1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trang trại ngô thị hồng gấm, huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang

62 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

\ TẠ NGỌC DƯƠNG Tên đề tài: THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN CON GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRANG TRẠI NGÔ THỊ HỒNG GẤM, HUYỆN HIỆP H

Trang 1

\

TẠ NGỌC DƯƠNG

Tên đề tài:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ

BỆNH CHO LỢN CON GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI

TẠI TRANG TRẠI NGÔ THỊ HỒNG GẤM, HUYỆN HIỆP HÒA,

TỈNH BẮC GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Thú y

Thái Nguyên - năm 2019

Trang 2

TẠ NGỌC DƯƠNG

Tên đề tài:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ

BỆNH CHO LỢN CON GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI

TẠI TRANG TRẠI NGÔ THỊ HỒNG GẤM, HUYỆN HIỆP HÒA,

TỈNH BẮC GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp, để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình, em luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô trong Ban Giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa, Ban quản lý trang trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm

Em xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, các thầy, cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y, đã tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành bản khóa luận này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới ban quản lý trang trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm, cán bộ công nhân viên trại lợn đã giúp đỡ về tinh thần và vật chất trong suốt quá trình thực tập tại trại

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn đến cô giáo hướng dẫn TS Phạm Thị Phương Lan đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận thực tập tốt nghiệp của mình

Để góp phần cho việc hoàn thành khóa luận đạt kết quả tốt, em luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè, đồng nghiệp Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó

Cuối cùng xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, đạt nhiều thành tích trong công tác và nhiều thành công trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy

Em xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 25 tháng 11 năm 2019

Sinh viên

Tạ Ngọc Dương

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Lịch vệ sinh tiêu độc, sát trùng toàn trại 9

Bảng 2.2 Lịch tiêm vắc xin phòng bệnh tại trại 10

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Ngô Thị Hồng Gấm 33

Bảng 4.2 Khẩu phần ăn của lợn mẹ trước và sau khi đẻ 34

Bảng 4.3 Số lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trang trại 37

Bảng 4.4 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho lợn nái và lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 38

Bảng 4.5 Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trang trại 39

Bảng 4.6: Kết quả vệ sinh, phòng bệnh tại cơ sở 41

Bảng 4.7 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trang trại 42

Bảng 4.8 Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trang trại 45

Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con từ từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi trang trại Ngô Thị Hồng Gấm 46

Bảng 4.10 Kết quả công tác chuyên môn khác 47

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1

1.2.1 Mục đích 1

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Điều kiện cơ sơ nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại 4

2.1.3 Cơ sở vật chất 4

2.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại 6

2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại 11

2.2 Tổng quan tài liệu 11

2.2.1 Cơ sở khoa học 11

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 26

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 31

3.1 Đối tượng 31

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 31

3.3 Nội dung thực hiện 31

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 31

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 31

Trang 7

3.4.2 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin) 31

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 32

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Ngô Thị Hồng Gấm 33

4.2 Thực hiện biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trang trại Ngô Thị Hồng Gấm 33

4.3 Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trang trại Ngô Thị Hồng Gấm 39

4.4 Thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trang trại Ngô Thị Hồng Gấm 40

4.4.1 Biện pháp vệ sinh phòng bệnh 40

4.4.2 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại 42

4.5 Kết quả về chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trang trại Ngô Thị Hồng Gấm 43

4.5.1 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại Ngô Thị Hồng Gấm 43

4.5.2 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trang trại Ngô Thị Hồng Gấm 45

4.6 Công tác chuyên môn khác 46

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48

5.1 Kết luận 48

5.2 Đề nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

MỘT SỐ HÌNH ẢNH LÀM VIỆC TẠI TRANG TRẠI

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một nước nông nghiệp, trong đó chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống của nông dân Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, nhiều tiến bộ về giống, thức ăn, thú y…được áp dụng làm cho đàn lợn không ngừng tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng, không chỉ đáp ứng nhu cầu thực phẩm của nhân dân mà còn phục vụ xuất khẩu Chính vì vậy trong những năm qua, chăn nuôi lợn ở nước ta đã đạt những thành tựu mới,

xu thế chuyên môn hóa sản xuất, chăn nuôi trong các trang trại tập trung càng phổ biến

Tuy nhiên để thịt lợn trở thành thực phẩm có thể nâng cao sức khỏe cho con người, điều quan trọng là quá trình chọn giống, nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn từ lúc sơ sinh đến khi được xuất bán, đàn lợn phải luôn khỏe mạnh, sức đề kháng cao, thành phần các thành phần dinh dưỡng tích lũy vào thịt có chất lượng tốt và có giá trị sinh học cao

Căn cứ vào tình hình thực tế trên, được sự đồng ý và tạo điều kiện giúp

đỡ của ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y, giảng viên hướng dẫn và cơ sở

thực tập, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc,

nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trang trại Ngô Thị Hồng Gấm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang”

