1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thanh tra tín dụng đối với các ngân hàng thương mại của ngân hàng nhà nước việt nam chi nhánh quảng ninh

112 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 307,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước về ngân hàng cho thấy TTNH đã tỏ ra là một công cụ hữu hiệu trong việc giúp nhà nước thực hiện nhiệm vụthanh tra, giám sát đối với hoạt động tín dụng

Trang 1

liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, các thông tin trích dẫn đã đƣợcchỉ rõ nguồn gốc.

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Vi Tùng Lâm

Trang 2

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THANH TRA TÍN DỤNG ĐỐI VỚI

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 6 1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 6 1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng trung ương 6 1.1.2 Khái niệm về thanh tra ngân hàng 10

1.2 THANH TRA TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 12

1.2.1 Mục đích thanh tra tín dụng đối với Ngân hàng thương mại của Ngân hàng Nhà nước 12

1.2.2 Tổ chức thanh tra ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước 14

1.2.3 Nội dung thanh tra tín dụng đối với Ngân hàng thương mại của Ngân hàng Nhà nước 15

1.2.4 Tiêu chí đánh giá kết quả thanh tra tín dụng đối với Ngân hàng thương mại 19

1.2.5 Yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thanh tra tín dụng của Ngân hàng Nhà nước 24

1.3 KINH NGHIỆM VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA NGÂN HÀNG Ở MỘT SỐ NƯỚC 28

1.3.1 Về tổ chức và hoạt động thanh tra ngân hàng ở một số nước 28

1.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THANH TRA TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC - CHI NHÁNH QUẢNG NINH 37

2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH QUẢNG NINH

VÀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN 37

2.1.1 Giới thiệu về Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Quảng Ninh 37

2.1.2 Về tình hình hoạt động của các Ngân hàng thương mại trên địa bàn 40

2.2 THỰC TRẠNG THANH TRA TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG

Trang 3

Ninh 50

2.2.2 Nội dung thanh tra tín dụng đối với các Ngân hàng thương mại của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Quảng Ninh 55

2.2.3 Kết quả thanh tra tín dụng đối với các Ngân hàng thương mại của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Quảng Ninh 65

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THANH TRA TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH QUẢNG NINH 75

2.3.1 Kết quả đạt được 75

2.3.2 Các hạn chế và nguyên nhân 76

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THANH TRA TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC - CHI NHÁNH QUẢNG NINH 83

3.1 ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC THANH TRA CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH QUẢNG NINH 83

3.1.1 Mục tiêu của thanh tra Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Quảng Ninh 83

3.1.2 Phương hướng thực hiện của thanh tra Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Quảng Ninh 83

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THANH TRA TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH QUẢNG NINH 84

3.2.1 Giải pháp chung về mô hình tổ chức và hoạt động của Thanh tra ngân hàng 84 3.2.2 Giải pháp về chuyên môn nghiệp vụ đối với Thanh tra ngân hàng 88

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 97

3.3.1 Đối với Chính phủ 97

3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 98

3.3.3 Đối với các Ngân hàng thương mại 100

KẾT LUẬN 103

Trang 4

STT TỪ VIẾT TẮT DIỄN GIẢI

1 CQTTGSNH Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng

4 NHNN Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Chi nhánh

8 TTGS Chi nhánh Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước

Việt Nam - Chi nhánh Quảng Ninh

Trang 5

Bảng 2.1: Mạng lưới hoạt động TCTD và Chi nhánh TCTD từ năm 2012-2016 40

Bảng 2.2: Cơ cấu huy động vốn của các NHTM trên địa bàn 2012 – 2016 41

Bảng 2.3: Dư nợ của các Ngân hàng thương mại trên địa bàn 2012 – 2016 46

Bảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh của các NHTM trên địa bàn 48

Bảng 2.5: Các dạng sai phạm, tồn tại trong hoạt động tín dụng 68

Bảng 2.6: Nội dung, kết quả và kiến nghị thanh tra từ năm 2012 - 2016 71

Bảng 2.7: Kết quả xử lý sau thanh tra năm 2012 – 2016 73

Bảng 2.8: Nợ xấu của các NHTM trên địa bàn năm 2012 - 2016 75

Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức NHNN chi nhánh Quảng Ninh 38

Hình 2.2 Quy trình tiến hành một cuộc thanh tra tại chỗ 60

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Hoạt động ngân hàng là một loại hình hoạt động kinh doanh trong nềnkinh tế có đối tượng kinh doanh là tiền tệ Trong đó, hoạt động tín dụng củaNHTM là một trong những nghiệp vụ kinh doanh chính, chiếm tỷ trọng lớntrong hoạt động và mang lại nguồn thu chủ yếu của các NHTM ở giai đoạnhiện nay Tuy nhiên, vấn đề mà các NHTM luôn phải đối mặt là rủi ro tíndụng Rủi ro tín dụng gây ra tổn thất về tài chính, giảm giá trị thị trường củavốn ngân hàng, trường hợp nghiêm trọng hơn có thể làm cho hoạt động kinhdoanh của ngân hàng bị thua lỗ, thậm chí là phá sản ngân hàng Đồng thời,hoạt động tín dụng của NHTM liên quan đến mọi tổ chức kinh tế – xã hội vàđến mọi người dân, nó mang tính chất đặc thù và có một vị trí đặc biệt quantrọng trong việc phân bổ nguồn lực tài chính đối với các tổ chức kinh tế, cánhân để phục vụ nhu cầu vốn trong đầu tư, sản xuất, tiêu dùng Song, nhữngrủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM nói chung và rủi ro tín dụng củaNHTM nói riêng được coi là đặc thù và là điều khó tránh khỏi Do đó, nếukhông có một cơ chế kiếm tra giám sát phòng ngừa rủi ro một cách có hiệuquả thì những tổn thất và rủi ro xảy ra đối với các NHTM có thể dẫn đếnnhững tổn thất vô cùng nghiêm trọng, có tính chất lây lan cho cả nền kinh tếnói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng là không thể lường trước được

Thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước về ngân hàng cho thấy TTNH đã

tỏ ra là một công cụ hữu hiệu trong việc giúp nhà nước thực hiện nhiệm vụthanh tra, giám sát đối với hoạt động tín dụng như: bảo đảm pháp chế và nângcao hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng,nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát; bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, đảm bảo an toàn tài sản, tiềngửi, vay vốn

Trang 7

Trong quá trình hoạt động, nghiệp vụ TTGSNH từng bước được đổimới trên cơ sở xây dựng và ban hành các quy định an toàn phù hợp dần vớicác nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế Tuy nhiên, bước vào giai đoạn pháttriển mới, những thay đổi về môi trường hoạt động ngân hàng nói chung vàquy trình, quy định về hoạt động tín dụng nói riêng đã đặt ra những đòi hỏiphải đổi mới trong công tác TTGSNH để theo kịp sự phát triển của cả hệthống ngân hàng, đảm bảo thanh tra, giám sát có hiệu quả các TCTD So vớiyêu cầu hiện nay đặt ra đối với công tác thanh tra hoạt động tín dụng cácNHTM thì trên thực tế thanh tra NHNN vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém có thểtrở thành nguy cơ đe doạ khả năng kiểm soát an toàn của hệ thống ngân hàng.

Để đảm bảo tính an toàn, lành mạnh cho cả hệ thống các TCTD, gópphần thúc đấy tăng trưởng kinh tế và ổn định vĩ mô thì việc nghiên cứu đề tài:

“Thanh tra tín dụng đối với các Ngân hàng thương mại của Ngân hàng Nhànước Việt Nam - Chi nhánh Quảng Ninh” là một trong những yêu cầu cấpthiết hiện nay, đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển hệ thống ngân hàng ViệtNam nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói riêng, thực hiện đúng cácnguyên tắc chuẩn mực quốc tế về thanh tra, giám sát ngân hàng, đảm bảo hệthống thanh tra, giám sát ngân hàng Việt Nam loại bỏ nguy cơ tụt hậu và theokịp trình độ phát triển trên thế giới, đồng thời thực hiện mục tiêu bảo đảm antoàn hệ thống TCTD

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Đến nay, đã có một số tài liệu, công trình được công bố đáng chú ýnhư:

- Thái Mạnh Cường (2006), "Đổi mới hoạt động thanh tra của Ngân hàng nhà nước đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh", Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh, Học viện Ngân hàng Luận văn đã làm rõ vai

trò, chức năng của hoạt động TTGSNH đối với hệ thống tín dụng trên địa bàn, từđó

Trang 8

đưa ra các giải pháp đổi mới hoạt động TTNH tại Quảng Ninh Tuy nhiên, với

sự thay đổi của chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, mô hình tổ chứcNHNN và sự phát triển của các TCTD trên toàn quốc và trên địa bàn QuảngNinh, hoạt động thanh tra của NHNN Việt Nam - Chi nhánh Quảng Ninh cầnđược hoàn thiện để phù hợp với tình hình mới

- Phùng Lê Thị Hạnh (2012), “Hoàn thiện công tác thanh tra của Ngân hàng nhà nước đối với các Ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế", Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Luận

văn đã làm rõ vai trò của hoạt động thanh tra NHNN cấp tỉnh trong hoạt độngthanh tra, quản lý các NHTM trên địa bàn và đưa ra các giải pháp hoàn thiệnhoạt động thanh tra, giám sát đối với các NHTM

