1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp tại tỉnh quảng nam

117 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 368,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những mặt đã đạtđược, trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, một số đơn vị sựnghiệp công lập còn bộc lộ những bất cập trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổchức biên chế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017

…………

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN VĂN GIAO

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng Luận văn tốt nghiệp là công trình do chính bảnthân Tôi tìm tòi, nghiên cứu và trình bày, không có bất kỳ sự sao chép nàokhác ngoài những tài liệu tham khảo đã được trích dẫn nguồn

Thừa Thiên Huế, ngày 20 tháng 4 năm 2014

Học viên

Phạm Thị Kim Cúc

Trang 4

Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnhQuảng Nam đã tạo điều kiện thuận lợi để Tôi có được các thông tin, số liệuphục vụ quá trình nghiên cứu luận văn;

Đặc biệt tác giả xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Trần Văn Giao người

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo Tôi hoàn thành tốt luận văn

Xin được cảm ơn gia đình, cơ quan, bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ,động viên để Tôi hoàn thành khóa học

Trân trọng cảm ơn!

Học viên

Phạm Thị Kim Cúc

Trang 5

DANH MỤC BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Viết tắt Cụm từ được viết tắt

:Cơ sở vật chất:Phát triển giáo dục

:Trung tâm Giáo dục Nghề nghiệp

– Giáo dục Thường xuyên:Trung học phổ thông:Phổ thông dân tộc nội trú

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.2: Điều tra nhận thức về biện pháp chuyển đổi tổ chức 37

Bảng 2.3: Nhận biết mức độ hoàn thành kế hoạch của cơ quan 39

Bảng 2.4 – Các văn bản pháp quy đang áp dụng 45

Bảng 2.5: Nhận biết về quá trình ra quyết định quy chế chi tiêu nội bộ 48

Bảng 2.6: Nhận biết mức độ hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ hàng năm 49

Bảng 2.7: Mức độ hiểu biết về mục tiêu của cơ chế tự chủ 50

Bảng 2.9 Tình hình phân bổ biên chế hành chính, sự nghiệp của Sở Y tế tỉnh Quảng Nam trong 03 năm (2014-2016) 56

Bảng 2.10 Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Sở Y tế tỉnh Quảng Nam 57

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức các đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh thuộc sự quản lý của các cơ

quan Nhà nước cấp tỉnh Quảng Nam 33

Sơ đồ: 2.8 Cơ cấu tổ chức bộ máy Sở Y tế tỉnh Quảng Nam 55

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương,chính sách nhằm trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sựnghiệp công lập trong việc tổ chức công việc, sắp xếp bộ máy, sử dụng laođộng nhằm tăng nguồn thu, cải thiện điều kiện làm việc và đời sống chocán bộ, viên chức và người lao động

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày25/4/2006 và Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/6/2006 của Bộ Tàichính hướng dẫn việc thực hiện Nghị định số 43 để triển khai thực hiệnquyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biênchế và tài chính

Bộ Chính trị có Thông báo số 37-TB/TW ngày 26/5/2011 kết luận về

Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩymạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công” trong đó nêu rõ:Nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cáchoạt động sự nghiệp công cơ bản và đảm bảo hỗ trợ cho các đối tượngchính sách xã hội, các đối tượng nghèo để được tiếp cận các dịch vụ, đồngthời có chính sách khuyến khích xã hội hóa thu hút các thành phần kinh tếtham gia đầu tư cung cấp dịch vụ sự nghiệp công Đổi mới cơ chế tàichính theo hướng tăng cường phân cấp và tăng tính tự chủ đối với các đơn

vị sự nghiệp công lập phù hợp với đặc điểm từng loại hình dịch vụ, nhu cầuthị trường, trình độ quản lý để xác định mức độ, bước đi phù hợp Thựchiện có lộ trình việc xoá bỏ bao cấp qua giá, phí dịch vụ; Đẩy mạnh côngtác tuyên truyền, tạo chuyển biến sâu sắc về tư tưởng nâng cao nhận thứccủa xã hội về đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập

và đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công

Trong quá trình hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài việcđầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lậpđược nhà nước cho phép tạo lập nguồn thu thông qua các khoản thu như:thu phí, lệ phí hay khoản thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ để

1

Trang 9

bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên Qua 3 nămthực hiện (2014 – 2016) nhìn chung các đơn vị sự nghiệp công lập đã tíchcực và chủ động trong việc cung cấp dịch vụ công, từ đó tăng nguồn thucho đơn vị, tăng tính tự chủ về mặt tài chính, từng bước cải thiện đời sốngđối với cán bộ viên chức và người lao động Bên cạnh những mặt đã đạtđược, trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, một số đơn vị sựnghiệp công lập còn bộc lộ những bất cập trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổchức biên chế và tài chính.

Xuất phát từ các lý do trên, với mong muốn góp phần hoàn thiệnchính sách, bổ sung nhận thức, đánh giá toàn diện vai trò, vị trí của đơn vị

sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Nam tác giả lựa chọn nghiên

cứu đề tài: “Tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị

sự nghiệp tại tỉnh Quảng Nam” làm luận văn thạc sỹ Hy vọng việc

nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao hơn nữa hoạt động tổ chức thực hiện cơchế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp tại tỉnh Quảng Nam trongthời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Trong quá trình triển khai tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịutrách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chínhđối với đơn vị sự nghiệp công lập theo qui định tại Nghị định số43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006, và công tác quản lý tài chính đối với cácđơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính cho đến nay đã có một số đề tài, bài viếtliên quan đến vấn đề này như:

Đề tài Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Trung cấp kinh

tế Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hà (Học Viện hành chính) đã nêu

cơ sở khoa học về tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp giáo dục cônglập, đánh giá thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Trungcấp kinh tế Hà Nội giai đoạn 2009 – 2012, từ đó tác giả đề xuất phương

Trang 10

hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Trung cấpkinh tế Hà Nội.

Đề tài Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Trung tâmhướng nghiệp và giáo dục thường xuyên tỉnh Quảng Ninh của tác giả HàChu Tịnh (Đại học Mỏ Địa chất) đã nêu tổng quan nghiên cứu cơ chế tàichính tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp có thu nói chung và các cơ sở giáodục đào tạo nói riêng; đánh giá thực trạng cơ chế tự chủ tài chính của Trungtâm hướng nghiệp và giáo dục thường xuyên tại Quảng Ninh giai đoạn2008-2012; đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tạiTrung tâm hướng nghiệp và giáo dục tỉnh Quảng Ninh

Đề tài Quản lý tài chính tại trường Trung cấp y tế Bạch Mai, Bệnhviện Bạch Mai của tác giả Nguyễn Hoàng Trung (Học Viện hành chínhQuốc gia đoạn 2009-2012) đã nêu cơ sở lý luận về quản lý tài chính đối vớiđơn vị sự nghiệp giáo dục công lập; đánh giá thực trạng quản lý tài chínhtại trường Trung cấp y tế Bạch Mai; đề xuất một số giải pháp hoàn thiệncông tác quản lý tài chính tại trường Trung cấp y tế Bạch Mai

Như vậy, triển khai tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối vớicác đơn vị sự nghiệp ở cấp tỉnh như thế nào để đạt được kết quả tốt nhất, đóchính là những khoảng trống rất cần thiết phải có nghiên cứu cụ thể để đưa

ra các đề xuất nhằm nâng cao công tác tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tàichính đối với các đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh trên địa bàn Quảng Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