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

Trang 9

- Xác định tình hình nhiễm, thực hiện quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn con nuôi tại trang trại

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện cơ sơ nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Phía bắc giáp với huyện Tân Yên (Bắc Giang)

- Phía đông giáp với huyện Việt Yên (Bắc Giang)

- Phía nam giáp với huyện Yên Phong (Bắc Ninh)

- Phía tây nam giáp huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội, phía tây bắc giáp với huyện Phổ Yên và Phú Bình của tỉnh Thái Nguyên

Đây là điều kiện khá thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán giữa các xã, huyện thành bên cạnh và với thủ đô Hà Nội – trung tâm kinh tế chính trị lớn của cả nước

- Điều kiện khí hậu

Khí hậu là yếu tố quan trọng trong đời sống sinh hoạt của người dân cũng như trong chăn nuôi, nó quyết định đến sự phát triển của ngành nông nghiệp trong đó có trồng trọt và chăn nuôi, mà hiện nay chăn nuôi đang có xu hướng tăng mạnh

Xã Đại Thành cũng như huyện Hiệp Hòa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa

Trang 11

Nhìn chung điều kiện khí hậu của xã khá là thuận lợi cho nông nghiệp phát triển cả về trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên có những tháng bất lợi như mùa hè nhiệt độ, độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển và gây bệnh

Sự biến động phức tạp của thời tiết gây nhiều khó khăn trong công tác chăn nuôi, đặc biệt nhiệt độ cao về mùa hè, lạnh giá về mùa đông ảnh hưởng lớn tới khả năng sinh trưởng và mức chịu đựng của vật nuôi Chính vì vậy việc phòng và trị bệnh cho đàn gia súc khá là quan trọng

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại

- 01 quản lý trại

- 01 kĩ thuật trại

- 01 tổ trưởng chuồng đẻ

- 01 tổ trưởng chuồng bầu

- 12 công nhân làm ngày và 02 công nhân trực đêm

- 02 sinh viên thực tập

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trang trại

2.1.3 Cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất ở trại tương đối đầy đủ và hoàn thiện

Về thiết kế xây dựng:

- Tổng diện tích là 3 ha

- Trước cổng có hệ thống phun sát trùng cho phương tiện ra vào trại

- Tiếp đến là phòng hành chính để tiếp khách, phòng họp, rồi đến khu nhà tập thể và nhà ăn cho công nhân của trại

Trang 12

- Khu vực sản xuất theo thứ tự: Khu vực xuất lợn con và chuồng cai sữa, sau đó lần lượt là các chuồng nái đẻ (1 - 2 - 3) Phòng pha chế và bảo quản tinh được trang bị kính hiển vi, tủ lạnh, nhiệt kế Tiếp theo là chuồng lợn bầu rồi chuồng cách ly

- Trại có 1 nhà kho để dự trữ cám ở đầu khu vực sản xuất

- Ở khu vực cuối trại có hệ thống biogas để xử lí phân và nước thải

14 ô lợn đực Còn lại là các ô lợn nái Các ô trong chuồng đều có vòi uống tự động cao 50 - 55 cm Chuồng có hệ thống ống dẫn nước dọc hai bên dãy chuồng để thuận tiện phục vụ cho công việc vệ sinh, rửa máng, xịt gầm

Chuồng nái nuôi con:

- Có 3 chuồng nái nuôi con, mỗi chuồng chia làm 4 dãy, có sức chứa tối

đa là 56 con/chuồng Ở đầu mỗi chuồng có hệ thống dàn mát và 6 quạt hút gió phía cuối chuồng Sàn cho lợn mẹ là sàn bê tông còn lại toàn bộ sàn cho lợn con là sàn nhựa, sàn cao hơn so với nền chuồng

Trang 13

- Mỗi ô để có vòi uống tự động cho cả lợn con và lợn mẹ, có hệ thống máng tập ăn cho lợn con được lắp vào lúc 3 - 5 ngày tuổi Có hệ thống ống dẫn nước dọc hành lang hai bên để phục vụ cho công việc vệ sinh, xịt gầm

Chuồng cai sữa:

- Có 1 chuồng cai sữa gồm 4 ô, có sức chứa tối đa là 200 con Ở đầu chuồng có hệ thống dàn mát và 3 quạt hút gió phía cuối chuồng Toàn bộ sàn cho lợn cai sữa là sàn bê tông, có hệ hống máng ăn và vòi uống tự động, có 2 ống dẫn nước dọc hành lang hai bên để phục vụ cho công việc vệ sinh, rửa chuồng

Chuồng cách ly:

- Gồm có 3 ô có sức chứa tối đa là 60 con Ở đầu chuồng có hệ thống dàn mát và 3 quạt hút gió phía cuối chuồng Có hệ thống máng ăn và vòi uống

tự động, có hệ thống thoát nước tại bể tắm thuận tiện cho việc về sinh chuồng

2.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại

2.1.4.1 Công tác chăn nuôi

* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng

Đàn lợn nái tại trại được chăm sóc nuôi dưỡng theo đúng quy định và được chia ra làm 3 giai đoạn

