gian khác nhau cho các cấp bậc đào tạokhác nhau Cuối mỗi khoá đào tạo, học viên sẽ được cấp bằng tốt nghiệp.Đào tạo công chức là một hoạt động có mục đích, có tổ chức được thựchiện theo những quy trình nhất định nhằm truyền đạt cho công chức hệ thốngkiến thức, kĩ năng, thái độ đạo đức phù hợp để thực thi công vụ Đây là mộthoạt động mang tính đặc thù bởi đối tượng của hoạt động đào tạo là nhữngcon người hoạt động trong bộ máy nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nướcthực hiện nhiệm vụ QLNN, quản lý xã hội và phục vụ nhân dân [12]

- Bồi dưỡng: là nuôi dưỡng thêm, là những khoá học ngắn hạn nhằm cập

nhật, bổ sung kiến thức còn thiếu hoặc lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạothêm hoặc củng cố các kĩ năng nghề nghiệp theo các chuyên đề

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP củaChính phủ ban hành ngày 05/3/2010 về ĐT, BD công chức đã định nghĩa: “Bồidưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”.Bồi dưỡng giúp cho người học gia tăng thêm những kiến thức mới, cầnthiết cho nghề nghiệp và rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quảhơn Học viên tham gia các khoá bồi dưỡng thường được xác nhận bằngchứng chỉ

Cần có sự phân biệt giữa hai khái niệm đào tạo và bồi dưỡng: Đào tạo dùng để chỉ một quá trình lâu dài trong một khoảng thời gian nhằm trang bị cho người học một hệ thống kiến thức, kĩ năng về một lĩnh vực nhất định; Bồi

Trang 23

dưỡng thường để chỉ các khoá học ngắn hạn nhằm bổ sung và cập nhật cho người học một mảng kiến thức hoặc một hay nhiều kĩ năng của một lĩnh vực nhất định.

[19]

ĐT, BD

Như vậy, đến nay cả về mặt khoa học và pháp lý, đã có sự thống nhất

cơ bản về các khái niệm “đào tạo” và “bồi dưỡng” và tồn tại với 2 khái niệmđộc lập Tuy nhiên, bên cạnh 2 khái niệm đào tạo và bồi dưỡng là những kháiniệm độc lập, trong thực tiễn vẫn còn một số quan niệm là đào tạo, bồi dưỡng

là một thuật ngữ chung không tách rời

Có thể nói, đào tạo và bồi dưỡng tuy là hai khái niệm khác nhau, nhưnglại có cùng một mục đích chung là làm cho người lao động có trình độ chuyênmôn, khả năng xử lý công việc và năng lực công tác được tốt hơn Trên thực

tế, có một số hoạt động đào tạo, bồi dưỡng rất khó phân chia thành đào tạohoặc bồi dưỡng, bởi giữa chúng có sự đan xen và kế thừa lẫn nhau

Như vậy, với các cách hiểu về chính sách công, về cán bộ, công chức

và đào tạo, bồi dưỡng ở trên, có thể quan niệm: Chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức là hành động ứng xử của Nhà nước, với các giải pháp, công

Trang 24

cụ cụ thể về đào tạo, bồi dưỡng công chức nhằm mục tiêu xây dựng đội ngũ công chức có đủ trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao, được đảm bảo thực hiện bởi hệ thống các văn bản pháp luật.

1.1.3 Khái niệm thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức là quá trình đưachính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức vào thực tiễn thông qua việc banhành các văn bản, kế hoạch, chương trình thực hiện chính sách đào tạo, bồidưỡng ; là hoạt động có tổ chức nhằm huy động mọi nguồn lực (con người, tàichính, cơ sở vật chất) và tổ chức thực hiện chúng để hiện thực hóa mục tiêuchính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức theo nguyên tắc tối ưu cả về conngười, vốn và kết quả

Nói một cách khác, thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

là toàn bộ quá trình huy động, bố trí sắp xếp các nguồn lực để đưa chính sáchđào tạo, bồi dưỡng công chức theo một trình tự thủ tục chặt chẽ và thống nhấtnhằm đạt được mục tiêu của chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

1.2 Vai trò của chính sách đào tạo, bồi dƣỡng công chức

Đội ngũ công chức có vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định, triểnkhai và tổ chức thực hiện chính sách của Nhà nước; quyết định sự thành cônghay thất bại của chính sách do cơ quan, tổ chức đề ra Đội ngũ CCVC trựctiếp thực thi các chính sách, kế hoạch của cơ quan, tổ chức; các mục tiêu quốcgia; thực hiện các giao tiếp (trao đổi, tiếp nhận thông tin, ) giữa các cơ quannhà nước với nhau, với doanh nghiệp và người dân Để xây dựng được độingũ CBCC có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, cótính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân, bên cạnh các khía cạnhkhác nhau của công tác tổ chức cán bộ còn cần phải có các hình thức bồidưỡng phù hợp và hiệu quả