- Mục đích: Dựa trên cơ sở khoa học về tổ chức thực hiện cơ chế tự

chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp Luận văn đi vào nghiên cứu vàđánh giá thực trạng và đề xuất được những giải pháp, kiến nghị nhằm hoànthiện công tác tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị

sự nghiệp tại tỉnh Quảng Nam

- Về lý luận: Hệ thống hóa những vấn đề có liên quan về tổ chức

thực hiện cơ chế tự chủ Tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập

3

Trang 11

- Về thực tiễn : Nghiên cứu và đánh giá thực trạng công tác tổ chức

thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp tại tỉnhQuảng Nam nhằm đề xuất những giải pháp hoàn thiện công tác tổ chứcthực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp tại tỉnhQuảng Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính

đối với đơn vị sự nghiệp công lập ở nghành y tế và nghành giáo dục

- Phạm vi nghiên cứu: Tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính

đối với các đơn vị sự nghiệp công lập ở nghành y tế và nghành giáo dụctại tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2014-2016

5 Phương pháp luận văn:

+ Phương pháp luận: Luận văn căn cứ vào phương pháp luận về duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin;

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp nghiên cứu định tính: bao gồm phương pháp tổng hợp,

so sánh, phân tích

+ Phương pháp nghiên cứu định lượng: Phương pháp thống kê, điều tra phỏng vấn

+ Phương pháp điều tra xã hội học

6 Ýnghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

- Ý nghĩa khoa học:

Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung cơ sở lýluận về cơ chế tự chủ tài chính và quản lý tài chính đối với các đơn vị sựnghiệp công lập tự chủ tài chính

Làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, học tập góp phần nâng caohiệu quả thực hiện công tác tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đốivới các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính cấp tỉnh nói chung và tạitỉnh Quảng Nam nói riêng

Trang 12

-Ý nghĩa thực tiễn:

Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả Tổ chức thực hiện cơchế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chínhcấp tỉnh trên lĩnh vực y tế và giáo dục nói chung và tỉnh Quảng Nam nóiriêng

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văngồm 3 chương và phần phụ lục:

- Chương 1: Cơ sở khoa học về tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài

chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính

- Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính

đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính trên lĩnh vực y tế,giáo dục thuộc tỉnh Quảng Nam

- Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức thực

hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủtài chính trên lĩnh vực y tế, giáo dục thuộc tỉnh Quảng Nam

5

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TỰ CHỦ TÀI CHÍNH 1.1 Những vấn đề lý luận về đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính: 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập:

1.1.1.1 Khái niệm:

Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do Nhà nước thành lậphoạt động có thu thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và cácdịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốcdân Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực y tế, giáo dục đào tạo,khoa học công nghệ và môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sựnghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm

Đơn vị sự nghiệp công lập được xác định dựa vào các tiêu chuẩn sau:

- Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương

- Được Nhà nước cung cấp kinh phí và tài sản để hoạt động thựchiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện một số khoảnthu theo chế độ Nhà nước quy định

- Có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ Nhà nước hiện hành

- Đơn vị sự nghiệp mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để phản ánhcác khoản kinh phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Ngânsách nhà nước; được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng hoặc Kho bạcNhà nước để phản ánh các khoản thu, chi của hoạt động dịch vụ

- Thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước: Đơn vị sự nghiệp cócác hoạt động dịch vụ phải đăng ký, kê khai, nộp đủ các loại thuế và cáckhoản khác (nếu có), được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật

Trang 14

- Được huy động vốn và vay vốn tín dụng: Đơn vị sự nghiệp có hoạtđộng dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốncủa cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chấtlượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chứcnăng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của phápluật.

Việc quản lý và sử dụng tài sản: Đơn vị thực hiện đầu tư, mua sắm,quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lýtài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp Đối với tài sản cố định sử dụng vàohoạt động dịch vụ phải thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định

áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước Số tiền trích khấu hao tài sản cốđịnh và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nướcđơn vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp

Số tiền trích khấu hao, tiền thu thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn vayđược dùng để trả nợ vay Trường hợp đã trả đủ nợ vay, đơn vị được để lại

bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đối với số còn lại (nếu có)

1.1.1.2 Đặc điểm của các đơn vị sự nghiệp công:

Thứ nhất, đơn vị sự nghiệp công lập là một tổ chức hoạt động theonguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích lợi nhuận

Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sựnghiệp tạo ra đều có thể trở thành hàng hoá cung ứng cho mọi thành phầntrong xã hội Việc cung ứng các hàng hoá này cho thị trường chủ yếu không

vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh Nhà nước tổchức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sảnphẩm, dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhànước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợicông cộng khi can thiệp vào thị trường Nhờ đó sẽ hỗ trợ cho các ngành,các lĩnh vực kinh tế hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡngnhân tài, đảm bảo nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và

7

Trang 15

ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đờisống, sức khoẻ, văn hoá, tinh thần của nhân dân.

Thứ hai, sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp công lập là sản phẩmmang lại lợi ích chung có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo

ra của cải vật chất và giá trị tinh thần

Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là nhữnggiá trị về tri thức, văn hoá, phát minh, sức khoẻ, đạo đức, các giá trị về xãhội Đây là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiềungười, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng Nhìn chung, đại bộ phận cácsản phẩm của đơn vị sự nghiệp là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bóhẹp trong một ngành hoặc một lãnh vực nhất định mà những sản phẩm đókhi tiêu dùng thường có tác dụng lan toả, truyền tiếp

Mặt khác sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp chủ yếu tạo ra các

"hàng hoá công cộng" ở dạng vật chất và phi vật chất, phục vụ trực tiếphoặc gián tiếp quá trình tái sản xuất xã hội Cũng như các hàng hoá khácsản phẩm của các hoạt động sự nghiệp có giá trị và giá trị sử dụng nhưng cóđiểm khác biệt là nó có giá trị xã hội cao, điều đó đồng nghĩa là người cùng

sử dụng, dùng rồi có thể dùng lại được trên phạm vi rộng Vì vậy, sản phẩmcủa hoạt động sự nghiệp chủ yếu là các "hàng hoá công cộng" Hàng hoácông cộng có hai đặc điểm là "không loại trừ" và "không cạnh tranh" Nóicách khác, đó là những hàng hoá mà không ai có thể loại trừ những ngườitiêu dùng khác ra khỏi việc sử dụng nó, và tiêu dùng của người này khôngloại trừ việc tiêu dùng của người khác

Việc sử dụng những "hàng hoá công cộng" do hoạt động sự nghiệptạo ra làm cho quá trình sản xuất của cải vật chắt được thuận lợi và ngàycàng đạt hiệu quả cao Hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, thể dụcthể thao đem lại tri thức và đảm bảo sức khoẻ cho lực lượng lao động, tạođiều kiện cho lao động có chất lượng ngày càng tốt hơn Hoạt động sựnghiệp khoa học, văn học, văn hoá thông tin mang lại hiểu biết cho con

Trang 16

người ở về tự nhiên, xã hội tạo ra những công việc mới phục vụ sản xuất vàđời sống Vì vậy, hoạt động sự nghiệp luôn gắn bó hữu cơ và tác động tíchcực đến quá trình tái sản xuất xã hội.