+ Giai đoạn nái hậu bị

+ Giai đoạn nái chửa

+ Giai đoạn nái nuôi con

Giai đoạn nái hậu bị

Lợn ở giai đoạn này được chọn lọc kỹ lưỡng và tỉ mỉ từ các con giống của trại Chuồng nuôi thông thoáng, sạch sẽ, mát mẻ, nền chuồng bằng phẳng không bị đọng nước, có đủ nước cung cấp cho lợn uống tự do bằng núm uống van thẳng

Trang 14

Mức cho ăn: 2,2 kg/con/ngày, loại cám 567, kết hợp thường xuyên kiểm tra ngoại hình để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp

Giai đoan mang thai

Để khối lượng sơ sinh của lợn con cao, lợn sơ sinh khỏe mạnh thì chăm sóc lợn mẹ ở giai đoạn mang thai là hết sức quan trọng

Nái mang thai chia làm 2 giai đoạn:

- Nái chửa kỳ 1 (từ 1 - 84 ngày)

Đây là giai đoạn trứng được thụ tinh, phôi làm tổ ở tử cung, bào thai phát triển chậm Chuồng trại nuôi lợn nái chửa kỳ 1 phải đảm bảo luôn thoáng mát, nhốt riêng mỗi con 1 ô chuồng Thức ăn cho lợn là cám 567, mỗi con cho ăn 1,6 – 2,5 kg/con/ngày

- Nái chửa kỳ 2 (từ 85 ngày đến khi đẻ):

Đây là giai đoạn cuối cùng của thời kỳ mang thai Bào thai phát triển nhanh, khối lượng sơ sinh của lợn con đạt được chủ yếu là nhờ sự phát triển trong giai đoạn này Thức ăn của lợn là cám 567, lượng thức ăn cho ăn: 3,5 kg/con/ngày

Giai đoạn nuôi con

Sau khi đẻ nhiệm vụ quan trọng nhất của lợn nái là tiết sữa nuôi con Vì vậy nái cần được cung cấp về thức ăn đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ

Trước khi đẻ nước uống cho lợn nái luôn được cung cấp đảm bảo, nước sạch, mát và đủ Thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ và sau đẻ

Chăm sóc lợn con

Lợn con sau khi sinh ra, ngoài các công việc như lau khô, bấm nanh, cắt đuôi, bấm số tai, cho bú sữa đầu, cần luôn luôn giữ nhiệt độ ổn định phù hợp với lợn con Sau khi đẻ 1 ngày thì tiêm sắt, sau 3 ngày đẻ thì nhỏ thuốc

Trang 15

phòng tiêu chảy và hô hấp 4 - 5 ngày tuổi thì bắt đầu cho lợn tập ăn bằng cám tập ăn cho lợn con

* Công tác giống

Trong thời gian thực tập tại trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm tôi đã được hướng dẫn tỉ mỉ, cẩn thận từ công tác chọn lợn hậu bị, khai thác tinh, kiểm tra chất lượng tinh dịch đến cách phối giống lợn bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo

Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động

- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữ các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ

Lịch vệ sinh tiêu độc, sát trùng được trình bày ở bảng 2.1 :

Trang 16

Bảng 2.1 Lịch vệ sinh tiêu độc, sát trùng toàn trại

Ngoài khu vực chăn nuôi

Chuồng nái chửa Chuồng đẻ

Chuồng cách ly

Chủ nhật Phun sát

trùng

Phun sát trùng

Phun sát trùng

Phun sát trùng

Thứ 2

Quét hoặc rắc vôi đường đi

Phun sát trùng + rắc vôi

Phun sát trùng

Phun sát trùng toàn

bộ khu vực

Phun sát trùng toàn bộ khu vực

Thứ 3 Phun sát

trùng

Phun sát trùng + quét vôi đường đi

Quét hoặc rắc vôi đường đi

Phun sát trùng

Thứ 4 Xả vôi xút

gầm

Phun sát trùng

Phun sát trùng Rắc vôi Rắc vôi

Thứ 5 Phun sát

trùng

Phun sát trùng + xả vôi xút gầm

Phun sát trùng

Phun sát trùng

Thứ 6 Phun sát

trùng

Phun sát trùng + rắc vôi

Phun sát trùng

Phun sát trùng toàn

bộ khu vực

Phun sát trùng

Thứ 7

Vệ sinh tổng chuồng

Vệ sinh tổng chuồng

Vệ sinh tổng chuồng

Vệ sinh tổng khu

Phun sát trùng

Ngoài ra trong và ngoài chuồng cần:

+ Phun thuốc gián, nhện 1 lần/tháng vào ngày 15

+ Cọ máng 1 lần/tháng

Trang 17

Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn

Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%

Bảng 2.2 Lịch tiêm vắc xin phòng bệnh tại trại

Nhóm lợn Tuổi

lợn

Phòng bệnh

Vắc xin/ Thuốc/

Chế phẩm

Đường đưa thuốc

Liều lượng (ml/con)