Tổ chức bồi dưỡng công chức là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa

Trang 25

quan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, nănglực công tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của CBCC; hướng tới mục tiêu

là tạo được sự thay đổi về chất trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn Đào tạo,bồi dưỡng tập trung trang bị những kiến thức, kỹ năng, thái độ thực hiện côngviệc cho CBCC; trong đó, cung cấp những kiến thức, lý luận cơ bản, trang bị

kỹ năng, cách thức hoạt động thực thi công việc, giáo dục thái độ thực hiệncông việc thể hiện sự nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm của công chức

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức coi trọng công tác đào tạorèn luyện cán bộ Người cho rằng “Cán bộ là gốc của mọi công việc Côngviệc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém Vì vậy, huấn luyệncán bộ là công việc gốc của Đảng, Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làmvườn vun trồng những cây cối quý báu” [20, tr269] - Đảng phải chăm lo việcnuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu, phảitrọng nhân tài, trọng cán bộ Không phải tự nhiên mà có được đội ngũ CBCCtài giỏi mà đó là sản phẩm của một quá trình lựa chọn đào tạo, bồi dưỡng,

“huấn luyện” lâu dài, bền bỉ và công phu Trong quá trình đó đào tạo, bồidưỡng là khâu có ý nghĩa quyết định đến trình độ, chất lượng của công chức

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất quan tâm đếnvấn đề cán bộ, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu Trong công cuộc đổi mới hiệnnay, nhất là khi cả nước tiến hành đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, Đảng ta càng đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ công chức cả về sốlượng và chất lượng để đáp ứng những yêu cầu nhiệm vụ mới của đất nước.Văn kiện Đại hội VI của Đảng chỉ rõ: đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắtxích quan trọng nhất Đến Đại hội VII, Đảng ta tiếp tục chủ trương đổi mớicán bộ và công tác cán bộ, xác định: xây dựng cho được một đội ngũ cán bộvững mạnh và đồng bộ, bao gồm cán bộ lãnh đạo chính trị, cán bộ quản lý,cán bộ kinh doanh, chuyên gia trên các lĩnh vực Quán triệt tư tưởng của Chủtịch Hồ Chí Minh, một trong những chủ trương, giải pháp đổi mới và chỉnh

Trang 26

đốn Đảng được Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóaVII nêu ra là: tạo chuyển biến hết sức quan trọng về công tác cán bộ Đảng taxác định: đây là khâu then chốt, có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ sự nghiệpcách mạng Phải xây dựng đội ngũ ngang tầm nhiệm vụ Sắp xếp, điều chỉnh,đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hiện có và chuẩn bị đội ngũ kế cận Hộinghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương

Đảng khóa X thông qua đề án: “Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổchức cơ sở Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”; hội nghị nhấnmạnh: “Phấn đấu để tạo bằng được bước chuyển có tính đột phá về công táccán bộ trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện chiến lược cán bộ thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đổi mới công tác đánh giá cán bộ, đổi mớimạnh mẽ và thực hiện với kết quả tốt hơn công tác quy hoạch, luân chuyểncán bộ, ĐTBD cán bộ, tạo động lực mới cho đội ngũ CBCC làm việc trong cơquan của hệ thống chính trị ”

Đến Đại hội XI, Đảng nhấn mạnh: “Đổi mới chính sách và cơ chế vềcán bộ, quản lý, sử dụng, ĐTBD và phát triển năng lực cán bộ từ giáo dục vàđào tạo chuyên môn, nghiệp vụ để bảo đảm tiêu chuẩn hóa cán bộ, chính sách

sử dụng cán bộ, bố trí, bổ nhiệm, đề bạt, đãi ngộ, tạo động lực khuyến khíchtài năng, thu hút nhân tài, nhất là các chuyên gia giỏi, các tài năng trẻ, kể cảthu hút tài năng trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài Xây dựng cơ cấuđội ngũ cán bộ hợp lý, các loại hình cán bộ, từ cán bộ lãnh đạo quản lý cấpchiến lược, cán bộ làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ, cán bộ khoa học, kỹthuật, trí thức lao động sáng tạo, cơ cấu giới và lứa tuổi, cơ cấu dân tộc, bảođảm có đội ngũ cán bộ cho yêu cầu phát triển vùng, miền, địa phương, cơ sởtrong toàn quốc Cơ cấu đội ngũ cán bộ phù hợp với cơ cấu xã hội ngày càng