- Trần Nhân Bình (2014), “Hoàn thiện hoạt động thanh tra tại chỗ đối với các TCTD của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Đà Nẵng” Luận văn Thạc

sỹ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Luận văn đã làm rõ vai trò của hoạtđộng thanh tra NHNN cấp tỉnh trong hoạt động TTTC đối với các NHTM

trên địa bàn và đưa ra các giải pháp hoàn thiện hoạt động TTTC đối với các NHTM

- Nguyễn Thị Thanh Tâm (2014), "Hoàn thiện pháp luật về hoạt động thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam", Luận văn Thạc sỹ Luật Luận văn

chỉ đề cập các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động TTNH, không đềcập đến hoàn thiện công tác, nghiệp vụ TTNH

Các công trình nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ chức năng, nhiệm vụ củathanh tra NHNN; đã lý giải và khẳng định tầm quan trọng của hoạt độngTTNH đối với hệ thống TCTD Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trìnhnào nghiên cứu trực tiếp, cụ thể về thanh tra tín dụng của NHNN chi nhánhQuảng Ninh đối với các NHTM trên địa bàn trong điều kiện tỉnh Quảng Ninhcùng đất nước mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng

Trang 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực

tiễn về công tác thanh tra, giám sát trong hoạt động tín dụng của NHNN chinhánh cấp tỉnh trong điều kiện hiện nay; đề tài đề xuất phương hướng và giảipháp hoàn thiện công tác thanh tra, giám sát trong hoạt động tín dụng củaNHNN chi nhánh Quảng Ninh đối với các NHTM trong thời gian tới

Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục đích nghiên cứu nói trên, đề

tài luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về công tác thanh tra củaNHNN đối với các TCTD nói chung và công tác thanh tra, giám sát của

NHNN đối với hoạt động tín dụng của NHTM nói riêng

- Nghiên cứu kinh nghiệm về công tác thanh tra của NHTW đối với hoạt động tín dụng ở một số nước

- Phân tích, đánh giá thực trạng về thanh tra tín dụng đối với các

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện, tăng cường hiệu quả của thanh tra tín dụngđối với các NHTM của NHNN chi nhánh Quảng Ninh trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thanh tra

tín dụng đối với các NHTM của NHNN chi nhánh Quảng Ninh

Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, đề tài tập trung nghiên cứu thanh

tra tín dụng đối với các NHTM của NHNN chi nhánh Quảng Ninh theo chứcnăng, nhiệm vụ

Về thời gian, nghiên cứu thực trạng được thực hiện cho giai đoạn 2012

- 2016; các đề xuất được thực hiện cho giai đoạn 2017 - 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, đề tài dựa trên

Trang 10

phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, đồng thời sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp,thống kê, mô tả và khảo sát thực tế; số liệu phân tích đánh giá từ hoạt độngcủa NHNN chi nhánh Quảng Ninh và một số NHTM điển hình trên địa bàn.

-Bên cạnh đó, đề tài luận văn còn dựa trên các chủ trương, đường lối,quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những địnhhướng chỉ đạo của NHNN Việt Nam về công tác thanh tra trong hoạt động tíndụng đối với các NHTM Ngoài ra, đề tài cũng tiếp thu, kế thừa có chọn lọckết quả nghiên của một số công trình liên quan đã được công bố

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu đạt được trong luận văn góp

phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về thanh tra tín dụng đối với các NHTM củaNHNN chi nhánh cấp tỉnh

Ý nghĩa thực tiễn: Các giải pháp và kiến nghị của luận văn trực tiếp

góp phần hoàn thiện thanh tra tín dụng đối với các NHTM của NHNN chinhánh Quảng Ninh Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận văn còn có giátrị tham khảo đối với hoạt động thanh tra tín dụng đối với các NHTM củaNHNN chi nhánh cấp tỉnh ở một số địa phương khác trong cả nước

7 Kết cấu của luận văn

Kết cấu đề tài: Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thanh tra tín dụng đối với Ngân hàngthương mại của Ngân hàng trung ương

Chương 2: Thực trạng về thanh tra tín dụng đối với Ngân hàng thươngmại của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Chi nhánh Quảng Ninh

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện thanh tra tín dụng đối với Ngân hàngthương mại của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Chi nhánh Quảng Ninh

Trang 11

1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng trung

ương a Khái niệm:

Trong thời kỳ đầu hoạt động, các ngân hàng đồng thời thực hiện cácnghiệp vụ: nhận tiền gửi và cho vay đối với khách hàng, phát hành các kỳphiếu của mình vào lưu thông, thực hiện các dịch vụ ngân hàng như thanhtoán, chuyển tiền, đổi tiền

Từ thế kỷ XVIII, nhà nước của các nước đã bắt đầu can thiệp vào hoạtđộng của hệ thống ngân hàng bằng cách hạn chế số lượng các ngân hàngđược phép phát hành kỳ phiếu ngân hàng

Đến thế kỷ thứ XIX, ở các nước phát triển có xu hướng ra đời các đạoluật chỉ cho phép một ngân hàng duy nhất phát hành tiền, còn các ngân hàngkhác đơn thuần kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ ngân hàng

Đầu thế kỷ thứ XX, ở các nước các ngân hàng được phép phát hànhtiền đều thuộc sở hữu tư nhân, nhà nước không có điều kiện can thiệp cáchoạt động kinh tế thông qua tác động của tiền tệ Khủng hoảng kinh tế thếgiới 1929-1933 đã buộc chính phủ các nước tăng cường hơn nữa can thiệpcủa mình vào lĩnh vực kinh tế Ngoài việc điều tiết nền kinh tế thông qua hệthống luật pháp, chính sách thuế Nhà nước cần phải nắm lấy phương tiện

cơ bản của kinh tế thị trường – tiền tệ để góp phần giải quyết tình trạng bất ổnđịnh nền kinh tế Vì thế, sau khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, phầnlớn các nước đã tiến hành quốc hữu hóa hoặc thành lập mới ngân hàng phát

Trang 12

hành tiền tệ để qua đó điều tiết các hoạt động kinh tế vĩ mô Từ đó, khái niệmNHTW được sử dụng để thay thế cho khái niệm ngân hàng phát hành.

NHTW không chỉ thực hiện chức năng phát hành tiền tệ vào lưu thông,

mà còn thực hiện chức năng quản lý về mặt nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, tíndụng, ngân hàng Tuy nhiên, ở một số nước ngân hàng phát hành không hoàntoàn thuộc quyền sở hưu của nhà nước, nhưng hoạt động vẫn mang tính chấtnhư một ngân hàng của nhà nước và cơ quan quản lý cao nhất của nó là donhà nước bổ nhiệm và miễn nhiệm NHTW Nhật Bản là ngân hàng cổ phầntheo luật năm 1942, trong đó cổ phần của nhà nước chiếm 55%, cổ phầnthuộc sở hữu tư nhân chiếm 45%, nhưng cơ quan quản trị ngân hàng là hộiđồng chính sách cơ 7 thành viên do chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm Ở

Mỹ, hệ thống dự trữ liên bang là ngân hàng cổ phần tư nhân, nhưng cơ quanlãnh đạo cao nhất của ngân hàng này là hội đồng thống đốc có 7 thành viên doTổng thống đề cử và Quốc hội bổ nhiệm

Tuy có nhiều tên gọi khác nhau như: NHTW, NHNN, Ngân hàng dựtrữ liên bang nhưng chúng đều có tính chất chung, đó là một cơ quan thuộc

bộ máy nhà nước, độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, với mụctiêu cơ bản là ổn định giá trị đồng tiền, duy trì sự ổn định và an toàn tronghoạt động của hệ thống ngân hàng

Về cơ bản, NHTW được hiểu là ngân hàng phát hành tiền của một quốc gia,

là cơ quan quản lý và kiểm soát lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng của một quốc gia.

Đến nay, trên thế giới đã biết đến 3 mô hình NHTW: NHTW độc lậpvới Chính phủ; NHTW là một cơ quan thuộc Chính phủ; và NHTW thuộc BộTài chính

Ở Việt Nam, theo Luật NHNN Việt Nam năm 2010, NHNN Việt Nam

là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là NHTW của nước CHXHCN Việt

Trang 13

Nam NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt độngngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng của NHTW về phát hành tiền,ngân hàng của các TCTD và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.

b Tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

NHNN là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước, NHNNViệt Nam là cơ quan ngang bộ thuộc Chính phủ

NHNN được tổ chức thành hệ thống tập trung thống nhất gồm bộ máyđiều hành và hoạt động nghiệp vụ tại trụ sở chính, các chi nhánh ở các tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương, các văn phòng đại diện ở trong nước, ởngoài nước và các đơn vị trực thuộc NHNN hoạt động dưới sự điều hành củaThống đốc NHNN Thống đốc NHNN là thành viên của Chính phủ, chịu tráchnhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực phụ trách

Hoạt động chủ yếu của NHNN Việt Nam là:

- Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia: Ở Việt Nam, Quốc hội là cơ

quan quyết định chính sách tiền tệ, trong đó giao NHNN Việt Nam: (i) Chủ trìxây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia, kế hoạch cung ứng tiền tệ bổ sunglưu thông hàng năm trình Chính phủ, để Chính phủ trình Quốc hội; (ii) Điềuhành, sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ (dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, thịtrường mở, lãi suất, tỷ giá hối đoái), thực hiện cung ứng tiền tệ ra thị trườngtrong phạm vi lượng tiền cung ứng được Chính phủ phê duyệt

- Phát hành tiền: NHNN là cơ quan duy nhất phát hành tiền của nước

CHXHCN Việt Nam, bao gồm tiền giấy và tiền kim loại Thực hiện công tácquản lý tiền dự trữ phát hành theo quy định của Chính phủ; bảo đảm cung ứng

đủ số lượng và cơ cấu tiền cho nền kinh tế; thực hiện quy định về phân loại,thu hồi, tiêu hủy tiền rách nát

- Hoạt động tín dụng: NHNN thực hiện các nghiệp vụ: (i) Cho các

TCTD vay ngắn hạn dưới hình thức tái cấp vốn; cho vay đối với các TCTD

Trang 14

tạm thời mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng; (ii) Tạm ứng cho Ngân sách Nhà nước để sử lý thiếu hụt tạm thời.