Lợn con

2 - 3

3 - 6 ngày

27 - 30

(Theo hướng dẫn của phòng kỹ thuật công ty CP)

- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được

Trang 18

kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn

2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại

2.1.5.1 Thuận lợi

Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại

2.1.5.2 Khó khăn

Trại được xây dựng trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ dịch bệnh gặp nhiều khó khăn Năm 2014, khi trại vừa được thành lập bắt đầu vào hoạt động ổn định thì dịch bệnh tai xanh bùng phát làm trại thiệt hại lớn về kinh tế và làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của trại Dịch bệnh diễn biến phức tạp, nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh cao, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của trại Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn

2.2 Tổng quan tài liệu

2.2.1 Cơ sở khoa học

2.2.1.1 Một số hiểu biết về lợn con

* Các thời kỳ quan trọng của lợn con

Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi: Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường sống, bởi vì lợn con chuyển

Trang 19

từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể lợn mẹ, chuyển sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không tốt lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp

Mặt khác lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn Lợn mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục, nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo lợn con ở giai đoạn này

Thời kỳ 3 tuần tuổi: Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần từ sau đẻ

và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi đó, nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng và phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi

Thời kỳ ngay sau khi cai sữa: Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn, do yếu tố cai sữa gây nên Mặt khác, thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Trong giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng, chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ bị còi cọc, mắc bệnh đường hô hấp, tiêu hóa Trong chăn nuôi lợn nái ngoại sinh sản, cai sữa lợn con bắt đầu lúc 21 ngày, kết thúc lúc 23 ngày thì thời kỳ khủng hoảng 2 và 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta

đã làm giảm được 1 thời kỳ khủng hoảng của lợn con

2.2.1.2 Kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ

Chăm sóc là khâu quan trọng nhất trong việc nuôi dưỡng lợn con ở thời

kỳ bú sữa, vì đây là thời kỳ lợn con chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh Nếu điều kiện ngoại cảnh bất lợi sẽ rất dễ gây ra tỉ lệ hao hụt lớn

ở lợn con

Trang 20

Chuồng nuôi: Chuồng nuôi phải được vệ sinh trước khi lợn mẹ đẻ Nền chuồng phải luôn sạch sẽ và khô ráo, ấm về mùa Đông, mát về mùa Hè, đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho lợn con, vào ban đêm cần phải có đèn sưởi để đảm bảo chống lạnh cho lợn con Ngoài ra chuồng nuôi phải có máng tập ăn và máng uống cho lợn con riêng

Nền cứng hoặc sàn thưa không có độn khu vực cho lợn con mới sinh

cai sữa 3 - 6 tuần tuổi Nhiệt độ, độ ẩm và tốc độ gió làm thành một hệ thống tác nhân stress đối với gia súc

Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [13], nhiệt độ môi trường ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của lợn Nhu cầu nhiệt độ của lợn tùy vào từng giai đoạn sinh trưởng, lợn sữa giai đoạn 1 - 7 ngày tuổi cần nhiệt độ

ảnh hưởng không tốt đến tỷ lệ sống và khả năng sinh trưởng của lợn con

Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [17], khi gia súc bị lạnh ẩm kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó gia súc dễ bị vi khuẩn cường độc gây bệnh

Cắt đuôi, bấm răng nanh, thiến:

Thường thì trong chăn nuôi công nghiệp cần phải tiến hành cắt đuôi cho lợn nuôi thịt Vì lợn nuôi thịt thường được nuôi thành các đàn lớn và có mật độ cao cho nên lợn thường tấn công nhau gây mất ổn định, giảm năng suất chăn nuôi Vị trí tấn công thường là đuôi, việc cắt đuôi thường tiến hành ngay sau đẻ hoặc trong tuần đầu sau đẻ Dùng kìm điện cắt sát khấu đuôi sao

Ngoài ra lợn con mới đẻ đã có răng nanh, nên việc bấm răng nanh cũng tiến hành ngay sau đẻ để tránh tình trạng gây đau cho lợn mẹ khi bú, giảm tỷ

Trang 21

lệ gây viêm vú cho lợn mẹ Khi cắt răng nanh, người cắt tránh không chạm vào lợi hoặc lưỡi lợn con, ngoài ra người cắt cũng nên cẩn thận không để nanh gẫy bắn vào mắt mình

Trong thời kỳ này cũng phải thực hiện thiến cho những lợn đực không dùng làm giống Có thể thiến trong khoảng từ 8 - 10 ngày tuổi Cần sát trùng bằng cồn iod trước và sau thiến

Theo Phạm Sỹ Lăng và Nguyễn Bá Hiên (2013) [16], bệnh phó thương hàn là bệnh truyền nhiễm chủ yếu xảy ra ở lợn con 2 - 4 tháng tuổi Đặc trưng của bệnh là do vi khuẩn tác động vào bộ máy tiêu hóa gây nên triệu chứng nôn mửa, ỉa chảy, phân khắm, vết loét lan tràn ở ruột già