đa dạng với các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội - nghề nghiệp và các thế hệ:công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, thanh niên, phụ nữ,dân tộc thiểu số, bảo đảm tính kế thừa và phát triển giữa các thế hệ cán bộ

Trang 27

Trong vấn đề cán bộ, phải bảo đảm đánh giá đúng để bố trí đúng theo yêu cầucông việc và tiêu chuẩn đáp ứng, cả đạo đức, tài năng, phẩm chất chính trị.Phát hiện kịp thời các nhân tố mới, có triển vọng, bồi dưỡng và đào tạo hợp

lý, không để lãng phí cán bộ, không để chảy máu chất xám, sao cho có ngàycàng nhiều cán bộ tốt, cán bộ giỏi, trung thực, dám nghĩ, dám làm, dám chịutrách nhiệm, có bản lĩnh sáng tạo, đổi mới, bứt phá để phát triển [3]

Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Đổi mới công tác tư tưởng, lýluận” Phải đổi mới công tác này do yêu cầu từ tình hình thực tiễn là chấtlượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận còn chưa cao, còn thiếu sắc bén

và chưa thuyết phục Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Đại hội XII đề ra một sốgiải pháp mới để thực hiện, trong đó nhấn mạnh: “Thực hiện nền nếp việc bồidưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộlãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương”

Chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức ra đời nhằm tạo cơ sở choquá trình bổ sung, cập nhật, nâng cao kiến thức và kỹ năng làm việc cho côngchức qua đó xây dựng đội ngũ công chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bảnlĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhândân; xây dựng được đội ngũ công chức thực sự có năng lực, biết giải quyếtcác vấn đề được giao trên nguyên tắc kết quả, hiệu quả và chất lượng

1.3 Tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dƣỡng công chức

1.3.1 Ý nghĩa của thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

Thực thi chính sách nhằm từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách

và mục tiêu chung: Mục tiêu chính sách có liên quan đến nhiều hoạt độngchính trị, kinh tế, xã hội theo những cấp độ khác nhau, nên không thể cùngmột lúc giải quyết tất cả các vấn đề có liên quan và cũng không thể đốt cháygiai đoạn của mỗi quá trình Mục tiêu chính sách chỉ có thể đạt được thôngqua thực thi chính sách, đồng thời giữa các mục tiêu chính sách có quan hệchặt chẽ, ảnh hưởng rất lớn đến nhau và đến mục tiêu chung [15]

Trang 28

Thực thi chính sách nhằm khẳng định tính đúng đắn của chính sách:Việc nhận thấy những mâu thuẫn cần được giải quyết bằng chính sách đã chothấy tính đúng đắn hay không của vấn đề chính sách Vấn đề chính sách đàotạo, bồi dưỡng công chức tự nó đã phản ánh nhu cầu cơ bản của xã hội trongviệc xây dựng đội ngũ công chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chínhtrị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy thực thi công vụ và đápứng yêu cầu nhiệm vụ Nếu nhu cầu đó là chính đáng, bức xúc cần được đápứng để xã hội tồn tại, phát triển thì vấn đề chính sách được coi là đúng đắn vàngược lại Một chính sách sau khi hoạch định được coi là tốt thì giá trị của nócũng chỉ mới dừng lại ở phương diện nguyện vọng, mong muốn Một khichính sách được triển khai thực hiện rộng rãi trong đời sống xã hội, thì tínhđúng đắn của nó được khẳng định ở mức cao hơn, tức là được cả xã hội thừanhận, nhất là các đối tượng thụ hưởng chính sách.

Thực thi chính sách nhằm giúp cho chính sách ngày càng hoàn thiện:Chính sách được hoạch định bởi một tập thể nên không thể tránh khỏi sự ảnhhưởng của ý chí chủ quan Do ảnh hưởng của ý chí chủ quan và sự vận độngphát triển của môi trường nên giữa chính sách công, thực tế xã hội và môi trườngtrong giai đoạn tổ chức thực thi chắc chắn có khoảng cách cần được lấp đầy bằngnhững điều chỉnh về chính sách hay các biện pháp tổ chức thực thi chính sách.Những điều chỉnh bổ sung về mục tiêu hay biện pháp chính sách trong quá trìnhthực thi chính là hoạt động hoàn chỉnh chính sách đang có và góp phần đúc rútkinh nghiệm cho hoạch định các chính sách kỳ sau [15]

1.3.2 Các bước thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

Thực thi chính sách là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn

bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với cácđối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định Tổ chức thực thi chính sách làtrung tâm kết nối các khâu trong chu trình chính sách thành một hệ thống.Hoạch định được chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng

Trang 29

thực hiện đúng chính sách còn quan trọng hơn Có chính sách đúng nếu khôngđược thực hiện sẽ trở thành khẩu hiệu suông, không những không có ý nghĩa, màcòn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách Nếuchính sách không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng và sự phảnứng của nhân dân đối với Nhà nước Chỉ thông qua thực hiện mới biết rõ chínhsách có đúng, phù hợp và đi vào cuộc sống hay không Quá trình thực hiện vớinhững hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chínhsách cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống.Đồng thời, việc phân tích, đánh giá một chính sách chỉ có cơ sở đầy đủ, sứcthuyết phục sau khi được thực hiện Thực tiễn là chân lý, kết quả thực hiện chínhsách là thước đo, là cơ sở đánh giá một cách chính xác, khách quan chất lượng

và hiệu quả của chính sách Việc đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống là mộtquá trình phức tạp đầy biến động, chịu sự tác động của nhiều yếu tố giúp các nhàhoạch định và tổ chức thực hiện chính sách có kinh nghiệm để đề ra được cácgiải pháp hữu hiệu trong thực hiện chính sách [29]

Nội dung thực thi chính sách được thực hiện thông qua 7 bước:

- Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách, đây làbước cần thiết và quan trọng vì tổ chức thực thi chính sách là quá trình phứctạp, lại diễn ra trong thời gian dài do đó phải có kế hoạch Kế hoạch này phảiđược xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống, các cơ quan triển khai

từ Trung ương đến địa phương đều phải lập kế hoạch bao gồm:

+ Kế hoạch về tổ chức, điều hành: hệ thống các cơ quan tham gia, đội ngũ nhân sự, cơ chế thực thi

+ Kế hoạch cung cấp nguồn vật lực: tài chính, trang thiết bị

+ Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện

+ Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách

+ Dự kiến về quy chế, nội dung về tổ chức và điều hành thực thi

chính sách

Trang 30

- Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách.

Sau khi bản kế hoạch triển khai thực hiện được thông qua, các cơ quannhà nước tiến hành triển khai tổ chức thực hiện theo kế hoạch Việc trước tiêncần làm trong quá trình này là tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thựchiện chính sách Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quannhà nước và các đối tượng thực thi chính sách Phổ biến, tuyên truyền chínhsách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thựcthu hiểu rõ về mục đích và yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn củachính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chínhsách để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước Đồng thờicòn giúp cho mỗi công chức viên chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhậnthức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xãhội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiệnmục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thựchiện chính sách được giao

- Bước 3: Phân công phối hợp thực hiện chính sách

Bước tiếp theo sau bước tuyên truyền, phổ biến là phân công, phối hợpcác cơ quan đơn vị tổ chức thực hiện chính sách theo kế hoạch được phêduyệt Chính sách được thực thi trên phạm vi rộng lớn, tối thiểu cũng là mộtđịa phương - vì thế số lượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách

là rất lớn Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng tác động của chính sách,nhân dân thực hiện và bộ máy tổ chức thực thi của Nhà nước Không chỉ cóvậy, các hoạt động thực hiện mục tiêu chính sách diễn ra cũng hết sức phongphú, phức tạp theo không gian và thời gian, chúng đan xen nhau, thúc đẩy haykìm hãm nhau theo quy luật Bởi vậy muốn tổ chức thực thi chính sách cóhiệu quả cần tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành,các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực thi chính sách vàcác quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách

Trang 31

- Bước 4: Duy trình chính sách, đây là bước làm cho chính sách tồn tạiđược và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế Để duy trì được chínhsách đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hiệp lực của nhiều yếu tố như Nhà nước vàngười tổ chức thực thi chính sách phải tạo điều kiện và môi trường để chínhsách được thực thi tốt Đối với người chấp hành chính sách phải có tráchnhiệm tham gia tích cực vào thực thi chính sách Nếu các hoạt động này đượctiến hành đồng bộ thì việc duy trì chính sách là việc làm không khó.

- Bước 5: Điều chỉnh chính sách, việc làm này là cần thiết, diễn rathường xuyên trong quá trình tổ chức thực thi chính sách Nó được thực hiệnbởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thông thường cơ quan nào lập chínhsách thì có quyền điều chỉnh) Việc điều chỉnh này phải đáp ứng được việcgiữ vững mục tiêu ban đầu của chính sách, chỉ điều chỉnh các biện pháp, cơchế thực hiện mục tiêu Hoạt động này phải hết sức cẩn thận và chính xác,không làm biến dạng chính sách ban đầu