- Hoạt động thanh toán: NHNN mở tài khoản và thực hiện các giao

dịch cho KBNN, các TCTD trong nước và nước ngoài, các tổ chức tài chínhquốc tế Đồng thời, làm đại lý cho KBNN trong việc tổ chức đấu thầu, pháthành và thanh toán tín phiếu, trái phiếu KBNN

- Quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối: NHNN thực hiện nhiệm vụ

tham mưu, xây dựng văn bản pháp luật về quản lý ngoại hối; Quản lý hoạtđộng ngoại hối đối với các TCTD, các TCTC có liên quan đến sử dụng ngoạihối trên lãnh thổ Việt Nam; Điều hành thị trường ngoại tệ liên ngân hàng vàthị trường ngoại hối trong nước

- Hoạt động thanh tra, kiểm soát: Thanh tra NHNN là thanh tra chuyênngành về ngân hàng, thuộc bộ máy của NHNN Việt Nam Thực hiện công tácthanh tra về tổ chức và hoạt động của các TCTD và hoạt động ngân hàng củacác tổ chức khác, nhằm góp phần bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng, bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, phục vụ thực hiện CSTT quốcgia

Kiểm soát NHNN là đơn vị thuộc bộ máy NHNN Việt Nam, có nhiệm vụkiểm soát hoạt động của các đơn vị thuộc hệ thống NHNN Thực hiện nghiệp vụkiểm toán nội bộ đối với các đơn vị thực hiện nghiệp vụ của NHTW

- Hoạt động thông tin: NHNN tổ chức thu nhận, phân tích và dự báothông tin trong và ngoài nước về kinh tế, tài chính, tiền tệ và hoạt động ngânhàng nhằm phục vụ việc xây dựng và điều hành CSTT quốc gia NHNN traođổi và làm dịch vụ thông tin tiền tệ và hoạt động ngân hàng cho các TCTD,các tổ chức khác và cá nhân

Hoạt động của NHNN nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm an toànhoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn,

Trang 15

hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh

tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa

1.1.2 Khái niệm về thanh tra ngân hàng

Hoạt động thanh tra là chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhànước, là một trong ba yếu tố cấu thành nên sự lãnh đạo, quản lý đó là: Banhành quyết định; tổ chức thực hiện quyết định; và thanh tra, kiểm tra việc thựchiện quyết định Có thể nói rằng ở đâu có sự lãnh đạo, quản lý thì ở đó có hoạtđộng thanh tra, giám sát Thực chất thanh tra là việc xem xét tình hình thực tế

để đánh giá, nhận xét và kết luận nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa

xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chếquản lý, tăng cường pháp chế Nhà nước, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp phápcủa các cơ quan, tổ chức và công dân, bảo vệ lợi ích của quốc gia Thanh tra

là một khái niệm bao trùm lên các mặt kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh

tế - xã hội nhằm đưa các hoạt động đó theo định hướng và các quy trình, quyphạm đã được xác định trên các văn bản quản lý Nhà nước và nghiệp vụquản lý kinh tế

NHNN Việt Nam là cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ vàhoạt động ngân hàng, cũng như các ngành khác, cần có thanh tra chuyênngành ngân hàng để phục vụ quản lý nhà nước của mình, đảm bảo hệ thốnghoạt động theo khuôn khổ pháp lý, an toàn, hiệu quả, hỗ trợ thực hiện điềuhành chính sách tiền tệ quốc gia, điều tiết kinh tế vĩ mô Trong đó, TTNHthực hiện chức năng tham mưu, giúp Thống đốc NHNN quản lý nhà nướcđối với các TCTD, chi nhánh NHNNg, quản lý nhà nước về công tác thanhtra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, phòng, chống rửatiền, bảo hiểm tiền gửi; tiến hành thanh tra hành chính, thanh tra chuyênngành và giám sát ngân hàng trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhànước của NHNN; thực hiện phòng, chống rửa tiền, phòng, chống tài trợkhủng bố theo quy định của pháp luật và phân công của Thống đốc NHNN

Trang 16

Như vậy, TTNH là một công cụ giúp NHTW thực hiện chức năngthanh tra, giám sát về lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, đảm bảo hệthống TCTD hoạt động theo khuôn khổ pháp lý, an toàn, hiệu quả, hỗ trợ thựchiện điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, điều tiết kinh tế vĩ mô.

Trong đó, hoạt động TTNH đảm bảo yêu cầu sau:

- Mục đích TTNH nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lànhmạnh của hệ thống các TCTD và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của TCTD; duy trì và nâng caolòng tin của công chúng đối với hệ thống các TCTD; bảo đảm việc chấp hànhchính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả vàhiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (Theo Điều 50Luật NHNN số 46/2010/QH12 ngày 16/6/2010)

- TTNH phải đảm bảo nguyên tắc:

+ TTNH phải tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trungthực, công khai, dân chủ, kịp thời; không làm cản trở hoạt động bình thường của

cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng

+ Kết hợp thanh tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật vềtiền tệ và ngân hàng với thanh tra, giám sát rủi ro trong hoạt động của đốitượng thanh tra, giám sát ngân hàng

+ TTNH được thực hiện theo nguyên tắc thanh tra, giám sát toàn bộ hoạt động của tổ chức tín dụng

+ TTNH được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

+ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trình tự, thủ tục thanh tra,

giám sát ngân hàng (Theo Điều 51 Luật NHNN số 46/2010/QH12 ngày

16/6/2010)

Trang 17

1.2 THANH TRA TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

1.2.1 Mục đích thanh tra tín dụng đối với Ngân hàng thương mại của Ngân hàng Nhà nước

NHTM là một tổ chức tài chính trung gian mà hoạt động chủ yếu là tiếpnhận các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế với trách nhiệm hoàn trả và sửdụng số tiền đó để cho vay (cấp tín dụng) Ngoài ra, NHTM còn thực hiện cácnhiệm vụ chiết khấu, làm phương tiện thanh toán và cung cấp các dịch vụ chokhách hàng

Trong đó, hoạt động tín dụng của NHTM (hay hoạt động cấp tín dụng) theoLuật các tổ chức tín dụng, được hiểu là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sửdụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyêntắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanhtoán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác

Quan hệ tín dụng giữa NHTM với các tổ chức và cá nhân (khách hàng)được thực hiện theo nguyên tắc: NHTM chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặccam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xácđịnh trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả

Trang 18

Theo đánh giá tại các diễn đàn kinh tế đối với hoạt động của NHTM, đếnnay hoạt động tín dụng tiếp tục được tái khẳng định là mảng hoạt động kinhdoanh tiền ẩn nhiều rủi ro nhất trong hoạt động ngân hàng Sở dĩ như vậy mộtphần cũng bởi, tín dụng là hoạt động chủ yếu của NHTM, chiếm phần lớn trongcác hoạt động kinh doanh của ngân hàng cả về doanh thu và lợi nhuận Do chiến

tỷ trọng lớn trong các mảng hoạt động nên hoạt động tín dụng tiền ẩn nhiều rủi

ro và có tích chất phức tạp nhất Bên cạnh đó, hoạt động tín dụng liên quan chặtchẽ đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, do đó mỗi rủi ro trong các lĩnh vực nayđều chi phối và tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM Mặt khác,thông qua hoạt động tín dụng các NHTM luôn đặt ra mục tiêu tối đa hóa lợinhuận, do đó đòi hỏi NHNN cần có những giải pháp thích hợp để thanh tra, giámsát hoạt động tín dụng, nhằm phát hiện, cảnh báo và ngăn ngừa rủi ro có thể xẩy

để đảm bảo nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính – ngân hàng nói riêngphát triển lành mạnh, bền vững

Trong xu thế toàn cầu hóa của hệ thống tài chính, sự yếu kém của hệthống ngân hàng của một nước, dù là nước đang phát triển hay nước pháttriển đều có thể đe dọa sự ổn định tài chính cả ở trong nước đó và quốc tế Sựcần thiết để nâng cao sức mạnh của hệ thống tài chính đã thu hút sự quan tâmngày càng lớn trên thế giới Do vậy Ủy ban Basel về TTNH đã đưa vấn đềnày vào cuộc hội nghị thượng đỉnh G7 ở Lyon tổ chức vào tháng 6/1996 đãkêu gọi kế hoạch hành động Một số cơ quan gồm Ủy ban Basel về TTNH,Ngân hàng thanh toán quốc tế, Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới đã tìmmọi cách để tăng cường sự ổn định về tài chính trên khắp thế giới Đặc biệt

Ủy ban Basel đã phát hành bộ các nguyên tắc cơ bản toàn diện để TTNH cóhiệu quả (gọi là nguyên tắc Basel), do các thành viên của Ủy ban Basel và 10

cơ quan thanh tra khác đã tham gia vào việc dự thảo Nguyên tắc Basel đãđược các cơ quan thanh tra 140 nước nhất trí và tán thành, và được coi là cácnguyên tắc chuẩn mực quốc tế để hoạt động TTNH có hiệu quả

Trang 19

Trên cơ sở đó, NHNN cần thiết phải thanh tra, giám sát hoạt động tíndụng nhằm phát hiện, cảnh báo và ngăn ngừa rủi ro có thể xẩy đảm bảo hệthống tài chính – ngân hàng phát triển lành mạnh, bền vững.