Tiêm phòng:

Khi lợn con được 20 ngày tuổi nên tiêm phòng những loại vắc xin:

- Salmonella (2 ml/con) phòng bệnh phó thương hàn

- Giai đoạn lợn được 45 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin dịch tả

- Giai đoạn 60 - 70 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin tụ huyết trùng và đóng dấu

Quản lý lợn con: Đối với những lợn con có dự định chọn làm giống thì cần phải có kế hoạch quản lý tốt Những con này sẽ được cân và đánh số ở các giai đoạn sơ sinh, lúc cai sữa, lúc 50, 60 hay 70 ngày tuổi Đây chính là cơ

sở giúp cho việc lựa chọn để làm giống sau này

* Giai đoạn từ sơ sinh đến 3 ngày tuổi

Bình thường khoảng thời gian giữa lợn con đẻ trước và lợn con đẻ liền

kề 15 - 20 phút, cũng có khoảng cách nái đẻ kéo dài hơn Lợn con đẻ ra phải được lau khô bằng vải màn xô mềm sạch theo trình tự miệng - mũi - đầu -

Lợn nái đẻ xong con cuối cùng tiến hành bấm nanh, cắt rốn, cố định đầu vú cho lợn con mục đích là tạo điều kiện để đàn lợn con phát triển đồng đều

Trang 22

* Giai đoạn 3 ngày tuổi đến 3 tuần tuổi

Trong thời gian này lợn con đã bú thành thạo nên việc chăm sóc quản lý rất quan trọng bao gồm cả phòng chống thiếu máu khống chế tiêu chảy, thiến lợn

và cắt đuôi Trong giai đoạn này sữa lợn mẹ đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con trong mọi vấn đề, trừ sắt Sắt cần thiết cho việc hình thành hemoglobin trong máu nó vận chuyển oxygen đến các bộ phận cơ thể Thiếu sắt sẽ gây thiếu máu, nhưng có thể phòng ngừa bằng cách tiêm sắt cho lợn con

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [10], một trong các yếu tố làm cho lợn con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt Nhiều thực nghiệm đã chứng minh, trong cơ thể sơ sinh phải cần 40 - 50 mg sắt nhưng lợn con chỉ nhận được lượng sắt qua sữa mẹ là 1 mg Vì vậy phải bổ sung một lượng sắt tối thiểu 200 – 250 mg/con/ngày Khi thiếu sắt, lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm nên thường dễ mắc hội chứng tiêu chảy

Nhu cầu sắt cho lợn con mỗi ngày cần 7 – 16 mg hoặc 21 mg/kg tăng khối lượng duy trì hemoglobin (hồng cầu) trong máu, sắt dự trữ cho cơ thể tồn tại và phát triển Lượng sắt trong sữa mẹ không đủ cho nhu cầu sắt của nhu cầu lợn con, triệu chứng điển hình của thiếu sắt ở lợn con là thiếu máu, hàm lượng hemoglobin giảm, da lợn con màu trắng xanh, đôi khi tiêu chảy, phân trắng, chậm lớn, có khi chết

* Từ 3 tuần tuổi đến cai sữa

Thời gian này lợn con đã lớn nhanh hơn, nó trở thành dẻo dai và có khả năng đương đầu tốt hơn với môi trường ngoại cảnh của nó Vào thời gian này, phần lớn lợn con theo mẹ đã được 3 - 4 tuần tuổi, chúng bắt đầu ăn thức ăn và lớn nhanh, sự tăng khối lượng này là tăng khối lượng có hiệu quả, do đó ta cần cố gắng giảm thấp yếu tố stress cho lợn con

Một cách để đạt năng suất tối đa là tập cho lợn con ăn càng sớm càng tốt Nói chung sự tiết sữa của lợn mẹ đạt đến đỉnh cao lúc 3 - 4 tuần tuổi và

Trang 23

bắt đầu giảm dần, trong khi đó giai đoạn này lợn con sinh trưởng rất nhanh và cần nhận được thức ăn bổ sung để phát huy được đặc tính di truyền của nó Mặt khác trong giai đoạn này lợn con dễ bị nhiễm nội ký sinh trùng đặc biệt là giảm trong đường tiêu hóa Yếu tố quản lý lợn con theo mẹ là xác định thời điểm cai sữa có thể thay đổi tùy theo đàn, tùy theo chuồng trại có sẵn Thông thường tuổi cai sữa cho lợn con được các trại áp dụng vào giai đoạn 21 ngày tuổi nhưng Để thực hiện cai sữa được đảm bảo và đạt hiệu quả cao ta cần chú

ý những điểm sau để giảm stress khi cai sữa lợn con:

+ Chỉ cai sữa cho những lợn cân nặng trên 5,5 kg

+ Cai sữa trong thời gian trên 2 - 3 ngày, cai sữa trước cho những ổ đông con

+ Ghép nhóm lợn con theo tầm vóc cơ thể

+ Hạn chế số lượng trong 1 ngăn là 30 con hoặc ít hơn, nếu được + Hạn chế mức ăn vào trong vòng 48 giờ nếu có xảy ra tiêu chảy sau cai sữa