- Bước 6: Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách Bất cứtriển khai nào thì cũng phải kiểm tra, đôn đốc để đảm bảo các chính sáchđược thực hiện đúng và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực Các cơ quan nhànước thực hiện việc kiểm tra này và nếu tiến hành thường xuyên thì giúp nhàquản lý nắm vững được tình hình thực thi chính sách từ đó có những kết luậnchính xác về chính sách Công tác kiểm tra này cũng giúp cho các đối tượngthực thi nhận ra những hạn chế của mình để điều chỉnh bổ sung, hoàn thiệnnhằm nâng cao hiệu quả của chính sách

- Bước 7: Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm, khâu này được tiến hànhliên tục trong thời gian duy trì chính sách Trong quá trình này ta có thể đánhgiá từng phần hay toàn bộ kết quả thực thi chính sách, trong đó đánh giá toàn

bộ được thực hiện sau khi kết thúc chính sách Đánh giá tổng kết trong bướcthực thi chính sách được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo - điềuhành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách Đối

Trang 32

tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi chínhsách là các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở Cơ sở để đánh giá,tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách trong các cơ quan nhànước là kế hoạch được giao và những nội quy, quy chế được xây dựng ở bước

1 Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơquan nhà nước, còn xem xét, đánh giá việc thực thi của các đối tượng thamgia thực hiện chính sách bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp vàgián tiếp từ chính sách Thước đo đánh giá kết quả thực thi của các đối tượngnày là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách và ý thức chấp hànhnhững quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền banhành để thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện về không gian vàthời gian

Trong các bước trên thì bước tổ chức thực thi là quan trọng nhất vì đây

là bước đầu tiên làm cơ sở cho các bước tiếp theo, ở bước này đã dự kiến cảviệc triển khai thực hiện kế hoạch phân công thực hiện, kiểm tra Hơn nữa tổchức thực thi là quá trình phức tạp do đó lập kế hoạch cũng là việc làm cầnthiết và quan trọng

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

Trong quá trình thực thi chính sách sẽ có liên quan đến nhiều cơ quan,

tổ chức và cá nhân vì thế kết quả tổ chức thực thi chính sách này cũng sẽ chịuảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó có những yếu tố chủ quan và những yếu

tố khách quan Cụ thể:

- Yếu tố khách quan:

Yếu tố khách quan tác động đến thực thi chính sách là các yếu tố xuấthiện và tác động đến tổ chức thực thi chính sách từ bên ngoài, độc lập với ýmuốn của chủ thể quản lý; các yếu tố này vận động theo quy luật khách quannên ít tạo sự biến đổi do đó cũng khó gây sự chú ý của các nhà quản lý nhưng

Trang 33

lại tác động rất lớn đến quá trình thực thi chính sách, đó là các yếu tố:

+ Tính chất của vấn đề chính sách là yếu tố gắn liền với mỗi chính sách

nó có tác động trực tiếp đến hoạch định và thực thi chính sách có nghĩa là nếuvấn đề chính sách đơn giản liên quan đến ít đối tượng thì thực thi sẽ dễ dàng

và đơn giản hơn; ngược lại, nếu vấn đề chính sách liên quan đến nhiều đốitượng thì thực thi sẽ khó khăn và phức tạp hơn Như vậy, tính chất của vấn đề

có ảnh hưởng khách quan đến việc tổ chức thực thi chính sách nhanh haychậm, thuận lợi hay khó khăn

+ Môi trường thực thi chính sách là yếu tố liên quan đến các hoạt độngkinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng điều này nói lên rằngmột môi trường ổn định ít biến đổi về chính trị sẽ đưa tới sự ổn định về hệthống chính sách và thực thi thuận lợi Nếu các bộ phận của môi trường ổnđịnh thì nó sẽ tạo cho các hoạt động thực thi dễ dàng

+ Mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách là sự thể hiệnthống nhất hay không về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiệnmục tiêu chính sách Nếu mối quan hệ này có mâu thuẫn thì sẽ ảnh hưởng đếncông tác tổ chức thực thi

- Yếu tố chủ quan: là các yếu tố thuộc về cơ quan công quyền, do cán

bộ công chức chủ động chi phối đến quá trình thực thi chính sách nên nó có ảnh hưởng lớn đến việc thực thi

+ Thực thi đúng đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực thi chínhsách, các bước này được coi là nguyên lý khoa học được đúc kết từ thực tiễncuộc sống, việc tuân thủ quy trình là một nguyên tắc quản lý

+ Năng lực thực thi chính sách của CBCC trong bộ máy quản lý nhànước là yếu tố chủ quan có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực thichính sách công Năng lực thực thi của CBCC là các tiêu chí về đạo đức, công

cụ, năng lực nếu thiếu các điều kiện này thì việc thực thi sẽ không hiệu quả.Còn nếu các CBCC có năng lực mà kết hợp với các yếu tố khác thuận lợi sẽ

Trang 34

mang lại một kết quả thực sự.

+ Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực thi chính sách là yếu tốngày càng có vị trí quan trọng để cùng yếu tố nhân sự và các yếu tố khác thựcthi thắng lợi chính sách công Các điều kiện vật chất này là các trang thiết bịnhà nước đầu tư cho quá trình quản lý và khi thực thi chính sách thì họ dùng

để tuyên truyền, phổ biến các chính sách

+ Sự đồng tình ủng hộ của đối tượng chính sách là nhân tố có vai tròđặc biệt quan trọng quyết định sự thành bại của chính sách Các chính sách lànhững vấn đề lớn lao, do đó cần có sự đóng góp sức người, sức của trong suốtquá trình thực thi

Như vậy, trong 2 yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách thìyếu tố chủ quan là quan trọng hơn vì nó quyết định sự thành bại của chínhsách, vì trong yếu tố này nó chứa đựng các nhân tố quan trọng như nhân sự và

sự ủng hộ đối tượng chính sách là 2 nhân tố cần cho việc thực thi chính sách

1.3.4 Yêu cầu và hình thức tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

1.3.4.1 Yêu cầu đối với tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

- Bảo đảm thực hiện được mục tiêu chính sách

Thực thi chính sách là những hoạt động cụ thể của các cơ quan quản lýnhà nước và các đối tượng chính sách nhằm đạt những mục tiêu trực tiếp.Ứng với mỗi mục tiêu trực tiếp này là những chương trình, dự án cụ thể Kếtquả thực thi chính sách theo quá trình hoạt động trong từng thời kỳ đượclượng hóa bằng những thước đo cụ thể Tổng hợp kết quả thực hiện mục tiêucủa các chương trình, dự án và các hoạt động thực thi khác thành mục tiêuchung của chính sách Muốn thực hiện thành công các chính sách, nhà nướcphải xác định mục tiêu của từng chính sách thật cụ thể, rõ ràng và chuẩn xác.Đồng thời các cơ quan chuyên trách phải triển khai được mục tiêu chính

Trang 35

thành những kế hoạch, chương trình cụ thể [15].

- Bảo đảm tính hệ thống trong thực thi chính sách

Tổ chức thực thi chính sách là một bộ phận cấu thành trong chu trìnhchính sách, nó kết hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong chu trình tạo nên một

hệ thống thống nhất Ngay trong quá trình tổ chức thực thi cũng bao gồm nhiềubước hợp thành một hệ thống Nội dung tính hệ thống bao gồm: hệ thống mụctiêu và biện pháp của chính sách; hệ thống trong tổ chức bộ máy thực thi chínhsách; hệ thống trong điều hành, phối hợp thực hiện; hệ thống trong sử dụng công

cụ chính sách với các công cụ quản lý khác của nhà nước [15]

- Bảo đảm yêu cầu khoa học và pháp lý trong tổ chức thực thi chínhsách

Tính khoa học thể hiện trong quá trình tổ chức thực thi chính sách làviệc phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan quản lý chính sách, việc thu hútcác nguồn lực hướng mạnh vào thực hiện mục tiêu chính sách, hình thành cácchương trình, dự án để thực hiện có hiệu quả một chính sách Quy trình thựcthi chính sách công lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khi nó được triển khaivào đời sống xã hội Vì vậy, tính khoa học của quá trình tổ chức thực thichính sách phải thể hiện được sức sống để tồn tại trong thực tế như: mục tiêu

cụ thể của chính sách phải phù hợp với mục tiêu phát triển của địa phươngtrong từng thời kỳ; các biện pháp thực hiện mục tiêu chính sách phải tươngứng với trình độ nhận thức và tài nguyên của vùng hay địa phương Tính pháp

lý được thể hiện trong tổ chức thực thi chính sách là việc chấp hành các chếđịnh về thực thi chính sách như: trách nhiệm, quyền hạn của các tổ chức, cánhân được giao thực thi chính sách, thủ tục giải quyết các mối quan hệ trongthực thi chính sách [15]

- Bảo đảm hài hòa lợi ích cho các đối tượng thụ hưởng

Trong xã hội thường tồn tại nhiều nhóm lợi ích, các nhóm lợi ích lại biến động theo không gian và thời gian Tùy theo tính chất của mỗi chế độ xã

Trang 36

hội, mà các nhóm lợi ích sẽ được thụ hưởng khác nhau Nhà nước thường bảo

vệ và chuyển lợi ích đến các đối tượng thụ hưởng trong xã hội bằng chínhsách Để công cụ này phát huy tác dụng, cần phải có sự hưởng ứng thực hiệnmột cách tự giác trên cơ sở lòng tin của dân chúng vào chính sách của nhànước Có được kết quả đó hay không chỉ khi chính sách thật sự mang lại lợiích cho mỗi đối tượng thực hiện và toàn xã hội