1.2.2 Tổ chức thanh tra ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước

Theo Luật NHNN Việt Nam, TTNH là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức củaNHNN, thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về ngân hàng và giúpThống đốc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra trong các lĩnh vực thuộcphạm vi quản lý của NHNN theo quy định của pháp luật

Về tổ chức và hoạt động của TTNH quy định tại Nghị định số26/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 của Chính phủ thì TTNH là cơ quan thanhtra nhà nước, được tổ chức thành hệ thống gồm:

- Cơ quan TTGSNH là đơn vị tương đương Tổng cục, trực thuộcNHNN Điều hành hoạt động thanh tra NHNN là Chánh Thanh tra, giám sátngân hàng Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng do Thống đốc NHNN bổnhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Tổng Thanh tra Giúpviệc cho Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng là các Phó Chánh Thanh tra,giám sát ngân hàng được bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức bởi quyết địnhcủa Thống đốc NHNN theo đề nghị của Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng

và quy định của pháp luật

- Thanh tra, giám sát NHNN chi nhánh được thành lập tại tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương nơi không có Cục TTGSNH thuộc Cơ quanTTGSNH Thanh tra, giám sát NHNN chi nhánh chịu sự quản lý, chỉ đạo trựctiếp của Giám đốc NHNN chi nhánh và sự chỉ đạo, hướng dẫn của Cơ quanTTGSNH về công tác, nghiệp vụ thanh tra, giám sát ngân hàng, giải quyếtkhiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, phòng, chống rửa tiền, chống tàitrợ khủng bố Điều hành thanh tra Chi nhánh NHNN là Chánh Thanh tra,giám sát Chi nhánh Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Chánh Thanh tra Chi nhánh

Trang 20

do Giám đốc Chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố đề nghị, Chánh Thanh traNHNN trình Thống đốc NHNN quyết định Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm PhóChánh Thanh tra Chi nhánh NHNN do Giám đốc Chi nhánh NHNN tỉnh,thành phố quyết định.

1.2.3 Nội dung thanh tra tín dụng đối với Ngân hàng thương mại của Ngân hàng Nhà nước

a Nội dung của thanh tra tín dụng ngân hàng, gồm:

- Thanh tra việc chấp hành pháp luật về hoạt động tín dụng ngân hàngtheo các quy định hiện hành

- Xem xét, đánh giá mức độ rủi ro tín dụng, năng lực quản trị rủi ro tíndụng và tình hình năng lực tài chính của NHTM

- Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏhoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhànước về tiền tệ, ngân hàng và về hoạt động tín dụng ngân hàng

- Kiến nghị, yêu cầu NHTM có biện pháp hạn chế, giảm thiểu và xử lýrủi ro tín dụng để bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và phòng ngừa, ngănchặn hành động dẫn đến vi phạm pháp luật

- Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan nhànước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về tiền tệ, ngân hàng và hoạtđộng tín dụng

b Phương thức thanh tra:

Để thực hiện hoạt động thanh tra đối với các đối tượng TTNH trongviệc chấp hành pháp luật về hoạt động tín dụng ngân hàng, TTNH thực hiện 2phương thức GSTX và TTTC

 GSTX (hay thanh tra trên báo cáo): nhằm bổ sung cho TTTC, đểkiểm soát thường xuyên ở tầm vĩ mô các hoạt động của NHTM GSTX về cơbản là một hệ thống thông tin, đó là việc sử dụng phương pháp phân tích bảng

Trang 21

cân đối kế toán và các chỉ tiêu thống kê định kỳ của các NHTM để giúp cácnhà quản lý vĩ mô nắm một cách thường xuyên tình hình; mặt khác báo độngcho các NHTM và kiến nghị các giải pháp khắc phục thích hợp, kịp thời vàchỉ điểm cho TTTC những vấn đề trọng tâm, trọng điểm cần kiểm tra GSTX

là hoạt động riêng có của TTNH, dựa trên các nguồn thông tin nhận được đểtiến hành phân tích, đánh giá tình hình của đơn vị được thanh tra Phươngthức GSTX có thể khác nhau đối với từng quốc gia nhưng về cơ bản đượcthực hiện:

- Hoạt động giám sát ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc tậptrung thống nhất từ Trung ương đến địa phương, kết hợp chặt chẽ giữa giámsát việc chấp hành chính sách pháp luật về tiền tệ, ngân hàng với giám sát trên

cơ sở rủi ro Đến nay, nội dung giám sát không chỉ dừng ở việc giám sát việctuân thủ pháp luật, chấp hành các tỷ lệ, giới hạn an toàn hoạt động mà còn chútrọng đánh giá, cảnh báo rủi ro trong hoạt động của NHTM

- Hoạt động giám sát ngân hàng được tiến hành thường xuyên, liên tụcthông qua giám sát an toàn vĩ mô, giám sát an toàn vi mô và sử dụng cácphương pháp, tiêu chuẩn, công cụ giám sát và hệ thống thông tin, báo cáo doThống đốc NHNN quy định Trong đó:

+ Giám sát vi mô là hình thức giám sát đối với từng đối tượng giám sátriêng lẻ, được thực hiện trên cơ sở hệ thống xếp hạng, đánh giá đối tượnggiám sát ngân hàng, hệ thống thống tin, báo cáo phục vụ giám sát an toàn vimô; các chuẩn mực an toàn; hệ thống quy trình, công cụ tiêu chuẩn và các kỹnăng phân tích tài chính, hoạt động; đánh giá giám sát và cảnh báo các rủi ro,

vi phạm pháp luật của đối tượng giám sát ngân hàng

+ Giám sát an toàn vĩ mô là hình thức giám sát an toàn toàn hệ thốngcác NHTM được thực hiện trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu phản ánh mức độ lànhmạnh tài chính và an toàn hoạt động; hệ thống thông tin, báo cáo phục vụ

Trang 22

phân tích và giám sát an toàn vĩ mô; hệ thống phương pháp, công cụ, quytrình phân tích, giám sát, cảnh báo sự an toàn, ổn định của hệ thống cácNHTM; báo cáo định kỳ hoặt đột xuất về an toàn và ổn định hệ thống.

 TTTC (hay thanh tra trực tiếp): là phương thức thanh tra truyềnthống, là việc tiến hành thanh tra tại nơi làm việc của đối tượng thanh tra trên

cơ sở kiểm tra, xem xét các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện cơ chế, quychế của ngành; các báo cáo kế toán, thống kê, các chứng từ, tài liệu, sổ sách,hợp đồng có liên quan đến hoạt động của đối tượng được thanh tra, nộidung cần thanh tra do đối tượng thanh tra cung cấp và từ các nguồn thông tinkhác nhằm xác định tính trung thực của vấn đề, từ đó đánh giá về từng mặthoặc toàn bộ hoạt động của NHTM tại thời điểm thanh tra

- Hình thức tiến hành TTTC:

+ Thanh tra theo kế hoạch được tiến hành theo kế hoạch đã được cấp

có thẩm quyền phê duyệt;

+ Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện đối tượng thanh trangân hàng có dấu hiệu vi phạm pháp luật, phát sinh rủi ro, nguy cơ đe dọa sự

an toàn, lành mạnh của đối tượng thanh tra ngân hàng, theo yêu cầu của việcgiải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, phòng, chống rửa tiền,phòng, chống tài trợ khủng bố hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước

có thẩm quyền giao

Mối quan hệ và phối hợp giữa GSTX và TTTC:

- Kết quả GSTX là một trong những căn cứ xây dựng kế hoạch thanh tra hằng năm và xác định phạm vi, đối tượng, nội dung TTTC

- Căn cứ kết quả GSTX, người có thẩm quyền có thể ra quyết định thanh tra đối tượng TTNH

- Kết quả TTTC là một trong những căn cứ triển khai các hoạt động GSTX thích hợp

Trang 23

Hoạt động GSTX và TTTC có thể thực hiện theo 2 phương pháp: thanhtra trên cơ sở tuân thủ và thanh tra trên cơ sở rủi ro Trong đó:

 Thanh tra trên cơ sở tuân thủ

- Bảo đảm an toàn hệ thống các NHTM: Hoạt động TTNH thực hiệnviệc thanh tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật trong hoạt độngcủa NHTM góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền: Do yêu cầuthực tế đòi hỏi, sự thỏa mãn nhu cầu gặp nhau nên người gửi tiền có nơi gửi,

đó là ngân hàng, và người nhận tiền gửi được phép sử dụng số tiền này đểcho vay hay đầu tư kiếm lời, trên nguyên tắc có vay có trả kèm theo nhữngthỏa thuận khác Nhưng vì một lý do nào đó dẫn đến người gửi tiền bị thiệtthòi, thậm chí bị tước đoạt khi ngân hàng bị đổ vỡ, mất khả năng thanh toán

Để bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền và an toàn hệ thống ngân hàng, mộttrong những biện pháp là NHTW phải thường xuyên thanh tra các NHTM

- Phục vụ việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia: TTNH là công cụ,

là chức năng thiết yếu quản lý Nhà nước của NHNN về tiền tệ và hoạt độngNgân hàng Thông qua hoạt động của mình, TTNH thực hiện việc giám sátthường xuyên và tiến hành các cuộc thanh tra trực tiếp đối với các NHTM,nhằm phát hiện, ngăn chặn các sai phạm; kiến nghị biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng

- Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi sai phạm pháp luật; pháthiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với

cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; góp phần nângcao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhànước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

 Thanh tra trên cơ sở rủi ro: là phương pháp thanh tra trong đó tậptrung vào việc đánh giá mức độ rủi ro một NHTM gặp phải khi không tuân

Trang 24

thủ các quy định, quy trình đã có và khi không có các thủ tục, quy trình hoạtđộng phù hợp; đồng thời cũng trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro, nguồn lực đểkiểm soát, cảnh báo, xử lý rủi ro của NHTM; đưa ra những giải pháp buộcNHTM phải có hành động phù hợp để phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro; duytrì an toàn hệ thống các NHTM.