Thứ ba, hoạt động sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lậpluôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hộicủa Nhà nước

Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tổ chức, duy trì và đảm bảohoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội

Để thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định Chính phủ tổ chứcthực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình xoá mùchữ, Chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, Chương trình dân số - kếhoạch hoá gia đình, chương trình phòng chống AIDS, Chương trình xoá đóigiảm nghèo, Chương trình phủ sóng phát thanh truyền hình Nhữngchương trình mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước, với vai trò của mìnhmới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả, nếu để tư nhân thựchiện, mục tiêu lợi nhuận sẽ lấn chiếm mục tiêu xã hội và dẫn đến hạn chếviệc tiêu dùng sản phẩm hoạt động sự nghiệp, từ đó kìm hãm sự phát triểncủa xã hội

1.1.2.Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập:

Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm:

- Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật Các đoàn nghệ thuật: ca múa nhạc kịch, cải lương, chèo,

tuồng, múa

rối, xiếc

Trung tâm chiếu phim quốc gia

Nhà Văn hoá

Thư viện, bảo tồn, bảo tàng

Đài phát thanh truyền hình

Trung tâm báo chí xuất bản

9

Trang 17

- Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lãnh vực giáo dục đào tạo bao gồm các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

Trường phổ thông mầm non, tiểu học, phổ thông cơ sở, phổ thông trung học

Các Học viện, trường đại học, trung tâm đào tạo

- Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học Viện nghiên cứu khoa học

Trung tâm ứng dụng, chuyển giao công nghệ

- Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực thể dục thể thao

Trung tâm huấn luyện thể dục thể thao

Liên đoàn, đội thể thao

Câu lạc bộ thể dục thể thao

- Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực y tế:

Cơ sở khám chữa bệnh: bệnh viện, phòng khám

Trung tâm điều dưỡng, phục hồi chức năng

- Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực xã hội:

Trung tâm chỉnh hình

Trung tâm dịch vụ việc làm

- Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực kinh tế:

- Các Viện thiết kế, quy hoạch đô thị, nông thôn

- Các trung tâm bảo vệ rừng, Cục bảo vệ thực vật, Trung tâm nước sạch

vệ sinh môi trường, Trung tâm dâu tằm tơ Trung tâm đăng kiểm, Trungtâm định kiểm an toàn lao động

- Các đơn vị sự nghiệp giao thông đường bộ, đường sông

- Các Vụ đường biển, đường sông, đường hàng không

- Trung tâm khí tượng thuỷ văn

Căn cứ vào chế độ sở hữu tài sản của các đơn vị sự nghiệp công lập và coi như công lập, các đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện quản lý

Trang 18

và bao gồm:

- Các đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước: bao gồm các đơn vị sự nghiệp công lập trên;

- Các đơn vị sự nghiệp của các Tổ chức chính trị như:

Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Đảng cộng sản Việt Nam;

Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng lien đoàn lao động Việt Nam; Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Đoàn thanh niên cộng sản Hồ ChíMinh;

Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam

Ngoài ra còn có các đơn vị sự nghiệp của các Tổ chức chính trị - xã hội, Tổchức xã hội nghề nghiệp là những đơn vị sự nghiệp ngoài công lập như:

Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam;

Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Hội cựu chiến binh Việt Nam;

Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Hội nông dân Việt Nam;

Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Liên minh các Hợp tác xã…

Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp được phân loại

để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau:

- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động);

- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt độngthường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị

sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động);

- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồnthu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngânsách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sựnghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động)

11

Trang 19

Chú ý: Đối với các đơn vị sự nghiệp đặc thù trực thuộc Đài Tiếng

nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam là các đơn vị có quy trình hoạt độngđặc thù việc quản lý các đơn vị sự nghiệp thực hiện theo loại của đơn vị sựnghiệp cấp trên

1.1.3.Vai trò của đơn vị sự nghiệp công lập đối với sự phát triển kinh tế:

Chúng ta đều biết hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập đóng vai tròquan trong trong đời sống hằng ngày của chúng ta, hoạt động của đơn vị sựnghiệp công nhằm nhằm cung cấp những dịch vụ công thiết thực bảo đảmphục vụ nhu cầu của nhân dân trong lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học vàcác lĩnh vực khác

Quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp phải tuân thủ theo những quyđịnh pháp lý của Nhà nước Tùy theo đặc điểm tạo lập nguồn thu nhập củacác đơn vị sự nghiệp, Nhà nước áp dụng cơ chế tài chính cho thích hợp đểcác đơn vị sự nghiệp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình Phù hợpvới xu hướng cải cách khu vực công trong bối cảnh hội nhập, Nhà nướcthực hiện chính sách đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sựnghiệp theo hướng nanag cao quyền tự chủ tài chính, nhằm nâng cao chấtlượng hàng hóa và dịch vụ công phục vụ cho xã hội Từ những đặc điểm đó

và vai trò của đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện qua các mặt sau:

- Thứ nhất, cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, y tế có chấtlượng cao cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, gópphần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân

- Thứ hai, thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao như: đào tạo

và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng và trình độ cao; khám chữabenehj, bảo vệ sức khỏe người dân… phục vụ cho sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước

- Thứ ba, đối với từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, các đơn

vị sự

Trang 20

hiện các đề án, chương trình lớn phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

- Thứ tư, thông qua hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của nhànước đã góp phần tăng cường nguồn lực, đẩy mạnh đa dạng hóa và xã hộihóa nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội

1.2 Sự cần thiết, những yêu cầu cơ bản và các nhân tố tác động đến cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính: 1.2.1 Sự cần thiết phải tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính:

Đối với người dân, cảm thụ tính ưu việt của xã hội chính là thôngqua những gì họ được thụ hưởng từ dịch vụ xã hội mang lại Khi con ngườingày càng ý thức rõ rệt hơn quyền lợi của mình, thì thụ hưởng dịch vụ xãhội với chất lượng tốt hơn, trách nhiệm cao hơn là thước đo trực tiếp đảmbảo quyền con người trong xã hội Nền kinh tế xã hội của một quốc giacàng phát triển thì nhu cầu đối với dịch vụ xã hội ngày càng cao và đòi hỏicần phải chú trọng nhiều hơn nhằm tạo ra sự công bằng, ổn định và pháttriển xã hội một cách bền vững

Ở nước ta, cùng với những thành tựu đạt được từ quá trình đổi mớitoàn diện đất nước, hệ thống dịch vụ xã hội cũng từng bước được cải thiện.Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả của dịch vụ xã hội trên nhiều lĩnh vựccòn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng chính đáng củanhân dân, cũng như yêu cầu phát triển của đất nước Tăng cường vai tròquản lý của Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tàichính trực tiếp cung ứng các dịch vụ cho xã hội các dịch vụ công với chấtlượng tốt nhất

Mặt khác cơ chế tự chủ tài chính vừa bắt đầu đi vào thực hiện tại cácđơn vị sự nghiệp công lập trong mấy năm trở lại đây, thực hiện Nghị định43/2006/NĐ-CP đòi hỏi Nhà nước cần có sự quản lý, giám sát chặt chẽ để

13

Trang 21

đưa những điểm mạnh của cơ chế vào vận dụng trong các đơn vị sự nghiệpcông, đồng thời hạn chế mặt trái của cơ chế này cụ thể như sau:

Một là, tách biệt chức năng tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chínhcác đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, trên cơ sở có sự tách biệttương đối giữa quyền sở hữu và quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập tựchủ tài chính Công tác kế hoạch hóa cần đổi mới tính chất, nội dung,phương pháp lập kế hoạch để kế hoạch trở thành công cụ hữu hiệu chốnglại sự mất ổn định và bảo đảm định hướng phát triển dài hạn của đơn vị sựnghiệp công

Hai là, tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính các đơn vị sự nghiệpcông lập tự chủ tài chính bằng pháp luật trên cơ sở xây dựng và từng bướchoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật Từng bước tạo lập môi trường vàđiều kiện pháp lý tương đối ổn định, tạo sân chơi bình đẳng giữa các đơn vị

sự nghiệp công vừa hợp tác, vừa cạnh tranh để phát triển kinh tế đất nước;

Ba là, coi trọng đúng mức chức năng “làm kinh tế” của Nhà nước.Mặc dù gần đây Nhà nước đã giảm mạnh sự can thiệp của mình vào hoạtđộng của các đơn vị sự nghiệp công, nhưng thực tế các đơn vị sự nghiệpthực hiện theo cơ chế tự chủ tài chính vẫn cần có sự hiện diện của Nhànước để phát huy mọi nguồn lực phát triển bằng những giải pháp thích hợp

về kinh tế và xã hội, thực hiện tốt việc hoạch định các chính sách kinh tế,trong đó xác định rõ thứ tự các hướng ưu tiên để hỗ trợ có hiệu quả về tàichính và nguồn lực cho các đơn vị này

Bốn là, kết hợp mục tiêu phát triển kinh tế và giải quyết hài hòa cácmục tiêu xã hội (phát triển kinh tế xã hội, việc làm, đảm bảo môi trường…)đối với phát triển đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính Đóng gópquan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, anninh – quốc phòng, góp phần tích cực vào sự phát triển chung về kinh tế, xãhội của cả nước

Trang 22

1.2.2 Những yêu cầu cơ bản trong tổ chức cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính:

Đặc thù của đơn vị sự nghiệp công là thuộc sự quản lý của Nhà nước,hoạt động để phục vụ cho lợi ích chung của toàn xã hội, chính vì vậy tổchức cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công phải đạt đượcnhững yêu cầu cơ bản sau:

Một là, thực hiện đúng chế độ, chính sách: Đây là yêu cầu đầu tiên

để đảm bảo thực hiện nguyên tắc thống nhất và công bằng trong quản lýcủa Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công Từ việc thực hiện cơ chếquản lý cho đến việc vận dụng các quy định cụ thể trong hoạt động tàichính của các đơn vị đều phải đảm bảo theo đúng pháp luật và quy địnhhiện hành của Nhà nước

Hai là, đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả: Có thể nói hiệu quả về mặt

xã hội do chất lượng các dịch vụ mà đơn vị sự nghiệp công mang lại có ảnhhưởng rất sâu rộng đến sự phát triển của đất nước Chính vì vậy, yêu cầu vềtính hiệu lực, hiệu quả luôn được đặt ra trong tổ chức cơ chế tự chủ tàichính ở các đơn vị sự nghiệp công lập, đặc biệt trong giai đoạn đổi mớicung ứng dịch vụ công cho xã hội như hiện nay để không những góp phầnnâng cao chất lượng dịch vụ, mà còn thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị đượcgiao

Ba là, phân cấp đúng mức: Việc thực hiện phân cấp mạnh cho cácđơn vị sự nghiệp cũng đang là xu hướng tất yếu trong bối cảnh đổi mớiquản lý tài chính công như hiện nay Tuy nhiên, việc phân cấp phải đượcthực hiện theo lộ trình thích hợp, có tính đến việc nâng cao năng lực quản

lý tài chính cho các đơn vị và đảm bảo được sự quản lý, giám sát, địnhhướng của Nhà nước

Bốn là, công khai, minh bạch: Thực hiện công khai, minh bạch trong

tổ chức cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính

là một yêu cầu rất quan trọng Thực hiện luật phòng chống tham

15

Trang 23

nhũng và luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, đảm bảo công khai,minh bạch chính là điều kiện để các cơ quan tổ chức cơ chế tự chủ tài chính

và các cộng đòng dân cư tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động tài chínhcủa các đơn vị, góp phần làm lành mạnh hóa khu vực tài chính công và tạo

sự tin tưởng trong cộng đồng

1.2.3 Các nhân tố tác động đến tổ chức cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính:

Trước hết, chế độ chính sách của Nhà nước Đây là nhân tố đầu tiên

có ảnh hưởng quyết định tới hiệu quả hoạt động tổ chức cơ chế tự chủ tàichính bao gồm các văn bản chỉ đạo của Nhà nước và cơ chế chính sách đốivới các đơn vị sự nghiệp công

Cơ chế tổ chức cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệpcông lập được thể hiện khi chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sangnền kinh tế thị trường, nhà nước cho phép mọi thành phần kinh tế đượctham gia vào mọi lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với đầy

đủ mọi quyền lợi và nghĩa vụ trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng Không nằmngoài sự thay đổi đó, cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệpcông lập cũng đã từng bước được đổi mới, nhằm tạo điều kiện để các đơn

vị cung ứng dịch vụ công một cách tự chủ, tự chịu trách nhiệm dưới sự hỗtrợ, kiểm tra, giám sát của Nhà nước Như vậy, ở mỗi giai đoạn phát triểncủa nền kinh tế Nhà nước cần phải đề ra cơ chế quản lý phù hợp với từngloại hình hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập để tạo ra môi trườngpháp lý thuận lợi huy động và sử dụng các nguồn lực, đặc biệt với cácnguồn lực khan hiếm như vốn, lao động, công nghệ

Ở Việt Nam, thực hiện theo lộ trình cải cách hành chính Nhà nướctrong đó có nội dung cải cách tài chính công trong những năm qua việc xâydựng cơ chế, chính sách của Nhà nước với hoạt động sự nghiệp đã có nhiềuchuyển biến tích cực, thể hiện bằng việc Chính phủ ban hành Nghị định số10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị

Trang 24

sự nghiệp có thu Sau một thời gian triển khai theo Nghị định 10, thực tếquan hệ giữa các đơn vị sự nghiệp có thu và các cơ quan tổ chức cơ chế tựchủ tài chính đã có những thay đổi cơ bản Đơn vị chủ động sắp xếp tổchức bộ máy và nhân lực theo yêu cầu nhiệm vụ được giao, xây dựng quychế chi tiêu nội bộ theo hướng tự chủ; Nhà nước giảm can thiệp trực tiếpđến điều hành hoạt động của đơn vị và hướng tới thực hiện kiểm soát, đánhgiá, hiệu quả hoạt động theo kết quả đầu ra Bên cạnh đó nhà nước cũng đã

rà soát lại chức năng nhiệm vụ của đơn vị hành chính sự nghiệp; từ đó phânbiệt rõ cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp, xác định đơn vị sự nghiệp

có chức năng cung cấp dịch vụ công để có cơ chế quản lý phù hợp, xóa bỏtình trạng “hành chính hóa” các hoạt động sự nghiệp