1.3.4.2 Hình thức tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

- Hình thức tổ chức thực hiện chính sách từ trên xuống

Trước khi tiến hành triển khai, Nhà nước chủ động xây dựng kế hoạch,chuẩn bị các điều kiện về vật chất, kỹ thuật và nhân sự để thực thi chính sách.Trong quá trình thực thi chính sách, Nhà nước chủ động kiểm tra, đôn đốc bằngcác phương tiện kỹ thuật hiện có hay bằng đội ngũ CBCC của mình Khi có pháthiện những sai lệch về nội dung chính sách, Nhà nước kịp thời điều chỉnh, bổsung hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung làmcho hoạt động thực thi chính sách diễn ra đúng như định hướng [15]

- Hình thức tổ chức thực hiện chính sách từ dưới lên

Hình thức thực hiện này ngược lại với hình thức từ trên xuống Để thựchiện theo hình thức này, chính quyền địa phương các cấp, các tổ chức chủđộng triển khai đưa chính sách vào cuộc sống sau khi được ban hành nhằmphát triển kinh tế - xã hội địa phương theo định hướng

- Hình thức hỗn hợp trong thực hiện chính sách công

Đó là hình thức kết hợp giữa tổ chức thực hiện chính sách công từ trênxuống và hình thức tổ chức thực hiện chính sách công từ dưới lên nhằm phát huynhững ưu điểm và hạn chế những nhược điểm của hai hình thức trên Để tạo ra

sự đồng bộ trong tổ chức thực hiện chính sách cần chú ý nội dung kết nối giữacấp hoạch định và cấp thực thi: phần kết nối kiểm tra đôn đốc của cấp hoạchđịnh với việc triển khai thực hiện và duy trì chính sách của cấp thực thi; hoạtđộng điều chỉnh, bổ dung và đáp ứng các yêu cầu của cấp thực thi

Trang 37

1.3.5 Phương pháp tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

- Phương pháp hành chính: Là cách thức tác động lên đối tượng và quátrình chính sách bằng quyền lực để đạt mục tiêu dự kiến Trong quá trình thựchiện chính sách, người ta hay sử dụng phương pháp kinh tế và giáo dục thuyếtphục nhưng cũng có những trường hợp hay phương pháp trên không mang lạihiệu quả, nên phải dùng đến phương pháp hành chính để cưỡng chế thi hành[15]

- Phương pháp kinh tế: Là cách thức tác động lên các đối tượng thamgia thực hiện chính sách bằng các lợi ích vật chất Đây là phương pháp liênquan trực tiếp đến lợi ích của các nhóm đối tượng chính sách, nên có tác dụngrất mạnh so với các phương pháp khác [15]

- Phương pháp giáo dục, thuyết phục: Đây là cách thức tác động lên đốitượng và quá trình chính sách bằng lý tưởng cách mạng để họ ý thức đượctrách nhiệm của mình trong việc tham gia thực hiện chính sách Ý thức đầy đủ

về mục tiêu chính sách sẽ giúp cho các đối tượng tham gia một cách tựnguyện vào việc thực hiện mục tiêu chung [15]

- Phương pháp kết hợp: Là phương pháp tác động lên đối tượng và quátrình chính sách bằng tổng thể các yếu tố để triển khai thực hiện chính sách cóhiệu quả Đây là phương pháp được xây dựng bằng cách kết hợp các phươngpháp trên theo một trật tự, quy mô nhất định Về mặt nguyên tắc, phươngpháp kết hợp không có cấu trúc nhất định Tùy theo điều kiện cụ thể, nhà quản

lý kết hợp các phương pháp trên cho phù hợp với yêu cầu tổ chức thực

thi chính sách [15]

Trang 38

Tiểu kết Chương 1

Với mục tiêu cung cấp cơ sở khoa học cho việc đánh giá thực trạng thựchiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Maithành phố Hà Nội ở Chương 2 và đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thichính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai thành phố

Hà Nội ở Chương 3, Chương 1 tập trung làm rõ lý thuyết về chính sách đào tạo,bồi dưỡng công chức các phường và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡngcông chức Chương này đã trình bày một hệ thống các khái niệm: các khái niệm

về chính sách; khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng; khái niệm về công chức; kháiniệm về đào tạo, bồi dưỡng công chức; khái niệm về chính sách đào tạo, bồidưỡng công chức; khái niệm về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng côngchức Chương này đã làm rõ vai trò chính sách đạo tạo, bồi dưỡng công chức vànội dung tổ chức thực thi chính sách; Ý nghĩa, các bước thực thi, các yếu tố ảnhhưởng và những yêu cầu, hình thức tổ chức thực thi chính sách