- Đặc điểm:

+ Tập trung vào việc đánh giá tổng thể NHTM thông qua việc xem xét,kiểm tra món tài liệu, các chính sách, quy trình, hệ thống và thực tiễn công tácquản lý của NHTM Thanh tra trên cơ sở rủi ro đánh giá các yếu tố địnhlượng, định tính trong đó các yếu tố định tính là chủ yếu; đối lập với Thanhtra tuân thủ là Thanh tra các yếu tố định lượng Khái niệm thanh tra trên cơ sởrủi ro có nội dung hơn nhiều so với thanh tra trên cơ sở tuân thủ

+ Cho phép định hướng thanh tra vào những lĩnh vực, những NHTM

có mức độ rủi ro cao và rủi ro có khả năng tác động tới sự an toàn của hệthống TCTD Cho phép cơ quan thanh tra có thể chủ động phân bổ nguồn lựcvào những lĩnh vực cần thanh tra, giám sát nhiều hơn

+ Thực hiện thanh tra dựa nhiều vào báo cáo kiểm toán nội bộ củaNHTM

+ Kết hợp cả đánh giá khách quan và chủ quan của thanh tra viên

+ Đòi hỏi thanh tra ngân hàng thực hiện cả việc dự báo Việc này thểhiện rõ nét nhất khi thanh tra ngân hàng lập báo cáo giám sát vi mô phải lập racác giả thuyết và kiểm tra bằng việc sử dụng các mô hình, thuật toán với sựtrợ giúp của công nghệ thông tin

1.2.4 Tiêu chí đánh giá kết quả thanh tra tín dụng đối với Ngân hàng thương mại

Khi đánh giá kết quả của hoạt động thanh tra chúng ta phải căn cứ vàomục đích đã được xác định ban đầu của hoạt động thanh tra Hiệu quả củahoạt động thanh tra chính là việc đạt được mục đích thanh tra đề ra

Trang 25

a Tiêu chí đánh giá trực tiếp:

Các sai phạm được phát hiện qua thanh tra

Qua hoạt động TTTC, Thanh tra NHTW ngoài việc tìm ra các sai phạm

về mặt nghiệp vụ nói chung, còn phải thấy được rủi ro tiềm ẩn trong hoạtđộng tín dụng của các NHTM, từ đó đưa ra những cảnh báo sớm, những yêucầu cần thiết giúp cho hoạt động tín dụng của các NHTM trở nên an toàn, gópphần giảm thiểu tổn thất phát sinh và ổn định hệ thống các TCTD

Kết quả thanh tra cần chỉ ra được:

- Số lượng, mức độ sai phạm, tồn tại về tín dụng được phát hiện quacông tác thanh tra Trong công tác thanh tra hoạt động tín dụng việc nhậnđịnh, đánh giá và chỉ ra các sai phạm, tồn tại là rất quan trọng Tiêu chí nàythể hiện thông qua số lượng những sai phạm, tồn tại trong hoạt động tín dụng

mà TTGS Chi nhánh đã phát hiện trong quá trình thanh tra tại các Chi nhánhNHTM Trong đó chủ yếu sai phạm trong công tác thẩm định, xét duyệt chovay; hồ sơ vay vốn chưa đầy đủ hoặc đảm bảo tính pháp lý theo quy định;kiểm tra sử dụng vốn vay chưa đúng quy định; sử dụng vốn vay sai mục đích;chấp hành chưa nghiêm túc quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng để

xử lý rủi ro tín dụng; chưa thực hiện quy định về bảo đảm tiền vay, định giátài sản đảm bảo không đúng quy định

- Số lượng sai phạm nghiêm trọng phát hiện qua công tác thanh tra tíndụng được xử lý Các loại sai phạm trong công tác thanh tra hoạt động tíndụng rất đa dạng, tuy nhiên nếu những sai phạm chỉ mang tính chất đơn lẻ,mức độ chưa nghiêm trọng thì việc xử lý sai phạm chỉ đơn thuần là các kiếnnghị, đề xuất khắc phục, bổ sung, chấn chỉnh, rút kinh nghiệm Các sai phạmmang tính chất nghiêm trọng, gây rủi ro hoặc ảnh hưởng lớn đến chất lượngtín dụng, quy mô hoạt động như: sai phạm quy chế an toàn về vốn, quy chếcho vay; vi phạm về giới hạn cấp tín dụng đối với một khách hàng hoặc một

Trang 26

nhóm khách hàng có liên quan; cho vay khống, vay ké; cấp tín dụng đối với tổchức, cá nhân thuộc các trường hợp không được cấp tín dụng quy định tạiĐiều 126, Luật các TCTD năm 2010; cho vay không tài sản đảm bảo, cho vay

ưu đãi đối với đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng quy định tại Điều 127,Luật các TCTD năm 2010; cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn mà pháp luật cấmhoặc không được phép thì cần được phát hiện và kết luận chính xác để xử

lý kịp thời, phòng ngừa và hạn chế rủi ro

Kết luận thanh tra

Kết luận thanh tra phải đảm bảo sự chính xác, khách quan, trung thực,

rõ ràng, tránh sự áp đặt, miễn cưỡng, phản ánh đúng bản chất sự việc đã đượckiểm tra, thanh tra; chỉ rõ các ưu khuyết điểm của tổ chức, cá nhân có liênquan, nhất là việc xác định rõ nguyên nhân và trách nhiệm của cán bộ, viênchức có thẩm quyền, cá nhân liên quan đến những nội dung phát hiện quathanh tra tín dụng, các kiến nghị xử lý về con người phải có lập luận, cơ sở,bằng chứng thuyết phục Thống nhất về hình thức của văn bản Kết luận thanhtra như bố cục, nội dung, kết luận, kiến nghị xử lý Kiến nghị phải đúng quyđịnh của pháp luật và có tính khả thi Nội dung kiến nghị phải nêu rõ các tậpthể, cá nhân có trách nhiệm thực hiện và thời hạn thực hiện Có như vậy, cáckiến nghị, kết luận mới có tính thuyết phục, đảm bảo khả năng chấp hành vàthực thi cao, nâng cao chất lượng và hiệu quả của cuộc thanh tra tín dụng

Kết luận thanh tra góp phần nâng cao hiệu lực thanh tra tín dụng, hiệuquả hoạt động quản lý nhà nước bởi vì thông qua kết quả các cuộc thanh tra,được thể hiện cụ thể trong các Kết luận thanh tra, NHTW có cơ sở đánh giáđược việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các đốitượng thanh tra Từ đó, NHTW phát hiện những sơ hở, thiếu sót về hoạt độngtín dụng để có các đề xuất, kiến nghị nhất là về việc sửa đổi, bổ sung cácquyết định quản lý, các biện pháp khắc phục sơ hở, yếu kém hay sửa đổi, bổ

Trang 27

sung cơ chế, chính sách, pháp luật Mặt khác, Kết luận thanh tra là văn bản cótính pháp lý, do người ra quyết định thanh tra ban hành Kết luận thanh tra thểhiện tính quyền lực nhà nước, được ban hành theo quy trình nhất định vàđược thể hiện theo hình thức quy định Việc ban hành văn bản Kết luận thanhtra là trách nhiệm và quyền hạn của người ra quyết định thanh tra Bên cạnh

đó, thông qua hoạt động thanh tra nói chung hay từ những Kết luận thanh tranói riêng còn là cơ sở pháp lý để NHTW căn cứ vào đó xây dựng và hoànthiện chính sách, pháp luật, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Đểmục đích hoạt động thanh tra được thực hiện có hiệu quả thì Kết luận thanhtra phải được tổ chức thực hiện nghiêm túc

Xử lý sau thanh tra

Các sai phạm được đối tượng thanh tra chỉnh sửa, khắc phục như đốitượng thanh tra chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không lập lại các viphạm đã được Đoàn thanh tra phát hiện, Cơ quan thanh tra phải thườngxuyên theo dõi sát sao, đôn đốc kịp thời, kiểm tra và chỉ đạo việc thực hiệnkết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau thanh tra theo đúng quy định

Việc xử lý sau thanh tra phụ thuộc rất lớn vào thái độ và trách nhiệmcủa lãnh đạo TTNH Nếu lãnh đạo TTNH quan tâm chỉ đạo sát sao việc thựchiện các kết luận, kiến nghị thì các kết luận, kiến nghị đó được thực hiệnnghiêm túc, tạo ra tác động tích cực làm thay đổi nhận thức của đối tượngthanh tra trong việc chấp hành pháp luật, hạn chế sai phạm Ngược lại, nếulãnh đạo TTNH không quan tâm chỉ đạo, đôn đốc thực hiện các kết luận, kiếnnghị thì những kết quả của hoạt động thanh tra không phát huy được hiệu quảtrên thực tế, thậm chí Cơ quan thanh tra bị coi thường

Việc theo dõi thực hiện các kiến nghị sau thanh tra được thực hiện theoThông tư số 01/2013/TT-TTCP ngày 12/3/2013 của Thanh tra Chính phủ quyđịnh về hoạt động theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến

Trang 28

nghị, quyết định xử lý về thanh tra Theo đó tiêu chí này thể hiện số lƣợngcác kiến nghị sau thanh tra đƣợc các NHTM nghiêm túc thực hiện theo đúngthời gian quy định Sự đảm bảo tính khả thi của kiến nghị, hay nói cách khácnhững kiến nghị xử lý của thanh tra đƣợc tiếp thu, thực hiện một cách triệt để,nghiêm túc sẽ giúp cho hoạt động của hệ thống NHTM hạn chế đƣợc rủi ro,đồng thời góp phần đảm bảo mục tiêu an toàn và hiệu quả đúng theo quy địnhcủa pháp luật về tiền tệ và ngân hàng.