+ Cứ 4 - 5 lợn con thì đặt 1 máng ăn và cứ 20 - 25 lợn con thì lắp đặt 2 vòi nước uống

+ Cho thuốc vào nước uống nếu tiêu chảy

2.2.1.3 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ

* Cho lợn con bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con

Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn nái là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với lợn con là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì cho cả đàn con bú cùng lúc Nếu lợn mẹ chưa đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước bú trước

Trang 24

Theo Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận (2006) [22], lợn con khi mới sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể Song lượng kháng thể trong máu lợn con được tăng rất nhanh sau khi lợn con bú sữa đầu

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [19], lợn con mới đẻ lượng kháng thể tăng nhanh ngay sau khi bú sữa đầu của lợn mẹ, cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ lợn mẹ

Theo Trần Thị Dân (2008) [7], lợn con mới đẻ trong máu không có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu Lượng globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 -

6 lại tăng lên và đạt giá trị trung bình 65 mg/100 ml máu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu… được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém Vì vậy cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh nhất là hội chứng tiêu chảy

Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với bình thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin

C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 1,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng  globulin mà sữa thường không có,  globulin có tác dụng giúp cho lợn

dụng tẩy các chất cặn bã (phân su) trong quá trình tiêu hóa phát triển thai để

loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, tỷ lệ chết cao

Việc cố định đầu vú cho lợn con nên bắt đầu ngay từ khi cho chúng bú sữa đầu, theo quy luật tiết sữa của lợn nái thì lượng sữa tiết ra ở các vú phần ngực nhiều hơn vú ở phần bụng, mà lợn con trong ổ thường con to, con nhỏ không đều nhau Nếu để lợn con tự bú thì những con to khỏe thường tranh bú

ở những vú trước ngực có nhiều sữa hơn và dẫn tới tỷ lệ đồng đều của đàn lợn

Trang 25

con rất thấp, có trường hợp có những con lợn yếu không tranh được bú sẽ bị đói làm tỷ lệ chết sau khi sinh của lợn con cao Khi cố định đầu vú, nên ưu tiên những con lợn nhỏ yếu được bú ở những vú phía trước ngực Công việc này đòi hỏi phải kiên trì, tỷ mỉ bắt từng con cho bú nhiều lần trong một ngày (7 - 8) lần, làm liên tục trong 3 - 4 ngày để chúng quen hẳn với vị trí mới thôi Cũng có trường hợp số lợn con đẻ ra ít hơn số vú thì những lợn bú ở phía sau

có thể cho mỗi con làm quen 2 vú, để vừa tăng cường lượng sữa cho lợn con, vừa tránh bị teo vú cho lợn mẹ

Nếu cố định đầu vú tốt thì sau 3 - 4 ngày lợn con sẽ quen tự bú ở các vú quy định cho nó, lợn con quen nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào thế nằm của lợn mẹ, nếu lợn mẹ thường xuyên nằm quay về một phía khi cho con bú thì lợn con nhận biết vú quy định của nó sớm hơn Ngược lại, nếu lợn mẹ nằm thay đổi vị trí luôn thì lợn con sẽ chậm nhận biết hơn

Theo Duy Hùng (2011) [14], vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng ngày bằng dung dịch sát trùng Bấm nanh cho lợn con mới sinh, nên cho lợn con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường dinh dưỡng cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ nên giảm bớt chất đạm để hạn chế nguy

cơ thừa sữa Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những vùng

bị viêm Dùng các phương pháp chườm nóng, xoa bóp nhẹ lên vùng bị sưng

Nếu ghép lợn con với lợn mẹ khác mẹ thì phun erezyl cho cả đàn con

cũ và nếu mới không sẽ bị lợn mẹ cắn, những con mới ghép cũng phải cố định

vú bú

* Bổ sung sắt cho lợn con: Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn

được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ nhu cầu cho

cơ thể, vì vậy lợn con cần được bổ sung thêm sắt

Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con 30 ngày đầu sau đẻ là 30 x 7 mg/ ngày = 210 mg Trong đó, lượng sắt cung cấp từ sữa chỉ đạt 1 - 2 mg/ ngày

Trang 26

(36 - 60 mg/30 ngày), lượng sắt thiếu hụt cho một lợn con khoảng 150 – 180

mg, vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt Trong thực tế thường cung cấp thêm 200 mg

Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày sau khi sinh Việc tiêm sắt thường làm với các thao tác khác để tiết kiệm công lao động Nếu cai sữa lúc

3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 100 mg là đủ Nếu cai sữa sau 4 tuần tuổi, nên tiêm 200

mg sắt tiêm 2 lần Lần 1: 3 ngày tuổi, lần 2: 10 - 12 ngày tuổi

Triệu chứng điển hình của sự thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượng hemoglobin giảm Khi thiếu sắt, da của lợn con có màu trắng xanh, đôi khi lợn con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn, có khi bị chết