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC PHƯỜNG QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ

NỘI 2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội

Quận Hoàng Mai là một vùng đất nằm ở phía Đông Nam thành phố HàNội, phía Bắc giáp quận Hai Bà Trưng, phía Đông giáp Sông Hồng nhìn sanghuyện Gia Lâm, phía Tây giáp huyện Thanh Trì và quận Thanh Xuân; phíaNam giáp huyện Thanh Trì

Quận Hoàng Mai được thành lập theo Nghị định số 132/2003/NĐ-CPngày 06 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ,dựa trên diện tích và dân số củatoàn bộ 9 phường: Định Công, Đại Kim, Hoàng Liệt, Thịnh Liệt, Thanh Trì,Lĩnh Nam, Trần Phú, Vĩnh Tuy, Yên Sở và 55 ha diện tích của phường TứHiệp thuộc huyện Thanh Trì cộng với diện tích và dân số của 5 phường MaiĐộng, Tương Mai, Tân Mai, Giáp Bát, Hoàng Văn Thụ thuộc quận Hai BàTrưng

Hoàng Mai vốn trước là vùng đất thuộc huyện Thanh Trì.Vùng HoàngMai có tên Nôm là Kẻ Mơ và tên chữ là Cổ Mai,vì mai là tiếng Hán của mơ,

do trước kia nơi đây người dân sinh sống chủ yếu bằng trồng cây mai.Lại córất nhiều các giống mai được trồng nên ta có thể giải thích lại có một loạt cácđịa danh như: Tương Mai, Thanh Mai, Hồng Mai, Bạch Mai, Hoàng Mai

Năm 1390, danh tướng Trần Khát Chân sau khi có công giết chết vuaChiêm là Chế Bồng Nga và đánh tan quân Chiêm Thành đã được ban thái ấp

Trang 40

ứng của chính quyền và đoàn thể cũng được thành lập và chính thức đi vào hoạt động Về tổ chức Đảng, Đảng bộ quận Hoàng Mai đã được thành lập với 26 uỷ viên Ban chấp hành lâm thời do Thành uỷ chỉ định với 53 chi Đảng bộ trực thuộc.

Hiện nay, Hoàng Mai là một quận có tốc độ đô thị hoá nhanh, với cáccông trình nhà chung cư cao tầng và các khu đô thị mới đang hoàn thiện như:Định Công, Bắc Linh Đàm, Nam Linh Đàm, Đại Kim, Kim Văn- Kim Lũ,Đền Lừ, Đồng Tầu, Pháp Vân Tứ Hiệp, Thịnh Liệt

Quận Hoàng Mai có diện tích 4.104,10 ha (41,04 km2), dân số trên380.000 người, gồm 14 phường: Đại Kim, Định Công, Giáp Bát, Hoàng Liệt,Hoàng Văn Thụ, Lĩnh Nam, Mai Động, Tân Mai, Thanh Trì, Thịnh Liệt, TrầnPhú, Tương Mai, Vĩnh Hưng, Yên Sở

Quận Hoàng Mai là quận có tốc độ đô thị hóa và xây dựng cơ sở hạ tầngmạnh nhất trong số các quận huyện mới của thủ đô, với hàng loạt khu đô thị nhưLinh Đàm, Bắc Linh Đàm, Định Công, Đại Kim, Đền Lừ, Kim Văn - Kim Lũ,Vĩnh Hoàng, Hoàng Văn Thụ, Ao Sào - Thịnh Liệt, Đại Kim - Định Công, TâyNam hồ Linh Đàm, Tây Nam Kim Giang… cùng hàng loạt chung cư trên đườngLĩnh Nam, đường Tam Trinh, đường Pháp Vân như Gamuda City, Hateco Yên

Sở, khu đô thị Pháp Vân - Tứ Hiệp, The Manor Central Park…

Về kinh tế:

Trong những năm qua, quận Hoàng Mai đã vươn lên, phát triển khá toàndiện về nhiều mặt, trong đó kinh tế luôn tăng trưởng cao, tỷ lệ tăng trưởngbình quân 17,47%/năm

Năm 2004, tổng giá trị sản xuất chỉ đạt 6.919 tỷ đồng; năm 2008 đã nânglên 12.377 tỷ đồng, tăng 79%; đến năm 2016 ước đạt 26.813 tỷ đồng, tăng

216 % so với năm 2008

Thu ngân sách năm 2004 đạt 90,175 tỷ đồng thì đến năm 2008 đạt653,091 tỷ đồng, tăng gấp 7,2 lần; năm 2016 thu ngân sách đạt 3.480 tỷ đồng,tăng 5,3 lần so với năm 2008

Ngày đăng: 06/01/2021, 18:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w