Kiến nghị, đề xuất đến các cơ quan có thẩm quyền về hoạt động ngân hàng

Để hoạt động thanh tra tín dụng đạt hiệu quả cao cần nghiên cứu, ápdụng các quy chế, quy định của pháp luật có liên quan đến hoạt động tín dụngcủa ngân hàng Thực tế trong quá trình thanh tra trực tiếp tại các đơn vị nếuphát hiện ra những bất cập, thiếu thực tiễn về cơ chế, chính sách không cònphù hợp hoặc đã lỗi thời với hoạt động tín dụng của NHTM hiện thời thì cần

có những kiến nghị, đề xuất đúng nội dung, thẩm quyền đến cơ quan ban hànhvăn bản, pháp luật nhằm hoàn thiện công tác thanh tra tín dụng Có nhƣ vậy,hoạt động tín dụng của NHTM đƣợc đảm bảo là luôn có những điều chỉnhthích nghi với những điều kiện mới, những biến động của nền kinh tế Từ đó,mục tiêu về hoạt động thanh tra tín dụng đối với NHTM của NHNN đảm bảo

an toàn và hiệu quả ngày càng đƣợc hoàn thiện

b Tiêu chí đánh giá gián tiếp:

Việc đánh giá gián tiếp kết quả công tác thanh tra tín dụng thông quahiệu quả hoạt động của các NHTM sau khi đƣợc thanh tra, thể hiện quanhững tiêu chí sau:

Thay đổi về quy mô dƣ nợ, cơ cấu tín dụng của NHTM

Đánh giá thay đổi về quy mô dƣ nợ, cơ cấu tín dụng thông qua các tiêu chí: kết quả tăng hoặc giảm về quy mô dƣ nợ tín dụng có phù hợp với định

Trang 29

hướng của NHNN và mức độ tập trung cho vay theo nhóm khách hàng, ngành, lĩnh vực để đạt được mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.

Chất lượng tín dụng của hệ thống NHTM

Hoạt động thanh tra, giám sát góp phần đảm bảo an toàn cho hoạt độngkinh doanh của hệ thống NHTM Trong đó, thanh tra tín dụng là việc chútrọng giảm tỷ trọng rủi ro nợ xấu phát sinh và phòng ngừa rủi ro, phát hiện vàchấn chỉnh các vi phạm nhằm đảm bảo các NHTM thực hiện đúng quy địnhcủa pháp luật

1.2.5 Yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thanh tra tín dụng của Ngân hàng Nhà nước

a Các yếu tố bên trong:

Cơ cấu tổ chức bộ máy thanh tra, giám sát

Cơ cấu tổ chức bộ máy TTNH là yếu tố tác động lớn đến thanh tra tíndụng Tổ chức bộ máy TTNH khoa học sẽ giúp việc thanh tra tín dụng đượcthực hiện chính xác và hiệu quả Ngược lại, nếu tổ chức bộ máy không khoahọc làm cho hoạt động thanh tra tín dụng đạt kết quả không cao Bộ máythanh tra cần được tổ chức một cách độc lập tương đối vì hoạt động thanh tramang tính khách quan và bí mật Tính độc lập càng cao thể hiện bộ máy thanhtra càng phát triển Tính độc lập thể hiện qua việc thanh tra có quyền tự raquyết định thanh tra bất kỳ TCTD nào vào thời điểm nào đó mà không có bất

kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài vào quá trình ra quyết định thanh tra

Việc điều hành càng chặt chẽ, phân công nhiệm vụ càng rõ ràng thì hiệuquả hoạt động của bộ máy thanh tra càng cao Ngược lại, cơ chế điều hànhkhông chặt chẽ, mệnh lệnh cấp trên không được cấp dưới thực thi nghiêm túc

sẽ làm cho bộ máy thanh tra trở nên yếu kém Việc phối hợp giữa các bộ phậntrong bộ máy thanh tra thể hiện tính chuyên nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đếnkết quả của hoạt động thanh tra Bộ máy thanh tra mạnh phải tổ

Trang 30

chức được các bộ phận đảm nhiệm chuyên sâu trong từng mảng công việcnhư bộ phận TTTC, bộ phận GSTX, bộ phận theo dõi thực hiện kiến nghịthanh tra,… Các bộ phận này phải phối hợp hài hòa với nhau nhằm nâng caohiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát.

Chất lượng nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực là nhân tố quyết định đến chất lượng tổchức, hoạt động TTNH Cán bộ TTNH cần nắm vững nghiệp vụ ngân hàng,các quy định của pháp luật có liên quan đến hoạt động ngân hàng mới có khảnăng phát hiện sai sót, vi phạm của các ngân hàng và đưa ra cảnh báo sớmcho các NHTM Mặt khác, thanh tra ngân hàng là người hiểu và nắm rõ nhất

về tình hình hoạt động của ngân hàng, họ không chỉ đưa ra cảnh báo sớm chocác NHTM mà còn tham mưu cho Thống đốc NHNN trong việc chỉ đạo, điềuhành hoạt động của NHTM

Để đánh giá chất lượng cán bộ TTNH dựa vào các tiêu chí như: kiếnthức chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức tổng hợp, khả năng phân tích đánh giáthông tin, dự báo, kinh nghiệm thực tế, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tráchnhiệm với công việc,….Trình độ chuyên môn của cán bộ tốt, đạo đức nghềnghiệp chuẩn mực không chỉ thực hiện đầy đủ các nội dung thanh tra đề ra,phản ánh đúng thực trạng hoạt động của TCTD mà còn có thể phát hiện ra cácrủi ro hệ thống xuất phát từ dấu hiệu vi phạm nhỏ, từ đó giúp hệ thống cácTCTD tránh được tổn thất lớn Ngược lại, trình độ chuyên môn thấp hoặc cán

bộ thiếu trách nhiệm với công việc sẽ bỏ qua các vi phạm có thể dẫn đến hậuquả khó lường, làm giảm hiệu quả của hoạt động thanh tra, giám sát

Phương pháp thanh tra

Việc lựa chọn phương pháp thanh tra phù hợp với hoạt động ngày cànghiện đại của hệ thống NHTM đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng caochất lượng công tác thanh tra Bên cạnh đó phương pháp thanh tra được áp

Trang 31

dụng cũng phải phù hợp với trình độ đội ngũ cán bộ thanh tra, với mức độphát triển của hệ thống quản lý thông tin cũng như số lượng các dịch vụ ngânhàng hiện đại.

Điều kiện hoạt động, cơ sở vật chất và công nghệ áp dụng

Trong xu thế kinh tế-xã hội ngày càng phát triển theo hướng hiện đạihóa công nghệ nói chung và trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng, thúc đẩy sựphát triển các dịch vụ tài chính phục vụ nhu cầu của con người ngày càng đadạng Trước tình hình đó đòi hỏi hoạt động thanh tra phải được trang bị cơ sởvật chất, phương tiện làm việc, hệ thống công nghệ hiện đại để chủ độngtheo kịp sự thay đổi đó nhằm hỗ trợ đắc lực cho hoạt động TTNH được diễn

ra thuận lợi với thông tin được cập nhập một cách đầy đủ, nhanh chóng, kịpthời Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ hoạt động thanh tra cũng như cơchế đãi ngộ đối với thanh tra viên có tác động trực tiếp tới hiệu quả hoạt độngthanh tra

Việc đảm bảo về điều kiện hoạt động và công nghệ phù hợp với quy trìnhnghiệp vụ thanh tra sẽ giúp hoạt động thanh tra mang tính chuyên nghiệp hơn.Công nghệ thanh tra, trang thiết bị, hệ thống mạng máy tính, phần mềm phục vụhoạt động thanh tra có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động thanh tra.Công nghệ thanh tra, trang thiết bị, phần mềm lạc hậu, không đồng bộ gây cảntrở cho quá trình thu thập và xử lý thông tin Thông tin về các TCTD có thể cậpnhật chậm, thiếu chính xác và không đầy đủ dẫn đến kết quả phân tích đánh giáthông tin bị sai lệch, từ đó đưa ra kết luận không chính xác

b Các nhân tố bên ngoài:

Môi trường pháp lý

Khung pháp lý đối với hoạt động TTNH được hiểu là các quy định củapháp luật đối với hoạt động thanh tra của NHTW đối với NHTM trên cơ sởchặt chẽ và rõ ràng Trong đó, quy định pháp lý đối với NHTW có đảm bảo rõ

Trang 32

ràng và chặt chẽ về chức năng, nhiệm vụ và vai trò của NHTW trong hoạtđồng thanh tra.