Tuy nhiên khi triển khai Nghị định 10 cũng bộc lộ những tồn tại như:chưa có cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấphoặc không có nguồn thu, nhiều đơn vị chưa được phân loại và giao quyền

tự chủ, việc thực hiện trao đổi thông tin cũng chưa chính xác và chưa đồng

bộ Những tồn tại trên đã ảnh hưởng đến tiến trình cải cách hành chính củaNhà nước và ảnh hưởng đến hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công Đểkhắc phục hạn chế này và tiếp tục hoàn thiện cơ chế tổ chức cơ chế tự chủtài chính đối với đơn vị sự nghiệp công, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày25/4/2006 của Chính phủ về việc quy định quyền tự chủ, tự chịu tráchnhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối vớiđơn vị sự nghiệp công lập sẽ là cơ sở pháp lí tạo đà cho hoạt động sựnghiệp phát triển

Hai là, tổ chức tổ chức cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sựnghiệp công lập tự chủ tài chính Có nhiều yếu tố để làm nên hiệu quả tronghoạt động quản tổ chức cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệpcông tự chủ tài chính nhưng yếu tố quyết định chính là tổ chức bộ máyquản lý Hoạt động tổ chức cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệpcông tự chủ tài chính sẽ không tốt nếu tổ chức cơ chế tự chủ tài

17

Trang 25

chính không hợp lý Việc tổ chức, sắp xếp bộ máy quản lý một cách khoahọc, phù hợp với nhiệm vụ đặc thù của đơn vị, đảm bảo thông tin đượcthông suốt, thuận lợi trong việc kiểm tra giám sát và phát huy được khảnăng của mỗi người trong bộ máy sẽ là điều kiện để hoạt động tổ chức cơchế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính đi đúnghướng và đạt hiệu quả cao nhất Ngược lại bộ máy cồng kềnh, chức năngchồng chéo, sự phối hợp không đạt hiệu quả sẽ là nguyên nhân làm trì trệ

và cản trở hoạt động tổ chức cơ chế tự chủ tài chính

Trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, côngchức trong cơ quan hành chính Nhà nước trực tiếp tác động tới hoạt động tổchức cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính Bộmáy tổ chức cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp tự chủ tàichính là cơ quan trực tiếp tiến hành hoạt động tổ chức cơ chế tự chủ tàichính Không những thế đây còn là cơ quan trực tiếp hay gián tiếp ban hànhcác chính sách, chế độ về tổ chức cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sựnghiệp tự chủ tài chính Bởi vậy, sự am hiểu của cán bộ, công chức vềnghành nghề, lĩnh vực mình quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quảphân tích và đưa ra được những kết luận phù hợp, dự thảo và đề xuất đượcnhững chính sách quản lý đúng đắn Thêm vào đó, phẩm chất đạo đức củacán bộ quản lý sẽ quyết định việc họ có thực hiện quản lý đúng theo lươngtâm trách nhiệm

Ba là, Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệpcông trong từng thời kỳ Định hướng phát triển kinh tế – xã hội của Nhànước ở mỗi thời kỳ là khác nhau, chính vì vậy cơ cấu tổ chức, chức năng,nhiệm vụ của các đơn vị sự nghiệp cũng có những thay đổi, đặc biệt làtrong giai đoạn hiện nay Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tổchức cơ chế tự chủ tài chính ở các đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính KhiNhà nước xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi đơn vị thì sẽ có điềukiện xây dựng kế hoạch phát triển tài chính gắn với thực hiện nhiệm vụ

Trang 26

được giao; bố trí các nguồn lực hợp lý; xây dựng quy chế chi tiêu nội bộphù hợp với đặc điểm của đơn vị, tổ chức bộ máy ngày càng tinh giảm, gọnnhẹ đảm bảo hiệu quả công việc.

Cuối cùng, môi trường kinh tế – chính trị – xã hội Sự ổn định vềkinh tế – chính trị – xã hội là nhân tố quan trọng, có tác động lớn tới hiệuquả hoạt động tổ chức cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp tựchủ tài chính Môi trường chính trí – xã hội ổn định, nền kinh tế tăngtrưởng, ít lạm phát, biến động sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho các đơn vị

sự nghiệp công lập tự chủ tài chính Nền kinh tế nước ta mới chuyển sang

cơ chế kinh tế thị trường – một cơ chế kinh tế luôn được quan niệm là năngđộng, bất ổn định, chứa đựng nhiều cơ hội và cả những khó khăn Trongthời gian qua, do nhiều lý do như ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế khu vực,thiên tai khiến môi trường kinh tế nước ta chưa thực sự ổn định Mặc khác,môi trường kinh tế hiện nay của nước ta còn đang thiếu nhiều yếu tố cầnthiết để tạo điều kiện cũng như tạo động lực cho hoạt động của các đơn vị

sự nghiệp công lập tự chủ tài chính

1.3 Tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính:

1.3.1 Ban hành chính sách tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính:

Đã ban hành lộ trình tiếp cận việc tính giá cung cấp dịch vụ công theonguyên tắc thị trường Điều này tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp cônglập được tự chủ thực sự trong việc tính toán các chi phí đầu vào, đầu ra theo

cơ chế hoạt động của doanh nghiệp và có giải pháp thu hồi chi phí để tái đầu

tư cung cấp dịch vụ công, đảm bảo đời sống cho người lao động

Đồng thời, việc thực hiện quy định này sẽ tạo ra môi trường cạnhtranh bình đẳng hướng tới nâng cao chất lượng, giảm chi phí giữa các đơn

vị cung cấp dịch vụ công do Nhà nước thành lập và các đơn vị cung cấpdịch vụ công thuộc thành phần kinh tế ngoài nhà nước

19

Trang 27

- Tạo điều kiện để từng bước chuyển việc hỗ trợ các đối tượng chínhsách trong sử dụng dịch vụ công thông qua Nhà nước bù giá cho các đơn vịcung cấp dịch vụ công lập, sang Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho đối tượngthụ hưởng dịch vụ công.

Chính sách này nhằm khắc phục việc Ngân sách Nhà nước hỗ trợbình quân, dàn trải qua giá chưa tính đủ chi phí cho tất cả các đối tượng sửdụng dịch vụ công, sang hỗ trợ đúng đối tượng chính sách cần được Nhànước hỗ trợ, tiết kiệm chi Ngân sách Nhà nước; đối tượng chính sách cóđiều kiện để lựa chọn các dịch vụ công thiết yếu; các đơn vị cung cấp dịch

vụ công lập có điều kiện thu đủ chi phí cung cấp dịch vụ để tái đầu tư pháttriển

- Khuyến khích và yêu cầu các đơn vị sự nghiệp công lập thay đổiphương thức hoạt động, đổi mới tổ chức, chấp nhận cơ chế cạnh tranh bìnhđẳng với các đơn vị cung cấp dịch vụ công ngoài công lập Việc làm này sẽgóp phần tạo điều kiện cho các đơn vị công lập, ngoài công lập cùng pháttriển, khuyến khích thúc đẩy xã hội hóa trong cung cấp dịch vụ công, giảmnhẹ gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước

- Nâng cao vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong việc ban hànhcác tiêu chuẩn chất lượng, cơ chế giám sát, đánh giá, kiểm định chất lượngdịch vụ sự nghiệp công

Ngay sau khi Nghị định 16/2015/NĐ-CP được ban hành, Thủ tướngChính phủ có Quyết định số 695/2015/QĐ-TTg (ngày 21/5/2015) thôngqua kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, trong đóyêu cầu trong quý III/2015 các bộ, ngành, cơ quan liên quan soạn thảo trìnhChính phủ ban hành các quy định cụ thể hóa Nghị định 16/2015/NĐ-CP đểthực thi ngay từ đầu năm 2016