Để loại trừ hiện tượng thiếu sắt cần bổ sung kịp thời cho lợn con bằng cách tiêm, cho uống hoặc cho ăn

Đưa sắt vào cơ thể lợn con bằng cách tiêm là đạt hiệu quả nhất Nên dùng sắt dưới dạng dextran, hợp chất này có tên là Ferri - Dextran Ferri - Dextran là hợp chất có phân tử lớn nên ngấm từ từ, hiệu quả kéo dài Cách thức sử dụng:

Cách 1: Chỉ tiêm 1 lần vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, với liều lượng 200

mg sắt (Fe - Dextran) cho 1 lợn con

Cách 2: Tiêm lần 2: Lần thứ nhất 100 mg vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, lần thứ 2 (tiêm lặp lại) là 7 ngày sau khi tiêm lần thứ nhất Cũng với liều lượng

100 mg cho 1 lợn con

Để ngăn ngừa hiện tượng ngộ độc sắt cho lợn con, cần bổ sung thêm vitamin E vào khẩu phần ăn của lợn mẹ 1 ngày trước khi tiêm (khoảng 500 mg) Nếu thiếu vitamin E thì cần cung cấp 20 – 30 mg Fe vào ngày thứ 3 sau khi sinh cũng đã gây ngộ độc cho cơ thể lợn con

- Cách tiêm sắt cho lợn con

Dùng 1 bơm tiêm sạch lấy dung dịch sắt khỏi lọ chứa, sử dụng kim

Trang 27

tiêm 14 hoặc 16 (đường kính lớn) để lấy thuốc Sau khi lấy thuốc đầy bơm dùng kim 9, dài 1cm để tiêm Sắt tiêm quá liều có thể gây hại, thậm chí có thể gây độc Kiểm tra liều dùng ghi ở trên nhãn sản phẩm, không cần thay hay sát trùng kim tiêm cho từng con lợn, song điểm tiêm nếu bẩn nên lau bằng nước sát trùng Rửa và sát trùng dụng cụ sau khi tiêm cho nhóm lợn con Việc sử dụng kim tiêm và tiêm 1 lần tạo điều kiện vệ sinh hơn

Nên tiêm vào cổ, không nên tiêm ở mông vì có thể làm hại đến dây thần kinh và cũng có thể vết sắt dư thừa lưu ở thân lợn thịt mổ bán Tiêm sắt vào cơ bắp hay tiêm vào dưới da Cẩn thận không tiêm vào phần xương sống Giữ mũi tiêm một lúc để tránh hoặc giảm lượng thuốc chảy ngược ra Điểm khuyến cáo để tiêm dưới da là chỗ da kéo lên được ở phía trước chân trước

+ Giảm bớt sự nhấm nháp thức ăn rơi vãi của lợn con để hạn chế được các bệnh đường ruột của lợn con

+ Giảm bớt sự khai thác sữa mẹ kiệt quệ và giảm tỷ lệ hao mòn của lợn

mẹ, từ đó lợn mẹ sớm động dục trở lại sau khi cai sữa lợn con

+ Tránh sự cắn xé bầu vú lợn mẹ, hạn chế bệnh viêm vú

+ Có điều kiện để cai sữa sớm cho lợn con, tăng hệ số quay vòng lứa đẻ/nái/năm

Trang 28

- Phương pháp tập ăn sớm:

Khi lợn con đạt 7 - 10 ngày tuổi, ta nên tiến hành cho lợn con làm quen với thức ăn Thức ăn tập ăn phải đảm bảo có tính thèm ăn cao Cần lựa chọn loại thức ăn, các chất phụ gia, cũng như phương pháp chế biến sao cho kích thích sự thu nhận thức ăn của lợn con Lợn con thường rất thích ăn thức dạng viên hay bột nhỏ khô, những thức ăn này thường là các loại tấm, bắp, đậu nành được rang xay để tạo mùi thơm Phải cho lợn con làm quen với nguồn glucid, lipid, protid của các loại nguyên liệu thông thường để hệ tiêu hóa của lợn con sớm bài tiết các enzyme tiêu hóa thích hợp

2.2.1.4 Cai sữa cho lợn con

* Điều kiện cai sữa cho lợn con:

- Phải chủ động thức ăn, thức ăn cần phải có phẩm chất tốt, giá trị dinh dưỡng cao, cân đối

- Sức khỏe của lợn con và lợn mẹ phải tốt

- Lợn con phải ăn tốt và tiêu hóa tốt các loại thức ăn

- Cần phải có trang thiết bị đầy đủ, đúng kỹ thuật

- Người chăn nuôi phải có tay nghề, tinh thần trách nhiệm cao

* Các hình thức cai sữa:

- Cai sữa thông thường: cai sữa từ 42 - 60 ngày tuổi

+ Ưu điểm: Lợn con biết ăn tốt, thức ăn yêu cầu không cao lắm, lợn con khỏe mạnh hơn, khả năng điều tiết thân nhiệt tốt hơn nên chăm sóc nhẹ nhàng hơn