Một khuôn khổ pháp lý đầy đủ, rõ ràng và phù hợp với thực tiễn sẽ tạotiền đề và là công cụ sắc bén của hoạt động thanh tra Ngược lại, với một hệthống pháp luật và quy chế thiếu đồng bộ, không rõ ràng và không phù hợpvới thực tiễn sẽ gây ra sự lãng phí nguồn lực thanh tra, làm giảm hiệu quảcông tác thanh tra

Các chính sách vĩ mô cũng ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động củaTCTD, từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động TTNH Nếu môi trường vĩ

mô ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thanh tra, giám sát đạtđược mục tiêu là giữ ổn định cho hệ thống các TCTD Nếu các chính sách vĩ

mô mang tính áp đặt, không phù hợp với điều kiện thực tiễn của nền kinh tế,hoạt động thanh tra sẽ phải thực hiện công việc không thích hợp với thực tếdẫn đến kết quả hoạt động thanh tra bị sai lệch

Quy mô hoạt động của các NHTM

Hoạt động kinh doanh của các NHTM là đối tượng của hoạt độngTTNH Đối tượng có quy mô càng lớn, càng đa dạng, phức tạp thì hoạt độngthanh tra càng gặp khó khăn Một hệ thống các TCTD phát triển lành mạnh vềtất cả các phương diện như nguồn vốn, trình độ công nghệ, khả năng quản lýkinh doanh, trình độ quản trị rủi ro của Ban điều hành, chất lượng hoạt độngcủa Ban kiểm soát nội bộ, năng lực tài chính, chế độ thông tin báo cáo… làmgiảm đáng kể chi phí cho hoạt động thanh tra Ngược lại, hệ thống các TCTDhoạt động không lành mạnh sẽ cần một lực lượng thanh tra lớn Nếu TCTDthông tin báo cáo kịp thời, đầy đủ và phản ánh chính xác tình hình hoạt độngcủa TCTD sẽ rất thuận lợi cho TTNH trong khi thực hiện TTTC, từ đó đưa ranhững cảnh báo sớm và các kiến nghị sẽ thực sự có ý nghĩa

Trang 33

Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan

Sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và chia sẻ thông tin giữa các cơ quanquản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau sẽ giúp nâng cao chất lượngthanh tra của NHNN Mặc dù NHNN được giao trách nhiệm thực hiện thanhtra đối với hệ thống ngân hàng, tuy nhiên các cơ quan khác với các chức năngquản lý nhà nước ở nhiều mảng khác nhau cũng có những thông tin về tìnhhình hoạt động của đối tượng thanh tra Như vậy việc đưa ra cơ chế phối hợpgiữa các cơ quan, tổ chức có liên quan trong hoạt động TTNH sẽ giúp NHNNtận dụng được các nguồn thông tin nhiều chiều cho hoạt động thanh tra đểgiúp quá trình thực hiện và đưa ra kết quả một cách chính xác và khách quan

1.3 KINH NGHIỆM VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA NGÂN HÀNG Ở MỘT SỐ NƯỚC

1.3.1 Về tổ chức và hoạt động Thanh tra ngân hàng ở một số nước

a Về mô hình bộ máy tổ chức của Thanh tra ngân hàng:

Theo thông lệ quốc tế do Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đưa ra,một hệ thống TTNH hiệu quả phải là một hệ thống có sự phân định rõ ràngchức năng, mục đích của từng đơn vị liên quan đến công tác thanh tra giámsát Trong đó, từng đơn vị phải có hoạt động độc lập tương đối với nguồn lựcđầy đủ Hệ thống đó phải có một khung pháp lý tương thích đối với qui trìnhthanh tra giám sát, từ thành lập ngân hàng tới thanh tra giám sát, có quyền lực

để bảo đảm các ngân hàng tuân thủ các qui định luật pháp và bảo đảm an toàn

hệ thống, đồng thời đảm bảo sự bảo vệ hợp pháp đối với các thanh tra viên.Trong đó:

- Về phân định rõ ràng trách nhiệm của các đơn vị liên quan đến các cơquan thanh tra giám sát: Chức năng và trách nhiệm của từng đơn vị liên quanphải rõ ràng, có đầy đủ các quy định về an toàn tối thiểu, các quy chế phảiđược cập nhật và thay đổi tương thích với sự phát triển của thị trường; có cơ

Trang 34

chế hữu hiệu về phối hợp giữa các đơn vị liên quan đến công tác thanh tragiám sát kể cả các trường hợp đóng cửa và cơ cấu lại ngân hàng, cơ chế phốihợp này phải chủ động và phản ứng nhanh được trước các biến động lớn,nhất là cuộc khủng hoảng ngân hàng.

- Về việc từng đơn vị liên quan đến thanh tra giám sát phải có tính độclập tương đối trong hoạt động và có đầy đủ nguồn lực, cần hạn chế sự canthiệp của chính trị và của chính quyền địa phương khi thanh tra thực hiệncông việc của mình theo quy định; từng đơn vị tham gia thanh tra giám sátphải có đủ nguồn lực tài chính để bảo đảm công tác thanh tra giám sát đượcthực thi theo quy định và yêu cầu về an toàn hệ thống và có các chuyên giagiỏi; người đứng đầu cơ quan thanh tra giám sát phải được bổ nhiệm theonhiệm kỳ, mà trong nhiệm kỳ đó không bị áp lực chính trị bắt rời khỏi cương

vị đó nếu người đó không vi phạm luật pháp hoặc vì lý do sức khỏe, việc bãinhiệm trước thời hạn phải được công bố rõ ràng

- Về cơ sở pháp lý thích hợp cho hệ thống thanh tra giám sát: Cơ quanthanh tra giám sát phải có quyền đưa ra những tiêu chí về thành lập ngânhàng để bảo đảm cho an toàn hệ thống; cơ quan thanh tra giám sát đượcquyền chủ động đưa ra các quy định về an toàn hoạt động, phân loại nợ và xử

lý dự phòng; cơ quan giám sát được đưa ra những nhận định mang tính địnhtính khi đánh giá về an toàn hoạt động của từng ngân hàng

Thực tế cho thấy, không phải tất cả các nước đều áp dụng mô hình tách

cơ quan thanh tra giám sát ra khỏi NHTW Trong đó, mô hình đặt cơ quanthanh tra giám sát nằm trong NHTW (như MAS của Singapore, HKMA củaHồng kông) vẫn đang rất thành công, mô hình này có những ưu điểm sau đây:

- Về xử lý rủi ro hệ thống: NHTW là “người” cho vay cuối cùng củanền kinh tế, khi một NHTM gặp khó khăn về thanh khoản, NHTW sẽ thựchiện chức năng này Trong trường hợp khẩn cấp, nếu NHTW không nắm vai

Trang 35

trò thanh tra giám sát thì khó có thể quyết định ngay được là NHTM đó cóvấn đề về thiếu hụt thanh khoản tạm thời hay NHTM đó bị mất khả năngthanh toán Như vậy, NHTW do thiếu thông tin sẽ bị lâm vào tình trạng “tiếnthoái lưỡng nan” và rủi ro đạo đức có thể xuất hiện Vì vậy, vấn đề đặt ra là,NHTW chỉ thực hiện tốt chức năng của mình nếu có đầy đủ thông tin về hệthống tài chính Nói ngắn gọn, hệ thống thanh tra giám sát nếu đặt tại NHTW

sẽ giải quyết được vấn đề này

- Không bị gián đoạn thông tin ảnh hưởng đến thực thi chính sách tiềntệ: Thay đổi trong chính sách tiền tệ của NHTW (chẳng hạn thay đổi chínhsách lãi suất ngắn hạn) sẽ ảnh hưởng tới thu nhập danh nghĩa, lạm phát và cơchế chuyển tải chính sách tiền tệ thường được thực hiện thông qua các địnhchế tài chính, đặc biệt là các NHTM Một hệ thống thanh tra giám sát thuộcNHTW sẽ giúp NHTW nắm được thông tin một cách đầy đủ về hệ thống, gópphần nâng cao chất lượng dự báo và phân tích chính sách Vấn đề này đặcbiệt đúng ở các nước đang phát triển do môi trường pháp lý chưa hoàn thiện,

hệ thống thông tin thiếu minh bạch và không đầy đủ

- Không bị gián đoạn thông tin ảnh hưởng đến hệ thống thanh toán:Song song với chức năng thực thi chính sách tiền tệ và ổn định giá cả, NHTWcủa bất cứ nước nào cũng là tổ chức thực hiện duy trì bảo đảm hệ thống thanhtoán Vì vậy, việc tách hệ thống thanh tra ra khỏi NHTW sẽ làm yếu khả năngcủa NHTW trong việc có đầy đủ những thông tin về các thành viên tham gia

hệ thống thanh toán là các NHTM, do đó sẽ làm cho việc bảo đảm an toàn hệthống thanh toán của NHTW bị ảnh hưởng Tương tự, hiệu quả hoạt độngcủa cơ quan giám sát được tách ra khỏi NHTW cũng hạn chế do không cóthông tin đầy đủ từ việc bảo đảm hệ thống thanh toán có thể mang lại vìNHTW là người nắm được khả năng thanh khoản của từng ngân hàng, qua