Trang 28

1.3.2 Nội dung tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập trên lĩnh vực y tế và giáo dục:

Nghị định số 16/2015/NĐ-CP cũng quy định, căn cứ vào tình hìnhthực tế, các đơn vị được thực hiện trước lộ trình giá dịch vụ sự nghiệpcông Đối với nguồn NSNN cấp cho các đơn vị sự nghiệp, thực hiện chủtrương chuyển mạnh sang cơ chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ, thì đâycũng được coi là nguồn thu của đơn vị để thực hiện tự chủ tài chính

Nhằm khuyến khích các đơn vị phấn đấu vươn lên tự chủ tài chínhmức cao hơn, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định theo nguyên tắc: Đơn

vị tự chủ cao về nguồn tài chính thì được tự chủ cao về quản lý, sử dụngcác kết quả tài chính và ngược lại (đi kèm theo đó là tự chủ về thực hiệnnhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự)

Tự chủ tài chính có các mức độ sau: Tự bảo đảm chi thường xuyên

và chi đầu tư; Tự bảo đảm chi thường xuyên; Tự bảo đảm một phần chithường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí)

và Được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (theo quy định không cónguồn thu hoặc nguồn thu thấp, chẳng hạn các trường tiểu học)

1.3.3 Về công tác thanh tra, kiểm tra:

Kiểm tra sử dụng kinh phí thực hiện chế độ tự chủ, cần xem xét từngkhoản chi phí thực hiện chế độ tự chủ có đúng quy định không? (có vượtquá chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyđịnh không? Có đúng chứng từ hoá đơn hợp lệ không?) nhất là đối với cáckhoản chi thanh toán cá nhân, chi thanh toán dịch vụ công cộng, chi thuêmướn, chi vật tư, văn phòng, thông tin tuyên truyền, liên lạc, chi công tácphí trong nước, hội nghị, chi các đoàn đi công tác nước ngoài và đón kháchnước ngoài vào Việt Nam…

21

Trang 29

Kiểm tra việc sử dụng kinh phí quản lý hành chính giao để thực hiệnchế độ tự chủ tiết kiệm được: Cuối năm ngân sách, sau khi đã hoàn thànhcác nhiệm vụ, công việc được giao, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ có sốchi thấp hơn số dự toán kinh phí quản lý hành chính được giao (kinh phí dongân sách nhà nước cấp, các khoản phí, lệ phí được để lại theo chế độ quyđịnh, các khoản thu hợp pháp khác), kiểm tra cần xem xét kinh phí tiếtkiệm được có sử dụng đúng nội dung và mục đích không?

Đối với kiểm tra việc thực hiện dự toán kinh phí không thực hiện chế

độ tự chủ, kiểm tra nên xem xét từng khoản chi của đơn vị có đúng với quyđịnh chi hiện hành không?

Kiểm tra việc quyết toán kinh phí

Quá trình này, kiểm tra nên xem xét việc chuyển nguồn kinh phí(nguồn thực hiện chế độ tự chủ và không thực hiện chế độ tự chủ) sangnăm sau có đúng không? kiểm tra lại số kinh phí tiết kiệm được, việc hạchtoán kế toán và mục lục ngân sách có đúng quy định không? việc quyếttoán ngân sách có đúng thời hạn, biểu mẫu không? xem xét quyết toán cóđược công khai không?

1.4 Kinh nghiệm tổ chức cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính cấp tỉnh của một số tỉnh:

1.4.1 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Định:

Qua nhiều năm triển khai cơ chế tự chủ theo Nghị định

43/2006/NĐ-CP tại các đơn vị sự nghiệp công lập cấp tỉnh Bình Định đã đạt được nhiềukết quả như sau:

Tổng số đơn vị sự nghiệp công lập khối tỉnh: 170 đơn vị,

Trong đó:

- Số đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo: 75 đơn vị

Trang 30

- Số đơn vị sự nghiệp y tế: 38 đơn vị

- Số đơn vị sựu nghiệp văn hóa thông tin: 8 đơn vị

- Số đơn vị sự nghiệp thể dục, thể thao: 2 đơn vị

- Số đơn vị sự nghiệp kinh tế: 38 đơn vị

- Số đơn vị sự nghiệp khác: 9 đơn vị

Tổng số đơn vị đã giao dự toán theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP:

+ Đơn vị chưa giao tự chủ: 9 đơn vị

Tổ chức cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp tự chủtài chính trên địa bàn tỉnh Bình Định đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn

vị sự nghiệp công lập chủ động trong việc sử dụng biên chế, tài sản và kinhphí nhà nước một cách hợp lý, tăng cường khai thác nguồn thu, thu đúng,thu đủ để đảm bảo yêu cầu hoạt động của đơn vị, phát triển và mở rộng cáchoạt động dịch vụ ngày càng đa dạng và phong phú hơn, nâng cao chấtlượng dịch vụ, đầu tư thêm được cơ sở hạ tầng và phương tiện vận tải đểphục vụ nhu cầu đào tạo chuẩn hóa bằng cấp lái xe ô tô cho người tham giagiao thông, liên kết đào tạo với các trường đại học, dạy nghề trong và ngoàitỉnh,…

Dưới sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của cơ quan hành chính Nhànước cấp tỉnh, tại Bình Định tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập được giaoquyền tự chủ theo Nghị định 43 đều thực hiện xây dựng phương án chi vàban hành Quy chế chi tiêu nội bộ, định mức chi tiết chi khoán cho một sốnội dung chi cụ thể như: văn phòng phẩm, vật tư, công cụ, dụng cụ, điệnthoại, công tác phí, nhiên liệu,…; thực hiện công khai tài chính; triển khaithực hiện Phương án chi đã xác lập; đăng ký thực hành tiết kiệm, chống

Trang 31

23

Trang 32

lãng phí, tham ô tham nhũng; sấp xếp, bố trí lại lao động hợp lý, phân côngphân nhiệm cụ thể, rõ ràng đối với người lao động Trong quá trình thựchiện, căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao và khả năng, nhu cầu thực

tế, các đơn vị đã chủ động điều chỉnh, bổ sung kịp thời Phương án và Quychế chi để đáp ứng được nhu cầu phát sinh trong từng thời điểm; định kỳthanh tra, kiểm tra chéo nội bộ đối với việc chấp hành quy chế chi tiêu nội

bộ, công tác thực hành tiết kiệm chống lãng phí, tham ô tham nhũng tại cácphòng, ban trong đơn vị Một số cơ quan, đơn vị đã xây dựng tiêu chí đánhgiá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của viên chức và người lao động, tiếnhành đánh giá, xếp loại dựa vào hiệu quả công việc, lấy kết quả bình bầuxếp loại làm căn cứ phân phối thu nhập tăng thêm Qua đó góp phần nângcao được hiệu suất lao động, trang thiết bị, máy móc, hiệu quả sử dụng kinhphí, nhằm đem lại khoản tăng thu nhập cho cán bộ công chức tuy không lớnsong cũng đã phần nào động viên được người lao động nâng cao tinh thầntrách nhiệm, tính dân chủ, sự gắn kết trong hoạt động của người lãnh đạo

và người lao động trong đơn vị

Về tình hình thực hành tiết kiệm chi đến năm 2013:

- Số đơn vị tiết kiệm là: 145 đơn vị / 161 đơn vị giao tự chủ (đạt tỷ

- Tổng kinh phí chi tăng thu nhập: 70.221.658.806đồng

- Số đơn vị không chi thu nhập tăng thêm: 20 đơn vị

- Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập dưới 1 lần: 134 đơn vị

- Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập từ 1 đến 2 lần: 6 đơn vị

- Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập từ 2 đến 3 lần: 1 đơn vị

Trang 33

24

Trang 34

Như vậy, tỉnh Bình Định đã thực hiện tốt công tác tổ chức cơ chế tựchủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính trongtoàn tỉnh, UBND tỉnh Bình Định đã có các van bản chỉ đạo, hướng dẫn các

cơ quan hành chính Nhà nước trong toàn tỉnh thực hiện sự quản lý đối vớicác đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính Tuy nhiên, việc không cóvăn bản pháp luật quy định khống chế tối đa mức chi tiền lương tăng thêmđối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tự chủ trên địa bàn tỉnh đã dẫnđến mức thu nhập tăng thêm của cán bộ, viên chức giữa các đơn vị sựnghiệp công lập trên địa bàn có khoảng cách khá xa, các đơn vị có số thulớn, nguồn thu lớn chủ yếu là do cơ chế, chính sách mang lại hoặc do nhucầu của cộng đồng xã hội lớn thì đơn vị đó có mức chi tiền lương tăng thêmkhá lớn Chẳng hạn, Trung tâm Đăng kiểm phương tiện thủy bộ, nguồn thu

là phí kiểm định có số thu khá lớn, đơn vị chi trả thu nhập tăng bình quânhàng năm trên 1,5 lần lương, Phòng công chứng số tuy số thu để lại khônglớn song chi trả thu nhập tăng thêm là 2 lần Trung tâm Đào tạo nghiệp vụgiao thông, nguồn thu của đơn vị này là học phí đào tạo lái xe có số thu khálớn, đơn vị thực hiện chi trả thu nhập tiền lương tăng thêm bình quân hàngnăm trên 1,7 lần lương; Trong khi đó, mức thu nhập tăng thêm của các đơn

vị sự nghiệp công lập khác trên địa bàn, đa số bình quân nằm trong khoảngdưới 0,2 lần lương

1.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Phú Thọ:

Ngay sau khi Nghị định 43/NĐ-CP của Chính phủ và các thông tưhướng dẫn có hiệu lực thi hành đầu năm 2007, Uỷ ban nhân dân tỉnh PhúThọ đã có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các cấp nghành liên quan triển khaithực hiện Theo đó, trong tổng số 147 đơn vị sự nghiệp công lập cấp tỉnhthuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị định có 136 đơn vị được giao quyền

tự chủ đạt 93%; còn lại 11 đơn vị chưa có phương án, chưa có quyết địnhđược giao quyền tự chủ, chiếm 11% ở các lĩnh vực

25

Trang 35

Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ đã trao quyền cho các cơ quan hànhchính Nhà nước trong tỉnh tổ chức cơ chế tự chủ tài chính, hướng dẫn, chỉđạo, kiểm tra, giám sát các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính Theobáo cáo của các nghành và đơn vị, sau khi thực hiện Nghị định43/2006/NĐ-CP cho thấy đại bộ phận các đơn vị được giao quyền tự chủđều hoàn thành tốt nhiệm vụ Ngoài khối lượng công việc được giao tươngứng với phần kinh phí ngân sách cấp, một số đơn vị còn triển khai các hoạtđộng dịch vụ phù hợp với chức năng nhiệm vụ để khai thác năng lực thiết

bị, cơ sở vật chất hiện có, nhằm cung cấp thêm sản phẩm cho xã hội và tăngthêm thu nhập cho cán bộ, công nhân viên Các đơn vị thuộc nghành y tế,nhờ được chủ động sử dụng các nguồn kinh phí nên đã mở ra khả năng tăngcường liên kết đầu tư, bổ sung đổi mới trang thiết bị, nâng cao chất lượng,

mở rộng các loại hình khám chữa bệnh theo yêu cầu, một mặt giúp ngườibệnh yên tâm điều trị không phải lên tuyến trên, mặt khác vẫn phục vụ tốtđối tượng có bảo hiểm y tế Về lĩnh vực giáo dục – đào tạo, hầu hết các cơ

sở giáo dục đều thực hiện đúng và đủ các chương trình môn học theo quyđịnh của Bộ giáo dục và Đào tạo Đối với các nghành và các lĩnh vực khác,

về mặt số lượng so với các đơn vị sự nghiệp công lập trong nghành giáodục – Đào tạo và nghành y tế không nhiều (bao gồm các đơn vị thuộc lĩnhvực tài nguyên, môi trường, thương mại, giao thông, nông nghiệp, truyềnhình, công nghệ thông tin) Sau khi được Ủy ban nhân dân tỉnh giao thựchiện quyền tự chủ, dưới sự tổ chức của cơ quan hành chính, các đơn vị đãphát huy tiềm năng thế mạnh về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ chuyênnghành để phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Từ khi thực hiệnquyền tự chủ, khối lượng và chất lượng công việc đều tăng, sản phẩm làm

ra đáp ứng yêu cầu, thu nhập của cán bộ viên chức trong đơn vị đều đượcnâng lên so với trước

Cùng với việc bố trí sắp xếp tổ chức bộ máy hợp lý, các đơn vị sựnghiệp công lập được giao quyền tự chủ đều nghiêm túc chấp hành quy

Trang 36

định về xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, đảm bảo sử dụng các nguồn kinhphí đúng mục đích, đúng tiêu chuẩn, chế độ, đảm bảo sử dụng các nguồnkinh phí đúng mục đích, đúng tiêu chuẩn, chế độ, tiết kiệm và hiệu quả.Định mức chi tiêu cho từng khâu, từng nhiệm vụ đều được các đơn vị xâydựng và đưa ra thảo luận, lấy ý kiến rộng rãi của tập thể cán bộ, công nhân,viên chức trong đơn vị và có nghị quyết thông qua Đối với những khoảnchi có thể thực hiện phương thức khoán như: Tiền điện thoại, văn phòngphẩm, công tác phí, xăng xe…thì xây dựng định mức khoán Những khoản

có định mức kinh tế, kỹ thuật chuyên nghành thì khuyến khích cán bộ, nhânviên phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, giảm định mức tiêu hao, có chế

độ thưởng đối với những người có sáng kiến tiết kiệm vật tư nhiên liệu.Cách làm này đã được đại bộ phận cán bộ, viên chức của các đơn vị hưởngứng tích cực và cùng tham gia giám sát quá trình thực hiện Kết quả, nhiềuđơn vị, cá nhân đã tiết kiệm chi phí vật tư, nguyên, nhiên liệu, nhưng vẫnđảm bảo thực hiện tốt công việc được giao Bên cạnh việc tăng cường cáchoạt động liên doanh, liên kết, dịch vụ chất lượng cao để thu hút nhiều đốitượng tham gia của các đơn vị y tế, giáo dục và Đào tạo, các đơn vị sựnghiệp thuộc các nghành , lĩnh vực khác cũng đã tích cực, chủ động khaithác thế mạnh trong việc tăng thu, nên hầu hết các đơn vị đều thực hiện thuvượt dự toán được giao Kết quả thu tài chính năm 2013, sự nghiệp y tếvượt trên 313%; sự nghiệp giáo dục vượt 41%; sự nghiệp đào tạo tập trung

ở các đơn vị có thể mạnh trong liên kết đào tạo như Đại học Hùng Vươngvượt trên 107%, Trung tâm giáo dục Thường xuyên tỉnh vượt 296%,

Trường cao đẳng nghề vượt 61%

Nhìn chung, kể từ khi được giao thực hiện cơ chế tự chủ tài chính,vai trò trách nhiệm, tính sáng tạo của các đơn vị sự nghiệp công lập đãđược nâng lên; nhiều đơn vị đã đổi mới phương thức hoạt động, thực hànhtiết kiệm, chống lãng phí, tạo nguồn thu tăng thu nhập cho cán bộ viênchức…Tuy nhiên, công tác tổ chức cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn

27

Trang 37

vị sự nghiệp tự chủ tài chính trên địa bàn tỉnh vẫn chưa có bước chuyểnmạnh mẽ, việc triển khai thực hiện Nghị định 43 còn chậm và chưa đồngbộ.