+ Nhược điểm: Khả năng sinh sản thấp, chi phí cho 1kg khối lượng lợn con cao, tỷ lệ hao mòn lợn mẹ lớn hơn

Cai sữa sớm: Cai sữa từ 21 đến 28 ngày tuổi

+ Ưu điểm: Nâng cao sức sinh sản của lợn nái (nâng cao số lứa đẻ lên 2,33 lứa so với 2,19 lứa), tránh được một số bệnh truyền nhiễm từ mẹ sang

Trang 29

con, giảm chi phí thức ăn/1kg tăng khối lượng lợn con (20% so với cai sữa thông thường), giảm tỷ lệ hao mòn lợn mẹ

+ Nhược điểm: Đòi hỏi thức ăn phải có chất lượng tốt, người chăm sóc nuôi dưỡng phải nhiệt tình với công việc và có nhiều kinh nghiệm

Kỹ thuật cai sữa:

Trước cai sữa 2 - 3 ngày cần giảm số lần bú của lợn con

Giảm thức ăn cho lợn mẹ trước khi cai sữa 1 - 2 ngày

Chế độ ăn đối với lợn con:

+ Tỷ lệ sơ trong khẩu phần thấp: Khả năng tiêu hóa chất xơ ở lợn con còn kém, tỷ lệ xơ ở trong khẩu phần ăn cao thì lợn con sinh trưởng phát triển chậm, tiêu tốn thức ăn cao, lợn con dễ táo bón, viêm ruột và có thể dẫn đến còi cọc, tỷ lệ thích hợp là 5 - 6% Xu hướng trong những năm gần đây ở các nước chăn nuôi tiên tiến người ta khuyến khích nâng cao tỷ lệ xơ trong khẩu phần ăn của lợn để nâng cao sức khỏe

+ Có tỷ lệ ăn thích hợp: Lợn con ở giai đoạn này cần có dinh dưỡng tốt cho phát triển bộ xương và cơ bắp là chủ yếu Nếu chúng ta cung cấp khẩu phần ăn có lượng thức ăn tinh bột cao, lợn con sẽ béo sớm và khả năng tăng trọng sẽ giảm, tích lũy nhiều mỡ sớm Tỷ lệ thức ăn tinh thích hợp cho lợn con trong giai đoạn này là 80% trong khẩu phần

Trang 30

+ Có tỷ lệ nước thích hợp: nếu khẩu phần lợn con có tỷ lệ nước cao sẽ dẫn đến tiêu hóa kém, giảm khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng nhất là protein, thức ăn nhiều nước cũng gây nền chuồng bẩn, ẩm thấp và lợn con dễ nhiễm bệnh

Nếu tỷ lệ nước thấp sẽ gây nên thiếu nước cho nhu cầu sinh trưởng và phát triển của lợn con Tỷ lệ thức ăn tinh: Thô phải thích hợp, cứ 1kg thức ăn tinh trộn với 0,5l nước sạch, tối đa có thể là tỷ lệ 1:1, ngoài ra người chăn nuôi phải cho lợn con uống nước đầy đủ theo hình thức tự do

Ngoài ra chúng ta còn bổ sung khoáng vi lượng như Mn, Co, Cu, Mg, Fe,…và bổ sung cho lợn những chế phẩm vitamin - khoáng

+ Phương pháp cho lợn con ăn:

Cho ăn nhiều bữa trong ngày, 5 - 6 bữa/ngày thì có tốc độ tăng trọng cao hơn 3 bữa/ngày Tuy nhiên, cho ăn nhiều bữa trong ngày sẽ tốn công lao động trong chăn nuôi Từ đó người chăn nuôi cần lựa chọn số bữa thích hợp

để cho lợn con ăn

Cho lợn con ăn đúng giờ giấc quy định và tập cho lợn con những phản

xạ có điều kiện về tiêu hóa

Cho lợn con ăn từ từ để tránh vung vãi ra ngoài và hạn chế được lợn con mắc các bệnh về đường tiêu hóa

Cho lợn con ăn đúng tiêu chuẩn và khẩu phần ăn Theo dõi sức khỏe để điều chỉnh khẩu phần và tiêu chuẩn cho chúng

2.2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con

Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục của lợn gồm hai nhóm: các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài

Trang 31

* Yếu tố bên trong:

Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau

Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quá trình trao đổi chất trong cơ thể Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormon Hormon tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu

* Yếu tố bên ngoài:

Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển cơ thể lợn bao gồm dinh dưỡng, nhiệt độ, môi trường, ánh sáng và các yếu tố khác

Dinh dưỡng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa nếu không

có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Khi chúng ta đảm bảo đầy đủ về thức ăn bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn thì sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong cơ thể

Nhiệt độ và độ ẩm môi trường: Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển cơ thể của lợn con Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể lợn

Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [8], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn rất yếu

Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [11], lợn con sinh ra phải được

Ngày đăng: 06/01/2021, 16:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w