đó biết được vị thế của từng ngân hàng trong hệ thống thanh toán

Trang 36

Tóm lại, về cơ bản hệ thống TTNH ở tất các các nước đều thống nhấtvới nhau về mục tiêu là bảo vệ sự an toàn và hiệu quả của hệ thống ngânhàng, nhưng khác nhau về mô hình tổ chức, vị thế của TTNH trong cấu trúcthể chế và trình độ vận dụng các kỹ năng, công nghệ và phương thức TTNH.Chính sự khác nhau này dẫn đến quyền lực được trao, mức độ trách nhiệmcũng như hiệu quả TTNH ở các nước khác là không giống nhau Trên thếgiới hiện nay tồn tại 3 loại mô hình tổ chức TTNH chính, đó là: (i) TTNH trựcthuộc Chính phủ; (ii) TTNH trực thuộc NHTW; (iii) TTNH trực thuộc Bộ Tàichính Điển hình ở một số nước như:

- Cộng hoà liên bang Đức: Cơ quan thực hiện chức năng thanh tra

ngân hàng của Cộng hòa liên bang Đức là Cục giám sát tín dụng liên bangtrực thuộc Chính phủ Tổ chức này được hoạt động độc lập như một cơ quantối cao của Liên bang chịu trách nhiệm trước Chính phủ về thực hiện nhiệm

vụ thanh tra các TCTD

- Pháp: Tổ chức thanh tra được gọi là ủy ban thanh tra, trực thuộc

NHTW Pháp đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hội đồng Thống đốc Ủy banthanh tra NHTW Pháp được tổ chức thành 1 hệ thống gồm 7 người, mỗingười do 1 tổng thanh tra phụ trách Khi tiến hành thanh tra, giám sát cácTCTD các tổng thanh tra có thể trưng dụng thanh tra viên của NHTW để phốihợp thực hiện Mọi quyết định về xử lý vi phạm của các TCTD từ hình thứcnhẹ nhất cho đến đóng cửa ngân hàng đều do hội đồng thanh tra quyết định

- Malaysia: Tổ chức thanh tra ngân hàng gọi là Vụ thanh tra ngân hàng

được đặt dưới sự điều hành trực tiếp của Bộ Tài chính Khi tiến hành thanh trađối với các TCTD Luật pháp Malaysia quy định nhân viên thanh tra có quyền xử

lý tất cả các nhân viên của các TCTD khi có các hành vi vi phạm pháp luật, kể cảviệc bắt các nhân viên của các TCTD để truy tố trước pháp luật

Trang 37

Như vậy, tùy theo điều kiện và quan điểm của từng quốc gia mà cơquan thanh tra ngân hàng có thể được tổ chức trực thuộc Chính phủ hoặcQuốc hội, trực thuộc NHTW, trực thuộc Bộ Tài chính, hoặc trực thuộc NHTWnhưng còn chịu sự giám sát và chỉ đạo của các cơ quan khác thí dụ Chínhphủ, cơ quan thanh tra của Chính phủ hoặc Bộ Tài chính.

b Về phương pháp thanh tra tín dụng đối với các NHTM:

Các NHTW thực hiện thanh tra tín dụng đối với các NHTM thông quahai phương thức: Giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ GSTX theo các tiêu chíCAMELS (có chức năng cảnh báo sớm đối với các NHTM có vấn đề và rủi rotrong hoạt động tín dụng ngân hàng) thông qua việc duy trì 3 loại báo cáogiám sát: (i) Báo cáo giám sát vĩ mô; (ii) Báo cáo đánh giá xếp hạng; (iii) Báocáo cảnh báo sớm Bên cạnh đó, thanh tra tuân thủ (thanh tra định kỳ và thanhtra đột xuất) thực hiện với sự kết hợp của hai bộ phận chính là GSTX và kiểmtra tại chỗ Hoạt động GSTX đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chấtlượng hoạt động thanh tra tín dụng tại chỗ Sự phối hợp hoạt động giữaGSTX và TTTC thể hiện sự cải cách hoạt động giám sát của NHNN theonguyên tắc giám sát của Ủy ban Basel

1.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

a Về mô hình bộ máy tổ chức Thanh tra ngân hàng:

Trong những năm qua, TTNH đóng vai trò hết sức quan trọng trongviệc bảo đảm pháp chế và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vựctiền tệ và hoạt động ngân hàng TTNH đã góp phần tích cực bảo đảm sự antoàn và hiệu quả của hệ thống các tổ chức tín dụng vận hành trong cơ chế thịtrường; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, đồng thời nângcao hiệu quả của chính sách tiền tệ và chức năng NHTW của NHNN Tuynhiên, bước vào giai đoạn phát triển mới của đất nước, nhất là khi nền kinh tế

và hệ thống ngân hàng đang trên đường hội nhập quốc tế mạnh mẽ trong bối

Trang 38

cảnh và triển vọng thế giới và trong nước cũng có nhiều thay đổi, NHNN và

hệ thống ngân hàng đứng trước những vận hội mới nhưng cũng phải đối phóvới không ít khó khăn, thách thức kèm theo Trên thực tế, hoạt động TTNHcũng bộc lộ nhiều yếu kém do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó chủyếu thuộc về cấu trúc thể chế, khuôn khổ pháp luật và năng lực thực hiện.Việc xác định và khẳng định lại vị thế, tổ chức của TTNH là cần thiết để tìm

ra một mô hình TTNH hợp lý nhất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động TTNHtrong vai trò góp phần bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và nâng cao hiệuquả chính sách tiền tệ

Theo Luật NHNN năm 2010, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng,phòng chống rửa tiền do CQTTGSNH trực thuộc NHNN chịu trách nhiệm Hoạtđộng thanh tra, giám sát ngân hàng phải đảm bảo sự phát triển an toàn, lànhmạnh của hệ thống các TCTD Trong đó, CQTTGSNH thực hiện thanh tra, giámsát đối với hội sở chính, sở giao dịch của các NHTM; TTGS tại NHNN chinhánh tỉnh, thành phố thực hiện thanh tra NHTM cổ phần và các chi nhánh củaNHTM ở các tỉnh, thành phố Mô hình này tạo điều kiện giám sát toàn diện cảchi nhánh và hội sở chính của các NHTM Tuy nhiên, thách thức đặt ra là việcphân cấp, uỷ quyền cho các NHNN chi nhánh thực hiện thanh tra, giám sát cácNHTM trên địa bàn quản lý có thể dẫn đến những khó khăn trong thanh tra toàndiện hệ thống NHTM TTNH được giao thực hiện đồng thời cả hoạt động giámsát an toàn hệ thống ngân hàng và thanh tra chuyên ngành, khiến việc thực thichính sách giám sát ngân hàng bị hạn chế Bên cạnh đó, mặc dù việc thanh trađịnh kỳ các chi nhánh của NHTM đã có hiệu quả nhưng chưa cao và chưa phùhợp với yêu cầu thanh tra, giám sát dựa trên cơ sở rủi ro (chủ yếu tập trung ở hội

sở chính của NHTM) Ngoài ra, TTNH cũng bị hạn chế bởi những khó khăntrong việc tổ chức, chỉ đạo, điều phối hoạt động thanh tra, giám sát của TTGSNHNN chi nhánh tỉnh, thành phố

Trang 39

Do đó, NHNN Việt Nam cần nghiên cứu kinh nghiệm trên thế giới về

mô hình quản lý nhà nước phù hợp với tình hình phát triển của hệ thốngNHTM trong nước phù hợp với thông lệ quốc tế Trong đó, để TTNH hiệuquả cần phải có sự phân định rõ ràng chức năng, mục đích của từng đơn vịliên quan đến công tác thanh tra giám sát, từng đơn vị phải có hoạt động độclập tương đối với nguồn lực đầy đủ Hệ thống đó phải có một khung pháp lýtương thích đối với quy trình TTGS, từ thành lập ngân hàng tới TTGS, cóquyền lực để bảo đảm các ngân hàng tuân thủ các quy định luật pháp và bảođảm an toàn hệ thống, đồng thời đảm bảo sự bảo vệ hợp pháp đối với cácthanh tra viên

b Về phương pháp thanh tra tín dụng đối với các NHTM:

Tại Việt Nam, hệ thống giám sát ngân hàng hiện nay được vận hànhtheo hai phương thức giám sát phổ biến trên thế giới là GSTX và TTTC Tuynhiên, quy trình, quy định về công tác GSTX hiện này đã được triển khai thựchiện từ năm 1991 và được hoàn thiện năm 1999 theo Quyết định số398/1999/QĐ-NHNN ngày 09/11/1999 của Thống đốc NHNN ban hành vềquy chế giám sát từ xa đối với các TCTD hoạt động tại Việt Nam

Hoạt động thanh tra tín dụng ngân hàng ở Việt Nam hiện nay chuyểndần từ thanh tra từng vụ việc sang sử dụng kết hợp cả hai phương thức GSTX

và TTTC, đã góp phần bảo đảm việc chấp hành các quy định về tín dụng ngânhàng của các NHTM và giúp hoạt động tín dụng phát triển an toàn, lành mạnh

hệ thống tài chính và góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhànước trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, thách thức đặt ra là, hệthống thông tin số liệu sử dụng trong GSTX chưa được đảm bảo, chưa cóchương trình cảnh báo sớm Kết quả dự báo cảnh báo đối với các NHTM chỉ

có tác dụng báo cáo, mới dừng ở việc dùng số liệu tham khảo khi xây dựng

Trang 40

chính sách, cơ chế và hỗ trợ cho hoạt động TTTC trong việc đánh giá chungtình hình của các NHTM, song về cơ bản còn yếu kém nên chƣa hoàn toànphát huy đƣợc tác dụng trong việc phát hiện rủi ro, cảnh báo và có biện phápphòng ngừa tổn thất trong hoạt động tín dụng của các NHTM.

Ngày đăng: 06/01/2021, 18:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w