1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Nam:

Cả hai địa phương đều đã thực hiện sự tổ chức cơ chế tự chủ tàichính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính theo Nghị định43/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm vềthực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sựnghiệp công lập Tại tất cả các đơn vị nhận tự chủ đều thể hiện sự chuẩn bịtốt cho việc áp dụng Nghị định này

Trong thời gian thực hiện cả hai địa phương đã chủ động ban hành,

tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào điều kiện cụ thể tại địaphương, đồng thời làm cơ sở để các cơ quan Nhà nước thực hiện sự quản lýđối với các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Qua việc thực hiện tự chủ tài chính

và tổ chức cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chínhtrong các đơn vị sự nghiệp công lập ở hai địa phương trên có thể rút ra một

số bài học kinh nghiệm cho Quảng Nam như sau:

- Thứ nhất, hệ thống văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện tự chủtài chính trong các đơn vị sự nghiệp công phải được ban hành đầy đủ, đồng

bộ, thống nhất tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn trong quá trình triển khaithực hiện

- Thứ hai, tất cả các cơ quan tổ chức cơ chế tự chủ tài chính đối vớicác đơn vị sự nghiệp công tự chủ tài chính để có thể tính toán được cụ thể

số lượng biên chế cần thiết cho đơn vị thì phải xác định được rõ nhiệm vụcủa mình về tổng thể, cũng như nhiệm vụ của từng bộ phận cụ thể trongđơn vị Việc xác định này sẽ là căn cứ để tính toán, xác định số lượng biênchế cần thiết cho đơn vị trong một khoảng thời gian nhất định

Trang 38

- Thứ ba, chính quyền cấp tỉnh khi xây dựng định mức kinh phí giao

tự chủ cho các đơn vị ngoài việc tính theo số lượng biên chế, quy mô củađơn vị thì nên xem xét đến đặc thù cụ thể của từng đơn vị để tránh tìnhtrạng có những đơn vị sử dụng nhiều khoản chi không mang tính chấtlương gặp khó khăn trong thực hiện tự chủ tài chính

Tóm lại: Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, Nhà nước sử dụng tài chính như một công cụ sắc bén cầnnắm lấy để quản lý các đơn vị sự nghiệp, thông qua đó quản lý đất nước,hướng tới những mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội một cách bền vững.Điều này khẳng định tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với cácđơn vị sự nghiệp là một hoạt động tất yếu và quan trọng để đất nước pháttriển

29

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TRÊN LĨNH VỰC Y TẾ TẠI

TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Các đơn vị sự nghiệp công lập cấp tỉnh trên lĩnh vực y tế tại Quảng Nam: 2.1.1 Khái quát về tỉnh Quảng Nam:

Tinh Quảng Nam nằm ở trung tâm khu vực Bắc Trung Bộ, đất rộng,người đông Với diện tích 16.490,25km2, lớn nhất cả nước; dân số hơn 3,1triệu người (tính đến năm 2016), đứng thứ tám cả nước; hội tụ đầy đủ cáctuyến đường giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đườngbiển, đường thủy nội địa; điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng như mộtViệt Nam thu nhỏ…Quảng Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế để thu hútđầu tư và ngày càng có nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến tìm hiểu

cơ hội đầu tư, kinh doanh tại tỉnh

2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên:

Quảng Nam nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, trên tuyếngiao lưu Bắc – Nam và đường xuyên Á Đông – Tây Quảng Nam hội nhập

đủ các tuyến đường giao thông: đường bộ, đường sắt, đường thủy, đườnghàng không và đường biển, tỉnh còn có sân bay Chu Lai, tại cảng Chu Lai,kết cấu hạ tầng đang được nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới đã tạo choQuảng Nam có nhiều thuận lợi trong giao lưu kinh tế – xã hội với cả nước,khu vực và quốc tế

Quảng Nam nằm ở phía Đông bắc dãy Trường Sơn, có độ dốc trảidần từ Tây Bắc đến Đông Nam Diện tích tự nhiên của tỉnh là 1.648.729 ha,trong đó miền núi chiếm ¾ diện tích, phần lớn đồi núi tập trung ở phía Tâycủa tỉnh

Phần lớn diện tích đất này tập trung ở các huyện miền núi vùng TâyNam của tỉnh

Trang 40

Quảng Nam có bờ biển dài, có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho xâydựng cảng biển Biển Quảng Nam có tới 267 loài cá, trong đó có nhiều loại

có giá trị kinh tế cao và trữ lượng cá lớn như cá thu, cá nục, cá cơm…; tômbiển có nhiều loại như tôm he, sú, hùm…

Tóm lại: Với điều kiện địa hình phức tạp, nên việc đi lại giao lưuhàng hóa giữa các vùng trong tỉnh gặp rất nhiều khó khăn ảnh hưởng đếnviệc cung ứng các dịch vụ công Điều đó cũng là trở ngại lớn trong việc đầu

tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội do đơn giá quá cao, suất đầu tưlớn, khả năng huy động và sự đóng góp của nhân dân hạn chế Bên cạnhnhững khó khăn, hạn chế trên, điều kiện tự nhiên của tỉnh cũng có nhiềutiềm năng để thúc đẩy phát triển kinh tế toàn diện, nhất là phát triển nông –lâm – ngư nghiệp, thương mại – dịch vụ – du lịch

2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội:

Trong những năm qua cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội của cảnước, kinh tế – xã hội tỉnh Quảng Nam đã có những bước chuyển biến rõrệt Tuy nhiên, Quảng Nam vẫn còn là một tỉnh khó khăn vì vậy QuảngNam luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ và các Bộ nghànhtrung ương, đồng thời dưới sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt, kịp thời củaTỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh và sự nỗ lực của cả hệthống chính trị và toàn thể nhân dân các dân tộc

Mặc dù, trong điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế cả nước,nhưng dưới sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của các cấp, các nghành trongthực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, sự đồng thuận của nhân dân các dân tộc,kinh tế – xã hội của tỉnh tiếp tục đạt kết quả khá

Bộ máy chính quyền các cấp được củng cố, kiện toàn; cải cách hànhchính, giải quyết khiếu nại, tố cáo, thanh tra được quan tâm chỉ đạo thựchiện, các vụ việc khiếu kiện có tính chất phức tạp được tập trung giải quyết

Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế, xã hội còn một

số khó khăn, hạn chế đó là:

31

Ngày đăng: 06/01/2021, 18:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w